Tinh Hoa Nikāya - Chấp Thủ Ngũ Uẩn Là Phiền Não Khổ Đau
Tinh Hoa Nikāya
CHẤP THỦ NGŨ UẨN LÀ PHIỀN NÃO KHỔ ĐAU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu thực trạng thế giới bất an PAGEREF _Toc85442367 \h 1
II. Chấp thủ sắc uẩn PAGEREF _Toc85442368 \h 3
III. Bồ tát Vipassi PAGEREF _Toc85442369 \h 4
IV. Chấp thủ thọ tưởng hành thức PAGEREF _Toc85442370 \h 9
I. Quán chiếu thực trạng thế giới bất an
Hiện tại có hàng ngàn những em nhỏ mồ côi cha mẹ. Hơn một ngàn năm trăm đứa bé mất cha mẹ trong mùa dịch bệnh này, trở thành trẻ mồ côi, mà con số thực tế còn nhiều hơn nữa. Vừa rồi đài truyền hình VTV có ra một tập phim tài liệu đặc biệt: Ranh giới. Hôm qua chúng ta xem đoạn trích khoảng hai, ba phút thôi. Những người làm phim phải ở trong bệnh viện suốt nửa tháng để quay những sự thật mà những bệnh nhân, bác sĩ, điều dưỡng với sự vất vả, khó khăn, lo âu, mệt nhọc, đau khổ và bất lực, từ bác sĩ cho đến bệnh nhân, người thân, rất xúc động.
Đoạn phim đó mới đăng năm mươi phút đã gần hai triệu lượt truy cập. Đó là những hình ảnh thật trong bệnh viện, không có lời bình nào cả. Những bà mẹ mang thai mắc dịch bệnh này phải bỏ đứa con được hơn sáu tháng, mổ lấy ra, nếu không mẹ sẽ chết. Những bác sĩ điện thoại về gia đình hỏi ý kiến, rất ngậm ngùi, xót xa, phải từ bỏ đứa con yêu dấu nhất của mình mà mình cưu mang, ôm ấp, hoài thai trong suốt hai mươi mốt tuần.
Có chú này, con chú còn rất nhỏ, rất trẻ, bị bệnh rồi âm thầm quảy ba lô với ít món đồ vô bệnh viện, không cho chú biết, sợ chú lo lắng. Tới khi bệnh viện báo tin con chú mất rồi, còn để lại ba lô với mấy món đồ, chú khóc nức nở, kêu trời không thấu, kêu đất không hay. Những vị bác sĩ ở tuyến đầu phải thức trắng đêm, một hai giờ đêm để đi năn nỉ và chăm sóc những người bệnh nặng, phải thở bằng máy, bằng những dụng cụ hỗ trợ. Trắng đêm như vậy, và nằm dài dưới nền nhà.
Những khi dùng hết tất cả sức lực, sự cố gắng mà không cứu chữa được, bệnh nhân qua đời, những khoảng lặng, mọi người trầm mặc, cúi đầu, không khí trong phòng lạnh lẽo, cô tịch. Hằng ngày phải chứng kiến những người đau đớn, đau khổ, quằn quại, những người phải giành giật sự sống bằng mỗi hơi thở của chính mình. Chứng kiến những cảnh bệnh nhân ra đi, chúng ta có thể tưởng tượng nổi áp lực đó như thế nào, vừa thể chất vừa tinh thần. Xem những đoạn phim đó, nước mắt mình không cầm được. Thật quá là khổ, thật khổ, thật sự là khổ đau!
Mà đâu phải chỉ là bệnh viện Hùng Vương thôi, đó là chỉ quay cho chúng ta thấy một chỗ, một nơi thôi. Nhưng có trăm nơi, ngàn nơi, nhiều ngàn nơi trên toàn thế giới, hàng trăm người, hàng ngàn người, nhiều ngàn người, vạn người, trăm vạn, triệu người, bao nhiêu triệu người đang phải chịu đựng những cảm thọ lo lắng, bất an, đau đớn, thống khổ của bệnh hoạn, của sợ hãi, lo toan, của đau khổ, thống khổ tràn ngập.
Hôm qua Minh Thành hay tin một vị thầy đã lớn tuổi – tám mươi rồi, chỉ ở trong chùa, nhưng vẫn bị nhiễm dịch bệnh vì người đưa đồ ăn. Cô tổ trưởng tổ dân phố đó bị nhiễm bệnh nhưng cô không biết, cô đưa đồ ăn, và thầy bị nhiễm. Khi hay tin là tá hỏa tam tinh, bảy mươi chín, tám mươi tuổi rồi. Sau đó người ta đưa vào trong hầm để xe của chung cư, vì bệnh viện không còn chỗ nữa. Sau khi bác sĩ xem xét thấy thầy bệnh nền nhiều quá nên chuyển viện.
Cũng nhờ giáo hội giúp đỡ các thầy, lo lắng, thầy tâm sự với chúng ta thật, thầy nói xấu hổ, nhục nhã, cả đời người mới chứng kiến lần đầu tiên. Tiêu chảy, đái dầm, lớn tuổi rồi, thuốc men nữa, muốn ra thì ra. Những nhân viên y tá, điều dưỡng phải làm vệ sinh. Thầy nói xấu hổ quá, lần đầu tiên trong cuộc đời, thầy không làm chủ được thân thể bệnh hoạn, thuốc men, ngủ không được, ngồi sáng đêm vì những bệnh khác nữa như tim, phổi, huyết áp…
Nhưng cũng may, có phước, sau hai tuần, thầy được khỏe, trở về chùa. Chúng ta thấy sanh, lão, bệnh, tử này, đây mới chỉ là một cái khổ về bệnh trong tám cái khổ mà ta đã điêu đứng, nghiêng ngửa, sụp đổ. Con người thiếu thốn, khổ sở, đói khát, lo lắng, bất an, sợ hãi, bức xúc, ảnh hưởng toàn cầu về mọi mặt, du lịch, kinh tế, văn hóa, xã hội, hàng không, kinh doanh, thương mại, buôn bán… Toàn cầu điêu đứng, nghiêng ngửa.
Hôm qua có một Phật tử ở Sài Gòn chia sẻ, thầy ơi thầy có biết không, cô Phật tử hôm trước qua thăm thầy bữa rằm tháng tư, sau bốn ngày bay qua Mỹ ở đã chết vì con cổ lây. Cũng dịch bệnh nữa, giờ người con phải thở trên ba mươi bình ô xi. Mình thấy những đất nước đầy đủ còn như vậy, còn những nước nghèo như Ấn Độ hay những chỗ thiếu thốn, lấy đâu ra một, hai bình chứ đừng nói đến hơn ba mươi bình mới cứu được.
Hàng ngày mình ở trên núi thôi mà nghe tin những người thân, người quen, người từng tiếp xúc, hôm nay nghe tin người này nhiễm bệnh, ngày mai nghe tin người kia qua đời, ngày nọ nghe tin người khác đang cách ly. Thật sự là mới chỉ một nỗi khổ về bệnh, mình thấy nó đã thê thảm. Cũng cô đó tâm sự cho mình biết, để thiêu phải chờ đến hai tuần lễ hoặc lâu hơn. Muốn được thiêu sớm phải đóng rất nhiều tiền, nhà nghèo làm sao có ba mươi triệu, sáu mươi triệu để thiêu?
Lò thiêu không đủ, người ta phải về tỉnh đề xây thêm lò thiêu, bây giờ không để vô hòm vì như vậy rất lâu, phải bọc vô những cái bao nilong. Rồi những chiếc xe đông lạnh để thây người chết, mấy chục người một chiếc. Thật sự khổ không thể nói, khổ chưa từng thấy. Ngày nào cũng có bao nhiêu người chết, bao nhiêu người ra đi, hàng chục ngàn những người nhiễm bệnh. Hiện tại là sáu trăm mấy chục ngàn ca nhiễm.
II. Chấp thủ sắc uẩn
Thật sự là thế giới bất an, mạng sống hết sức mong manh, ngắn ngủi, mau chóng. Cuộc đời này đầy dẫy sự bất an, bấp bênh, vô định. Mới thấy đó rồi mất đó, chỉ vài ngày chứ không đầy một tuần lễ là trở thành tro bụi. Ông bà mình nói: “Chết trước đặng mồ đặng mả, chết sau rã thây thi”. Bây giờ đúng sự thật như vậy. Thật sự như Đức Thế Tôn nói trong bài kinh “Từ” mà hôm qua chúng ta học: “Thân này là ung nhọt”. Chúng ta phải nghiền ngẫm, đó là Thánh pháp ấn, phải nghiền ngẫm sâu sắc những pháp quán đó. Thân này là bất an, là mũi tên, là bất hạnh, phải quán sát thân xác này.
Thật sự là quá ngắn ngủi, quá biến đổi, đời sống này quá khổ đau, bệnh tật, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, hoại diệt, hư hoại, trống không, trống rỗng, trống trơn. Không có gì là tôi, của tôi, không có gì là tự ngã của tôi, là vô ngã, vô thường, bất an, đầy lo lắng và sợ hãi, đầy phiền phức, phiền não, phiền muộn, phiền bực, phiền đau, phiền lo, phiền khổ. Phiền phức lắm là sắc này, hình hài này. Phiền nhọc lắm là thân xác này. Phiền não lắm là hình hài này, lo lắng lắm là thân thể này, bất an lắm là đời sống này. Bất hạnh là không may mắn nên mình mới dính vô một thân như thế này, là bất hạnh.
