Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Học Tối Thượng 2

2026-03-03 00:53:55
Kinh Nikāya Giảng Giải

TÂM HỌC TỐI THƯỢNG 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nguyên lý sanh ngũ uẩn PAGEREF _Toc114230901 \h 1

II.Duyên sanh pháp của “Thân” PAGEREF _Toc114230902 \h 1

III.Duyên sanh pháp của “Ý” PAGEREF _Toc114230903 \h 2

IV.Sự chứng ngộ thâm sâu của Đức Phật PAGEREF _Toc114230904 \h 5

V.Tánh vô thường của ngũ uẩn PAGEREF _Toc114230905 \h 7

Nguyên lý sanh ngũ uẩn

Bài chúng ta học tiếp bài kinh “Cả Hai”, Tương Ưng Bộ Kinh, tập IV. Bài kinh này hết sức quan trọng, là nền tảng, căn bản, nguyên lý sanh khởi ra ngũ uẩn. Nếu không thuộc bài kinh này, không nhận diện được các pháp ở trong này, thì chúng ta không thấy được tính chất duyên sanh, duyên khởi, duyên hợp của các pháp. Bài kinh này cho chúng ta một trí huệ xuyên thấu tất cả thân, tâm, sum la vạn tượng, tất cả các pháp. Cho nên học thuộc bài kinh này, sẽ có lợi lạc cho hiện tại và tương lai, cho mình và cho người. Vì vậy, phải nắm thật vững các nguyên lý duyên sanh.

Có rất nhiều người hiểu không đúng pháp, chúng ta được học thì phải nắm thật vững: Do hai pháp sanh khởi ra thức; do ba pháp sanh khởi ra xúc và xúc sanh khởi ra ba pháp; do bốn pháp sanh khởi ra ý thức. Đây là những công thức mình phải học thuộc lòng. Những câu này có nghĩa như thế nào?

“Hai pháp sanh khởi ra thức”, tức là Căn và Trần sanh khởi ra Thức.

“Ba pháp sanh khởi ra xúc”, tức là Căn, Trần, Thức hội tụ, giao thoa, sanh khởi ra Xúc.

“Xúc sanh ra ba pháp” gồm: Thọ, Tưởng, Tư hoặc là Thọ, Tưởng, Hành.

“Bốn pháp sanh ra ý thức”, tức là do duyên Ý, Thọ, Tưởng, Hành sanh khởi ra Ý Thức. Như vậy là bốn pháp đó sanh khởi ra ý thức.

Cần nắm thật là vững những điều này, đây là công thức, nguyên lý, định lý.  Đây là nguyên lý sanh khởi ra ngũ uẩn. Nắm trí tuệ này tức là nắm được nguyên nhân sanh khởi vũ trụ, nhân sinh, vạn vật, sanh khởi ra thân tâm, thế giới, những hoạt động của tâm lý, tâm hành.

Duyên sanh pháp của “Thân”

Đến phần thân, khi học duyên sanh pháp, hằng ngày phải nhận diện để quán chiếu: do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức. Mỗi ngày thực tập cho chính mình, bằng không, dù học ở trong trường mười năm, năm hai năm, ba mươi năm, chỉ học trên ý thức, nói trên ngôn ngữ vậy thôi, chứ mình không thật thấy thân thức nó như thế nào trong khi nó đang có mặt.

Như vậy thì do duyên của thân có sự đụng chạm, tiếp xúc với quần áo, với ghế, với nền gạch, sanh ra sự rõ biết, đó là thân thức. Ba pháp này (thân, quần áo, ghế, nền gạch với sự rõ biết) giao thoa, hội tụ lại, tạo thành sự tiếp xúc là thân xúc (sự tiếp xúc của thân). Từ sự tiếp xúc của thân này, sanh ra cảm giác.

