Nhận Diện Thân Tâm 7
TINH HOA NIKĀYA
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 7
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành –
Kính thưa quý thầy, sự tiếp xúc vô cùng quan trọng, nếu chúng ta không thấy biết về pháp này thì khi sanh ra thọ sẽ tích trữ, lưu trữ bên trong mà chúng ta không hay biết, từ cái xúc sanh ra cảm giác cho nên ngày xưa khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì đối với sự tiếp xúc này ngài dạy rất kĩ sự hộ trì căn, tức là giữ gìn con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
"Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 360)
"Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỳ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 361)
Đức Thế Tôn rất quan trọng sự tiếp xúc của người tu vì thế các thầy ở trong các trường thiền là rất có phước báo, phước duyên rất lớn. Vì chúng ta sẽ ít tiếp xúc, chúng ta giảm bớt sự tiếp xúc vì càng tiếp xúc là càng sanh ra những cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Từ đó những tham ái, những sự dính mắc, hệ lụy sẽ vô hình chung ở trong sự âm thầm ngủ ngầm, tăng trưởng, phát triển, thống trị trong thọ; tưởng; hành mà chúng ta không hề hay biết. Nếu chúng ta không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì dục, tham, ái sanh khởi mà mình không hề hay biết, đến khi biết là chuyện đã rồi, cái biết đó chậm chạp, mất bò mới lo làm chuồng. Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải canh phòng, đề phòng, giữ gìn, hộ trì từ lúc sự việc chưa phát sanh, phải hộ trì sáu xúc xứ cho nên chúng ta còn rất nhiều pháp hành cần phải học và con mong các thầy phải học thuộc căn bản trí 1-2. Vì thế chúng ta cần canh chừng, đề phòng, quản lý, bảo vệ con mắt này, lỗ tai này, phải quản lý nó sát sao, khít khao, thật chặt chẽ, kĩ lưỡng nếu không là nó qua mặt mình rất nhanh, Thế Tôn nói thần thông của các vị chư thiên cũng không nhanh bằng sự sanh khởi của thọ; tưởng; hành, tức là sự sanh diệt của nó siêu nhanh, nếu không có thiền định, không có chánh niệm tỉnh giác, không có sự chiếu soi năm uẩn thì nó qua mặt mình vù vù, đó là lậu hoặc. Mình sẽ trở thành một con rối để thọ; tưởng; hành, dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã chỉ huy mình, mình thành đầy tớ phục dịch cho dục, nó dẫn dắt, điều khiển mình.
Cái dục, ái này vô cùng rộng, nó bao trùm mọi thứ, nhìn cái gì cũng thấy thích, thấy xe đẹp cũng thích, nhìn dép đẹp cũng thích, nhìn căn nhà đẹp, phòng ốc đẹp cũng có lạc thọ, được cho nhiều tiền cũng ham thích. Lúc đó tâm mình như thế nào đối với sắc pháp đó? Khi ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, khi leo lên xe đời mới thì thọ; tưởng; hành vận hành, sanh khởi ra sao? Khi tiếp xúc với người đẹp, những đối tượng có thể làm sanh khởi ra dục nhiễm, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì tâm mình ra sao, mình có thấy có biết không, có phòng hộ, bảo vệ, quản lý được không? Chỗ này mới là công phu tu tập, nếu không nhìn ra được các thọ; tưởng; hành, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm thì làm sao mình thấy biết tâm mình đầy đủ và sâu sắc? Cho nên nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng, ngũ uẩn là thân tâm mà nếu không biết thân tâm mình ra sao thì đó là vô minh, cho nên lúc nào cũng phải quay lại để nhìn trạng thái của thân hiện tại có dao động, có buông lung thả lỏng các căn không, có hướng ngoại không. Khi thấy nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc đụng chạm có sự bảo vệ, chánh niệm tỉnh giác không hay muốn nói gì là nói, muốn làm gì là làm? Vì vậy sự tiếp xúc vô cùng quan trọng, các thầy có rất nhiều phước đức, phước lành để tránh duyên xúc.
Nếu ở trong môi trường mà ngày nào cũng có nhiều bóng hồng lướt ngang qua thì chết như thường, thậm chí không phải bóng hồng mà là bông vạn thọ cũng vẫn chết như thường, cho nên mình được đại chúng bảo vệ, được sư phụ bảo vệ, được các huynh trưởng bảo vệ thì phải tác ý "con hạnh phúc quá, hy hữu hiếm có quá" để thấy hân hoan trong môi trường tu học. Có nhiều người tâm sự cứ tiếp xúc là tu không được, ngồi lại là trong tâm trạo cử, bị những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ xô ngã cho nên phước lành cho chúng ta, phước lạc cho chúng ta, phước báo cho chúng ta. Tác ý như vậy để ngày đêm hân hoan, tinh tấn, hỷ lạc trong tu học, nếu muốn hỷ lạc thì cứ tác ý hỷ vô lượng tâm, chúng ta phải thực tập bốn tâm vô lượng và phải tác ý liên tục vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên không tác ý thì làm sao pháp sanh khởi được. Người ta khao khát, khát ngưỡng được một ngày giống như mình mà suốt đời người ta không được, trong khi mình được thì lại thấy chán, thấy nhàm, thấy bình thường cho nên phải tác ý để trị cái không vui, cái thường thường đó.