Sự bất hạnh nhất trong tất cả sự bất hạnh là nắm chặt vào thân xác này, đó là sự đau khổ nhất, mê lầm, sâu dày nhất của tất cả chúng ta chính là sự nắm giữ thân xác này. Tức sự chấp thủ vào thân xác này là phiền não, khổ đau. Mê lầm trong tất cả mê lầm, si mê nhất trong tất cả si mê, vô minh nhất trong tất cả sự vô minh, là nắm chặt vào hình hài, thân xác này, da thịt, xương gân, mủ máu, ruột gan, phèo phổi này. Sự nắm giữ vào trong thân xác này là sự lo lắng, sự nắm giữ vào thể xác này là bất an, sự nắm giữ vào hình hài này là sự sợ hãi, khổ đau, bất hạnh. Sự nắm giữ vào thân xác này là nắm giữ vào ung nhọt, ung hạch, ung hôi, ung thư, ung bướu. Đó là sự nắm giữ vào sắc uẩn này.
Biết bao nhiêu là nước mắt, lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sở, chính là sự nắm giữ, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc vào trong thân xác này, thể xác này và những đồ vật xung quanh. Sự chấp thủ và sắc uẩn này là phiền não và khổ đau. Hình ảnh cô vợ sợ hãi, hoảng loạn, hốt hoảng, quên số điện thoại. Người chồng nghe tiếng người vợ nói, lấy hơi lên như vậy, rên rỉ trong những phút cuối cùng thì người chồng cũng không biết nói gì. Nghẹn ngào, đau đớn, sanh ly tử biệt, ái biệt ly, yêu thương rồi sắp sửa chia lìa. Cô vợ nói: “Em muốn gặp con, em sợ quá, sợ quá anh ơi!”.
Thật sự là đau thương, đau đớn, đau khổ và đau buồn, đau xót, đau lòng. Tất cả là sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong thân xác này, trong những vật chất này chính là sự nắm chặt vào lo lắng, bất an, sợ hãi, bất hạnh, ung nhọt, mũi tên, tai họa. Chính là sự nắm chặt và sự tan nát, hủy hoại, bại hoại, hoại diệt. Chính là sự nắm chặt vào sự hướng ngoại, vô thường. Nắm chặt vào thân xác này chính là sự nắm chặt vào bệnh hoạn, thống khổ, khổ sở. Nắm chặt vào thân xác này là sự nắm chặt vào chỗ trống không, rỗng không, trống trơn, trống rỗng.
“Bản chất thân xác này là trống rỗng,
Bản chất thân xác này là trống không,
Bản chất thân xác này là cảnh mộng
Dễ dàng tan biến vào hư không”
III. Bồ tát Vipassi
Cho nên, khi Bồ Tát Vipassi còn làm thái tử, từ nhỏ tới lớn ở trong hoàng cung được cung phụng, yêu chiều, chăm sóc. Một hôm, Ngài nhìn thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà chống gậy, vừa đi vừa run rẩy với những bước chân rất khó khăn, khổ sở, tuổi trẻ đã tàn lụi hết. Ngài mới hỏi người đánh xe đó là ai, sao thân người đó không giống như những người khác. “Tâu hoàng tử, đó được gọi là một người đã già”, “Này khanh, sao người ây được gọi là một người đã già?”. “Tâu hoàng tử, người ấy già vì người ấy sống không bao lâu nữa”, “Này khanh, vậy rồi Ta có bị già không?”. “Tâu hoàng tử, hoàng tử và cả con nữa, tất cả sẽ bị già nua, dầu bây giờ chúng ta còn trẻ, chưa già”.
Ngài trở về hoàng cung, ở trong cung Ngài buồn bã, đau khổ, lo lắng “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh, và ai sanh ra rồi cũng phải già yếu như vậy, sỉ nhục thay, nhục nhã thay”. Sanh ra rồi phải già nua như vậy, ai sanh ra rồi cũng phải già yếu như vậy. Đây là kinh Đại bổn Trường Bộ, tập một. Nhà vua hay tin hoàng tử buồn như vậy, dặn mọi người đừng cho hoàng tử nhìn thấy những cảnh đau khổ của cuộc đời. Nhưng làm sao mà không nhìn thấy được? Một hôm, hoàng tử này nhìn thấy một người bệnh hoạn, đau đớn, nguy kịch, bò lết trong đại tiện, tiểu tiện của mình.
Hoàng tử trước khi Ngài thành Chánh Giác cũng giống như Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni của mình, Ngài nhìn thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình. Phải cần có người khác nâng đỡ mỗi khi ngồi dậy, đứng lên, phải cần có người khác dìu dắt khi đi. Hồi nào giờ Ngài không nhìn thấy cảnh khổ đó nên Ngài mới hỏi người đánh xe là người này đang làm gì, sao đôi mắt họ không giống đôi mắt người khác, giọng nói họ không giống giọng nói của người khác, thều thào, khó khăn như vậy.
Người đánh xe thưa: “Thưa hoàn tử, đó là người bệnh tật, bệnh nặng, người đó là người bệnh”. “Này khanh, vậy rồi Ta có bị bệnh không?”, “Tâu hoàng tử, hoàng tử và con, tất cả chúng ta đều sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh”. Tất cả chúng ta rồi sẽ bệnh tật, bệnh đau, bệnh khổ. “Thôi, giờ chúng ta về cung, không muốn nhìn thế này nữa”. Ngài về rồi lo lắng, suy tư, chiêm nghiệm, mình rồi cũng sẽ già nua, bệnh tật, bệnh hoạn, bệnh khổ như vậy, đau đớn, quằn quại, nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình như vậy. Muốn ngồi lên phải có người nâng đỡ, muốn đi phải có người dìu dắt.
Giờ trước mắt mình nhìn thấy thầy Pháp An, cầm gậy rồi phải có một người dẫn lên. Bây giờ mắt không thấy đường, mà đây là còn phước báu. Chúng ta thấy, tuổi già phá sạch hết tất cả. Ngài suy nghĩ: “Thật là sỉ nhục thay cái gọi là sanh, sanh ra rồi, cũng phải già, phải bệnh”. Thật sỉ nhục thay, đau đớn thay, xấu hổ thay. Như sư ông lúc nãy tâm sự với chúng ta, nói rằng: “Thầy ơi, tôi thấy tôi nhục quá, phải tiểu tiện ngay tại chỗ, hôi dơ như vậy, phải nhờ người khác”. Nên ở đây mới dùng từ sỉ nhục thay, tức rất nhục nhã.
Thành ra nhiều khi mình đọc kinh mà không chiêm nghiệm, không hiểu nhiều, phải chiêm nghiệm mới thấy. Sự sanh có nhục nhã không? Từ người sanh cho đến đứa trẻ được sanh ra, sự dơ bẩn, bẩn thỉu. Mình đi trong một con đường dơ dáy, bẩn thỉu, thấp kém, hạ liệt. Cho nên Bồ Tát mới nói là “nhục nhã thay là sự sanh ra này, sỉ nhục thay là sự già nua, bệnh tật này”. Những người già thường hay bị những người trẻ khinh thường, nói cứ “hả, hả”, rồi nói cái này nghe thành cái kia. Ăn uống cầm run tay, rớt bể chén, đũa, muỗng.
Vừa rồi mình thấy một chuyện hết sức đau lòng, cụ già chín mươi tuổi và đứa con. Bà cầm rớt đổ, bể đồ, cô con gái này vô táng lên đầu mẹ và chửi mắng, lấy chổi chà đánh mẹ mình. Thật sự đau đớn, đau khổ, bất hạnh, bất hiếu, nghịch tử. Đó là tuổi già, biết bao nhiêu ví dụ để mình chiêm nghiệm, vì nói không thể nào hết được sự xấu hổ của tuổi già, xấu hổ của sự bệnh tật.
Cho nên Bồ Tát mới nói: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh ra này, ai sanh ra cũng phải già nua, bệnh tật”. Phụ hoàng của Ngài thấy Ngài không vui, buồn khổ, lo lắng như vậy, liền dặn mọi người đừng cho Ngài thấy những cảnh đó. Nhưng làm sao không thấy được trên cuộc đời này. Rồi một hôm, Ngài cũng chứng kiến rất đông người mặc đồ tang mà Ngài không biết, nghĩ là họ đang mặc những sắc phục khác nhau, và đang dựng một đàn hỏa táng. Mình nói dễ nghe là mặc đồ tang, dựng lên một dàn hỏa để thiêu người chết.
Ngài hỏi người đánh xe: “Này khanh, vì sao những người ấy mặc đồ lạ và dựng lên một dàn hỏa táng như vậy?”. “Tâu hoàng tử, vì có một người mới vừa chết, mới vừa mạng chung, qua đời”. “Này khanh, hãy đánh xe đến gần người mới vừa chết đó”, “Thưa hoàng tử, dạ vâng”. Người đánh xe này làm theo lời hoàng tử, Ngài nhìn thấy thây chết như vậy, Ngài hỏi: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người chết?” “Tâu hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết vì nay cha, mẹ, những người bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa, người ấy cũng không thấy cha mẹ và bà con ruột thịt khác nữa”. “Này khanh, vậy Ta chưa chết, Ta có bị chết không? Phụ vương, mẫu hậu và những người ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng, và Ta sẽ không thấy phụ vương, mẫu hậu và những người ruột thịt khác chăng?”. “Tâu hoàng tử, hoàng tử, và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết, nhưng rồi, sẽ cũng bị chết. Phụ vương, mẫu hậu và các bà con khác sẽ không thấy hoàng tử và hoàng tử sẽ không thấy phụ vương, mẫu hậu và những bà con thân quyến hoàng thân quốc thích”. “Này khanh, thôi, thôi, chúng ta trở về cung”, không muốn đi tham quan ở đâu nữa.
