Tu Trong Công Việc
Tinh Hoa Nikāya – Cùng Nhau Nhắc Nhở
TU TRONG CÔNG VIỆC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cái làm siêu việt của người tu PAGEREF _Toc73431805 \h 1
II. Đặt tâm trong công việc PAGEREF _Toc73431806 \h 3
III. Tinh thần tu học PAGEREF _Toc73431807 \h 10
Cái làm siêu việt của người tu
Hôm nay chúng ta làm việc chung với người này thì mình thấy bực, ngày mai làm việc với người kia thì mình cũng khó chịu, nếu nhìn kỹ lại vấn đề sẽ thấy rằng khi làm việc chung với những người khác thì chúng ta thường không được hài lòng. Những lúc như vậy, chúng ta không nên chỉ nhìn người, mà hãy nhìn lại chính mình để thấy được bản ngã, kiến chấp, thói quen làm người lớn, làm chủ, làm lãnh đạo của mình.
Như vậy, trong sự tu học này là dù cho người kia có sai, chúng ta cũng không bực bội thì cái đó mới là tu trong khi làm việc. Còn chúng ta có sân lên là mình sai, dù có làm đúng thì mình vẫn là sai. Minh Thành nói cái này đại chúng có thông cảm được không? Tại sao khi nghe pháp mình được an lạc, khi mình ngồi thiền thì tâm tương đối được yên, nhưng khi ra làm việc là tâm mình động? Tại vì nghe pháp thì tâm mình an trú theo lời pháp, ngồi thiền thì mình sử dụng trí tuệ quán chiếu để nhìn. Tức là nghe pháp là an trú trong pháp, ngồi thiền là an trú trong trí và khi an trú trong pháp, trong trí thì không bị phiền não.
Còn khi ra làm việc thì mình không an trú trong pháp, không an trú trong trí mà mình an trú trong công việc. An trú trong công việc là lúc đó bản ngã hoạt động, dục hoạt động, sân hoạt động, tập khí hoạt động, thói quen hoạt động, nghiệp hoạt động. Cho nên tại sao trong khi nghe pháp được an lạc, ngồi thiền thấy yên tịnh mà trở ra làm việc là có chuyện. Vì vậy, khi làm việc nếu mình tu giống như nghe pháp ngồi thiền thì cũng an giống như vậy. Đây là bí kíp.
Khi làm việc thì chúng ta thường không trú trong pháp, chính vì vậy, an trú trong pháp lúc làm việc là bài tập khó, ai giải được bài tập này thì người đó tu hành tiến bộ, vững chắc trong pháp và luật. Minh Thành nhắc lại, khi nghe giảng thì tâm mình an trú trong pháp, khi mình ngồi tu thì tâm mình an trú trong trí và khi mình ra làm việc thì an trú trong tự ngã, nó không an trú trong pháp, trong trí. Chính vì vậy mà có tham, sân, si, bản ngã hoạt động. Thế nên, khi làm việc mà an trú trong pháp trong trí thì sẽ giảm thiểu, giảm được phân nữa tham, sân, si, bản ngã.
Người có tu hay không tu thì xét ở chỗ này. Vì khi lên ngồi thiền chúng ta an trú trong trí, an trú bao nhiêu phần không ai biết được, ngủ gục ở đó thì đâu ai cãi lộn được. Ngồi vọng tưởng cũng là tự mình biết, ngủ ngục cũng tự mình hay, chỉ trừ khi bị ông giám thiền đánh. Tất cả là vì hoàn cảnh bắt buộc phải ngồi yên đó, mà có khi ngồi yên thôi cũng không được và cái tâm cũng bị buộc theo như vậy. Còn khi đi ra rồi là đi theo tập khí, thói quen, đi theo nghiệp.
Cho nên, thời khoá tu, thời khoá học của Linh Quy Pháp Ấn rất nhiều là vì Minh Thành muốn đại chúng an trú trong Chánh Pháp và Trí Tuệ. Tại sao Minh Thành không để buổi sáng làm việc rồi chiều mới tu? Có rất nhiều công việc nhưng Minh Thành phải đi kiếm người làm, phải nhờ người giúp việc, phải tốn tiền là tại vì Minh Thành thương đại chúng, Minh Thành mong muốn tất cả những người về đây là an trú trong Chánh Pháp, an trú trong Trí Tuệ.
Có nhiều người từ người tập sự xuất gia nhưng rồi xin lùi lại làm công quả thôi, rớt xuống một bậc là tại vì tu nhiều quá, tu không nổi. Tại sao lại như vậy? Đó là do hữu lậu bên trong vận hành, hoạt động, nó không cho mình ngồi yên, ngồi yên là chịu không nổi. Thà ra nhảy nhót, la lối mà khoẻ, còn vào nghe pháp, ngồi thiền là bứt rứt lắm. Hữu lậu hoạt động là không chịu cho mình ngồi yên.
Ở Myanmar có chỗ hay trong sự tu là một tiếng ngồi, một tiếng đi suốt ngày như vậy, mà người ta vẫn chịu nổi. Lúc nào cũng có nhiều người lại ngồi tu hết. Chính vì qua đó thấy vậy, khi về Minh Thành mới tăng thêm thời khoá ở đây, mà tăng lên là mấy chú đi xuống núi.
Khi làm việc mà có sự thực hành là tuyệt diệu, nhưng điều này không phải dễ. Người không có tâm, không có sử dụng Tứ Như Ý Túc thì người này rớt ngay thôi. Tức là người này tâm muốn tu không mãnh liệt, sự nỗ lực không có nhiều, không để tâm vào sự tu, không tìm đủ mọi cách thành tựu sự tu, người này ra làm việc thì mất hết, rớt hết. Tức là không có tứ Như Ý Túc, Dục Như Ý Túc, Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc và Tư Duy Như Ý Túc.
