Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hộ Trì Căn

2026-03-03 00:53:56
HỘ TRÌ CĂN

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Giá trị của thực hành quán thân – Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc71809343 \h 1

II. Năm triền cái PAGEREF _Toc71809344 \h 4

III. Quán thọ PAGEREF _Toc71809345 \h 5

IV. Huấn luyện cảm giác PAGEREF _Toc71809346 \h 7

I. Giá trị của thực hành quán thân – Tứ Niệm Xứ

Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng. Cúi đầu đảnh lễ mười phương hiền thánh Tăng bốn đôi tám bậc là ruộng phước vô thượng trên đời.

Kính thưa đại chúng trong khóa tu "Niệm thân" Thân Hành Niệm, chúng ta đã nghe và thực tập những phương pháp từ những lời dạy gốc của Đức Phật rất là sâu sắc về bản chất của thân, từ những cái đơn giản như oai nghi, hành động, cử chỉ, hơi thở. Chúng ta đã tiến sâu vào để quán chiếu về tứ đại, ba mươi hai phần không sạch sẽ và quán chiếu chín giai đoạn phân hủy của một thây chết. Chúng ta mới thấy được cái trí tuệ đại viên mãn mà đức Như Lai muốn truyền trao cho chúng ta hết sức thâm sâu và rộng lớn.

Đức Thế Tôn không chỉ cho chúng ta thấy được bản chất thật sự của tấm thân này, mà Ngài còn hướng dẫn cho thân của mình được trong sạch, được oai nghi, được tỉnh giác, được đẹp. Chúng ta phải chiêm nghiệm thật nhiều, quán chiếu thật sâu sắc thì mình mới thấy được tầm vóc trí huệ vĩ đại và một pháp hành viên mãn của đức Như Lai. Không phải mình đọc mỗi ngày mà mình đã hiểu được Thân Hành Niệm này. Minh Thành sẽ nói tổng hợp để chúng ta thấy được cách mà Đức Phật triển khai tuệ giác và cách mà Ngài truyền đạt một đạo lộ hành trì, riêng về phần niệm thân thì mình đã thấy đại viên mãn tròn đầy.

Chúng ta thấy Ngài có gì trong thân thì Ngài nói ra như thế, sau khi phân hủy như thế nào thì Ngài cũng nói rõ như thế, nhưng Ngài lại nói mỗi cử chỉ, mỗi động tác phải đẹp, phải chánh niệm, phải tỉnh thức, phải có giới đức, giới hạnh cao thượng. Chúng ta thấy cách giáo dục và pháp hành của Đức Phật là không phải nói một chiều mà cho chúng ta thấy tuần tự. "Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn", đó là bốn Niệm Xứ.

Những câu này không phải dễ mà mình thẩm thấu được, ngoài con đường này ra không có con đường thứ hai để làm cho chúng sanh được trong sạch, vượt khỏi những sầu bi khổ ưu não, ngoài con đường này ra thì không có một phương pháp nào để thành tựu chánh trí, cái trí tuệ chân chánh, ngoài con đường này ra thì không có một đạo lộ nào khác để có thể dập tắt được hết tham dục ái sân si, vô minh và bản ngã. Cho nên đây là con đường độc nhất chứng ngộ Niết bàn.

Làm sao chúng ta có thể dập tắt được tham ái, những vô minh bản ngã, si mê trong khi mình không hiểu được chính tự thân tâm của mình? Sự kiện đó không thể xảy ra, tại vì nguồn cội của tham sân si là ở ngay trong tâm chứ không phải ở ngoài kia, còn mình tu mà cứ hướng ngoại thì làm sao giải quyết được. Quý vị thấy tham muốn, nóng giận, cái ta đây là ở đâu? Mà mình không quay về để phát giác, phát hiện và tìm cách nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, mình cứ hướng ra ngoài thì mình tu tới chừng nào?

Đây chính là "con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn". Những cái này mình phải đọc cho tới chừng nào thành tựu thánh trí thì thôi, mình phải có lòng tin thật vững chắc, không dao động, không lay chuyển. Chính tự thân quý vị thực tập trong mấy ngày nay đã thấy được sắc thân này như thế nào, cảm giác này như thế nào, nội tâm này như thế nào, những thứ bên trong vận hành như thế nào, mình thực thấy, thực biết, chứng nghiệm bằng tự thân. Quý vị thấy lời dạy của Đức Phật có cái gì xa vời, viễn vong không? Toàn bộ những gì Đức Phật nói là tự thân và tự tâm của chính mình.