Người đánh xe vâng lời, trở về cung, hoàng tử trở về rồi đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ, lo lắng, buồn bã, đau lòng. Ấn tượng đó, cảm xúc đó, hình ảnh đó, bóng dáng đó, những suy nghĩ khi tiếp xúc đó, Ngài suy nghĩ “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh, ai sanh ra cũng phải già nua, bệnh tật, cũng phải chết như vậy”. Nhà vua thấy hoàng tử đau lòng như vậy, vua suy nghĩ không thể để cho hoàng tử từ chối không trị vì, không thể để cho hoàng tử xuất gia, không để cho lời của các vị Bà la môn đoán tướng trở thành sự thật được. Nhà vua liền sắp đặt cho hoàng tử đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa để hoàng tử đừng suy nghĩ đến việc xuất gia.
Hoàng tử sống tận hưởng đầy đủ, sung túc năm món dục lạc như vậy trong một thời gian dài nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm. Bây giờ, Ngài có việc đi đến vườn thượng uyển, đi đến xem phong cảnh. Trên đường đi Ngài thấy một vị xuất gia, một người tu sĩ đầu trọc, đắp áo cà sa, cạo tóc, đắp y. Ngài mới hỏi: “Này khanh, người này làm gì mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác”. “Tâu hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia”. “Này khanh, sao gọi là người xuất gia?”. “Tâu hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ bi đối với chúng sanh. Người xuất gia là người khéo tu đời sống trong sạch, thanh tịnh, làm các nghiệp lành, tu tập công đức, không hại chúng sanh, đối với tất cả mọi loài hữu tình với một tình thương bao la, rộng lớn”. “Này khanh, hãy đánh xe lại gần vị xuất gia đó”.
Khi đánh xe lại gần, Ngài đến hỏi vị xuất gia đó: “Thưa hiền giả, Ngài đã làm gì mà đầu của Ngài không giống như đầu của người khác, áo của Ngài không giống áo của người khác”. “Thưa hoàng tử, tôi là người xuất gia” “Thế nào gọi là người xuất gia?” “Người xuất gia là người sống một đời sống trong sạch, thanh tịnh, tu tập những hạnh lành, làm các việc công đức, khéo giữ không làm hại chúng sanh và đối đãi với hữu tình mọi loài bằng một tình thương rộng lớn, bao la, từ bi”.
Ngài nói: “Thưa hiền giả, lành thay, hạnh xuất gia của Ngài hay quá. Tuyệt vời quá, hay quá, lành thay là đời sống trong sạch, thanh tịnh, phạm hạnh, thiện nghiệp như vậy, tích lũy các công đức không hại chúng sanh với tâm từ bi như vậy, hay lắm, quá tốt”. Hoàng tử gọi người đánh xe trở về cung, “Này khanh, khanh hãy lấy xe này trở về cung đi, còn Ta ở đây, Ta sẽ cạo tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, Ta từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Ngay tại chỗ đó, hoàng tử kêu người đánh xe về cung đi, Ta không về nữa, Ta ở đây, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Người đánh xe nói: “Thưa vâng, hoàng tử”. Người đánh xe trở về cung, còn Ngài xuất gia. Nhà vua ở kinh đô. Bấy giờ ở kinh đô có một đại chúng tám mươi bốn ngàn người, nghe tin hoàng tử đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Nghe tin như vậy, các vị ấy suy nghĩ, “pháp lực như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường”. Hoàng tử Vipassi đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, nay hoàng tử đi tu như vậy thì hoàng tử còn đi xuất gia, tại sao chúng ta lại không? Tám mươi bốn ngàn người này đi theo xuất gia. Một đại chúng tám vạn bốn ngàn người từ bỏ râu tóc đắp áo cà sa như vậy, dưới sự lãnh đạo của Bồ Tát Vipassi, cùng với đại chúng đi ngang qua những làng mạc du hành. Tám mươi bốn ngàn người hội chúng của Ngài.
Khi đó, trong lúc yên lặng tịnh cư ở một mình, Bồ Tát Vipassi suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này? Tốt hơn là sống một mình, lánh xa đồ chúng”. Ngài suy nghĩ, đông đúc như vậy, Ngài muốn sống viễn ly một mình, lánh xa đồ chúng, đi một ngả. Trong khi yên tịnh, thanh vắng, Ngài thiền quán, suy tư, quán chiếu: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, khổ đau, sanh rồi già, sanh ra, lớn lên, già cả, bệnh tật, chết chóc, từ bỏ thế giới này để tái sanh một thế giới khác, không một ai biết con đường giải thoát khỏi sự khổ đau này, thoát khỏi già và chết”.
Thế giới này thật sự đau khổ, sanh ra rồi già, bệnh, chết, rồi tham, sân, si, hơn thua, đấu đá, tranh giành, chết rồi từ bỏ thế giới này, tá sanh vào một thế giới khác nhưng không một ai biết con đường để thoát ra sự đau khổ này, thoát ra khỏi già, chết này. Phải suy nghĩ, quán chiếu như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, Bồ Tát Vipassi suy nghĩ cái gì có mặt, già chết mới có mặt. Tại sao có già chết, lý do gì có già, chết?” Ngài tư duy, quán chiếu như vậy, sau khi Ngài quán chiếu đúng như sự thật, Như lý tư duy, nhờ trí huệ Ngài phát sanh ra thấy biết, sáng tỏ đúng đắn: do sanh có mặt nên già chết mới có mặt, có sanh ra mới có già, chết, do duyên sanh mới có già, chết. Vì có sanh nên mới có già, chết.
Đáng lẽ có mười hai nhân duyên nhưng chúng ta kể tới đây thôi, bài kinh Đại Bổn trong Kinh Trường Bộ này rất hay. Chúng ta chỉ trích đoạn đang nói về khổ đau cuộc đời. Từ chỗ đó Ngài phăng phăng tới tận cùng chứng ngộ lý duyên khởi và trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta đang nói về đau khổ của sự sanh này, sự sanh ra rồi già, bệnh tật, chết chóc của sắc uẩn này. Sự sanh ra ở trong xấu hổ, sự sống trong dục tham, dục ái, ái dục, trong sự xấu hổ. Sự già nua trong xấu hổ, nhục, bệnh tật, chết chóc. Đó là một đống khổ lớn, đại khổ uẩn, tổ hợp của khổ đau. Cục thịt này là tổ hợp của sanh, già, bệnh, chết. Sự tích tụ chữ uẩn, tập hợp, tập khởi là tụ tập để sanh khởi ra. Tập là tụ tập, tụ họp, nhóm họp, tập họp, sanh khởi ra khổ.
Như Bồ Tát Vipassi nói: “Thật là sỉ nhục thay cho cái gọi là sanh, thật là sỉ nhục thay cho cái gọi là già, thật là sỉ nhục cho cái gọi là bệnh tật, thật là sỉ nhục thay cho cái gọi là chết chóc, diệt vong, tan nát, hủy hoại, hoại diệt”. Sự đau khổ thứ hai nữa, điều đầu tiên mới chỉ nói về vật chất, sự đau khổ sâu sắc là nắm giữ vào trong này, chữ thủ. Cái khổ về vật chất, cái khổ tâm là những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc, không buông, trời gầm không nhả, chết thì chết thôi. Đó là sự đau khổ, lúc nãy chúng ta nói phần vật chất, bây giờ chúng ta nói về tinh thần, phần tâm, chính là sự nắm giữ bản chất của sắc uẩn, nó là tiêu tan, hoại diệt, thành trụ hoại diệt, hoại không, sanh lão bệnh tử.
IV. Chấp thủ thọ tưởng hành thức
Đó là sắc uẩn, còn bây giờ chữ thủ này là phần tâm, cái gì thủ? Cảm giác nắm giữ, cảm giác trong người mình muốn nắm giữ thân xác này, muốn nắm giữ những vật chất chung quanh, chữ thủ đó là nói về tâm. Trong sắc thủ uẩn, mình lấy chữ thủ ra, còn chữ sắc uẩn thuộc về vật chất vô tri, không biết gì hết. Nhưng nó phải chịu quy luật của sanh già bệnh chết, thành trụ hoại không, không trụ dị diệt. Nó phải là như vậy, không phải không như vậy, cho nên sự thể là như vậy.
Bản chất của sắc này là khổ nên trong kinh Nikāya nói nó đầy đủ hết tất cả những phương diện của khổ, rất tuyệt diệu. Chứ không phải nói khổ này chỉ là khổ tâm chứ thân tôi không khổ. Khổ về sắc, căn, trần, thức, xúc thọ, tất cả pháp đều chứa đựng khổ bên trong, chứ không phải chỉ nói có một chiều rằng thân tôi bệnh chứ tâm tôi không khổ. Đức Thế Tôn còn đau mà, Ngài nhiếp phục các cảm thọ, Ngài trú vô tướng tâm định nên mới cảm thấy được thoải mái.
Chúng ta thấy, tuy nói tâm làm chủ nhưng thân vẫn ảnh hưởng. Bây giờ chúng ta hay tin ông A, ông B, cậu C nào đó nhiễm bệnh, lúc đó tâm mình như thế nào hay khi mình đối diện với cái chết. Cho nên ở đây nói chữ thủ là cảm giác nắm giữ, suy nghĩ nắm giữ, và những hình bóng trong tâm, cái tưởng nắm giữ. Tưởng là thân kiến, sự ám ảnh về tự thân ở trong tưởng rồi, nên bây giờ nó nghĩ như vậy là mất nó rồi, tưởng nó thấy như vậy là mất rồi, suy nghĩ thấy như vậy là mất nó rồi, cảm thọ cũng vậy.