Mấy chú thị giả, lâu lâu đi vào làm việc với Minh Thành, Minh Thành sẽ chỉ ra sự dụng tâm trong công việc đó. Người tu không phải đi vào tu để làm việc nhưng mà tu rồi thì làm việc rất tuyệt vời. Chứ không phải càng tu là càng không biết làm gì hết, như vậy không phải. Chúng ta đi tu không phải để làm việc, mà tu được rồi thì mình làm việc siêu làm, siêu việt. Đó là cái làm của người tu, làm mà không dính mắc, làm mà tốt, mà đẹp thậm chí còn hơn người bình thường và không bị dính mắc trong công việc đó. Như vậy mới là cái làm của người tu, đó gọi là vô tác. Nói theo danh từ chữ nho là “vô tác diệu lực”, tức là thấy giống như nhẹ nhàng không có làm gì cả mà lại làm hơn hết, đó là sử dụng trí tuệ để làm việc.
Chúng ta thấy Đức Phật ngày xưa làm gì? Các bậc Thánh chúng hồi xưa làm gì? Các Ngài không làm gì hết, chỉ đi khất thực, ngồi thiền, ai tới hỏi pháp thì Đức Phật giảng pháp. Mà bây giờ đạo Phật là tôn giáo đừng đầu trên tất cả tôn giáo trên thế giới, được tất cả nhà khoa học kính trọng bậc nhất. Thầy của chư Thiên và loài Người là không có làm gì hết, mà cái đó là vô tác, siêu làm. Các bậc Thánh Tăng không có làm gì nhiều hết, còn giỏi mình làm đủ thứ hết, cho nên mình chết rồi là không còn gì nhiều hết, chỉ còn một đống tham, sân, si, được người ta nhắc lại tiếng thúi, tiếng nhơ.
Chính vì vậy, chúng ta phải biết mục đích việc làm ở trong chùa là làm để đi đến chỗ tích tụ thiện pháp, nhiếp phục tham, sân, si thì mới nên làm. Còn thấy bên trong là sân si, bản ngã, ganh tỵ thì tốt nhất đừng làm. Bỏ chỗ đó đi vào ngồi thiền, đi vào nghe pháp, còn công việc đó là dục, đừng làm. Nếu làm mà hoan hỷ, làm mà an lạc, làm mà thấy hỷ lạc, tích tụ phước báu công phức thì làm. Làm mà thấy sân si bản ngã thì đừng làm, khi đó nên ngồi thiền, tại vì ở đây không ai bắt làm hết. Nắm được chỗ này thì ra làm việc thì mới được an lạc. Làm tất cả cái gì cũng hướng đến mục đích là nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si, bản ngã. Làm bất cứ cái gì cũng hướng về mục đích đó. Còn chúng ta làm mà sân si lên thì làm làm chi? Làm mà bản ngã lên thì làm làm chi? Làm mà lòng tham càng ngày càng tăng trưởng thì đi ngược lại sự tu tập, thì làm làm cái gì?
Đặt tâm trong công việc
Trong khi làm việc phải nhìn lại tâm của mình. Đó là quán tâm của trên tâm, là tụng kinh Tứ Niệm Xứ. Khi lên chánh điện mở kinh lên tụng là tụng ở trên chữ, còn khi làm việc là nhìn được tâm mình, đó mới là Tứ Niệm Xứ sống, Tứ Niệm Xứ được vận dụng, là tụng kinh sống.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo,
1. Với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham";
2. Hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham".
3. Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân";
4. Hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân".
5. Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si";
6. Hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si".
7. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: "Tâm được thâu nhiếp";
8. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: "Tâm bị tán loạn".
9. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: "Tâm được quảng đại";
10.Hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: "Tâm không được quảng đại".
11.Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: "Tâm hữu hạn";
12.Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: "Tâm vô thượng".
13.Hay với tâm có định, tuệ tri: "Tâm có định";
14.Hay với tâm không định, tuệ tri: "Tâm không định".
15.Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát";
16.Hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: "Tâm không giải thoát".
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.
(Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Khi chưa đi vào dòng pháp này, có một sư Nam Tông lên ngồi nói chuyện với Minh Thành, sư đó có đi học bên Miến Điện mấy năm, bên rừng thiền. Minh Thành mới trình bày muốn làm rừng thiền và những thứ khác, sư nói: “Thầy phải là thiền sư, thầy mới làm rừng thiền được. Thầy mà tu rồi thì thầy không muốn làm gì nữa hết”. Lúc đó Minh Thành mới đáp lại: “Con không làm thì chỗ đâu cho mấy thầy tu, mấy thầy ở”. Minh Thành khi đó nghĩ theo kiểu trước đây là phải làm cái này, làm cái kia. Rồi sư mới nói lại: “Sao thầy sân quá vậy”. Nhìn lại lúc đó là Minh Thành có sân. Sau này, đi vào dòng pháp này rồi thì Minh Thành định nhiều lần cảm ơn sư, vì bây giờ Minh Thành không muốn làm gì nữa. Thấy rằng lúc trước mình sai, mình nghĩ rằng phải làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ, mà đó là tu với tâm hướng ngoại, không thấy bên trong là một núi rác thúi bốc mùi.