Ví dụ cảm giác dưới lòng bàn chân hơi ấm ấm, đổ mồ hôi, cảm thấy hơi ấm, hoặc hơi lạnh, hơi nóng, khó chịu, đó là cảm giác, cảm thọ. Rồi mình mới tưởng bàn chân mình đổ mồ hôi, có những giọt mồ hôi ở dưới, thì hình bóng của lòng bàn chân mình hiện ra, đó là tưởng. Những câu nói lầm thầm “chân mình bị đổ mồ hôi ướt hết trơn, chắc bệnh gì đó”, đó là hành.

Thành ra những cái mình học hiện tại đây, là pháp học và pháp hành nó song song, đồng thời, để cho mình thực tập. Mà thực tập là cái nào phải ra cái nấy, nhận diện phải cho rõ, không được lẫn lộn, không được lờ mờ, từ ngôn ngữ, sự hiểu biết chính xác, thì khi mình vận dụng, mình tu mới đúng. Cũng như nãy giờ, câu nói của con đang nói, suy nghĩ bên trong ở đây là ý hành, còn khi phát ra câu nói là khẩu hành. Nói cái nào thì phải chính xác, mình nói trật là nó loạn pháp, người nghe người ta không biết mà nếu làm theo thì trật luôn. Thành ra phải kỹ thật kỹ trong sự thực tập này.

Duyên sanh pháp của “Ý”

Duyên sanh pháp của ý thức là phần khó. Có khi ngồi thiền một chục năm, hai chục năm, thậm chí cả đời cũng chưa thấy rõ được cái nguyên lý sanh khởi của ý thức. Như mấy huynh đệ trình bày, nội tâm của mình có một cái tưởng sanh khởi lên hình bóng gì trong nội tâm, thì mình biết được, chắc không? Có một cảm giác gì sanh khởi lên thì mình biết, chắc không? Những suy nghĩ trong nội tâm của mình là mình đọc được hết không?

Ý căn là để ý, khi để ý vào nội tâm của mình, hướng nội, mình để ý để mình nhìn lại, để mình phát hiện lúc đó có những cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì, chỗ này là chỗ quan trọng lắm. Mình không có quay trở lại nhìn vào bên trong, mình không để ý những cảm giác của mình, khi nó có thì mình không biết. Thành ra giống như mình cầm cây đèn pin, mình muốn nhìn cái gì thì mình mới đưa đèn pin chiếu vào đó, rồi chỗ đó mới hiện rõ.

Ý căn cũng giống như mình chiếu đèn pin vào chỗ gốc kẹt tủ đó, nó có xác con chuột chết, có mấy con gián chết, có xác con rắn chết trong đó. Mình phải cầm cái đèn pin mình chiếu qua, mình chiếu sát trong đó, mình soi nó, thì cái luồng ánh sáng đó nó soi ra, tới khi mình nhìn trong đó, mình thấy được những gì trong đó, lúc đó ý thức nó sanh khởi. Thọ, tưởng, hành mình ví dụ như xác chuột, xác gián hay là xác rắn vậy đó. Nếu mình không để ý, nhìn lại nội tâm mình thường trực, thì những cái tưởng, những sự suy nghĩ và cảm giác bên trong mình không biết, mình chỉ biết cảnh thôi, mình chỉ lo bắt cảnh bên ngoài.

Có câu chuyện này rất hay và lý thú trong sự tu tập của chúng ta. Hai người đứng nói chuyện với nhau về một anh chàng thanh niên, mặt nào cũng được hết, đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, tính tình tốt, nhưng chỉ có một cái là ảnh rất hay nổi nóng. Chàng trai đó nghe như vậy, đi từ đằng sau tới nắm lấy cổ áo người vừa nói câu đó, và hỏi: “Tôi nổi nóng hồi nào? Tôi nổi nóng đâu, mà ông nói tôi nổi nóng?”.