Thành ra nó muốn nắm, muốn giữ, muốn cầm, muốn siết chặt vô, muốn bấu chặt, ghì chặt vô, muốn nắm chặt vô, nắm thật chắc gọi là thủ, chấp thủ. Chấp thủ là nắm chặt, giữ chặt, đó là gọi sự chấp thủ, và sự sắc uẩn này là lo lắng, bất an, đau khổ, phiền não, khổ đau. Đó là mới giải thích một câu trong Thánh trí về ngũ uẩn, về sự nắm giữ vào trong cảm giác này là lo lắng, bất an, khổ sầu, sợ mất đi những cảm giác bình bình yên yên, sợ mất đi những cảm giác vui, những cảm giác mà khi có thân. Cảm giác đó bấu chặt, nắm chặt vô thân này, thọ thủ uẩn, nó nhận cảm giác đó là nó rồi. Cảm giác ở bên trong đó cho là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi, gọi là thọ thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong các cảm giác này là phiền phức, khổ sầu, đau đớn, phiền não, khổ đau. Sự nắm chặt vào trong những suy nghĩ, hình bóng là phiền não, khổ đau. Sự nắm chặt vào trong nhận thức là phiền não, khổ đau. Đó gọi là sự chấp thủ vào năm uẩn này là phiền não, khổ đau.
Thánh trí thứ hai là gì? Do sự không thấy biết, vô trí, vô tri, si mê, vô minh mà chúng ta sanh khởi sự yêu thích, tham đắm, say sưa, say mê, đam mê vào trong ngũ uẩn này nên nó mới sanh khởi ra. Mình không biết món ăn đó bên trong có chất độc, mình tưởng nó là ngon nên thích thú, mua đem về ăn mà không ngờ trong đó có độc, vì mình không biết nó có độc nên mới thích. Cũng y như vậy, ví dụ này cho mình dễ hiểu, mình không biết trong ngũ uẩn này là sầu bi khổ ưu não, mình tưởng đâu là vui, nên yêu thích, muốn nó, rước nó về làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt bên trong.
Chính vì vậy nên nó mới có chỗ y cứ để nó sanh khởi ra. Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và khát ái, ngũ uẩn đoạn diệt do vô minh và khát ái chấm dứt. Ngũ uẩn sanh khởi đồng nghĩa khổ sanh khởi, ngũ uẩn đoạn diệt đồng nghĩa khổ đoạn diệt chấm dứt. Vì không thấy, không biết, không hiểu, không thành tựu tri kiến thấy biết đúng sự thật về ngũ uẩn nên mình ưa thích, đam mê, say mê, khao khát, thèm thuồng, ước mong, đợi chờ, trông ngóng, tơ tưởng, mơ mộng về nó nên ngũ uẩn sanh.
Cũng giống như mình không biết món ăn có độc nên mua về ăn. Vậy nếu như mình biết nó có độc mình còn mua về ăn không, còn không, vậy là hết. Thì sự biết đó chính là Chánh tri kiến của Bát Chánh Đạo, thành ra Bát Chánh Đạo là phương pháp tám đúng, là phương pháp thần diệu, tối thượng, tẩy sạch hết vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, không còn nắm chặt vào trong đó nữa. Sự thấy biết đó là biết trong này có độc, không ưa thích, không mua nó về ăn nữa, không để cho nó tàn phá cơ thể, làm cho mình phải hành hạ mình, đau khổ, đau đớn và khổ sở nữa. Bởi vậy chúng ta mới dùng từ tam độc – ba chất độc: độc của tham dục, độc của sân hận và độc của si mê, vô minh.
Ba cái độc này ở trong cảm thọ, mà cảm thọ ở đâu? Ở trong ngũ uẩn, trong tưởng, trong hình bóng của tâm, trong cảm giác, suy nghĩ. Ba cái độc này căn cứ trong hình hài, sắc tướng này, tham sắc thân của chính nó và sắc thân của người khác. Nó ham thích, dính mắc, chấp thủ, giữ chặt, nắm chặt, ghì chặt, bám chặt, đeo chặt, buộc chặt, siết chặt vô sự rõ biết này, thức uẩn, những cảm giác này, những hình bóng trong tâm này, những suy nghĩ này, những hình hài này. Cho nên, chúng ta mới thấy được để phá vô minh và tham ái, cả một sự quán chiếu.
Chúng ta trở về bài kinh từ số hai, mình hiểu được chỗ này mới thấy được sự tuyệt vời của Đức Phật dạy mình. Thế Tôn kêu mình phải quán chiếu những thứ thuộc về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy luôn luôn nhìn kỹ, luôn luôn quán sát, luôn luôn suy tư, đó chính là vô thường, khổ đau. Ngũ uẩn này là bệnh, là ung nhọt, mũi tên, là bất hạnh, hoạn nạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, vô ngã.
Chúng ta học phần Tương Ưng Uẩn – Thánh trí về năm uẩn (ngũ uẩn trí) mất chục bài mà chưa hết. Trong đó nói tới nói lui, nói qua nói lại những điều này, cho đến khi nào những điều này đi vào trong tâm, trong tủy, trong xương, trong máu. Cho đến khi nào những trí tuệ này trong mắt mình, trong lỗ tai mình, trong suy nghĩ, cảm thọ, cảm nhận, cảm xúc của mình. Cho đến khi nào nó vào trong xương, trong tủy mình, mình ngao ngán, nhàm chán tới tột độ, tận cùng, lúc đó mình hết vô minh, tham ái đối với ngũ uẩn.
Muốn được như vậy phải đi qua con đường Bát Thánh Đạo. Từ tám đúng này mình mới nghĩ đúng, làm đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Thấy đúng chưa đủ, phải nghĩ đúng, nghĩ đúng chưa đủ, phải nói đúng, sống đúng, phải siêng đúng, quán xét và định tâm cho đúng. Đây là cả một sự tu học. Đức Thế Tôn nói phạm hạnh thành tựu là thành tựu Bát Thánh Đạo, sự tột cùng của thiện bạn hữu cũng là Bát Thánh Đạo, đạo đế cũng là Bát Thánh Đạo.
Ngay Tứ Niệm Xứ là một phần của quán đúng, tức Chánh Niệm – sự quán niệm đúng đắn, là Tứ Niệm Xứ. Trong Bát Chánh có đầy đủ Ba Mươi Bảy Phẩm trợ đạo, nghĩ đúng là Chánh Tư Duy, sống đúng là Chánh nghiệp, nói đúng là Chánh ngữ, siêng đúng là Chánh tinh tấn, quán đúng là Chánh Niệm, định đúng là Chánh định. Nó bắt đầu từ sự thấy đúng, mà thấy đúng là thấy gì? Thấy ngũ uẩn này.
“Niệm ngũ uẩn này không phải ta
Bạn nhớ niệm thầm trong tự tâm
Niệm bỏ hết đi cảnh vô thường
Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu
Niệm ngũ uẩn này không phải ta”
Cho nên, mình phải nhận diện ngũ uẩn để thấy đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có tôi, không có của tôi. Lúc nào nhận diện ngũ uẩn là lúc đó minh trí, lúc nào không nhận diện ngũ uẩn là lúc đó vô minh. Cái tôi rõ ràng, trí ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng đối với người tu, rời nó ra là sự tu của mình không đi đến Thánh đạo được.
Mình rất xúc động với câu nói nhắn nhủ thiết tha của Đức Phật: “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ có nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, chớ có nương tựa một gì khác. Thế nào là tự mình là ngọn đèn cho chính mình? Tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa vào điều gì khác? Thế nào là dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn? Thế nào là dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa? Không nương tựa một điều gì khác?”.
Chúng ta thấy Đức Phật nói rồi Ngài giải thích: “Này, A-nan-đa, Tỳ-kheo trú quán thân trên thân”, đó là nương dựa chính mình. Nãy giờ chúng ta quán thân trên thân, sanh già bệnh chết. Hãy quán cảm thọ, cảm giác ở ngay trong những cảm giác sự thật của nó, hãy quán tâm mình ngay ở trong tâm. Hãy quán tâm mình một cách nhiệt tình, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh Niệm để nhiếp phục những tham ưu ở đời. Nhiếp phục những tham muốn, ưu phiền bằng cách tự mình làm ngọn đèn, tự mình dựa vào chính mình, không nương dựa vào ai khác. Ngọn đèn đó là gì?
Là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là sự quay về nhìn ngó lại thân thể, cảm giác, nội tâm và cái gì đang có ở trong tâm. Đó là ngọn đèn, chỗ dựa, chỗ tựa, đừng tựa vào những cái gì ở bên ngoài khác, vì tất cả ở bên ngoài bại hoại, tan nát, hoại diệt hết. Chúng ta thấy khi mình đối diện với cái chết, làm sao nương dựa vào thân này, làm sao nương dựa vào những người bà con bên ngoài hay huynh đệ, thầy bạn. Dù thầy có tới thầy cũng nói về pháp, Đức Thế Tôn tới Ngài cũng nói về pháp.
Cuối cùng chỗ nương tựa của mình, ngọn đèn của mình, chỗ dựa của mình cũng là pháp, không thể dựa vào ai khác. Ngay cả lúc Đức Thế Tôn còn tại thế Ngài đã nói như vậy rồi, đâu có dựa vào Ngài. Có một vị Tỳ-kheo bệnh, cứ mong chờ Ngài tới, Ngài hỏi có nuối tiếc gì không, vị thầy nói chỉ nuối tiếc không được gặp Đức Thế Tôn nên Đức Thế Tôn quở trách. Thân hôi thối này có gì để các ông nhìn ngắm đây? Hãy an trú vào trong pháp, đó là chỗ nương tựa tối thượng, là ngọn đèn thần diệu của tự tâm.
./.