Mình đang nghiên cứu và tìm hiểu chính mình, lâu nay mình nhìn ngó, tìm hiểu những cái bên ngoài thì bây giờ mình quay lại tìm hiểu chính mình. Đức Phật dạy mình phải sống quán thân ở trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm để chế ngự tham muốn ở đời. Hai chữ nhiệt tâm này hay lắm, hôm qua mình đã học tỉnh giác chánh niệm: Phải tha thiết, phải chân thành, phải để tâm, phải bằng tất cả tấm lòng, đặt trọn vẹn trái tim mình trong chánh pháp khi mình tu học. Khi vừa phóng tâm ra vấn đề khác là mình thâu nhiếp trở lại, khi vừa nghĩ tưởng về một cái gì khác là mình phải nhiếp phục, quay trở lại.

Chúng ta đã thực tập chánh niệm trước mặt, ngồi kiết già trong một căn nhà trống. Chúng ta đã rõ biết, biết bằng hơi thở vào -ra, dài- ngắn. Chúng ta đã thực tập cảm giác toàn thân và an tịnh. Khi quý vị thực tập những hơi thở thì mình thấy rõ có sự quay trở về, cảm nhận được hơi thở, thân thể, cảm nhận được sự có mặt đang ngồi, sắc đang ngồi, thân đang ngồi, hơi thở vào- ra và an tịnh cảm giác.

Mình học hết bản kinh Tứ Niệm Xứ hay Đại Niệm Xứ thì Đức Phật không nói đâu xa, chỉ nói trong thân tâm mình, tất cả nguyên tạng kinh Nikāya Đức Phật nói cái gì rồi cũng quay trở về phải hiểu được thân tâm mình. Toàn bộ tạng kinh Nikāya là thánh trí về chính mình, là ngũ uẩn sanh khởi. Cho nên Đức Phật dạy mình "vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên các ngoại thân; hay sống quán thân trên các nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo sống quán thân trên thân" (Tứ Niệm Xứ, Quán Thân).

Quý vị phải đi chậm rồi chiêm nghiệm thì mới thấy được nó vi diệu làm sao, chứ không phải là chuyện mình mở kinh Tứ Niệm Xứ ra đọc cho hết bài là xong. Quý vị xem từ hơi thở, từ cách đi đứng nằm ngồi, rồi từ co, duỗi, cúi, ngước, rồi từ cách ăn, nhai, nuốt…Phật dạy từ cái đi tiểu tiện, đại tiện, tất cả những cái đó đều trong tỉnh giác, rõ biết bằng trí tuệ. Hai chữ tuệ tri hết sức độc đáo, mình hiểu đầy đủ là hướng Dự lưu và Nhập lưu. Phải nhớ là biết bằng trí tuệ, chứ không phải biết bằng cái tôi, nếu biết bằng cái tôi thì mấy người kia cũng biết vậy, cần gì phải học.

Đại chúng đã học sáu khía cạnh của thân nhiều lần, mỗi lần học là mỗi lần chiêm nghiệm, chia sẻ thực hành thì mỗi lần như vậy càng sâu sắc hơn, rộng mở thêm. Đặc biệt khóa tu này là về thiền quán, tức là không phải chỉ học và nghe giảng, mà còn thực hành thiền quán các pháp hành. Mình đã thiền quán bất tịnh, ba mươi hai thể trược, tứ đại ung nhọt, chín giai đoạn của một tử thi, sáng nay quý vị đã thiền quán hỷ lạc, ly tham, nếu mình khéo tác ý, khéo quán để được hỷ lạc thì đây là hỷ lạc của sơ thiền, chứ không có gì xa xôi. Cho nên sáu khía cạnh về thân thì mình phải điêu luyện, thuần thục, nhuần nhuyễn học thuộc lòng như tụng Chú Đại Bi hay Chú Vãng Sanh, lúc nào cần định tướng là định tướng hiện ra, đây là gia tài, là sự nghiệp của người tu. Quý vị phải nắm thật vững sáu khía cạnh niệm thân này.