Câu chuyện đó nói lên điều gì? Người thanh niên này chỉ chú trọng hướng ngoại, khi nghe người ta nói như vậy thì người này chạy ra bên ngoài, không quay trở lại nhìn bên trong mình. Rõ ràng là người này nổi nóng nhưng không thấy, chỉ khẳng định “tôi đâu có nổi nóng, tôi nổi nóng hồi nào?”. Cũng vậy, sự tu tập thâm sâu này là sự hướng nội để nhìn thấy được nội tâm chính mình. Cũng như cầm đèn pin mình chiếu vào chỗ cần nhìn, thì lúc đó những gì ở trong đó sẽ thể hiện rõ ra, lúc đó ý thức nó nhận rõ những thứ đó.

Cũng như mình chỉ lo ngắm cảnh, chụp hình, đi dạo. Tự nhiên một hồi mình mới chợt nhớ lại “ủa sao tự nhiên nó đau đau ở phía sau xương sống?”, khi để ý, xem lại thì mới biết chỗ đau. Lúc đó có cảm giác khó chịu, hình ảnh phía đằng sau lưng hiện ra là tưởng, hành mới nói “chắc hồi nãy mình chạy ở dưới kia mệt nên đua lưng”. Khi để ý vào chỗ muốn để ý thì các pháp mới hiện rõ ra. Ví dụ bây giờ để ý chỗ xương sống, thì ngay chỗ xương sống hiện rõ hình ảnh, suy nghĩ, cảm giác. Còn nếu để ý lòng bàn chân, thì dưới lòng bàn chân nó hiện rõ ra, đó là nói về vật chất và thân thể.

Nếu để ý tới những người thân, người quen, người bạn thì chỉ thấy những thứ bên ngoài. Chỉ khi quay trở lại nhìn vào trong tâm thì trong này có hiện cái gì thì mình nhìn thấy rõ hết, không lo nhìn bên ngoài nữa. Bằng không, chỉ thấy “cái lồng đèn đẹp quá ha, cái mặt kính, trúc, hồ ngồi thiền đã quá, nhìn dưới núi, nhìn mây”, như vậy là hướng ngoại. Còn nhìn vào tâm để thấy cảm giác của mình lúc đó như thế nào; suy nghĩ như thế nào; những hình bóng trong nội tâm như thế nào; không lo nhìn ở ngoài nữa thì như vậy là hướng nội. Khi để ý bên trong thì các pháp hiện rõ ra, giống như cầm đèn pin mình lia vào, những gì được ánh sáng của đèn pin rọi tới thì chỗ đó sẽ hiện rõ ra; còn những chỗ ánh sáng đèn không lia tới thì nó không hiện.

Đây là chỗ rất quan trọng, đó là ý xúc. Khi để ý vào những cảm giác, những suy nghĩ, những tưởng tượng trong nội tâm như vậy thì ý thức này rõ biết “mình đang có cảm giác này nè! Mình đang có những hình bóng trong nội tâm, đang có những suy nghĩ này!”. Như vậy ba pháp này bắt đầu hội tụ, giao thoa, tiếp xúc với nhau, đây là sự tiếp xúc của ý, gọi là ý xúc và sanh khởi ra thọ, tưởng, hành.

Sau đó lại có sự tiếp xúc của ý căn, nội trần (thọ, tưởng, hành) và ý thức – ba cái này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc với nhau, sanh ra một cảm giác mới, hình bóng mới, những suy nghĩ mới. Những cảm giác theo đó, những hình bóng đi theo đó, hình ảnh, âm thanh và những cảm giác đầy đủ tiếp tục sanh khởi lần thứ hai. Nếu ba pháp này tiếp tục xúc với nhau nữa: ý căn, nội trần (những cảm giác, suy nghĩ và hình bóng) tiếp xúc và ý thức rõ biết, sẽ sanh thêm những thọ, tưởng, hành thứ ba... Chúng nó cứ sanh khởi liên tục như vậy cho nên gọi là chúng sanh, ngũ uẩn chúng sanh.