Đức Phật dạy người đi đường gặp chó điên, gặp ngựa chứng, gặp người điên khùng thì phải tránh né. Trong bảy cách đoạn trừ phiền não có một cách tránh né mà phiền não được đoạn trừ, nếu mình gặp người hay kiếm chuyện, gây sự với mình thì tốt nhất là hãy tránh né họ, đừng tiếp xúc vì hễ có tiếp xúc là sanh ra chuyện, không ít thì nhiều. Ngoài đời có rất nhiều chuyện đau lòng, lúc đầu chỉ định mua xăng về hù dọa thôi nhưng cuối cùng đốt thật làm chết người, cho nên khi tiếp xúc là tham, sân, si, bản ngã sanh khởi lên không tự chủ được nên đừng đùa với ngã, cái dục, ái, tham, sân, si này vô cùng ghê gớm, phải biết lo sợ, kinh sợ đối với những cảm giác dục vọng, si mê, bản ngã này, đừng xem thường nó vì nó đã giết mình vô lượng vô biên kiếp rồi, bây giờ mình phải vùng lên quyết tử với nó.
Năm 1994 con ra Trúc Lâm tu là tu quyết tử, một ngày ngồi thiền sáu tiếng, mỗi lần lên ngồi thiền là các thầy xoa dầu vào chân, gân thì nổi lên, giờ ngồi thiền như giờ tác chiến, ra chiến trường. Ngồi một lần hai tiếng, một ngày ngồi ba lần như vậy, có nhiều thầy ngồi mà nước mắt chảy ròng, hai chân quạt liên tục, đau đớn nhưng vẫn không mở chân ra cho nên chúng ta tu là phải hùng lực, hung hãn lực, tuệ lực, tinh tấn lực, quyết tử lực, phải tác ý như vậy để mình mạnh mẽ lên, đại hùng đại lực trong pháp. Khi nãy là tác ý tinh tấn trong pháp, còn giờ là mãnh hổ lực, oai thần lực, trí tuệ lực, chết thì chết nhưng phải thể nhập Thánh pháp, Thánh trí tuệ. Con chỉ cho huynh đệ chúng ta những cách để biết dụng tâm, lúc nào buồn thì tác ý hỷ lạc, trân trọng cuộc đời tu cao quý, thánh thiện, còn khi nào thấy trong người yếu đuối, buông lung thì tác ý mãnh hổ lực, oai thần lực, tinh tấn lực, quyết tử lực, lúc nào thấy mình sân, bực bội thì tác ý tâm từ, tâm xót thương, bi mẫn, lúc nào thấy tâm nhiều chấp thủ thì tác ý tâm buông bỏ, tâm xả, từ bỏ. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên không tác ý là thiện pháp không sanh, trí tuệ không sanh, hỷ lạc không sanh vì vậy như lý tác ý rất quan trọng.
Ở bên ngoài chúng ta phòng hộ, không phải Đức Phật chỉ dạy một thứ trong khi mình học dễ bị thiên lệch, dễ bị chấp, học được cái gì rồi cho nó là số một, là hay nhất, không có gì qua được cái mình đã học nhưng Phật không dạy như vậy. Phật dạy từ trong ra ngoài căn – trần – thức, Phật dạy đánh rất nhiều trận tuyến, Minh Thành có giảng bài Chiến thuật tâm linh của Đức Phật trong ba buổi, Đức Phật đánh vào xứ, giới, uẩn, thọ, tưởng, tư, Đức Phật dùng biết bao nhiêu pháp để đánh sập, đánh tan, đánh nát chứ không phải chỉ có một pháp, vì thế nếu mình chỉ tu một pháp là không bao giờ thành công vì phiền não, vô minh, lậu hoặc không phải một mà mình chỉ lấy một pháp chống chọi với nó là chọi không nổi. Cho nên Đức Phật dạy rất nhiều trí tuệ để ứng phó các trận tuyến, những mặt trận của dục, tham, ái, vô minh, si mê, bản ngã vì vậy bên ngoài cần hộ trì căn, giảm bớt tiếp duyên xúc cảnh, bên trong là hộ trì ý căn, chứ không phải chỉ phòng hộ bên ngoài còn bên trong muốn tưởng gì là tưởng. Nhìn bên ngoài thấy ngồi im lặng nhưng bên trong là biết bao suy nghĩ, hình ảnh ta đây ám ảnh.