Giờ nhìn lại Minh Thành thấy nhục, lúc đó là lúc nhục. Cái bản ngã của mình như vậy, cái sân si của mình như vậy nhưng mình không thấy, mà mình lo làm cái này, làm cái kia. Thành ra nếu như tâm mình còn quá dao động, quá là sân, quá là bản ngã thì hãy tập trung thật nhiều quán tâm trên tâm. Đó mới là công việc thật sự của người xuất gia. Đừng có chùi cái nồi mà thấy cái lọ nồi không thôi, hãy nhìn vào tâm của mình, đừng chỉ thấy cái lọ của nồi mà không thấy cái lọ của tâm. Hoặc rửa cái chén chỉ thấy cái chén đó thôi, mà không biết cái thứ đóng trong tâm là gấp một ngàn lần thứ đó.
Thành ra người khéo léo mượn công việc để tẩy rửa nội tâm, đó gọi là người có kế sống. Nói theo danh từ thời bây giờ là người có nghề nghiệp chứ không phải người thất nghiệp. Còn bằng không mình là một người ăn không ngồi rồi ở trong đạo. Dù cho có làm đủ thứ bên ngoài nhưng lại gần mình là một đống rác bên trong. Làm chung với ai cũng không được, ai cũng không vừa lòng, làm với ai bản ngã cũng rầm rầm lên, như vậy là nhục, quá nhục. Vào bếp là không ai lại nấu được với mình hết, ra làm là không ai làm được với mình hết, bất cứ trong lãnh vực nào cũng vậy thì quá nhục.
Minh Thành nhìn lại thấy xấu hổ lắm, có nước vô thất đóng cửa lại rồi ngồi trong đó nhìn lại bản mặt xấu xa, thối tha. Soi gương nhìn lại cái mặt. Chúng ta thường không quán tâm trên tâm, tối ngày lo quán người ta, thành ra nghệ thuật tu tập ở trong công việc là phải phản tỉnh. Thấy cầm cây chổi quét nhà như vậy nhưng mà cũng đang quét ở bên trong. Thấy đang chùi cái nồi, rửa cái nồi nhưng mà cũng đang chùi rửa nội tâm cấu nhiễm. Có như vậy mới không phải là người ăn không ngồi rồi trong đạo pháp, không phải là người ẩn dương nương Phật, không phải là cây chùm gởi, không phải là đồ ăn bám. Còn nếu mình không có sự quán tâm trên tâm, không có sự tẩy rửa, quét dọn, lau chùi như vậy thì mình là kẻ ăn bám ở trong Tam bảo, là người ăn không ngồi rồi, người không có nghề nghiệp. Ngoài xã hội một người không có nghề nghiệp, cứ lang thang chỗ này, chỗ kia, ăn nhờ ở đậu, ăn bám như vậy thì trong đạo cũng vậy.
Cho nên, chúng ta phải quán tâm ở trên tâm, coi tham có khởi không? Lúc này có tham hay không tham? Lúc này có sân hay là không sân? Lúc nào có si hay là không có si? Có si thì si như thế nào? Có tham thì cái tham nó như thế nào? Có sân thì cái sân như thế nào? Có bản ngã hay không có bản ngã? Có bản ngã thì cái bản ngã như thế nào? Sau đó mình mới xử lí nó.
Trong kinh nói là chúng ta phải tuệ tri – biết bằng trí tuệ. Chính hai chữ “tuệ tri” này làm người ta đã hiểu lầm. Tuệ tri dịch ra là rõ biết, tức là “tôi tham tôi biết tôi có tham”, tự nhiên cái tham hết là xong, bây giờ đa số toàn học Tứ Niệm Xứ như vậy, nhưng như vậy là không phải. Biết bằng trí tuệ là biết bằng Chánh tri kiến để đánh phá lậu hoặc, biết để mà Như Lý Tác Ý, để quán chiếu, để diệt tận nó. Đó mới là cái biết bằng trí tuệ. Còn cái biết mà biết rồi để vậy thì không phải, đó chỉ là biết bằng nhận thức, không phải biết bằng trí tuệ, đó là thức tri.
Ví dụ đang ngủ mà con rắn hổ mang bò sát ở bên, mình chỉ biết vậy rồi thôi. Như vậy, cái biết đó là cái biết bình thường hay là cái biết bất bình thường? Người đó có bình thường không? Thấy nó nguy hiểm, độc hại thì mình phải nhảy lên, hoặc đuổi nó ra, hay làm sao đó mới phải. Cũng vậy, nếu biết rồi mà còn y chang như cũ thì cái biết đó không phải là tuệ tri.
Thành ra chữ “tuệ tri” là rất quan trọng trong bài kinh Tứ Niệm Xứ. Biết bằng trí tuệ là phải đánh đuổi, phải phá dẹp, phải đoạn tận, phải tẩy sạch, phải trừ diệt những rác bẩn đã thấy được. Như vậy mới gọi tuệ tri, là biết bằng trí tuệ của Chánh tri kiến. Nếu một người làm việc với tâm thái như vậy thì có sanh phiền não được không? Nếu có phiền não đi nữa thì cũng trong tầm kiểm soát. Đây là bí kíp Chánh Pháp trong làm việc. Khi làm mà thấy phiền não quá mức thì nghỉ, đừng làm, lúc nào bình thường thì vào làm lại. Làm việc là phải cẩn thận, không được qua loa, không được cẩu thả, không được làm cho xong. Cho nên, bất cứ việc gì mình làm cũng phải bằng sự để tâm của Tứ Như Ý Túc. Hai chữ “để tâm” là hết sức quan trọng. Để tâm là mình đặt cả trái tim vào công việc, dù chuyện đó là chuyện hết sức nhỏ như bưng một chén trà.