II. Năm triền cái

Hôm trước do những nhân duyên được Phật tử hỏi thì Minh Thành đã có những chia sẻ về quán pháp. Chúng ta cũng học về quán thọ, quán tâm và cũng được chia sẻ rất nhiều về những cái này, Đức Phật dạy mình trong phần quán pháp là phải nhìn lại nội tâm đối với năm triền cái. Sáng nay quý vị trình bày: Cũng quyết liệt đi mấy trăm cây số tới đây, có thầy, có bạn, có pháp, vô ngồi nghe mà cũng bị hôn trầm tấn công. Cho nên năm triền cái: Dục, tham, sân, hôn trầm, thùy miên, trạo hối và nghi là mình phải đánh đuổi nó liên tục. Minh Thành có giảng cho cao đẳng Phật học về chủ đề năm triền cái, quý vị về xem thêm.

Đến cao đẳng Phật học còn phải học chứ không phải sơ cấp hay cư sĩ mới phải học. Mình đánh được năm cái này ra cộng với việc mình tác ý hỷ lạc được là mình đã ở trong sơ thiền.

Dục tham, sân, hôn trầm, thùy miên là muốn buồn ngủ; trạo hối là trạo cử, lăng xăng, là hối tiếc và hoài nghi. Mình phải kiểm soát năm cái này xem trong tâm có sanh khởi hay không, có sanh khởi thì phải trừ diệt mạnh mẽ, còn diệt trừ nhẹ thì không ăn thua, uổng công. Quý vị tụng kinh, niệm Phật, nghe pháp, tu tập mười năm, hai chục năm nhưng cái hôn trầm có dễ đánh đuổi không? Đã diệt tận nó chưa? Tại vì mình thiếu Tứ Như Ý Túc, mình không có ham muốn diệt nó đến tận cùng, mình không nỗ lực để tâm và mình không tìm đủ mọi cách để diệt nó. Thứ nhất là mình phải muốn, thứ hai phải nỗ lực, thứ ba phải để tâm, thứ tư là tìm mọi cách đánh phá thì sẽ làm được. Không phải do thiếu ngủ mới bị hôn trầm tấn công, ngủ đủ cũng bị, nó lựa ngay mấy giờ thiêng ngủ.

III. Quán thọ

Tất cả công trình chúng ta đang học là tu tập về quán năm uẩn. Đức Phật dạy mình phải quán "đây là sắc sanh, đây là sắc diệt, đây là thọ, tưởng, hành, thức" và mình phải biết được chúng sanh, chúng diệt như thế nào, biết được cái nhân duyên sanh diệt của nó, không biết là không thể nào nhiếp phục được. Mình không biết thân này từ đâu hình thành, thân này vì sao hoại diệt, mình không biết cảm giác từ đâu sanh khởi ra, làm sao cảm giác chấm dứt, mình cũng không biết từ đâu sanh ra tưởng, rồi làm sao cho tưởng chấm dứt, mình không biết suy nghĩ từ đâu sanh khởi và làm sao cho suy nghĩ đó dứt, mình không biết cái thức từ đâu tập khởi, làm sao chấm dứt được nó. Mà không biết thì làm sao giải quyết được nó?

Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-Ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ cùng các cô chú. Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ví dụ do duyên có thân, có sự đụng chạm sinh ra thân xúc, có thân xúc sinh ra thọ, tưởng, hành.

Hôm trước chúng ta đã học hai thọ, ba thọ, hôm nay chúng ta sẽ mở rộng ra sáu thọ. Ví dụ mình gặp một người xấu xí, dơ bẩn, hôi hám mà họ lại có những lời nói khiếm nhã, lúc đó mình sanh khởi cảm giác khó chịu. Lúc mình gặp một người như vậy thì sanh khởi lên bao nhiêu cảm giác? Con mắt tiếp xúc sanh khởi ra. Tai mình nghe âm thanh của người đó, sanh khởi thêm cảm giác của lỗ tai. Mũi tiếp xúc nghe mùi hôi. Thân mình tiếp xúc sanh ra cảm giác khó chịu.