-"Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư" (nghi thức tu học Nikāya)
Những cái này rất quan trọng và cực kì sâu sắc, có khi tu cả cuộc đời cũng không biết tâm mình vận hành như thế nào nhưng trong bài duyên sanh pháp này sẽ trình bày, phơi bày, Đức Thế Tôn sẽ đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những ai có mắt có thể thấy được sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, cho chúng ta thấy rõ được nội tâm chúng ta như thế nào. Bây giờ ý là sự để ý trở lại bên trong, khi nhận diện năm uẩn là quay lại để ý vào trong tâm, còn bình thường là mình hướng ngoại cho nên ý ở đây là ý căn, là sự để ý lại bên trong, khi mình để ý lại thì mình thấy trong tâm mình có hình bóng của người nào đó, có một cảm giác dễ chịu, thân thương và có những suy nghĩ về người đó. Đó là các pháp thọ; tưởng; hành, ví dụ hình bóng đó là mẹ cha, anh chị em hoặc hình bóng là người bạn học hoặc là người mình thương nhớ ngày xưa mà chưa kịp nói ra còn lưu giữ trong tâm, khi mình quay lại tâm để ý thì mình thấy nó hiện ra, đó chính là pháp trần, là thọ; tưởng; hành. Khi mình quay vào tâm để ý thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình đã từng tiếp xúc hiện trở lại, hình bóng đó có thể là món đồ, con người hay cảnh vật, những cảm giác, suy nghĩ về con người, đồ vật, cảnh sắc đó hiện trở lại thì đó là pháp trần. Mình rõ biết được những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, cái rõ biết đó là ý thức.
Mình rõ biết được trong tâm mình đang có hình bóng người đó, đang có cảm giác, suy nghĩ đó thì cái rõ biết đó là ý thức. Mình đang làm thì bỗng nhiên mình thấy món đồ gì đó thì món đồ đó khơi gợi cho mình hồi tưởng lại cuộc cãi vã năm xưa khi mình chưa đi tu, lúc đó trong tâm có hình bóng của người ngày xưa mình đánh nhau, có cảm giác khó chịu và những suy nghĩ sanh khởi ra. Khi nãy là thọ; tưởng; hành của tham ái còn bây giờ là thọ; tưởng; hành của sân, như vậy là mình nhớ lại hình ảnh người đánh nhau với mình, có cảm giác bực bội, khó chịu, có suy nghĩ về người đó, nếu ngay đó mà phát ra khẩu hành kể cho người khác nghe thì thọ; tưởng; hành trong tâm lại vận hành tiếp. Đó là pháp trần ở trong tâm, còn phát ra khẩu hành lại khác nữa, mình để ý lai trong tâm đang có hình bóng người làm mình tức giận, đang có cảm giác khó chịu và đang có suy nghĩ về người làm mình đau khổ thì đó là pháp trần. Đó chính là nội trần, cho nên chữ pháp trần chính là thọ; tưởng; hành, còn sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần là ngũ trần ở bên ngoài.
Tại sao lại gọi là trần? Vì trần nghĩa là bụi, sáu thứ đó làm nhuốm bụi tâm chúng sanh, làm dơ bẩn, ô nhiễm tâm chúng sanh nên gọi là trần, là bụi bặm, bụi đời. Hễ nhìn cái gì đẹp là sanh khởi ra tham muốn, ham thích, không kiềm chế được thì ăn cắp, ăn trộm, đó là bụi. Đó là năm thứ bên ngoài, còn bên trong gọi là pháp trần, chính là thọ; tưởng; hành, là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bên trong tâm, mình khởi lên sự rõ biết thọ; tưởng; hành đó thì đó là ý thức. Tâm của mình nhiều khi lang thang, đang làm cái này mà nhớ cái kia, nó tưởng cái nọ, không tập trung làm rơi bể đồ rồi "xin lỗi, tôi vô ý", đó là tâm lang thang, tâm vất vơ vất vưởng, tâm suốt ngày đi du lịch cho nên mới có câu "nhất niệm thập phương du lịch" nghĩa là một niệm đi du lịch khắp mười phương, đó là tâm rong chơi nên không nhận thức được cái gì đang có mặt bên trong vì thế sự chánh niệm và tỉnh giác là quay về nhận diện thọ; tưởng; hành, ý thức là rõ biết được những cái thọ; tưởng; hành đó, ba pháp đó hội tụ tạo thành ý xúc. Do duyên có ý xúc nên sanh khởi ra thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư cho nên khi nhớ đến người mình yêu thương thì sanh khởi ra cảm thọ ngọt ngào, tham ái, lưu luyến, nhớ nhung, còn nhớ đến người sân hận, thù giận thì sanh ra cảm thọ nóng bực, thiêu đốt. Chỉ cần ngồi một mình mà nhớ lại thôi thì tham, sân đã vận hành, sanh khởi chứ không cần đợi đến khi nghe chửi mới giận. "Sáng giờ tôi tức quá vì nhớ lại người lừa gạt mình", ngồi nhớ lại cũng thấy tức nữa, đó là thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Hồi tưởng lại những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình đã từng nếm trải là pháp tưởng. Mình suy nghĩ lại mình đã từng có những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó là pháp tư. Sáng nay mình ra vườn rau thu hoạch rau, được mọi người tán thưởng rau tươi xanh, lúc đó có bao nhiêu pháp vận hành? Do có tiếng khen đó là âm thanh, do có lỗi tai rồi sanh khởi ra sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa trở thành nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai, thọ do nhĩ xúc sanh. Mấy ngày sau vẫn còn nhớ lại âm thanh khen ngợi đó là thanh tưởng, suy nghĩ về âm thanh đó là thanh tư. Mình nhớ lại mình từng vui sướng ra sao, đau khổ ra sao, mình từng lên voi xuống chó thế nào thì những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó là pháp tưởng, pháp tư, mình thích thú với những hình ảnh, suy nghĩ đó, mình bực bội, khó chịu với những hình ảnh, suy nghĩ hoặc là mình đơ ra, tham, sân, si, trong đó, có một tự ngã trong đó "tôi hơn", "tôi bằng" hoặc là "tôi thua". Trong suy nghĩ của mình có cái tôi, có cái ta và có tự ngã, chúng ta không thấy được tất cả những cái này là một đống pháp vận hành chứ không có tôi, ta nào cả. Như vậy là tu trong mê lầm, tu trong bóng đêm, tu trong không thấy không biết, mình chưa thành tựu được Thánh tri kiến, chánh tri kiến, cái thấy đúng về pháp đang có mặt, đang sanh khởi, đang vận hành, áp đảo, chế ngự và thống trị trong tâm của mình.