Cho nên tại sao uống một chén trà bên Nhật là hơn tám trăm ngàn. Một chén trà để bưng lên uống là công phu lắm, là cả một sự để tâm trong đó. Rồi bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu văn hoá, bao nhiêu triết lí, đạo lí trong đó. Vì vậy mà uống chén trà là hơn tám trăm ngàn, mà cách đây mấy năm rồi đó. Trà đạo của Nhật vang dội trên thế giới tại vì có sự để tâm, tại vì có Tứ Như Ý Túc ở trong đó. Người ta muốn đưa cái đó nó lên thành một văn hoá, một nghệ thuật, một đặc sắc của dân tộc. Đầu tiên là người ta muốn, kế đó người ta nỗ lực làm điều đó, người ta để tâm trong điều đó, người ta suy nghĩ mọi cách để làm cho được điều đó, vậy là Tứ Như Ý Túc trong chén trà đó. Chén trà đó không còn là chén trà bình thường nữa mà nó thêm chữ đạo. Minh Thành cũng thường hay là “cơm đạo”, “hành đạo”, “quét đạo”, “tụng đạo”.
Hồi sáng nay Minh Thành có chia sẻ về vấn đề đọc kinh. Đọc kinh là cả một sự cảm thọ, cả một sự cảm xúc, cả một sự cảm động, chấn động trong đó. Như vậy mới là đọc kinh, đọc kinh bằng cả trái tim, đó là vận dụng Tứ Như Ý Túc vào trong việc đọc kinh Nikāya. Khi để tâm vào thì cái gì cũng thành đạo, khi học hay làm việc cũng vậy, không được làm ở đây mà để tâm ra chỗ khác, đã làm thì phải để tâm vào chỗ đó trong tất cả mọi mặt
Đó là tại sao thầy Pháp Từ được người ta quý mến, người ta thương. Tại vì hướng dẫn người ta là thầy hướng dẫn bằng cái tâm. Cho nên ai cũng mến, ai cũng quý hết. Tuy rằng không học cao, không hiểu rộng nhưng mà nắm được căn bản tu tập, chia sẻ bằng cả trái tim, tấm lòng của mình thì người ta cảm nhận được. Sự chia sẻ như vậy là cả một tấm lòng, đó là sự vận dụng Tứ Như Ý Túc, mà như vậy là chắc chắn thành tựu. Trong tất cả mọi lãnh vực có vận dụng Tứ Như Ý Túc thì sẽ thành tựu, đây là điều Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ cho mình, chứ đâu phải là bình thường, đây là báu vật, là chìa khoá vàng để thành công. Còn mình đọc, học xong rồi để trong cuốn sách, đem đi cất, làm việc thì cứ làm việc theo thói quen của mình thì sao thành tựu.
Thành ra phải để tâm trong từng bước thiền hành, để tâm từ lúc bưng chén trà đến lúc uống trà, để tâm khi ngồi nghe pháp, khi lễ lạy, khi ngồi thiền tất cả mọi cái để trọn tâm mình vô trong đó. Khi trồng một cây trúc cũng phải có trái tim của mình trong đó. Cho nên nhiều khi Minh Thành làm, mấy chú làm chung không thích. Tại vì khi làm là Minh Thành chỉnh tới, chỉnh lui. Cũng như làm nhà thiền này, hay công trình gì đó, Minh Thành phải để tâm vào nhiều, coi tới coi lui, chỉnh tới chỉnh lui, lúc đầu rất là khó mà khi sửa xong rồi là coi như được rồi, không thay đổi nữa. Chỗ mình đang ngồi cũng vậy, phải sửa tới sửa lui cả tháng, khi ổn định rồi là xong. Chứ không phải vài bữa sửa cái này, vài bữa sửa cái kia, vài bữa mở cửa này, vài bữa đập vách kia, Minh Thành không làm như vậy.
Chúng ta phải để tâm vào mọi chuyện. Nấu cơm phải để tâm vào việc nấu cơm, mình phải có tu trong đó, như vậy là trở thành “cơm đạo”, thành “bếp thiền”. Cái này khó lắm mà làm được là siêu. Hồi xưa, thời Đức Phật có một vị cư sĩ nấu cơm cho chồng cô ăn. Khi xào đồ ăn thì lửa phực lên cháy chảo đồ ăn, lúc đó cô đang quán về các hạnh vô thường, ngay lúc lửa phực lên như vậy thì cô chứng Tam quả. Tham sân được diệt tận, chứng Thánh quả thứ ba ngay lúc xào đồ ăn. Đó là nghệ thuật tu tập tối thượng trong khi làm việc. Mình phải biết rằng tâm của họ chuyên chú thiền quán tới mức độ nào để họ đốt hết lậu hoặc, tham sân không còn và chứng Bất lai Thánh quả.
Chỉ việc cầm chảo chiên xào trên bếp, thấy cháy khét đen hết mà ngay tại đó chứng ngộ được chân lí vô thường. Chúng ta tu cũng phải hướng tâm đến như vậy. Còn đằng này khi làm là sân si, đụng đâu sân đó, đụng đâu bực nấy, làm với ai là có chuyện với người đó mà không thấy lỗi mình, thấy lỗi người ta không thôi. Cứ đổ thừa tại người kia thế này, tại người kia thế khác. Như vậy mình tu bao nhiêu kiếp rồi cũng vẫn như vậy. Tại vì nguyên nhân thật sự – Tập Đế mình không nhìn thấy. Đức Phật nói: “Này các Tỷ-kheo,một nỗ lực cần cố gắng để làm, để rõ biết là thấy được nguyên nhân của khổ”. Còn chúng ta không thấy nguyên nhân của khổ, nguyên nhân của bực bội, sân hận, bản ngã vì chỉ hướng ngoại thì sao mà thấy; không quán thân, không quán thọ, không quán pháp thì sao mà thấy. Không thấy thân hành, khẩu hành, ý hành; không thấy thân thể, hành động, lời nói, suy nghĩ; không thấy cảm giác, không thấy nội tâm, không thấy cái gì đang vận hành trong nội tâm thì sao mà thấy nguyên nhân của khổ.