CHẤP THỦ NGŨ UẨN LÀ PHIỀN NÃO KHỔ ĐAU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu thực trạng thế giới bất an PAGEREF _Toc85442367 \h 1
II. Chấp thủ sắc uẩn PAGEREF _Toc85442368 \h 3
III. Bồ tát Vipassi PAGEREF _Toc85442369 \h 4
IV. Chấp thủ thọ tưởng hành thức PAGEREF _Toc85442370 \h 9
I. Quán chiếu thực trạng thế giới bất an
Hiện tại có hàng ngàn những em nhỏ mồ côi cha mẹ. Hơn một ngàn năm trăm đứa bé mất cha mẹ trong mùa dịch bệnh này, trở thành trẻ mồ côi, mà con số thực tế còn nhiều hơn nữa. Vừa rồi đài truyền hình VTV có ra một tập phim tài liệu đặc biệt: Ranh giới. Hôm qua chúng ta xem đoạn trích khoảng hai, ba phút thôi. Những người làm phim phải ở trong bệnh viện suốt nửa tháng để quay những sự thật mà những bệnh nhân, bác sĩ, điều dưỡng với sự vất vả, khó khăn, lo âu, mệt nhọc, đau khổ và bất lực, từ bác sĩ cho đến bệnh nhân, người thân, rất xúc động.
Đoạn phim đó mới đăng năm mươi phút đã gần hai triệu lượt truy cập. Đó là những hình ảnh thật trong bệnh viện, không có lời bình nào cả. Những bà mẹ mang thai mắc dịch bệnh này phải bỏ đứa con được hơn sáu tháng, mổ lấy ra, nếu không mẹ sẽ chết. Những bác sĩ điện thoại về gia đình hỏi ý kiến, rất ngậm ngùi, xót xa, phải từ bỏ đứa con yêu dấu nhất của mình mà mình cưu mang, ôm ấp, hoài thai trong suốt hai mươi mốt tuần.
Có chú này, con chú còn rất nhỏ, rất trẻ, bị bệnh rồi âm thầm quảy ba lô với ít món đồ vô bệnh viện, không cho chú biết, sợ chú lo lắng. Tới khi bệnh viện báo tin con chú mất rồi, còn để lại ba lô với mấy món đồ, chú khóc nức nở, kêu trời không thấu, kêu đất không hay. Những vị bác sĩ ở tuyến đầu phải thức trắng đêm, một hai giờ đêm để đi năn nỉ và chăm sóc những người bệnh nặng, phải thở bằng máy, bằng những dụng cụ hỗ trợ. Trắng đêm như vậy, và nằm dài dưới nền nhà.
Những khi dùng hết tất cả sức lực, sự cố gắng mà không cứu chữa được, bệnh nhân qua đời, những khoảng lặng, mọi người trầm mặc, cúi đầu, không khí trong phòng lạnh lẽo, cô tịch. Hằng ngày phải chứng kiến những người đau đớn, đau khổ, quằn quại, những người phải giành giật sự sống bằng mỗi hơi thở của chính mình. Chứng kiến những cảnh bệnh nhân ra đi, chúng ta có thể tưởng tượng nổi áp lực đó như thế nào, vừa thể chất vừa tinh thần. Xem những đoạn phim đó, nước mắt mình không cầm được. Thật quá là khổ, thật khổ, thật sự là khổ đau!
Mà đâu phải chỉ là bệnh viện Hùng Vương thôi, đó là chỉ quay cho chúng ta thấy một chỗ, một nơi thôi. Nhưng có trăm nơi, ngàn nơi, nhiều ngàn nơi trên toàn thế giới, hàng trăm người, hàng ngàn người, nhiều ngàn người, vạn người, trăm vạn, triệu người, bao nhiêu triệu người đang phải chịu đựng những cảm thọ lo lắng, bất an, đau đớn, thống khổ của bệnh hoạn, của sợ hãi, lo toan, của đau khổ, thống khổ tràn ngập.
Hôm qua Minh Thành hay tin một vị thầy đã lớn tuổi – tám mươi rồi, chỉ ở trong chùa, nhưng vẫn bị nhiễm dịch bệnh vì người đưa đồ ăn. Cô tổ trưởng tổ dân phố đó bị nhiễm bệnh nhưng cô không biết, cô đưa đồ ăn, và thầy bị nhiễm. Khi hay tin là tá hỏa tam tinh, bảy mươi chín, tám mươi tuổi rồi. Sau đó người ta đưa vào trong hầm để xe của chung cư, vì bệnh viện không còn chỗ nữa. Sau khi bác sĩ xem xét thấy thầy bệnh nền nhiều quá nên chuyển viện.
Cũng nhờ giáo hội giúp đỡ các thầy, lo lắng, thầy tâm sự với chúng ta thật, thầy nói xấu hổ, nhục nhã, cả đời người mới chứng kiến lần đầu tiên. Tiêu chảy, đái dầm, lớn tuổi rồi, thuốc men nữa, muốn ra thì ra. Những nhân viên y tá, điều dưỡng phải làm vệ sinh. Thầy nói xấu hổ quá, lần đầu tiên trong cuộc đời, thầy không làm chủ được thân thể bệnh hoạn, thuốc men, ngủ không được, ngồi sáng đêm vì những bệnh khác nữa như tim, phổi, huyết áp…
Nhưng cũng may, có phước, sau hai tuần, thầy được khỏe, trở về chùa. Chúng ta thấy sanh, lão, bệnh, tử này, đây mới chỉ là một cái khổ về bệnh trong tám cái khổ mà ta đã điêu đứng, nghiêng ngửa, sụp đổ. Con người thiếu thốn, khổ sở, đói khát, lo lắng, bất an, sợ hãi, bức xúc, ảnh hưởng toàn cầu về mọi mặt, du lịch, kinh tế, văn hóa, xã hội, hàng không, kinh doanh, thương mại, buôn bán… Toàn cầu điêu đứng, nghiêng ngửa.
Hôm qua có một Phật tử ở Sài Gòn chia sẻ, thầy ơi thầy có biết không, cô Phật tử hôm trước qua thăm thầy bữa rằm tháng tư, sau bốn ngày bay qua Mỹ ở đã chết vì con cổ lây. Cũng dịch bệnh nữa, giờ người con phải thở trên ba mươi bình ô xi. Mình thấy những đất nước đầy đủ còn như vậy, còn những nước nghèo như Ấn Độ hay những chỗ thiếu thốn, lấy đâu ra một, hai bình chứ đừng nói đến hơn ba mươi bình mới cứu được.
Hàng ngày mình ở trên núi thôi mà nghe tin những người thân, người quen, người từng tiếp xúc, hôm nay nghe tin người này nhiễm bệnh, ngày mai nghe tin người kia qua đời, ngày nọ nghe tin người khác đang cách ly. Thật sự là mới chỉ một nỗi khổ về bệnh, mình thấy nó đã thê thảm. Cũng cô đó tâm sự cho mình biết, để thiêu phải chờ đến hai tuần lễ hoặc lâu hơn. Muốn được thiêu sớm phải đóng rất nhiều tiền, nhà nghèo làm sao có ba mươi triệu, sáu mươi triệu để thiêu?
Lò thiêu không đủ, người ta phải về tỉnh đề xây thêm lò thiêu, bây giờ không để vô hòm vì như vậy rất lâu, phải bọc vô những cái bao nilong. Rồi những chiếc xe đông lạnh để thây người chết, mấy chục người một chiếc. Thật sự khổ không thể nói, khổ chưa từng thấy. Ngày nào cũng có bao nhiêu người chết, bao nhiêu người ra đi, hàng chục ngàn những người nhiễm bệnh. Hiện tại là sáu trăm mấy chục ngàn ca nhiễm.
II. Chấp thủ sắc uẩn
Thật sự là thế giới bất an, mạng sống hết sức mong manh, ngắn ngủi, mau chóng. Cuộc đời này đầy dẫy sự bất an, bấp bênh, vô định. Mới thấy đó rồi mất đó, chỉ vài ngày chứ không đầy một tuần lễ là trở thành tro bụi. Ông bà mình nói: “Chết trước đặng mồ đặng mả, chết sau rã thây thi”. Bây giờ đúng sự thật như vậy. Thật sự như Đức Thế Tôn nói trong bài kinh “Từ” mà hôm qua chúng ta học: “Thân này là ung nhọt”. Chúng ta phải nghiền ngẫm, đó là Thánh pháp ấn, phải nghiền ngẫm sâu sắc những pháp quán đó. Thân này là bất an, là mũi tên, là bất hạnh, phải quán sát thân xác này.
Thật sự là quá ngắn ngủi, quá biến đổi, đời sống này quá khổ đau, bệnh tật, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, hoại diệt, hư hoại, trống không, trống rỗng, trống trơn. Không có gì là tôi, của tôi, không có gì là tự ngã của tôi, là vô ngã, vô thường, bất an, đầy lo lắng và sợ hãi, đầy phiền phức, phiền não, phiền muộn, phiền bực, phiền đau, phiền lo, phiền khổ. Phiền phức lắm là sắc này, hình hài này. Phiền nhọc lắm là thân xác này. Phiền não lắm là hình hài này, lo lắng lắm là thân thể này, bất an lắm là đời sống này. Bất hạnh là không may mắn nên mình mới dính vô một thân như thế này, là bất hạnh.
Sự bất hạnh nhất trong tất cả sự bất hạnh là nắm chặt vào thân xác này, đó là sự đau khổ nhất, mê lầm, sâu dày nhất của tất cả chúng ta chính là sự nắm giữ thân xác này. Tức sự chấp thủ vào thân xác này là phiền não, khổ đau. Mê lầm trong tất cả mê lầm, si mê nhất trong tất cả si mê, vô minh nhất trong tất cả sự vô minh, là nắm chặt vào hình hài, thân xác này, da thịt, xương gân, mủ máu, ruột gan, phèo phổi này. Sự nắm giữ vào trong thân xác này là sự lo lắng, sự nắm giữ vào thể xác này là bất an, sự nắm giữ vào hình hài này là sự sợ hãi, khổ đau, bất hạnh. Sự nắm giữ vào thân xác này là nắm giữ vào ung nhọt, ung hạch, ung hôi, ung thư, ung bướu. Đó là sự nắm giữ vào sắc uẩn này.