Mình để ý lại bên trong thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện rõ ra, lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Ba cái này tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác, chúng ta lại tiếp tục hồi tưởng lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó thì sanh ra thọ; tưởng; hành thứ hai, rồi lại sanh ra thọ; tưởng; hành thứ ba, thứ tư, thứ năm… chúng nó cứ sanh khởi liên tục như vậy nên gọi là chúng sanh, chúng nó chính là thọ; tưởng; hành, hết hình bóng này đến hình bóng kia, hết cảm giác này đến cảm giác khác, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ khác. Rồi mình yêu thích, khoan khoái, lưu giữ những cái thọ; tưởng; hành đó và cho nó là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi, đó là một ảo tưởng về tự ngã không thấy được duyên sanh pháp.
Chúng ta đã bắt đầu thấy được tâm của mình vận hành chưa? Con mong rằng những giờ ngồi thiền các thầy phải nhận diện thật kĩ những cái này vì đây là Thánh trí tuệ của Đức Thế Tôn, chúng ta đang là những người thừa kế gia tài của bậc Thánh, phải học thuộc lòng và phải nhận diện ra được các pháp trong thân tâm, không những trong giờ học mà cả trong lúc ra vườn, lúc xuống bếp, lúc làm lao tác, lúc trồng cây cũng phải nhận diện được thân tâm, để ý vào trong để thấy được thọ; tưởng; hành lúc đó ra sao, cần siêng năng nhận diện thường xuyên và liên tục, siêng năng quán chiếu, siêng năng soi rọi, siêng năng để tâm vào bên trong để nội quán, phản tỉnh, dùng kính lúp rọi vào để thấy rõ những con virut, vi trùng trong nội tâm, cần phải ngăn chặn, chế ngự và diệt tận chúng tận gốc. Những con virut Covid 19 hay Omicron cũng chưa nguy hiểm bằng con virut dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, con virut nCov mới xuất hiện hai ba năm gần đây thôi, còn con virut dục, ái, tham, sân, si, bản ngã mới khủng khiếp vì nó giết cả thái dương hệ từ vô biên vô thỉ kiếp cho đến nay, cho nên cần phải diệt tận, ruồng tận sào huyệt, hang ổ, đánh cho nó tan xác nhưng muốn được như vậy thì cần thấy biết thân tâm mình trước tiên rồi mới nhận diện ra những lậu hoặc, cấu uế cư trú bên trong tâm.
Nếu gom gọn lại là căn – trần – thức – xúc – thọ – tưởng – tư, chỉ có bảy chữ thôi. Căn là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, trần là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, thức là sự rõ biết hình sắc, âm thanh, mùi vị, sự đụng chạm và các thọ; tưởng; hành bên trong, tiếp xúc rồi sanh ra thọ; tưởng; hành, thọ; tưởng; tư.
Sự chứng ngộ của Đức Phật là ngài phân loại những suy nghĩ, tất cả những suy nghĩ của chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay không ra khỏi sáu loại suy nghĩ cho nên không phải học chỉ để biết mà cần phải nhận diện và quán chiếu trong sáu loại suy tư đó. Khi mình suy nghĩ thì cần nhận diện suy nghĩ này thuộc về cái gì, suy nghĩ về sắc, âm thanh hay sự xúc chạm, phải nhìn ra được những dạng thức, chủng loại, đường hướng của những suy nghĩ đó, cần kiểm tra, kiểm soát tất cả những suy nghĩ trong tâm và phân loại nó ra. Kiểm tra suy nghĩ đó có tham, sân, si không, suy nghĩ đó có đúng chánh pháp không hay nghĩ theo chiều hướng vô minh, chấp ngã, sáu loại suy nghĩ đó thuộc về hành uẩn trong năm uẩn, đó là tổ hợp của những suy nghĩ, uẩn là sự tích tụ, tập hợp.
./.