Đức Phật dạy mình có sáu loại cảm giác: Mắt tiếp xúc, tai tiếp xúc, mũi tiếp xúc, lưỡi tiếp xúc, thân tiếp xúc. Năm cái này dễ biết nhưng cũng không phải dễ nếu mình không học, không nhận diện cảm giác, không nhận diện sáu thọ thì khi cảm giác khởi lên mình chỉ biết có một cảm giác, đây là chỗ chết, "tôi đang thích quá, tôi đang thoải mái quá" chứ mình không thấy có sáu cảm giác, đâu có ai nói "tôi đang có sáu cảm giác sung sướng".

Do mình không nhận diện được cảm giác và các loại cảm giác, không nhận diện được sự tập khởi của các cảm giác, cho nên mình bị đồng hóa với cảm giác. Vì thế để mình nhận diện được thọ uẩn là không phải chuyện đơn giản như "tôi đang có một cảm thọ khó chịu, dễ chịu" là xong, không phải vậy. Đó là sơ cấp của nhận diện năm uẩn, trung cấp là thọ chỉ là cảm giác, hiện tại đang có một cảm giác khó chịu hay hiện tại đang có một cảm giác dễ chịu hay hiện tại đang có một cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, mà cảm giác là cảm giác chứ không phải có cái tôi trong đó.

Quý vị có hiểu được chỗ này không? Đây gọi là tuệ tri, là biết các cảm giác bằng trí huệ và mình biết cảm giác từ đâu sanh khởi, do con mắt tiếp xúc sanh ra cảm giác khó chịu. Nhìn thấy là không ưa, ghét bỏ thì đó là thọ do nhãn xúc sanh: Cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh ra. Hoặc là điện thoại nói xối xả vào mặt mình thì mình phải biết đây là thọ do nhĩ xúc sanh: Cảm giác do lỗ tai tiếp xúc sanh ra. Nếu mình nghe máy thì đâu có cảm giác này, cảm giác này do duyên sanh và nó vô thường, nên tắt điện thoại để xuống thì không có gì sanh ra, nếu cảm giác nhẹ thì tự diệt, còn nặng thì quán chiếu, dùng như lý tác ý, còn mạnh hơn nữa thì quán.

IV. Huấn luyện cảm giác

Bây giờ tạm chia làm ba cấp độ: Cảm giác tham, sân nhẹ thì tự tan. Cảm giác khó chịu, giận vừa thì mình như lý tác ý, tác động tâm ý "giận sướng, khỏe lắm hay sao", "thích cảm giác đốt cháy này hả", mình quán chiếu mạnh vào cảm giác sân rồi đánh đuổi nó ra là như lý tác ý. Nếu như lý tác ý không được mình mới dùng quán chiếu, đây là bí pháp, quán tới cái đó thì cái gì cũng tan vì đây là đã là cái tối thượng trong tất cả các cách quán, đập tan vỡ hết tất cả tham sân si.

Quán cho nhuần nhuyễn, cho thuần thục, cho thâm sâu, cho tinh anh thì lúc cần thiết lấy thượng phương bảo kiếm trí huệ vung lên "nhất đạo lưỡng đoạn", một nhát kiếm chém thành hai khúc, chém sắt như chém bùn. Quý vị nghe nói thì cũng đừng sợ, phải quán "bộ xương mà giận cái gì, đống thịt bầy nhầy mà ham muốn cái gì, tối nay vào hòm rồi còn ngủ mãi". Nhận diện ra trước, sau đó dùng như lý tác ý quán chiếu: Đây là tiến trình, là phương pháp tu tập của mình. Lúc đầu nó quậy mình nhưng từ từ mình tẩy sạch nó vì mình đã nắm được tổng cương lĩnh, đã thấy được nguyên nhân sanh diệt của nó và mình có phương pháp thiện xảo đánh vào căn cứ địa, tổng hành dinh là nó rung rinh.

Sau đó giận mà khởi lên thì mắc cỡ, e dè lắm. Tham khởi lên cũng ngán lắm vì "coi chừng bị đập". Nó biết cái này là sai nhưng do tập khí, thói quen thì nó vẫn khởi nhưng không sao hết, khởi lên thì cứ đánh đuổi, quán chiếu riết rồi nó cũng mòn từ từ, yếu dần tới khi nó nằm thoi thóp thì lúc đó mình chứng quả Tu-đà-hoàn. Mình đánh cho thoi thóp không dậy nổi là mình chứng Nhị quả (Tư-đà-hàm), nguội lượt tham sân là chứng được Nhị quả.