Sự chứng ngộ thâm sâu của Đức Phật

Đây là nguyên lý hết sức thâm sâu của Đức Thế Tôn chứng ngộ trong nội tâm. Ngoài Đức Phật ra, tất cả chúng sanh không biết gì, đối với sự thật về thân tâm này chỉ là một mớ bòng bong, một đống tơ vò, không biết trong tâm có gì, không biết các pháp vận hành thế nào. Còn Đức Phật thấy rõ được từng thứ một. Các pháp hội tụ, sanh khởi, vận hành, hoạt động và chấm dứt thế nào đều được Đức Phật chỉ rõ. Cho nên, chúng ta phải luôn luôn để ý lại các thọ, tưởng, hành trong nội tâm, luôn luôn hướng nội.

Đức Phật đã tuyên bố:“Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy”. (trích Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả lậu hoặc)

Vậy, thấy biết ở đây là thấy biết điều gì? Thấy được thọ, tưởng, hành, thấy được sự vận hành của các cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong nội tâm mình. Chẳng những thấy như vậy, mà còn nhìn sâu vào để thấy những vận hành đó theo chiều hướng tham dục, tham ái, theo chiều hướng sân hận, si mê, bản ngã, danh lợi hay cái gì khác. Đây là chỗ rất thâm sâu.

Ví dụ, lúc nãy Minh Thành ở trong phòng, có một chú đi ngang, đạp lên mấy tấm tôn nghe một cái “rầm”, lúc đó Minh Thành nhìn lại thọ, tưởng, hành để xem chúng hoạt động như thế nào. Từ âm thanh đó mà có thọ do nhĩ xúc sanh, cụ thể: do duyên có lỗ tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa, sanh ra cảm giác. Sau đó, phải xem trong cảm giác này có khó chịu không? Khó chịu này nói cái gì? Phải luôn luôn nhận diện ngũ uẩn như vậy, đó gọi là nhiệt tâm, tinh cần. Thực tập nhìn lại hoài như vậy gọi là chánh niệm tỉnh giác, gọi là nội soi. Liên tục soi rọi lại các cảm giác, các tưởng, các suy tư, suy nghĩ trong nội tâm Nội tâm có tham phải biết là có tham, nội tâm có sân hận biết là có sân hận, nội tâm vô minh biết là nội tâm đang vô minh, không sáng tỏ.

Nhiều người thường hiểu lầm khi học bài kinh “Tứ Niệm Xứ”, nghĩ rằng cái nào cũng biết là xong, là được rồi nhưng thật sự không phải. Tại vì phải học thêm các bài kinh khác nữa, chứ không phải biết bài kinh này là biết hết, rồi dừng lại, không học nữa. Trong khi còn những bài kinh khác ở trong Trung Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật dạy về tâm hoang vu: “nếu người nào không nhiệt tâm, không nỗ lực, không tinh cần, không tinh tấn để đoạn tận tất cả các lậu hoặc, thì tâm đó là tâm hoang vu, tâm kiết sử”. Nếu tâm không hướng về tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, siêng năng, nhiệt tâm để đoạn tận tất cả các tham, sân, si, bản ngã, lậu hoặc thì cái tâm đó là tâm kiết sử. Cho nên, cần phải học những kinh khác mới đầy đủ, trọn vẹn lời dạy của Đức Thế Tôn.

Nhiều người học bài kinh “Tứ Niệm Xứ” thì nội tâm có tham biết là có tham, nội tâm có sân thì biết là có sân, nội tâm quảng đại thì biết là quảng đại, nội tâm nhỏ hẹp thì biết là nhỏ hẹp, thì cho là xong. Vậy, có tham thì làm sao? Có sân rồi làm sao? Chúng ta phải giải quyết, phải làm việc, phải xử lý chúng. Chẳng lẽ biết có ăn trộm vào trộm đồ rồi mình để yên:“Thôi kệ, nó muốn bưng thì bưng” hay sao? Khi đó, mình phải la lên, phải chiến đấu, ở trong nội tâm của mình cũng vậy.