Biết bao nhiêu là nước mắt, lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sở, chính là sự nắm giữ, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc vào trong thân xác này, thể xác này và những đồ vật xung quanh. Sự chấp thủ và sắc uẩn này là phiền não và khổ đau. Hình ảnh cô vợ sợ hãi, hoảng loạn, hốt hoảng, quên số điện thoại. Người chồng nghe tiếng người vợ nói, lấy hơi lên như vậy, rên rỉ trong những phút cuối cùng thì người chồng cũng không biết nói gì. Nghẹn ngào, đau đớn, sanh ly tử biệt, ái biệt ly, yêu thương rồi sắp sửa chia lìa. Cô vợ nói: “Em muốn gặp con, em sợ quá, sợ quá anh ơi!”.
Thật sự là đau thương, đau đớn, đau khổ và đau buồn, đau xót, đau lòng. Tất cả là sắc thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong thân xác này, trong những vật chất này chính là sự nắm chặt vào lo lắng, bất an, sợ hãi, bất hạnh, ung nhọt, mũi tên, tai họa. Chính là sự nắm chặt và sự tan nát, hủy hoại, bại hoại, hoại diệt. Chính là sự nắm chặt vào sự hướng ngoại, vô thường. Nắm chặt vào thân xác này chính là sự nắm chặt vào bệnh hoạn, thống khổ, khổ sở. Nắm chặt vào thân xác này là sự nắm chặt vào chỗ trống không, rỗng không, trống trơn, trống rỗng.
“Bản chất thân xác này là trống rỗng,
Bản chất thân xác này là trống không,
Bản chất thân xác này là cảnh mộng
Dễ dàng tan biến vào hư không”
III. Bồ tát Vipassi
Cho nên, khi Bồ Tát Vipassi còn làm thái tử, từ nhỏ tới lớn ở trong hoàng cung được cung phụng, yêu chiều, chăm sóc. Một hôm, Ngài nhìn thấy một người già nua, lưng còng như nóc nhà chống gậy, vừa đi vừa run rẩy với những bước chân rất khó khăn, khổ sở, tuổi trẻ đã tàn lụi hết. Ngài mới hỏi người đánh xe đó là ai, sao thân người đó không giống như những người khác. “Tâu hoàng tử, đó được gọi là một người đã già”, “Này khanh, sao người ây được gọi là một người đã già?”. “Tâu hoàng tử, người ấy già vì người ấy sống không bao lâu nữa”, “Này khanh, vậy rồi Ta có bị già không?”. “Tâu hoàng tử, hoàng tử và cả con nữa, tất cả sẽ bị già nua, dầu bây giờ chúng ta còn trẻ, chưa già”.
Ngài trở về hoàng cung, ở trong cung Ngài buồn bã, đau khổ, lo lắng “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh, và ai sanh ra rồi cũng phải già yếu như vậy, sỉ nhục thay, nhục nhã thay”. Sanh ra rồi phải già nua như vậy, ai sanh ra rồi cũng phải già yếu như vậy. Đây là kinh Đại bổn Trường Bộ, tập một. Nhà vua hay tin hoàng tử buồn như vậy, dặn mọi người đừng cho hoàng tử nhìn thấy những cảnh đau khổ của cuộc đời. Nhưng làm sao mà không nhìn thấy được? Một hôm, hoàng tử này nhìn thấy một người bệnh hoạn, đau đớn, nguy kịch, bò lết trong đại tiện, tiểu tiện của mình.
Hoàng tử trước khi Ngài thành Chánh Giác cũng giống như Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni của mình, Ngài nhìn thấy một người bệnh hoạn, khổ não, nguy kịch nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình. Phải cần có người khác nâng đỡ mỗi khi ngồi dậy, đứng lên, phải cần có người khác dìu dắt khi đi. Hồi nào giờ Ngài không nhìn thấy cảnh khổ đó nên Ngài mới hỏi người đánh xe là người này đang làm gì, sao đôi mắt họ không giống đôi mắt người khác, giọng nói họ không giống giọng nói của người khác, thều thào, khó khăn như vậy.
Người đánh xe thưa: “Thưa hoàn tử, đó là người bệnh tật, bệnh nặng, người đó là người bệnh”. “Này khanh, vậy rồi Ta có bị bệnh không?”, “Tâu hoàng tử, hoàng tử và con, tất cả chúng ta đều sẽ bị bệnh tật, dầu chúng ta chưa bị bệnh”. Tất cả chúng ta rồi sẽ bệnh tật, bệnh đau, bệnh khổ. “Thôi, giờ chúng ta về cung, không muốn nhìn thế này nữa”. Ngài về rồi lo lắng, suy tư, chiêm nghiệm, mình rồi cũng sẽ già nua, bệnh tật, bệnh hoạn, bệnh khổ như vậy, đau đớn, quằn quại, nằm trong đống phân và nước tiểu của chính mình như vậy. Muốn ngồi lên phải có người nâng đỡ, muốn đi phải có người dìu dắt.
Giờ trước mắt mình nhìn thấy thầy Pháp An, cầm gậy rồi phải có một người dẫn lên. Bây giờ mắt không thấy đường, mà đây là còn phước báu. Chúng ta thấy, tuổi già phá sạch hết tất cả. Ngài suy nghĩ: “Thật là sỉ nhục thay cái gọi là sanh, sanh ra rồi, cũng phải già, phải bệnh”. Thật sỉ nhục thay, đau đớn thay, xấu hổ thay. Như sư ông lúc nãy tâm sự với chúng ta, nói rằng: “Thầy ơi, tôi thấy tôi nhục quá, phải tiểu tiện ngay tại chỗ, hôi dơ như vậy, phải nhờ người khác”. Nên ở đây mới dùng từ sỉ nhục thay, tức rất nhục nhã.
Thành ra nhiều khi mình đọc kinh mà không chiêm nghiệm, không hiểu nhiều, phải chiêm nghiệm mới thấy. Sự sanh có nhục nhã không? Từ người sanh cho đến đứa trẻ được sanh ra, sự dơ bẩn, bẩn thỉu. Mình đi trong một con đường dơ dáy, bẩn thỉu, thấp kém, hạ liệt. Cho nên Bồ Tát mới nói là “nhục nhã thay là sự sanh ra này, sỉ nhục thay là sự già nua, bệnh tật này”. Những người già thường hay bị những người trẻ khinh thường, nói cứ “hả, hả”, rồi nói cái này nghe thành cái kia. Ăn uống cầm run tay, rớt bể chén, đũa, muỗng.
Vừa rồi mình thấy một chuyện hết sức đau lòng, cụ già chín mươi tuổi và đứa con. Bà cầm rớt đổ, bể đồ, cô con gái này vô táng lên đầu mẹ và chửi mắng, lấy chổi chà đánh mẹ mình. Thật sự đau đớn, đau khổ, bất hạnh, bất hiếu, nghịch tử. Đó là tuổi già, biết bao nhiêu ví dụ để mình chiêm nghiệm, vì nói không thể nào hết được sự xấu hổ của tuổi già, xấu hổ của sự bệnh tật.
Cho nên Bồ Tát mới nói: “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh ra này, ai sanh ra cũng phải già nua, bệnh tật”. Phụ hoàng của Ngài thấy Ngài không vui, buồn khổ, lo lắng như vậy, liền dặn mọi người đừng cho Ngài thấy những cảnh đó. Nhưng làm sao không thấy được trên cuộc đời này. Rồi một hôm, Ngài cũng chứng kiến rất đông người mặc đồ tang mà Ngài không biết, nghĩ là họ đang mặc những sắc phục khác nhau, và đang dựng một đàn hỏa táng. Mình nói dễ nghe là mặc đồ tang, dựng lên một dàn hỏa để thiêu người chết.
Ngài hỏi người đánh xe: “Này khanh, vì sao những người ấy mặc đồ lạ và dựng lên một dàn hỏa táng như vậy?”. “Tâu hoàng tử, vì có một người mới vừa chết, mới vừa mạng chung, qua đời”. “Này khanh, hãy đánh xe đến gần người mới vừa chết đó”, “Thưa hoàng tử, dạ vâng”. Người đánh xe này làm theo lời hoàng tử, Ngài nhìn thấy thây chết như vậy, Ngài hỏi: “Này khanh, sao người ấy được gọi là người chết?” “Tâu hoàng tử, người ấy được gọi là người đã chết vì nay cha, mẹ, những người bà con ruột thịt khác không thấy người ấy nữa, người ấy cũng không thấy cha mẹ và bà con ruột thịt khác nữa”. “Này khanh, vậy Ta chưa chết, Ta có bị chết không? Phụ vương, mẫu hậu và những người ruột thịt khác sẽ không thấy Ta chăng, và Ta sẽ không thấy phụ vương, mẫu hậu và những người ruột thịt khác chăng?”. “Tâu hoàng tử, hoàng tử, và cả con nữa, chúng ta tuy nay chưa chết, nhưng rồi, sẽ cũng bị chết. Phụ vương, mẫu hậu và các bà con khác sẽ không thấy hoàng tử và hoàng tử sẽ không thấy phụ vương, mẫu hậu và những bà con thân quyến hoàng thân quốc thích”. “Này khanh, thôi, thôi, chúng ta trở về cung”, không muốn đi tham quan ở đâu nữa.
Người đánh xe vâng lời, trở về cung, hoàng tử trở về rồi đau khổ, sầu muộn và suy nghĩ, lo lắng, buồn bã, đau lòng. Ấn tượng đó, cảm xúc đó, hình ảnh đó, bóng dáng đó, những suy nghĩ khi tiếp xúc đó, Ngài suy nghĩ “Sỉ nhục thay cái gọi là sanh, ai sanh ra cũng phải già nua, bệnh tật, cũng phải chết như vậy”. Nhà vua thấy hoàng tử đau lòng như vậy, vua suy nghĩ không thể để cho hoàng tử từ chối không trị vì, không thể để cho hoàng tử xuất gia, không để cho lời của các vị Bà la môn đoán tướng trở thành sự thật được. Nhà vua liền sắp đặt cho hoàng tử đầy đủ năm món dục lạc nhiều hơn nữa để hoàng tử đừng suy nghĩ đến việc xuất gia.