Quý vị nghĩ thử người ta lo ăn, lo chơi, lo mặc… lo đủ thứ lo, còn mình tối ngày nhìn lại cảm giác rồi đánh đuổi nó liên tục mà nó không giảm, không tan, không biến thì chuyện đó là vô lý, quý vị có nhất trí không? Tối ngày mình đập nó, huấn luyện nó, xử lý nó thì từ từ nó quen, từ từ nó sẽ chịu phép, nghe lời rồi hiền.

Cho nên quý vị thấy hình ảnh chăn trâu, trong Tương Ưng Bộ Kinh Đức Phật dạy cũng có bài kinh "Chăn Trâu", trâu dẫm vào ăn lúa mạ, người ta dùng roi quất cho một trận nên thân, trong bài kinh "Đàn Tỳ Bà" mà Phật dạy, cứ đánh nó, để ý, tự mình dò xét mình, tự mình kiểm tra mình, canh chừng những cảm giác những nghĩ tưởng coi bản ngã có xuất hiện không, xử lý nó.

Mấy hôm nay quý vị lạy bài "Bản Ngã" có thấm không? Không phải thấm ngoài da mà phải thấm vào xương tủy, trào dâng nước mắt. Phải thấy xấu hổ nhục nhã, ê chề, ngao ngán cái cảm giác tự đắc, phải thấy xấu hổ khi mình sanh khởi những cảm giác đó. Phải đánh đuổi, tẩy rửa từ từ những cảm giác đối lập, những cảm giác tiêu cực còn những cảm giác tích cực sanh khởi để đẩy và tẩy những cảm giác tiêu cực, từ từ trở thành hiền thiện, dễ thương.

Tu riết như vậy thì mình trở thành con người hiền hòa, mềm mại, tâm mình rất dễ sử dụng, không còn ương ngạch, khó bảo nữa. Quý vị đọc "Tam Minh" của Đức Phật thì Phật chứng tam minh là chứng tâm tới mức độ Phật muốn vào cảnh giác nào là tâm vô cảnh giới đó, sau này mình tu mình muốn an trú từ vô lượng tâm là tâm sẽ vào từ vô lượng tâm, mình muốn vào bi vô lượng tâm là tâm sẽ vào đó, muốn vào hỷ là vào, muốn vào lạc là vào.

Còn giờ mình muốn hỷ lạc mà mặt mình gục xuống, vô không được vì tâm chưa có nhu nhuyến, chưa mềm mại, cười không nổi. Mình huấn luyện thì cảm giác sẽ nghe lời mình, sẽ an tịnh, sẽ thuần hòa. Vì thế mình phải tập nhận diện sáu loại cảm giác để mình thấy cảm giác này rời rạc, không phải chỉ có một cảm giác. Quý vị ngồi cảm thấy đau thì quý vị biết nó đau, nhức ngay chỗ đó thôi chứ không phải đau hết cả người, đây là nhận diện thọ uẩn, mình biết chỗ đó đau thì mình gom nó lại đừng cho nó lan tỏa, nó bung ra là tay mình cũng đau, đầu cũng đau rồi nằm luôn, đi theo cảm giác đó luôn, ảnh hưởng hết toàn thân.

Cho nên cảm giác toàn thân là tuyệt diệu, ví dụ chỗ cửa dính chút lọ thì mình chùi ngay chỗ lọ đó chứ mình không cho nó lan ra hết cả nhà, mình thực tập cảm giác toàn thân là như vậy đó, mình phát giác ra chỗ nào là mình xử lý ngay chỗ đó thôi, gom lại không cho nó bung ra như vết dầu loang khắp biển, cảm giác của mình phải nhận biết và nhiếp phục, đừng cho nó lan rộng, nhất là những cảm giác tiêu cực.