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 7
CĂN BẢN TRÍ
– Thích Minh Thành –
Kính thưa quý thầy, sự tiếp xúc vô cùng quan trọng, nếu chúng ta không thấy biết về pháp này thì khi sanh ra thọ sẽ tích trữ, lưu trữ bên trong mà chúng ta không hay biết, từ cái xúc sanh ra cảm giác cho nên ngày xưa khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì đối với sự tiếp xúc này ngài dạy rất kĩ sự hộ trì căn, tức là giữ gìn con mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
"Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 360)
"Lành thay, phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỳ-kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 361)
Đức Thế Tôn rất quan trọng sự tiếp xúc của người tu vì thế các thầy ở trong các trường thiền là rất có phước báo, phước duyên rất lớn. Vì chúng ta sẽ ít tiếp xúc, chúng ta giảm bớt sự tiếp xúc vì càng tiếp xúc là càng sanh ra những cảm giác, những hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Từ đó những tham ái, những sự dính mắc, hệ lụy sẽ vô hình chung ở trong sự âm thầm ngủ ngầm, tăng trưởng, phát triển, thống trị trong thọ; tưởng; hành mà chúng ta không hề hay biết. Nếu chúng ta không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì dục, tham, ái sanh khởi mà mình không hề hay biết, đến khi biết là chuyện đã rồi, cái biết đó chậm chạp, mất bò mới lo làm chuồng. Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải canh phòng, đề phòng, giữ gìn, hộ trì từ lúc sự việc chưa phát sanh, phải hộ trì sáu xúc xứ cho nên chúng ta còn rất nhiều pháp hành cần phải học và con mong các thầy phải học thuộc căn bản trí 1-2. Vì thế chúng ta cần canh chừng, đề phòng, quản lý, bảo vệ con mắt này, lỗ tai này, phải quản lý nó sát sao, khít khao, thật chặt chẽ, kĩ lưỡng nếu không là nó qua mặt mình rất nhanh, Thế Tôn nói thần thông của các vị chư thiên cũng không nhanh bằng sự sanh khởi của thọ; tưởng; hành, tức là sự sanh diệt của nó siêu nhanh, nếu không có thiền định, không có chánh niệm tỉnh giác, không có sự chiếu soi năm uẩn thì nó qua mặt mình vù vù, đó là lậu hoặc. Mình sẽ trở thành một con rối để thọ; tưởng; hành, dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã chỉ huy mình, mình thành đầy tớ phục dịch cho dục, nó dẫn dắt, điều khiển mình.
Cái dục, ái này vô cùng rộng, nó bao trùm mọi thứ, nhìn cái gì cũng thấy thích, thấy xe đẹp cũng thích, nhìn dép đẹp cũng thích, nhìn căn nhà đẹp, phòng ốc đẹp cũng có lạc thọ, được cho nhiều tiền cũng ham thích. Lúc đó tâm mình như thế nào đối với sắc pháp đó? Khi ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, khi leo lên xe đời mới thì thọ; tưởng; hành vận hành, sanh khởi ra sao? Khi tiếp xúc với người đẹp, những đối tượng có thể làm sanh khởi ra dục nhiễm, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì tâm mình ra sao, mình có thấy có biết không, có phòng hộ, bảo vệ, quản lý được không? Chỗ này mới là công phu tu tập, nếu không nhìn ra được các thọ; tưởng; hành, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm thì làm sao mình thấy biết tâm mình đầy đủ và sâu sắc? Cho nên nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng, ngũ uẩn là thân tâm mà nếu không biết thân tâm mình ra sao thì đó là vô minh, cho nên lúc nào cũng phải quay lại để nhìn trạng thái của thân hiện tại có dao động, có buông lung thả lỏng các căn không, có hướng ngoại không. Khi thấy nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc đụng chạm có sự bảo vệ, chánh niệm tỉnh giác không hay muốn nói gì là nói, muốn làm gì là làm? Vì vậy sự tiếp xúc vô cùng quan trọng, các thầy có rất nhiều phước đức, phước lành để tránh duyên xúc.
Nếu ở trong môi trường mà ngày nào cũng có nhiều bóng hồng lướt ngang qua thì chết như thường, thậm chí không phải bóng hồng mà là bông vạn thọ cũng vẫn chết như thường, cho nên mình được đại chúng bảo vệ, được sư phụ bảo vệ, được các huynh trưởng bảo vệ thì phải tác ý "con hạnh phúc quá, hy hữu hiếm có quá" để thấy hân hoan trong môi trường tu học. Có nhiều người tâm sự cứ tiếp xúc là tu không được, ngồi lại là trong tâm trạo cử, bị những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ xô ngã cho nên phước lành cho chúng ta, phước lạc cho chúng ta, phước báo cho chúng ta. Tác ý như vậy để ngày đêm hân hoan, tinh tấn, hỷ lạc trong tu học, nếu muốn hỷ lạc thì cứ tác ý hỷ vô lượng tâm, chúng ta phải thực tập bốn tâm vô lượng và phải tác ý liên tục vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên không tác ý thì làm sao pháp sanh khởi được. Người ta khao khát, khát ngưỡng được một ngày giống như mình mà suốt đời người ta không được, trong khi mình được thì lại thấy chán, thấy nhàm, thấy bình thường cho nên phải tác ý để trị cái không vui, cái thường thường đó.