Cho nên chúng ta thấy Tứ Niệm Xứ rất tuyệt diệu, đôi khi nói từ “Tứ Niệm Xứ”, đọc quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp rồi giải ra một bài dài thấy rất khó hiểu, nhưng thật sự đó là luôn luôn nhìn lại thân thể, hành động, cảm giác và những gì vận hành trong nội tâm của mình. Mà trong đó chỉ toàn dục, tham, ái, sân, si, bản ngã chứ đâu còn gì khác. Cho nên pháp này tuyệt diệu lắm.
Mấy cô trong nhà bếp cũng vậy, phải tu tập. Đừng nên có ý hành do mình làm cực khổ nên cho mình thoải mái. Ý hành như vậy là chết, phải giết ý hành đó, suy nghĩ này sẽ đưa mình đi xuống vực. Một suy nghĩ như vậy là phá hỏng hết tất cả sự tu tập của mình, nó không cho mình tu. Ý hành đó là ma. “Này các Tỷ-kheo, sắc là ác ma, thọ là ác ma, tưởng là ác ma, hành là ác ma, tưởng là ác ma”. Cho nên, chúng ta phải nhiếp niệm trong khi làm việc.
Nhiều khi Minh Thành nghe dưới bếp la lối là Minh Thành không có vui. Chúng ta phải tập từ từ. Khi làm là săn tay áo lên, la lối rồi chạy, cho người ta thấy mình làm việc, làm như vậy để làm gì, điều đó không cần thiết. Chúng ta làm việc trong chánh niệm, trong thiền, đó mới là sức mạnh. Còn chuyện nhà cháy hay cấp cứu mình mới chạy. Cho nên, chúng ta phải giữ được tâm mình, đó là báu vật tối thượng, thế gian chí bảo, giữ được cái này thì dù trời đất có sụp đổ cũng không có hấn gì đến chúng ta. Chúng ta phải cẩn thận, phải kĩ lưỡng, phải chu đáo, phải nhỏ nhiệm, phải sâu sắc. Tầm nhìn của mình phải vượt ra ngoài những cái mình đang thấy, đang nghe, đang làm. Không phải chỉ thấy chuyện mình đang làm thôi, mà vượt qua cái đó nữa.
Tinh thần tu học
Đặc biệt trong khi học pháp, chúng ta phải chí tâm, Đức Phật dùng từ “chí tâm” trong tu tập, còn mình sử dụng chí tâm trong cầu pháp. Học giống như đói được ăn, khát được uống. Học giống như một chút nữa mình sẽ chết, mình không được nghe pháp. Mỗi một lời kinh mình đọc mình phải thấy huyết lệ của Đức Thế Tôn, thấy sương máu của các bậc Thánh Tăng trong lời kinh đó. Chúng ta cầm cuốn kinh đó lên phải đội trên đầu, phải trân trọng, trân quý, trân kính, phải nhìn ra được suốt ba ngàn năm của Thánh giáo trong mỗi lời kinh. Tập cho mình có một cái thấy xuyên thấu. Tập cho mình có tâm cung kính, hiếm có, khó được, khó gặp, khó nghe, khó hiểu. Tập cho mình không biết mệt mỏi trong sự cầu pháp.
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế thường có những vị Tỷ-kheo giảng pháp suốt đêm, điều đó là thường lắm. Như Lai lúc đó bảy chục tuổi rồi, mỏi lưng rồi. Còn ở đây, sau khi ngủ một đêm dài Minh Thành hấy mấy chú có người vẫn buồn ngủ khi học pháp, khi thiền. Sức của Minh Thành một ngày giảng ba thời vẫn được, mà Minh Thành thấy mọi người nghe không nổi.
Chúng ta học pháp cũng giống như sinh viên đại học vậy. Một ngày phải lên lớp bốn tiếng. Minh Thành từng kể cho mấy thầy nghe rồi, Minh Thành học tám tiếng liên tục trong mười năm. Còn bây giờ mấy thầy học bốn tiếng có nhằm nhò gì đâu. Phải học không biết mệt mỏi, không biết đủ, không biết nhàm chán trong Chánh Pháp thì người đó mới có cơ hội đi đến pháp tánh, thâm nhập được Thánh tri kiến. Còn thấy đầy đủ rồi, nhàm chán học pháp thì người đó không thâm nhập thánh tri kiến được.
Những lúc Minh Thành được bậc thiện tri thức chia sẻ pháp, nghe pháp mà Minh Thành giật mình, chấn động vô cùng, các vị hỏi Minh Thành: “Cái này thầy nghe rồi phải không?”, Minh Thành nói nghe rồi. Bậc thiện tri thức dặn dò Minh Thành nghe thêm một ngàn lần nữa, khi đó Minh Thành mới rúng động, khai ngộ. Nói với Minh Thành rằng: “Cho dù thầy nghe một ngàn lần nữa mà cũng giống như lúc mới nghe thì thầy mới thành tựu pháp” – điều này quá trúng ý nên Minh Thành rúng động hết.