Hoàng tử sống tận hưởng đầy đủ, sung túc năm món dục lạc như vậy trong một thời gian dài nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm. Bây giờ, Ngài có việc đi đến vườn thượng uyển, đi đến xem phong cảnh. Trên đường đi Ngài thấy một vị xuất gia, một người tu sĩ đầu trọc, đắp áo cà sa, cạo tóc, đắp y. Ngài mới hỏi: “Này khanh, người này làm gì mà đầu người ấy lại khác đầu của những người khác, và áo của người ấy cũng khác áo của những người khác”. “Tâu hoàng tử, người ấy được gọi là người xuất gia”. “Này khanh, sao gọi là người xuất gia?”. “Tâu hoàng tử, xuất gia nghĩa là khéo tu phạm hạnh, khéo tu tịnh hạnh, khéo hành thiện nghiệp, khéo hành công đức nghiệp, khéo giữ không hại chúng sanh, khéo có lòng từ bi đối với chúng sanh. Người xuất gia là người khéo tu đời sống trong sạch, thanh tịnh, làm các nghiệp lành, tu tập công đức, không hại chúng sanh, đối với tất cả mọi loài hữu tình với một tình thương bao la, rộng lớn”. “Này khanh, hãy đánh xe lại gần vị xuất gia đó”.
Khi đánh xe lại gần, Ngài đến hỏi vị xuất gia đó: “Thưa hiền giả, Ngài đã làm gì mà đầu của Ngài không giống như đầu của người khác, áo của Ngài không giống áo của người khác”. “Thưa hoàng tử, tôi là người xuất gia” “Thế nào gọi là người xuất gia?” “Người xuất gia là người sống một đời sống trong sạch, thanh tịnh, tu tập những hạnh lành, làm các việc công đức, khéo giữ không làm hại chúng sanh và đối đãi với hữu tình mọi loài bằng một tình thương rộng lớn, bao la, từ bi”.
Ngài nói: “Thưa hiền giả, lành thay, hạnh xuất gia của Ngài hay quá. Tuyệt vời quá, hay quá, lành thay là đời sống trong sạch, thanh tịnh, phạm hạnh, thiện nghiệp như vậy, tích lũy các công đức không hại chúng sanh với tâm từ bi như vậy, hay lắm, quá tốt”. Hoàng tử gọi người đánh xe trở về cung, “Này khanh, khanh hãy lấy xe này trở về cung đi, còn Ta ở đây, Ta sẽ cạo tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, Ta từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Ngay tại chỗ đó, hoàng tử kêu người đánh xe về cung đi, Ta không về nữa, Ta ở đây, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Người đánh xe nói: “Thưa vâng, hoàng tử”. Người đánh xe trở về cung, còn Ngài xuất gia. Nhà vua ở kinh đô. Bấy giờ ở kinh đô có một đại chúng tám mươi bốn ngàn người, nghe tin hoàng tử đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Nghe tin như vậy, các vị ấy suy nghĩ, “pháp lực như vậy không phải tầm thường, xuất gia như vậy không phải tầm thường”. Hoàng tử Vipassi đã cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, nay hoàng tử đi tu như vậy thì hoàng tử còn đi xuất gia, tại sao chúng ta lại không? Tám mươi bốn ngàn người này đi theo xuất gia. Một đại chúng tám vạn bốn ngàn người từ bỏ râu tóc đắp áo cà sa như vậy, dưới sự lãnh đạo của Bồ Tát Vipassi, cùng với đại chúng đi ngang qua những làng mạc du hành. Tám mươi bốn ngàn người hội chúng của Ngài.
Khi đó, trong lúc yên lặng tịnh cư ở một mình, Bồ Tát Vipassi suy nghĩ: “Sao Ta lại sống bị bao vây bởi đồ chúng này? Tốt hơn là sống một mình, lánh xa đồ chúng”. Ngài suy nghĩ, đông đúc như vậy, Ngài muốn sống viễn ly một mình, lánh xa đồ chúng, đi một ngả. Trong khi yên tịnh, thanh vắng, Ngài thiền quán, suy tư, quán chiếu: “Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, khổ đau, sanh rồi già, sanh ra, lớn lên, già cả, bệnh tật, chết chóc, từ bỏ thế giới này để tái sanh một thế giới khác, không một ai biết con đường giải thoát khỏi sự khổ đau này, thoát khỏi già và chết”.
Thế giới này thật sự đau khổ, sanh ra rồi già, bệnh, chết, rồi tham, sân, si, hơn thua, đấu đá, tranh giành, chết rồi từ bỏ thế giới này, tá sanh vào một thế giới khác nhưng không một ai biết con đường để thoát ra sự đau khổ này, thoát ra khỏi già, chết này. Phải suy nghĩ, quán chiếu như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, Bồ Tát Vipassi suy nghĩ cái gì có mặt, già chết mới có mặt. Tại sao có già chết, lý do gì có già, chết?” Ngài tư duy, quán chiếu như vậy, sau khi Ngài quán chiếu đúng như sự thật, Như lý tư duy, nhờ trí huệ Ngài phát sanh ra thấy biết, sáng tỏ đúng đắn: do sanh có mặt nên già chết mới có mặt, có sanh ra mới có già, chết, do duyên sanh mới có già, chết. Vì có sanh nên mới có già, chết.
Đáng lẽ có mười hai nhân duyên nhưng chúng ta kể tới đây thôi, bài kinh Đại Bổn trong Kinh Trường Bộ này rất hay. Chúng ta chỉ trích đoạn đang nói về khổ đau cuộc đời. Từ chỗ đó Ngài phăng phăng tới tận cùng chứng ngộ lý duyên khởi và trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta đang nói về đau khổ của sự sanh này, sự sanh ra rồi già, bệnh tật, chết chóc của sắc uẩn này. Sự sanh ra ở trong xấu hổ, sự sống trong dục tham, dục ái, ái dục, trong sự xấu hổ. Sự già nua trong xấu hổ, nhục, bệnh tật, chết chóc. Đó là một đống khổ lớn, đại khổ uẩn, tổ hợp của khổ đau. Cục thịt này là tổ hợp của sanh, già, bệnh, chết. Sự tích tụ chữ uẩn, tập hợp, tập khởi là tụ tập để sanh khởi ra. Tập là tụ tập, tụ họp, nhóm họp, tập họp, sanh khởi ra khổ.
Như Bồ Tát Vipassi nói: “Thật là sỉ nhục thay cho cái gọi là sanh, thật là sỉ nhục thay cho cái gọi là già, thật là sỉ nhục cho cái gọi là bệnh tật, thật là sỉ nhục thay cho cái gọi là chết chóc, diệt vong, tan nát, hủy hoại, hoại diệt”. Sự đau khổ thứ hai nữa, điều đầu tiên mới chỉ nói về vật chất, sự đau khổ sâu sắc là nắm giữ vào trong này, chữ thủ. Cái khổ về vật chất, cái khổ tâm là những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, nắm chặt, nắm cứng, nắm chắc, không buông, trời gầm không nhả, chết thì chết thôi. Đó là sự đau khổ, lúc nãy chúng ta nói phần vật chất, bây giờ chúng ta nói về tinh thần, phần tâm, chính là sự nắm giữ bản chất của sắc uẩn, nó là tiêu tan, hoại diệt, thành trụ hoại diệt, hoại không, sanh lão bệnh tử.
IV. Chấp thủ thọ tưởng hành thức
Đó là sắc uẩn, còn bây giờ chữ thủ này là phần tâm, cái gì thủ? Cảm giác nắm giữ, cảm giác trong người mình muốn nắm giữ thân xác này, muốn nắm giữ những vật chất chung quanh, chữ thủ đó là nói về tâm. Trong sắc thủ uẩn, mình lấy chữ thủ ra, còn chữ sắc uẩn thuộc về vật chất vô tri, không biết gì hết. Nhưng nó phải chịu quy luật của sanh già bệnh chết, thành trụ hoại không, không trụ dị diệt. Nó phải là như vậy, không phải không như vậy, cho nên sự thể là như vậy.
Bản chất của sắc này là khổ nên trong kinh Nikāya nói nó đầy đủ hết tất cả những phương diện của khổ, rất tuyệt diệu. Chứ không phải nói khổ này chỉ là khổ tâm chứ thân tôi không khổ. Khổ về sắc, căn, trần, thức, xúc thọ, tất cả pháp đều chứa đựng khổ bên trong, chứ không phải chỉ nói có một chiều rằng thân tôi bệnh chứ tâm tôi không khổ. Đức Thế Tôn còn đau mà, Ngài nhiếp phục các cảm thọ, Ngài trú vô tướng tâm định nên mới cảm thấy được thoải mái.
Chúng ta thấy, tuy nói tâm làm chủ nhưng thân vẫn ảnh hưởng. Bây giờ chúng ta hay tin ông A, ông B, cậu C nào đó nhiễm bệnh, lúc đó tâm mình như thế nào hay khi mình đối diện với cái chết. Cho nên ở đây nói chữ thủ là cảm giác nắm giữ, suy nghĩ nắm giữ, và những hình bóng trong tâm, cái tưởng nắm giữ. Tưởng là thân kiến, sự ám ảnh về tự thân ở trong tưởng rồi, nên bây giờ nó nghĩ như vậy là mất nó rồi, tưởng nó thấy như vậy là mất rồi, suy nghĩ thấy như vậy là mất nó rồi, cảm thọ cũng vậy.