Đức Phật dạy người đi đường gặp chó điên, gặp ngựa chứng, gặp người điên khùng thì phải tránh né. Trong bảy cách đoạn trừ phiền não có một cách tránh né mà phiền não được đoạn trừ, nếu mình gặp người hay kiếm chuyện, gây sự với mình thì tốt nhất là hãy tránh né họ, đừng tiếp xúc vì hễ có tiếp xúc là sanh ra chuyện, không ít thì nhiều. Ngoài đời có rất nhiều chuyện đau lòng, lúc đầu chỉ định mua xăng về hù dọa thôi nhưng cuối cùng đốt thật làm chết người, cho nên khi tiếp xúc là tham, sân, si, bản ngã sanh khởi lên không tự chủ được nên đừng đùa với ngã, cái dục, ái, tham, sân, si này vô cùng ghê gớm, phải biết lo sợ, kinh sợ đối với những cảm giác dục vọng, si mê, bản ngã này, đừng xem thường nó vì nó đã giết mình vô lượng vô biên kiếp rồi, bây giờ mình phải vùng lên quyết tử với nó.
Năm 1994 con ra Trúc Lâm tu là tu quyết tử, một ngày ngồi thiền sáu tiếng, mỗi lần lên ngồi thiền là các thầy xoa dầu vào chân, gân thì nổi lên, giờ ngồi thiền như giờ tác chiến, ra chiến trường. Ngồi một lần hai tiếng, một ngày ngồi ba lần như vậy, có nhiều thầy ngồi mà nước mắt chảy ròng, hai chân quạt liên tục, đau đớn nhưng vẫn không mở chân ra cho nên chúng ta tu là phải hùng lực, hung hãn lực, tuệ lực, tinh tấn lực, quyết tử lực, phải tác ý như vậy để mình mạnh mẽ lên, đại hùng đại lực trong pháp. Khi nãy là tác ý tinh tấn trong pháp, còn giờ là mãnh hổ lực, oai thần lực, trí tuệ lực, chết thì chết nhưng phải thể nhập Thánh pháp, Thánh trí tuệ. Con chỉ cho huynh đệ chúng ta những cách để biết dụng tâm, lúc nào buồn thì tác ý hỷ lạc, trân trọng cuộc đời tu cao quý, thánh thiện, còn khi nào thấy trong người yếu đuối, buông lung thì tác ý mãnh hổ lực, oai thần lực, tinh tấn lực, quyết tử lực, lúc nào thấy mình sân, bực bội thì tác ý tâm từ, tâm xót thương, bi mẫn, lúc nào thấy tâm nhiều chấp thủ thì tác ý tâm buông bỏ, tâm xả, từ bỏ. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên không tác ý là thiện pháp không sanh, trí tuệ không sanh, hỷ lạc không sanh vì vậy như lý tác ý rất quan trọng.
Ở bên ngoài chúng ta phòng hộ, không phải Đức Phật chỉ dạy một thứ trong khi mình học dễ bị thiên lệch, dễ bị chấp, học được cái gì rồi cho nó là số một, là hay nhất, không có gì qua được cái mình đã học nhưng Phật không dạy như vậy. Phật dạy từ trong ra ngoài căn – trần – thức, Phật dạy đánh rất nhiều trận tuyến, Minh Thành có giảng bài Chiến thuật tâm linh của Đức Phật trong ba buổi, Đức Phật đánh vào xứ, giới, uẩn, thọ, tưởng, tư, Đức Phật dùng biết bao nhiêu pháp để đánh sập, đánh tan, đánh nát chứ không phải chỉ có một pháp, vì thế nếu mình chỉ tu một pháp là không bao giờ thành công vì phiền não, vô minh, lậu hoặc không phải một mà mình chỉ lấy một pháp chống chọi với nó là chọi không nổi. Cho nên Đức Phật dạy rất nhiều trí tuệ để ứng phó các trận tuyến, những mặt trận của dục, tham, ái, vô minh, si mê, bản ngã vì vậy bên ngoài cần hộ trì căn, giảm bớt tiếp duyên xúc cảnh, bên trong là hộ trì ý căn, chứ không phải chỉ phòng hộ bên ngoài còn bên trong muốn tưởng gì là tưởng. Nhìn bên ngoài thấy ngồi im lặng nhưng bên trong là biết bao suy nghĩ, hình ảnh ta đây ám ảnh.