Còn kẻ phàm phu nghe hai, ba lần là nói biết rồi, có gì đâu phải nghe nữa, nhưng nghe một ngàn lần mà có thấy được vô thường, có chứng đắc được vô thường chưa? Chừng nào mình chứng đắc được vô thường thì đừng nghe. Giờ nhìn thấy bất tịnh không? Chưa nhìn thấy thì nghe thêm một triệu lần bất tịnh nữa, chừng nào thấy bất tịnh thì khi đó mới không nghe. Chừng nào nhìn vô thân xác thấy bất tịnh thì lúc đó mới không cần nghe.
Có một sự việc mà Minh Thành nhớ hoài không quên. Mỗi lần Minh Thành cho bài kiểm tra bài từ Hán, Minh Thành sẽ dặn từ chút, từ chút: “Mọi người làm bài xong rồi thì ngồi yên, không cần đi xuống đi lên để nộp bài gì hết. Bài làm thì đưa cho người đầu bàn, thầy chỉ đi vào giữa và đưa hai tay ra lấy bài”. Có mấy người nói: “Thầy ơi cái này con biết rồi, thầy nói rồi, học tới năm thứ tư rồi mà lần nào kiểm tra thầy cũng nói”. Minh Thành mới nói: “Dạ. đúng rồi thưa mấy chú. Mấy chú biết rồi, con cũng nói nhiều lần rồi mà mấy chú làm chưa được, cho nên giờ con nói lại. Chừng nào làm được thì lúc đó con không nói”.
Nghe câu này là Minh Thành “khoát nhiên đại ngộ”. Mình đã chứng nhập Thánh trí vô thường chưa? Mình chứng nhập được Thánh trí vô ngã chưa? Mình có chứng nhập được cái khổ chưa? Giờ nói đến Tứ Thánh Đế thì mình nghĩ là mình biết rồi, nhưng chỉ biết gồm có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, như vậy thì vĩnh kiếp mình vẫn là phàm phu.
Hằng ngày nghe cái khổ vậy đó, hằng ngày nghe cái sân ác độc vậy đó, hằng ngày nghe cái sân vô minh vậy đó mà tới chừng có chuyện thì mình cũng nổi bản ngã chình ình lên. Mình nghe mỗi ngày mà vẫn như vậy? Chúng ta có bao giờ là đủ không? Có khi nào nói tôi ăn ba chục năm rồi, giờ tôi không ăn nữa không? Vậy tại sao nghe pháp mà nói đủ rồi, giờ tôi không nghe, đó chính là vô minh. Còn ăn là con nghe pháp, còn ăn là còn ngồi thiền, còn ăn là còn tu. Chúng ta ăn là ăn của đàn na tín thí, mình thiếu nợ người ta, vậy mà không chịu ráng lo học, không chịu ráng lo tu, toàn lo những suy nghĩ Phi Như Lý Tác Ý, suy nghĩ theo phàm phu vô minh không thôi.
Người ta nữa vòng trái đất về đây nghe pháp, thậm chí người ta khóc nước mắt tràn trụa rồi quỳ lạy khi nghe pháp, còn mình ở kế bên mà không thèm nghe, xem thường, tức là mình tự huỷ bỏ cơ hội ngàn năm một thuở, cơ hội thể nhập Thánh tri kiến. Tuy thấy nghe pháp có một buổi, hai buổi như vậy, nhưng đó là sự tích tập lâu ngày, tích tập vô thường tưởng, tích tập nguy hại tưởng, tích tập bất tịnh tưởng, tích tập ly tham tưởng, tích tập đoạn diệt tưởng. Có ai đi ra làm mấy bữa mà thành triệu phú không? Hay mỗi ngày họ phải cất một chút rồi từ từ mới nhiều lên? Tu học cũng như vậy, mỗi ngày phải nghe một chút để tích tập thực hành.
Cho nên, chúng ta nghe pháp là không được cho là đầy đủ, có như vậy mới gọi mình là Đa văn Thánh đệ tử. Đệ tử của bậc Thánh là bậc nghe rất là nhiều. Nghe Thánh Pháp, nghe Chánh Pháp thật là nhiều. Cô Toàn là nghe kinh đến nỗi thủng màng nhĩ, nghe điếc cả lỗ tai. Chúng ta phải lấy đó làm tấm gương sống ở trước mắt mình. Cô không phải được rảnh để ngồi nghe mà vừa đi làm vừa nghe. Vì vậy, chúng ta phải phát tâm cung kính, tôn trọng Cô, vì Cô là người khó gặp. Một vạn kiếp sau chưa chắc mình được nghe pháp này nữa. Pháp này sắp diệt rồi, mai mốt không còn ai biết về pháp này nữa. Thành ra đây là Minh Thành nói về tinh thần học. Chúng ta phải tha thiết học hỏi, không phải chỉ quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp, mà người nào chịu học hỏi mới là đệ tử tối tượng, Tỷ-kheo tối thượng của Đức Phật.