Cho nên thụ động, lười biếng, không tinh cần, không tinh tấn, giải đãi, buông lung, phóng dật, phóng túng, thì đó là đang bị kiết sử, đang bị trói cột của phiền não. Dẫu cho người đó đang ngồi trên Bồ Đoàn, vẫn là người buông lung, chỗ này là chỗ thâm sâu, ngồi trên Bồ Đoàn mà cứ thả hết thọ, tưởng, hành, thức, dục, tham nó khởi cũng cứ để đại cho khởi hết. Thì đó là buông lung, là đang đi chơi, là tâm hoang vu.

Nhiều người nhìn thấy giống như không có tu, họ chỉ đang đi tới đi lui, đang ngồi ngắm cảnh, nhưng trong tâm có gì là họ biết cái đấy, có cái gì là diệt cái nấy, có cái gì là quán chiếu, đánh đuổi…. người đó là người đang tinh tấn, đang thiền định, đang thiền quán. Chứ không phải leo lên ngồi bồ đoàn mới là thiền, đó chỉ là hình thức, nhiều người cứ leo lên đó là nhắm mắt ngủ, leo lên đó rồi không biết cái gì, cứ nhắm mắt chờ hết giờ, đánh kẻng, rồi đi ra, như vậy không phải thiền. Cho nên “ta nói cho người thấy, ta nói cho người biết, để đoạn tận các lậu hoặc, này các Tỳ-kheo”.

Nhìn lại trong nội tâm của mình từ sáng đến chiều, không biết bao nhiêu suy nghĩ, cảm giác, hình bóng ở trong nội tâm liên tục sanh khởi. Nếu cứ để cho nó hoành hành, bá đạo, áp đảo, sai khiến, bắt mình nô lệ cho các cảm giác, các tưởng, các suy nghĩ; nó quay mình vòng vòng nhưng mà không biết gì hết, thì đó là vô minh, si mê. Phải luôn luôn thiền định, liên tục không có gián đoạn. Thường trực, xuyên suốt nhìn lại các cảm giác, các nghĩ, tưởng. Tẩy rửa, tẩy trừ, tẩy sạch những cấu nhiễm khi đi, đứng, ngồi, nằm, bất cứ khi nào sân hận khởi lên là tẩy sạch, trừ diệt, tham dục khởi lên là tẩy sạch, trừ diệt.

Dùng tướng bất tịnh, dùng tướng bộ xương, dùng tướng nắm tro tàn sau khi từ lò thiêu đem ra, dùng những cái tướng đó phá tham ái. Dùng từ bi tâm diệt tận sân hận. Dùng cái minh của trí tuệ, thiền quán để phá tan những bóng tối của vô minh, của sự lờ đờ, mờ mờ. Làm cho mình mạnh mẽ, tỏa sáng, rực sáng lên, ánh mắt của mình xuyên thủng hết tất cả các thọ, tưởng, hành, thức, xuyên thủng tất cả sắc uẩn, vận dụng được những điều này thì sự tu vô cùng tuyệt vời.

Tánh vô thường của ngũ uẩn

“Này các Tỳ-kheo, ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp, những cảm giác, nghĩ tưởng là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác”. (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phẩm Channa, bài kinh Cả Hai)

Những hình bóng trong nội tâm, những cảm giác, những suy nghĩ, làm sao mà thường được? Những cái để ý của mình làm sao mà thường được? Những cái rõ biết trong đó làm sao mà thường được?