Quý vị có thấy cái nóng giận, cái sân si lan nhanh không? Đây là chỗ thiền xảo khéo léo, vừa phát hiện ra trong lòng ngực nóng lên thì gom lại, không cho tỏa ra. Quý vị có thấy trí huệ này bén nhạy, sâu sắc không? Đây là tập quản lý những cảm xúc, cảm thọ và tập xử lý những cảm giác này. Không để cho những cảm giác này xử lý mình, người không biết tu là người để cho cảm giác làm chủ, sai khiến mình. Mình biết tu là người làm chủ cảm giác và sai khiến cảm giác. Đây là sự khác biệt giữa người tu và không tu, giữa trí huệ và không trí huệ, giữa vô văn phàm phu và đa văn thánh đệ tử.

Cho nên Minh Thành có lời khen quý vị trong lần tu này, hiện tại bây giờ quý vị cũng đang nhiếp phục cảm giác. Quý vị ngồi đây là những con người chiến thắng các cảm giác. Một lát ăn cơm thì quý thầy sẽ hướng dẫn tập cảm giác của lỗ mũi và lưỡi, con mắt nhìn xuống nhưng không phải nhìn món ăn, màu sắc tàu hủ này tươi hay không tươi, nấm này búp hay nở mà con mắt tâm nhìn vào cảm giác, nhìn vô lưỡi, cảm nhận chỗ mũi, lưỡi coi cảm thọ đang hoạt động sanh khởi như thế nào. Đây là cả một sự khéo léo, mà quý vị nghĩ rằng ăn có gì đâu mà nói, những chỗ du lịch nổi tiếng là do cái gì? Có cái ăn trong đó không? Cảnh thiệt đẹp mà cho ăn cơm tương với chao không thì người ta còn đến đó không? Phần lớn thu hút cả thế giới là cái ăn.

Đây là một trong những cái dục, chỗ nào ngon rồi xa xôi cũng đi, bay qua Singapore ăn sáng rồi bay về làm việc, thành ra quý vị thấy rằng sự tu tập trong những cái mình xem thường, nhưng các bậc thánh lại hết sức chú trọng. Mình nghĩ chuyện ăn, uống, ngủ, mặc… là chuyện nhỏ, mình tu là phải làm những việc to lớn nhưng không ngờ lại vậy. Cho nên phải tập nhận diện cảm giác của lỗ mũi và lưỡi, cả khi mình nói chuyện cũng phải nhận diện.

Quý vị nghĩ mình tu cái miệng là dễ hay khó? Bao nhiêu chuyện đại sự trên đời này là xuất phát từ đâu? Phật dạy mình trong Thân Hành Niệm: Nói, im, nhai, nuốt phải tỉnh giác. Nếu một người luôn luôn tỉnh giác trong các cảm giác, trong các cử chỉ thì người này ít lầm lỗi, sống có giá trị, khéo léo, có ý nghĩa cho tự thân, cho gia đình, xã hội.

Quý vị đã thấy thánh trí của Đức Phật chưa? Cái nền giáo dục, cái đạo lộ của Phật không? Điều quan trọng là mình phải nhận diện cảm giác của thân, có những người đi bao nhiêu cây số, mới tới nơi gặp chuyện giận là về, khó chịu là về, thành ra quý vị thực tập thì mới thấy mình nhiếp phục rất nhiều cảm giác. Ví dụ tối ngủ không có nệm lạnh, là thân xúc sanh ra thọ, "ở nhà con là quý phi nương nương vào đây cho con ngủ như vầy, con làm gì cũng được nhưng ngủ là phải có giường, nệm đàng hoàng" vậy thì đâu có tu được. Có người đi nữa vòng trái đất lên đây ôm theo nềm, gối, ca nước, khăn…"phải có cái này con mới ngủ được, con quen mùi này", có mùi ai khác là ngủ không được, cảm thọ do lỗ mũi tiếp xúc sanh khởi rồi cảm thọ do thân tiếp xúc.

Quý vị thấy ở đây Minh Thành cho các chú xuất gia nằm chõng tre, phải huấn luyện cảm giác cho nó quen. Khi mình nhận diện ra, mình cảm thấy rồi mình nhiếp phục thì quý vị khỏe, đi tới chỗ nào sống cũng được. Hay là mình đi tới chỗ nào ba ngàn, bảy ngàn cây số cũng phải đem gường theo? Quý vị thấy mấy ông lớn có sướng gì đâu, đi đâu cũng đem theo nguyên chuyên cơ theo, xe riêng đem theo, chõng, gường… đem theo hết nhà, cực lắm, đâu có sướng.