Minh Thành thưa với đại chúng là, khi học pháp mà Minh Thành cầm điện thoại học từ xa, học suôt ba tiếng nên tay tê cứng. Minh Thành cầm điện thoại không dám nhúc nhích, không dám bước ra chỗ khác, vì trên rừng, bước ra chỗ khác là nó mất sóng. Mỗi ngày xả thiền ra là Minh Thành hướng về bậc thiện tri thức để quỳ lạy. Mỗi ngày Minh Thành đều như vậy, chứ không phải xem pháp này bình thường mà tiếp nhận được pháp. Thậm chí phải dám hi sinh cả thân mạng để cầu Thánh Pháp này, phải có một thái độ tu học như vậy, chứ không phải dễ mà đắc pháp. Một người xem thường pháp, không cung kính pháp, không tha thiết đối với pháp, không để tâm ở trong pháp thì làm sao người đó đắc được Thánh Pháp. Pháp này không phải pháp bình thường, pháp này là pháp ngược đời, pháp ly tham, đảo lộn hết thế giới này, đi tới chỗ nhám chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì sao mà dễ nghe, dễ hiểu, dễ thực hành.
Thánh Pháp này có công năng phá tung quả địa cầu này. Trong khi vô minh, dục ái, khát ái của mình kinh khủng, khủng khiếp, nếu với một cái tâm sơ xuất, cẩu thả, qua loa, hời hợt, thiển cận, cạn cợt, máy móc, hình thức, làm cho có thì không thể nào đi vào Hướng Dự Lưu chứ đừng nói Nhập Lưu. Bằng chúng là pháp này 2.000 bị mai một. Tại sao vậy? Vì người ta chỉ muốn cái đơn giản, niệm một câu, ngồi thở vô ra, hay là Như Lý Tác Ý cho khoẻ, học làm chi cho nhiều. Có những người khác ở đây bỏ đi rồi đó, kiếm thầy khác dạy Nikāya cho dễ, còn ở đây dạy khó quá. Cho nên, người nào không thiết tha, không cung kính, không tôn trọng, không có để cả tâm lòng vào pháp là văng ra liền, bị Bát Chánh đào thải.
Chúng ta sẽ học như Ngài Ca-diếp là biết lo sợ. Còn ai không lo sợ, không hỗ thẹn, không có niềm tin thì người đó không đạt được pháp. Người xưa nói lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Đi trên băng mỏng xảy chân là lọt xuống, bước trên kiếm bén trợ chân là tan da nát thịt. Sự tu này cũng vậy, chỉ cần sơ xảy một chút thôi là mình văng ra khỏi dòng Thánh Pháp, trở lại phàm phu, phàm ngu, phàm mê, phàm tục, phàm dục, phàm ái, phàm tham, phàm sân, phàm si. Nếu không lo lắng, không sợ hãi, không nỗ lực thì khi nhắm mắt một cái rồi là mình đi đâu? Nếu chưa Nhập Lưu là hoàn toàn còn trong phạm trù nguy hiểm và tai hoạ.
Minh Thành hỏi đại chúng, mấy ngàn người chết vì dịch đó bây giờ đi đâu, ở đâu? Cho nên Minh Thành nói thiệt sự, bản thân cuộc đời Minh Thành từ giờ cho đến lúc nhắm mắt không còn cái gì có thể quan trọng hơn pháp nữa. Minh Thành tuyên bố một câu vang dội giữa đất trời này là không có cái gì quan trọng hơn Thánh Pháp này nữa hết. Cha mẹ rồi cũng vô thường, anh chị em rồi cũng vô thường, đệ tử rồi cũng vô thường, chùa chiền, đất trời này rồi cũng tan vỡ hết, chỉ có pháp mới cứu mình, mới cứu được người thân của mình. Cho nên thương người thân là đưa cái pháp này cho họ, như vậy là cứu độ.
Chúng ta thương mình là phải bám chặt pháp này, cầu pháp này, kính pháp này, tôn trọng pháp này, tha thiết bằng tất cả tấm lòng của mình với cái pháp này. Như vậy mới là thương mình, cứu mình. Chính vì vậy mà Minh Thành rất là quan trọng đối với pháp, với một thái độ như vậy thì chúng ta mới có khả năng tiếp nhận và thể nhập được Thánh tri kiến. Điều này chắc chắn một trăm phần trăm!
Chúng ta phải nghe pháp bằng tâm cung kính, nghe bằng tâm khát ngưỡng, nghe bằng tâm tôn trọng. Nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như chút xíu nữa mình không được nghe, đây là lần nghe cuối cùng. Mồi lần nghe pháp phải tác ý như vậy. Thành ra mình phải cố gắng, ngoài pháp này ra thì những âm thanh khác không có gì đang nghe hết, đều có thể bỏ qua được. Pháp này là cái đáng nghe nhất trong kiếp người của mình. Ngoài cái pháp này ra không có gì đáng nghe hết, nghe mấy cái khác đều là tham, sân, si, phiền não không thôi. Nghe biết nhiều cái khác càng thêm nhiều sân si, bản ngã, chỉ có biết pháp này mới diệt tận được vô minh, mới phá được lậu hoặc, mới làm khô kiệt được khát ái.
Chánh Pháp tuyệt vời như vậy tại sao mình không chịu nghe, không chịu học, tại sao mình không chịu nỗ lực, không chịu để tâm, không chịu quyết lòng, không chịu hi sinh, không chịu dấn thân!
./.
TU TRONG CÔNG VIỆC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Cái làm siêu việt của người tu PAGEREF _Toc73431805 \h 1
II. Đặt tâm trong công việc PAGEREF _Toc73431806 \h 3
III. Tinh thần tu học PAGEREF _Toc73431807 \h 10
Cái làm siêu việt của người tu
Hôm nay chúng ta làm việc chung với người này thì mình thấy bực, ngày mai làm việc với người kia thì mình cũng khó chịu, nếu nhìn kỹ lại vấn đề sẽ thấy rằng khi làm việc chung với những người khác thì chúng ta thường không được hài lòng. Những lúc như vậy, chúng ta không nên chỉ nhìn người, mà hãy nhìn lại chính mình để thấy được bản ngã, kiến chấp, thói quen làm người lớn, làm chủ, làm lãnh đạo của mình.