“Này các Tỳ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được?”. Sự sanh khởi của ý thức là do các duyên vô thường, ý căn vô thường, các pháp ở bên trong, nội trần vô thường, những hình bóng trong nội tâm làm sao mà thường được? Đâu có hình bóng nào có hoài ở trong đó đâu, những cảm giác ở bên trong đó làm sao mà thường được? Nó thay đổi liên tục. Những suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong nội tâm, suy nghĩ liên tục, thì những cái đó là những cái vô thường và nhận biết về những cái đó cũng là vô thường. Thì như vậy, những cái vô thường để tạo thành các sự sanh khởi ra ý thức, thì ý thức làm sao mà thường được?

Tất cả những món đồ toàn bằng gốm thì làm sao làm ra được những đồ kiên cố, chắc chắn được? Tất cả những dữ kiện, những bộ phận lắp ráp, toàn là thứ dễ tan vỡ, dễ rệu rã, biến hoại, biến động, tan hoại, thì làm sao làm ra được một cái kiên cố, vững chắc, thường còn? Cho nên ý xúc cũng là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sự tiếp xúc của ý thì do nhân gì? Do duyên gì khiến cho ý xúc sanh khởi? Duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

“Này các Tỳ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ là thường còn được”

“Này các Tỳ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết”.

Ý xúc sanh ra cảm giác, ý xúc sanh ra suy nghĩ, “tư lường” là hành, suy nghĩ, ý xúc sanh khởi hay biết. Nếu không học ý thức, thì đọc cái này không thể nào hiểu nổi. “Ở đây các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác”. Chỗ thâm sâu cực kỳ không thể diễn tả, không thể chỉ ra được, mà Đức Thế Tôn chỉ ra mặt từng thứ, Ngài chỉ ra sự tập khởi, sự an trú, sự biến diệt như thế nào. Từ xúc mới có cảm thọ, xúc mới có sự tư lường, xúc nên mới có sự hay biết, tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, tiếp xúc sanh ra các suy nghĩ trong hành, ý xúc mới sanh ra sự hay biết, ý thức.

Cho nên, phải luôn để ý vào cảm giác, suy nghĩ, hình bóng. Khi chúng sanh khởi, ý thức phải rõ biết được “mình có cảm giác vậy đó, trong tâm mình có hình bóng vậy đó, mình đang suy nghĩ cái về cái gì đó”. Do duyên ý và các pháp trong tâm sanh khởi ra ý thức, sự rõ biết. Ba pháp này giao thoa, tiếp xúc với nhau, cái đó là ý xúc. Sanh ra tiếp tục, nó sanh ra cảm giác, suy nghĩ. Nắm vững được những nguyên lý này thì ngồi thiền, tuyệt vời lắm. Thường xuyên thực tập sẽ giúp sanh ra Chánh Trí, Thánh Trí, đây là “Thượng nhân pháp”, không phải là pháp bình thường.

Đức Phật phân tích hết tất cả khía cạnh của thân tâm này. Các pháp rất rõ ràng:

Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Sáu thức (sáu sự rõ biết): Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

Sáu xúc: Sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Sáu thọ (sáu cảm giác): Cảm giác sanh khởi khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc với sáu trần,

Ngoài ra còn sáu tưởng, sáu tư. Như vậy, căn, trần, thức, xúc, thọ, tưởng, tư… có rất nhiều pháp để chúng ta quán chiếu.

Nhưng tổng kết lại, Đức Phật dùng từ “Này các Tỳ-kheo, ý xúc khởi lên từ một duyên vô thường, từ đây sẽ trở thành thường còn được. Này các Tỳ-kheo, do xúc nên cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây những pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác”.

“Biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác” đây là những chữ quan trọng. Chủ yếu Đức Phật phân tích hết tất cả các pháp, để mình thấy được “tự tánh” của nó là bản chất của nó. Là vô thường, biến động, tự tánh đổi khác, biến hoại, để ly tham, không còn tham muốn, thích thú đối với nó nữa. Không phải nói ra nhiều pháp để người ta biết Phật hay, Phật biết nhiều. Mục đích nói ra là để mình thấy tất cả đều vô thường, biến động, tự tánh đổi khác, hoại diệt, tan rã, tan nát.