Còn mình đi đâu chỉ có hai bộ đồ, quải cái nải là xong, quý vị có thấy sướng không? Mình tập không bị lệ thuộc, không bị tham ái, tham đắm trói buộc trong những cảm giác quen thuộc, dễ chịu đó. Mình nhìn cách Đức Phật dạy rồi mình chiêm nghiệm, sau đó nhìn ra thực tế cuộc sống thì mới thấy tuyệt diệu, chứ không phải Phật nói đoạn dứt sanh tử luân hồi nhưng mà "con còn gia đình, chưa đoạn dứt được". Quý vị đừng nghĩ rằng "con đoạn dứt thì con mới học", quý vị học được cái này là tuyệt diệu của thế gian pháp và xuất thế gian pháp, chắc chắn là mình sẽ bớt khổ và giảm khổ, dừng khổ, từ đó đi đến chỗ diệt khổ.

Bây giờ ăn cơm là phải có ớt, vậy mà hôm nay đến nhà hàng hết sức ngon mà không có ớt là ăn không ngon, bị cảm giác trói buộc rồi. Mình phải nhận diện cảm giác của con mắt, phải cẩn thận. Nghe cái gì bực quá thì phải nhận ra đây là cảm giác của lỗ tai. Quý vị phải học thuộc duyên sanh pháp, không thuộc là không biết từ đâu sanh khởi ra cảm giác đó, cứ nghĩ cảm giác là mình, mà đó là duyên của con mắt có sắc khởi lên sự rõ biết các sắc. Giờ mù rồi thì lấy cái gì rõ biết các sắc? Mà mắt này không phải mắt bệnh, mắt bị nhặm, hay bị loạn thị mà mắt phải bình thường rồi có sự sanh khởi lên sự rõ biết các sắc là nhãn thức, ba pháp này giao thoa với nhau sanh khởi lên một cảm giác. Mình phải thấy được từng chặng như vậy thì mới biết đây chỉ là đồ lắp ráp, cảm giác này là đồ lắp ráp chứ không phải là mình. Cảm giác này rất nhanh, vừa nhìn thôi đã thích liền, vừa nghe thôi là giận đùng đùng, tìm xe leo lên, không khéo chưa tới nơi là té rầm.

Cho nên cái xúc sanh ra thọ rất nhanh rồi tưởng, hành đi theo. Cái cảm giác sanh khởi thì những hình bóng, những lời nói lầm thầm suy nghĩ nó làm một chùm trong đầu, thọ tưởng hành thứ nhất sanh khởi rồi đến thọ tưởng hành thứ hai, lại đến cảm giác nghĩ tưởng thứ ba, thứ tư… cứ sanh khởi như vậy gọi là chúng sanh. Mình cho những cái thọ tưởng hành đó là tâm thức của mình, bị kéo lòng vòng trong cái dục tham sân không đi ra được, do mình nuôi dưỡng cảm giác, cho cái tưởng sanh lên, rồi tới suy nghĩ, cứ tiếp tục như vậy mà không có thánh trí của Đức Phật chỉ cho mình năm uẩn, rồi không có đạo lộ cho mình nhìn thấy rõ bộ mặt của nó thì làm sao mình đi ra khỏi được, hay như vậy mà không học thì học cái gì, cái này không tu thì tu cái gì?

Phật dạy quán sát các cảm thọ, khi một cảm giác vui sướng phải biết bằng trí huệ "đang có một cảm giác vui sướng". Sau những cuộc vui là những giọt nước mắt, các quán bar bị khám xét ba trăm người là hết hai trăm người dùng ma túy, nghĩ xem những cuộc đời người sử dụng ma túy này sẽ đi về đâu. Thử phản ứng một chục tài xế thì cũng phải ra vài ông dương tính với các chất kích thích, ở đây chỉ mới nói vài cái, còn trăm ngàn muôn vạn ức cái khác nữa.