-"Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Ý + Thọ, Tưởng, Hành => Ý thức => Ý xúc => Thọ do ý xúc sanh + Pháp tưởng + Pháp tư" (nghi thức tu học Nikāya)
Những cái này rất quan trọng và cực kì sâu sắc, có khi tu cả cuộc đời cũng không biết tâm mình vận hành như thế nào nhưng trong bài duyên sanh pháp này sẽ trình bày, phơi bày, Đức Thế Tôn sẽ đem đèn sáng vào trong bóng tối cho những ai có mắt có thể thấy được sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, cho chúng ta thấy rõ được nội tâm chúng ta như thế nào. Bây giờ ý là sự để ý trở lại bên trong, khi nhận diện năm uẩn là quay lại để ý vào trong tâm, còn bình thường là mình hướng ngoại cho nên ý ở đây là ý căn, là sự để ý lại bên trong, khi mình để ý lại thì mình thấy trong tâm mình có hình bóng của người nào đó, có một cảm giác dễ chịu, thân thương và có những suy nghĩ về người đó. Đó là các pháp thọ; tưởng; hành, ví dụ hình bóng đó là mẹ cha, anh chị em hoặc hình bóng là người bạn học hoặc là người mình thương nhớ ngày xưa mà chưa kịp nói ra còn lưu giữ trong tâm, khi mình quay lại tâm để ý thì mình thấy nó hiện ra, đó chính là pháp trần, là thọ; tưởng; hành. Khi mình quay vào tâm để ý thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình đã từng tiếp xúc hiện trở lại, hình bóng đó có thể là món đồ, con người hay cảnh vật, những cảm giác, suy nghĩ về con người, đồ vật, cảnh sắc đó hiện trở lại thì đó là pháp trần. Mình rõ biết được những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó, cái rõ biết đó là ý thức.
Mình rõ biết được trong tâm mình đang có hình bóng người đó, đang có cảm giác, suy nghĩ đó thì cái rõ biết đó là ý thức. Mình đang làm thì bỗng nhiên mình thấy món đồ gì đó thì món đồ đó khơi gợi cho mình hồi tưởng lại cuộc cãi vã năm xưa khi mình chưa đi tu, lúc đó trong tâm có hình bóng của người ngày xưa mình đánh nhau, có cảm giác khó chịu và những suy nghĩ sanh khởi ra. Khi nãy là thọ; tưởng; hành của tham ái còn bây giờ là thọ; tưởng; hành của sân, như vậy là mình nhớ lại hình ảnh người đánh nhau với mình, có cảm giác bực bội, khó chịu, có suy nghĩ về người đó, nếu ngay đó mà phát ra khẩu hành kể cho người khác nghe thì thọ; tưởng; hành trong tâm lại vận hành tiếp. Đó là pháp trần ở trong tâm, còn phát ra khẩu hành lại khác nữa, mình để ý lai trong tâm đang có hình bóng người làm mình tức giận, đang có cảm giác khó chịu và đang có suy nghĩ về người làm mình đau khổ thì đó là pháp trần. Đó chính là nội trần, cho nên chữ pháp trần chính là thọ; tưởng; hành, còn sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần là ngũ trần ở bên ngoài.
Tại sao lại gọi là trần? Vì trần nghĩa là bụi, sáu thứ đó làm nhuốm bụi tâm chúng sanh, làm dơ bẩn, ô nhiễm tâm chúng sanh nên gọi là trần, là bụi bặm, bụi đời. Hễ nhìn cái gì đẹp là sanh khởi ra tham muốn, ham thích, không kiềm chế được thì ăn cắp, ăn trộm, đó là bụi. Đó là năm thứ bên ngoài, còn bên trong gọi là pháp trần, chính là thọ; tưởng; hành, là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bên trong tâm, mình khởi lên sự rõ biết thọ; tưởng; hành đó thì đó là ý thức. Tâm của mình nhiều khi lang thang, đang làm cái này mà nhớ cái kia, nó tưởng cái nọ, không tập trung làm rơi bể đồ rồi "xin lỗi, tôi vô ý", đó là tâm lang thang, tâm vất vơ vất vưởng, tâm suốt ngày đi du lịch cho nên mới có câu "nhất niệm thập phương du lịch" nghĩa là một niệm đi du lịch khắp mười phương, đó là tâm rong chơi nên không nhận thức được cái gì đang có mặt bên trong vì thế sự chánh niệm và tỉnh giác là quay về nhận diện thọ; tưởng; hành, ý thức là rõ biết được những cái thọ; tưởng; hành đó, ba pháp đó hội tụ tạo thành ý xúc. Do duyên có ý xúc nên sanh khởi ra thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư cho nên khi nhớ đến người mình yêu thương thì sanh khởi ra cảm thọ ngọt ngào, tham ái, lưu luyến, nhớ nhung, còn nhớ đến người sân hận, thù giận thì sanh ra cảm thọ nóng bực, thiêu đốt. Chỉ cần ngồi một mình mà nhớ lại thôi thì tham, sân đã vận hành, sanh khởi chứ không cần đợi đến khi nghe chửi mới giận. "Sáng giờ tôi tức quá vì nhớ lại người lừa gạt mình", ngồi nhớ lại cũng thấy tức nữa, đó là thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Hồi tưởng lại những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ mà mình đã từng nếm trải là pháp tưởng. Mình suy nghĩ lại mình đã từng có những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng đó là pháp tư. Sáng nay mình ra vườn rau thu hoạch rau, được mọi người tán thưởng rau tươi xanh, lúc đó có bao nhiêu pháp vận hành? Do có tiếng khen đó là âm thanh, do có lỗi tai rồi sanh khởi ra sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa trở thành nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai, thọ do nhĩ xúc sanh. Mấy ngày sau vẫn còn nhớ lại âm thanh khen ngợi đó là thanh tưởng, suy nghĩ về âm thanh đó là thanh tư. Mình nhớ lại mình từng vui sướng ra sao, đau khổ ra sao, mình từng lên voi xuống chó thế nào thì những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó là pháp tưởng, pháp tư, mình thích thú với những hình ảnh, suy nghĩ đó, mình bực bội, khó chịu với những hình ảnh, suy nghĩ hoặc là mình đơ ra, tham, sân, si, trong đó, có một tự ngã trong đó "tôi hơn", "tôi bằng" hoặc là "tôi thua". Trong suy nghĩ của mình có cái tôi, có cái ta và có tự ngã, chúng ta không thấy được tất cả những cái này là một đống pháp vận hành chứ không có tôi, ta nào cả. Như vậy là tu trong mê lầm, tu trong bóng đêm, tu trong không thấy không biết, mình chưa thành tựu được Thánh tri kiến, chánh tri kiến, cái thấy đúng về pháp đang có mặt, đang sanh khởi, đang vận hành, áp đảo, chế ngự và thống trị trong tâm của mình.