Đức Phật chiếu phá bản chất của tất cả các pháp, người nào không tin tưởng, không kham nhẫn, không thực hành thiền quán, không chắc chắn về giáo pháp thì đến mạng chung không thể chứng quả Dự Lưu. Nếu người nào tin tưởng giáo pháp, thực tập thiền quán theo lời dạy của Đức Phật, đến khi chết, việc không chứng quả Dự Lưu là điều không thể xảy ra. Vì vậy, phải kham nhẫn, có lòng tin đối với pháp này và kiên trì thiền quán thì chắc chắn sẽ đi đến thành tựu.

Đức Phật nói “người có niềm tin với pháp là người vượt phàm phu địa”, không còn ở địa phận phàm phu nữa, sớm muộn gì cũng diệt tận tất cả khổ. Cho nên, phải quán chiếu thật sâu sắc những chữ quan trọng là “vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác” để nhìn thấy được con mắt, lỗ mũi, lỗ tai, thân thể, những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, những hình bóng trong tâm đều có tính chất vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Tất cả thay đổi liên tục, đổi cho mình nhức đầu, đổi cho mình mệt óc, chúng chụp lấy, rồi buông bỏ, rồi bốc chụp lấy, rồi bỏ, làm hoài như vậy, mà mình không thấy, không biết được sự tập khởi, chấm dứt và con đường đưa đến chấm dứt nó. Như vậy là rơi vào mê hồn trận, bát quái trận, lạc vào đào hoa đảo, không biết đường ra. Cứ quẩn quanh trong thọ, tưởng, hành, thức này, đến thọ, tưởng, hành, thức khác mà không thể thoát ra. Suốt đời cứ chìm trong cảm giác này, tới cảm giác kia, hết tưởng này, tới tưởng kia, hết suy nghĩ này, đến suy nghĩ khác, cứ như vậy hoài, vô lượng kiếp, ra không được.

Mục đích Đức Phật nói là “thấy rõ được như thật tuệ tri”, biết nó đúng với sự thật, bản chất là như vậy. Từ đó nhàm chán, không tham muốn, từ bỏ là giải thoát. Không bỏ không được, sớm muộn gì cũng phải bỏ, nhưng tâm không chịu bỏ, khi mất đi phải chịu đau khổ. Tâm chấp thủ không mở ra được, sắc nhất định tan rã nhưng thọ, tưởng, hành, thức không chịu bỏ, vì vậy, thức có chân đứng, bám trụ nên tiếp tục có đời sau, tiếp tục đi đầu thai, tiếp tục tái sanh, tiếp tục vào trong vòng lẩn quẩn của thọ, tưởng, hành, thức. Từ đó tiếp tục có những thân thể, vật chất, tưởng, hành, thức, rồi dục, rồi tham ái, sân si, ngã mạn, cống cao, vòng vòng hoài như vậy.

Tỷ tỷ, trăm ngàn tỷ kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện, lúc đó mình ở đâu? Đến khi biết đến đạo Phật thì Ngài đã Niết-bàn gần ba ngàn năm.

“Phật ở đời con còn sa đọa

Nay được thân người Phật Niết-bàn

Buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng

Chẳng thấy thân vàng Đức Thế Tôn”.

Đại chúng nhớ thuộc bài kinh này, nắm vững những nguyên lý sanh khởi ra năm uẩn, sanh khởi ra thức, xúc, thọ, tưởng, hành để khi thiền tập, sinh hoạt có thể nhận diện các pháp. Chúng ta không phải chỉ là học suông ở trên ngôn ngữ, trên từ ngữ, mà cần phải thực tập. Nhất là trong những giờ ngồi thiền, đây là thời gian hết sức thuận lợi để nhận diện các pháp ở trong thân tâm của mình. 

./.