Vì thế Phật dạy khi có một cảm giác sung sướng sanh khởi lên thì phải biết bằng trí huệ là đang có cảm giác sướng, đừng để cho cảm giác sướng đó lôi mình đi, nhậm chìm mình làm mình si mê. Khi có một cảm giác khó chịu, bực bội phải biết bằng trí huệ rằng mình đang khó chịu, bực bội, đây chỉ là cảm giác do duyên sanh, do duyên có lỗ tai, do duyên có âm thanh cho nên khởi lên sự rõ biết của âm thạnh, ba pháp giao thoa sanh ra cảm giác khó chịu, mà cảm giác này là vô thường, rõ ràng khi chưa nghe điện thoại đâu có cảm giác này mà bây giờ nó có. Nó có trong duyên sanh vô thường, trống rỗng thì mình đi theo nó chi cho khổ? Hãy tan biến đi, ra khỏi thân tâm ta đi, ta không chấp nhận ngươi. Biết được điều này và sử dụng được thì mọi người có thấy lợi ích lâu dài không? Những cảm giác tiêu cực mình đều phát giác ra, mình đánh đuổi được nó, ít nhất mình cũng có thể làm giảm bớt thì nó vô cùng giá trị.

Phật không có nói lợi ích nhưng Minh Thành phải nói để mọi người thấy được giá trị vĩ đại của nó. Bà chủ nói chuyện với nhân viên mà không có tình thương, nói nặng nói nhẹ, chửi người ta thì hậu quả là bị giết chết năm mạng người, đây có phải cảm giác không? Cứ đánh, chửi lâu ngày thì người bị đánh nhận những cái thọ tiêu cực tích tụ lại, lâu ngày tràn ra, tức nước vỡ bờ là giết chết hết hai vợ chồng chủ nhà và ba đứa con. Thành ra mình tu học là mình đoạn diệt, chấm dứt hết những cái tiêu cực này, cứu giúp được mình. Trong cuộc đời này có những chuyện không tin được nhưng vẫn xảy ra và đã xảy ra, đi lại đổ xăng mà nói không tiền, nhân viên nói mới vào làm, không có tiền bù vô, phải có tiền mới đổ thì lấy dao đâm người nhân viên. Có những lý do không thể tưởng tượng nổi, mà tất cả những cái đó là do cảm giác, bản ngã, mình thấy những sự việc xảy ra như vậy thì phải run sợ, ớn lạnh để mình càng cẩn thận và chánh niệm để nhận diện cảm giác của mình.

Cẩn thận kiểm soát, quản lý những cảm xúc, cảm giác, đừng để cho nó bung ra, đừng để ở trong si mê vô minh rồi làm khổ mình, làm khổ tất cả. Mình phải nuôi những cảm giác thanh tịnh, hoan hỷ, những cảm xúc của trí tuệ, của tình thương từ bi, mình tưới tẵm nó. Hằng ngày mình tu là mình tưới tẵm những cảm giác rộng mở, cảm giác bao dung, độ lượng, những cảm giác thánh thiện cao thượng. Mình đưa mình vào những cảm giác được bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao. Một công trình vĩ đại là một khóa tâm lý học tối tượng của Phật giáo là thánh trí về năm uẩn này. Không phải tâm lý học không mà cả thân tâm viên mãn sự giáo huấn của Đức Phật. Minh Thành mong tất cả đại chúng cố gắng hết lòng.

Mỗi một giờ, một ngày, một giây phút mình ở đây phải cố gắng thực tập, học, nghe, chiêm nghiệm và quán chiếu cho trọn vẹn, và đây là tư lương, là món quà tâm linh của tam bảo, của quý thầy gửi đến cho mình để mình làm hành trang trở về tiếp tục thực tập, tiếp tục nghe, tiếp tục chiêm nghiệm, để mình tu dưỡng cho tự thân. Sau đó chia sẻ cho con, chồng, cho vợ trong gia đình của mình vào những lúc có thể. Đây là gia tài vô giá để mình từ thiện, không phải chỉ là việc phát quà bên ngoài mà chính cái trí huệ, chính sự thấu hiểu, chính những cảm giác này thì quý vị bằng từ bi, bằng tình thương hiền thiện hãy chia sẻ với những người có duyên với mình, nhất là những người trong gia tộc có huyết thống thân thương với mình từng chút một. Đây là món quà từ thiện vĩ đại, món quà tâm linh vô giá của quý vị, sau khi rời khỏi khóa tu mà quý vị an lạc, thanh tịnh. Chúng ta sẽ nghỉ giải lao rồi chúng ta sẽ chánh quán thọ thực buổi trưa.

Nguyên đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.