Mình để ý lại bên trong thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện rõ ra, lúc đó mình rõ biết đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó. Ba cái này tiếp xúc với nhau sanh ra cảm giác, chúng ta lại tiếp tục hồi tưởng lại những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó thì sanh ra thọ; tưởng; hành thứ hai, rồi lại sanh ra thọ; tưởng; hành thứ ba, thứ tư, thứ năm… chúng nó cứ sanh khởi liên tục như vậy nên gọi là chúng sanh, chúng nó chính là thọ; tưởng; hành, hết hình bóng này đến hình bóng kia, hết cảm giác này đến cảm giác khác, hết suy nghĩ này đến suy nghĩ khác. Rồi mình yêu thích, khoan khoái, lưu giữ những cái thọ; tưởng; hành đó và cho nó là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi, đó là một ảo tưởng về tự ngã không thấy được duyên sanh pháp.
Chúng ta đã bắt đầu thấy được tâm của mình vận hành chưa? Con mong rằng những giờ ngồi thiền các thầy phải nhận diện thật kĩ những cái này vì đây là Thánh trí tuệ của Đức Thế Tôn, chúng ta đang là những người thừa kế gia tài của bậc Thánh, phải học thuộc lòng và phải nhận diện ra được các pháp trong thân tâm, không những trong giờ học mà cả trong lúc ra vườn, lúc xuống bếp, lúc làm lao tác, lúc trồng cây cũng phải nhận diện được thân tâm, để ý vào trong để thấy được thọ; tưởng; hành lúc đó ra sao, cần siêng năng nhận diện thường xuyên và liên tục, siêng năng quán chiếu, siêng năng soi rọi, siêng năng để tâm vào bên trong để nội quán, phản tỉnh, dùng kính lúp rọi vào để thấy rõ những con virut, vi trùng trong nội tâm, cần phải ngăn chặn, chế ngự và diệt tận chúng tận gốc. Những con virut Covid 19 hay Omicron cũng chưa nguy hiểm bằng con virut dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, con virut nCov mới xuất hiện hai ba năm gần đây thôi, còn con virut dục, ái, tham, sân, si, bản ngã mới khủng khiếp vì nó giết cả thái dương hệ từ vô biên vô thỉ kiếp cho đến nay, cho nên cần phải diệt tận, ruồng tận sào huyệt, hang ổ, đánh cho nó tan xác nhưng muốn được như vậy thì cần thấy biết thân tâm mình trước tiên rồi mới nhận diện ra những lậu hoặc, cấu uế cư trú bên trong tâm.
Nếu gom gọn lại là căn – trần – thức – xúc – thọ – tưởng – tư, chỉ có bảy chữ thôi. Căn là mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, trần là sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp, thức là sự rõ biết hình sắc, âm thanh, mùi vị, sự đụng chạm và các thọ; tưởng; hành bên trong, tiếp xúc rồi sanh ra thọ; tưởng; hành, thọ; tưởng; tư.
Sự chứng ngộ của Đức Phật là ngài phân loại những suy nghĩ, tất cả những suy nghĩ của chúng sanh từ vô thỉ kiếp cho đến nay không ra khỏi sáu loại suy nghĩ cho nên không phải học chỉ để biết mà cần phải nhận diện và quán chiếu trong sáu loại suy tư đó. Khi mình suy nghĩ thì cần nhận diện suy nghĩ này thuộc về cái gì, suy nghĩ về sắc, âm thanh hay sự xúc chạm, phải nhìn ra được những dạng thức, chủng loại, đường hướng của những suy nghĩ đó, cần kiểm tra, kiểm soát tất cả những suy nghĩ trong tâm và phân loại nó ra. Kiểm tra suy nghĩ đó có tham, sân, si không, suy nghĩ đó có đúng chánh pháp không hay nghĩ theo chiều hướng vô minh, chấp ngã, sáu loại suy nghĩ đó thuộc về hành uẩn trong năm uẩn, đó là tổ hợp của những suy nghĩ, uẩn là sự tích tụ, tập hợp.
./.