Thành ra nó muốn nắm, muốn giữ, muốn cầm, muốn siết chặt vô, muốn bấu chặt, ghì chặt vô, muốn nắm chặt vô, nắm thật chắc gọi là thủ, chấp thủ. Chấp thủ là nắm chặt, giữ chặt, đó là gọi sự chấp thủ, và sự sắc uẩn này là lo lắng, bất an, đau khổ, phiền não, khổ đau. Đó là mới giải thích một câu trong Thánh trí về ngũ uẩn, về sự nắm giữ vào trong cảm giác này là lo lắng, bất an, khổ sầu, sợ mất đi những cảm giác bình bình yên yên, sợ mất đi những cảm giác vui, những cảm giác mà khi có thân. Cảm giác đó bấu chặt, nắm chặt vô thân này, thọ thủ uẩn, nó nhận cảm giác đó là nó rồi. Cảm giác ở bên trong đó cho là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi, gọi là thọ thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong các cảm giác này là phiền phức, khổ sầu, đau đớn, phiền não, khổ đau. Sự nắm chặt vào trong những suy nghĩ, hình bóng là phiền não, khổ đau. Sự nắm chặt vào trong nhận thức là phiền não, khổ đau. Đó gọi là sự chấp thủ vào năm uẩn này là phiền não, khổ đau.
Thánh trí thứ hai là gì? Do sự không thấy biết, vô trí, vô tri, si mê, vô minh mà chúng ta sanh khởi sự yêu thích, tham đắm, say sưa, say mê, đam mê vào trong ngũ uẩn này nên nó mới sanh khởi ra. Mình không biết món ăn đó bên trong có chất độc, mình tưởng nó là ngon nên thích thú, mua đem về ăn mà không ngờ trong đó có độc, vì mình không biết nó có độc nên mới thích. Cũng y như vậy, ví dụ này cho mình dễ hiểu, mình không biết trong ngũ uẩn này là sầu bi khổ ưu não, mình tưởng đâu là vui, nên yêu thích, muốn nó, rước nó về làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào huyệt bên trong.
Chính vì vậy nên nó mới có chỗ y cứ để nó sanh khởi ra. Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh và khát ái, ngũ uẩn đoạn diệt do vô minh và khát ái chấm dứt. Ngũ uẩn sanh khởi đồng nghĩa khổ sanh khởi, ngũ uẩn đoạn diệt đồng nghĩa khổ đoạn diệt chấm dứt. Vì không thấy, không biết, không hiểu, không thành tựu tri kiến thấy biết đúng sự thật về ngũ uẩn nên mình ưa thích, đam mê, say mê, khao khát, thèm thuồng, ước mong, đợi chờ, trông ngóng, tơ tưởng, mơ mộng về nó nên ngũ uẩn sanh.
Cũng giống như mình không biết món ăn có độc nên mua về ăn. Vậy nếu như mình biết nó có độc mình còn mua về ăn không, còn không, vậy là hết. Thì sự biết đó chính là Chánh tri kiến của Bát Chánh Đạo, thành ra Bát Chánh Đạo là phương pháp tám đúng, là phương pháp thần diệu, tối thượng, tẩy sạch hết vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, không còn nắm chặt vào trong đó nữa. Sự thấy biết đó là biết trong này có độc, không ưa thích, không mua nó về ăn nữa, không để cho nó tàn phá cơ thể, làm cho mình phải hành hạ mình, đau khổ, đau đớn và khổ sở nữa. Bởi vậy chúng ta mới dùng từ tam độc – ba chất độc: độc của tham dục, độc của sân hận và độc của si mê, vô minh.
Ba cái độc này ở trong cảm thọ, mà cảm thọ ở đâu? Ở trong ngũ uẩn, trong tưởng, trong hình bóng của tâm, trong cảm giác, suy nghĩ. Ba cái độc này căn cứ trong hình hài, sắc tướng này, tham sắc thân của chính nó và sắc thân của người khác. Nó ham thích, dính mắc, chấp thủ, giữ chặt, nắm chặt, ghì chặt, bám chặt, đeo chặt, buộc chặt, siết chặt vô sự rõ biết này, thức uẩn, những cảm giác này, những hình bóng trong tâm này, những suy nghĩ này, những hình hài này. Cho nên, chúng ta mới thấy được để phá vô minh và tham ái, cả một sự quán chiếu.
Chúng ta trở về bài kinh từ số hai, mình hiểu được chỗ này mới thấy được sự tuyệt vời của Đức Phật dạy mình. Thế Tôn kêu mình phải quán chiếu những thứ thuộc về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy luôn luôn nhìn kỹ, luôn luôn quán sát, luôn luôn suy tư, đó chính là vô thường, khổ đau. Ngũ uẩn này là bệnh, là ung nhọt, mũi tên, là bất hạnh, hoạn nạn, là hướng ngoại, là hoại diệt, là trống không, vô ngã.
Chúng ta học phần Tương Ưng Uẩn – Thánh trí về năm uẩn (ngũ uẩn trí) mất chục bài mà chưa hết. Trong đó nói tới nói lui, nói qua nói lại những điều này, cho đến khi nào những điều này đi vào trong tâm, trong tủy, trong xương, trong máu. Cho đến khi nào những trí tuệ này trong mắt mình, trong lỗ tai mình, trong suy nghĩ, cảm thọ, cảm nhận, cảm xúc của mình. Cho đến khi nào nó vào trong xương, trong tủy mình, mình ngao ngán, nhàm chán tới tột độ, tận cùng, lúc đó mình hết vô minh, tham ái đối với ngũ uẩn.
Muốn được như vậy phải đi qua con đường Bát Thánh Đạo. Từ tám đúng này mình mới nghĩ đúng, làm đúng, nói đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Thấy đúng chưa đủ, phải nghĩ đúng, nghĩ đúng chưa đủ, phải nói đúng, sống đúng, phải siêng đúng, quán xét và định tâm cho đúng. Đây là cả một sự tu học. Đức Thế Tôn nói phạm hạnh thành tựu là thành tựu Bát Thánh Đạo, sự tột cùng của thiện bạn hữu cũng là Bát Thánh Đạo, đạo đế cũng là Bát Thánh Đạo.
Ngay Tứ Niệm Xứ là một phần của quán đúng, tức Chánh Niệm – sự quán niệm đúng đắn, là Tứ Niệm Xứ. Trong Bát Chánh có đầy đủ Ba Mươi Bảy Phẩm trợ đạo, nghĩ đúng là Chánh Tư Duy, sống đúng là Chánh nghiệp, nói đúng là Chánh ngữ, siêng đúng là Chánh tinh tấn, quán đúng là Chánh Niệm, định đúng là Chánh định. Nó bắt đầu từ sự thấy đúng, mà thấy đúng là thấy gì? Thấy ngũ uẩn này.
“Niệm ngũ uẩn này không phải ta
Bạn nhớ niệm thầm trong tự tâm
Niệm bỏ hết đi cảnh vô thường
Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu
Niệm ngũ uẩn này không phải ta”
Cho nên, mình phải nhận diện ngũ uẩn để thấy đó là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có tôi, không có của tôi. Lúc nào nhận diện ngũ uẩn là lúc đó minh trí, lúc nào không nhận diện ngũ uẩn là lúc đó vô minh. Cái tôi rõ ràng, trí ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng đối với người tu, rời nó ra là sự tu của mình không đi đến Thánh đạo được.
Mình rất xúc động với câu nói nhắn nhủ thiết tha của Đức Phật: “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ có nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, chớ có nương tựa một gì khác. Thế nào là tự mình là ngọn đèn cho chính mình? Tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa vào điều gì khác? Thế nào là dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn? Thế nào là dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa? Không nương tựa một điều gì khác?”.
Chúng ta thấy Đức Phật nói rồi Ngài giải thích: “Này, A-nan-đa, Tỳ-kheo trú quán thân trên thân”, đó là nương dựa chính mình. Nãy giờ chúng ta quán thân trên thân, sanh già bệnh chết. Hãy quán cảm thọ, cảm giác ở ngay trong những cảm giác sự thật của nó, hãy quán tâm mình ngay ở trong tâm. Hãy quán tâm mình một cách nhiệt tình, nhiệt tâm, tỉnh giác, Chánh Niệm để nhiếp phục những tham ưu ở đời. Nhiếp phục những tham muốn, ưu phiền bằng cách tự mình làm ngọn đèn, tự mình dựa vào chính mình, không nương dựa vào ai khác. Ngọn đèn đó là gì?
Là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là sự quay về nhìn ngó lại thân thể, cảm giác, nội tâm và cái gì đang có ở trong tâm. Đó là ngọn đèn, chỗ dựa, chỗ tựa, đừng tựa vào những cái gì ở bên ngoài khác, vì tất cả ở bên ngoài bại hoại, tan nát, hoại diệt hết. Chúng ta thấy khi mình đối diện với cái chết, làm sao nương dựa vào thân này, làm sao nương dựa vào những người bà con bên ngoài hay huynh đệ, thầy bạn. Dù thầy có tới thầy cũng nói về pháp, Đức Thế Tôn tới Ngài cũng nói về pháp.
Cuối cùng chỗ nương tựa của mình, ngọn đèn của mình, chỗ dựa của mình cũng là pháp, không thể dựa vào ai khác. Ngay cả lúc Đức Thế Tôn còn tại thế Ngài đã nói như vậy rồi, đâu có dựa vào Ngài. Có một vị Tỳ-kheo bệnh, cứ mong chờ Ngài tới, Ngài hỏi có nuối tiếc gì không, vị thầy nói chỉ nuối tiếc không được gặp Đức Thế Tôn nên Đức Thế Tôn quở trách. Thân hôi thối này có gì để các ông nhìn ngắm đây? Hãy an trú vào trong pháp, đó là chỗ nương tựa tối thượng, là ngọn đèn thần diệu của tự tâm.
./.