Như vậy, trong sự tu học này là dù cho người kia có sai, chúng ta cũng không bực bội thì cái đó mới là tu trong khi làm việc. Còn chúng ta có sân lên là mình sai, dù có làm đúng thì mình vẫn là sai. Minh Thành nói cái này đại chúng có thông cảm được không? Tại sao khi nghe pháp mình được an lạc, khi mình ngồi thiền thì tâm tương đối được yên, nhưng khi ra làm việc là tâm mình động? Tại vì nghe pháp thì tâm mình an trú theo lời pháp, ngồi thiền thì mình sử dụng trí tuệ quán chiếu để nhìn. Tức là nghe pháp là an trú trong pháp, ngồi thiền là an trú trong trí và khi an trú trong pháp, trong trí thì không bị phiền não.
Còn khi ra làm việc thì mình không an trú trong pháp, không an trú trong trí mà mình an trú trong công việc. An trú trong công việc là lúc đó bản ngã hoạt động, dục hoạt động, sân hoạt động, tập khí hoạt động, thói quen hoạt động, nghiệp hoạt động. Cho nên tại sao trong khi nghe pháp được an lạc, ngồi thiền thấy yên tịnh mà trở ra làm việc là có chuyện. Vì vậy, khi làm việc nếu mình tu giống như nghe pháp ngồi thiền thì cũng an giống như vậy. Đây là bí kíp.
Khi làm việc thì chúng ta thường không trú trong pháp, chính vì vậy, an trú trong pháp lúc làm việc là bài tập khó, ai giải được bài tập này thì người đó tu hành tiến bộ, vững chắc trong pháp và luật. Minh Thành nhắc lại, khi nghe giảng thì tâm mình an trú trong pháp, khi mình ngồi tu thì tâm mình an trú trong trí và khi mình ra làm việc thì an trú trong tự ngã, nó không an trú trong pháp, trong trí. Chính vì vậy mà có tham, sân, si, bản ngã hoạt động. Thế nên, khi làm việc mà an trú trong pháp trong trí thì sẽ giảm thiểu, giảm được phân nữa tham, sân, si, bản ngã.
Người có tu hay không tu thì xét ở chỗ này. Vì khi lên ngồi thiền chúng ta an trú trong trí, an trú bao nhiêu phần không ai biết được, ngủ gục ở đó thì đâu ai cãi lộn được. Ngồi vọng tưởng cũng là tự mình biết, ngủ ngục cũng tự mình hay, chỉ trừ khi bị ông giám thiền đánh. Tất cả là vì hoàn cảnh bắt buộc phải ngồi yên đó, mà có khi ngồi yên thôi cũng không được và cái tâm cũng bị buộc theo như vậy. Còn khi đi ra rồi là đi theo tập khí, thói quen, đi theo nghiệp.
Cho nên, thời khoá tu, thời khoá học của Linh Quy Pháp Ấn rất nhiều là vì Minh Thành muốn đại chúng an trú trong Chánh Pháp và Trí Tuệ. Tại sao Minh Thành không để buổi sáng làm việc rồi chiều mới tu? Có rất nhiều công việc nhưng Minh Thành phải đi kiếm người làm, phải nhờ người giúp việc, phải tốn tiền là tại vì Minh Thành thương đại chúng, Minh Thành mong muốn tất cả những người về đây là an trú trong Chánh Pháp, an trú trong Trí Tuệ.
Có nhiều người từ người tập sự xuất gia nhưng rồi xin lùi lại làm công quả thôi, rớt xuống một bậc là tại vì tu nhiều quá, tu không nổi. Tại sao lại như vậy? Đó là do hữu lậu bên trong vận hành, hoạt động, nó không cho mình ngồi yên, ngồi yên là chịu không nổi. Thà ra nhảy nhót, la lối mà khoẻ, còn vào nghe pháp, ngồi thiền là bứt rứt lắm. Hữu lậu hoạt động là không chịu cho mình ngồi yên.
Ở Myanmar có chỗ hay trong sự tu là một tiếng ngồi, một tiếng đi suốt ngày như vậy, mà người ta vẫn chịu nổi. Lúc nào cũng có nhiều người lại ngồi tu hết. Chính vì qua đó thấy vậy, khi về Minh Thành mới tăng thêm thời khoá ở đây, mà tăng lên là mấy chú đi xuống núi.
Khi làm việc mà có sự thực hành là tuyệt diệu, nhưng điều này không phải dễ. Người không có tâm, không có sử dụng Tứ Như Ý Túc thì người này rớt ngay thôi. Tức là người này tâm muốn tu không mãnh liệt, sự nỗ lực không có nhiều, không để tâm vào sự tu, không tìm đủ mọi cách thành tựu sự tu, người này ra làm việc thì mất hết, rớt hết. Tức là không có tứ Như Ý Túc, Dục Như Ý Túc, Tấn Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc và Tư Duy Như Ý Túc.
Mấy chú thị giả, lâu lâu đi vào làm việc với Minh Thành, Minh Thành sẽ chỉ ra sự dụng tâm trong công việc đó. Người tu không phải đi vào tu để làm việc nhưng mà tu rồi thì làm việc rất tuyệt vời. Chứ không phải càng tu là càng không biết làm gì hết, như vậy không phải. Chúng ta đi tu không phải để làm việc, mà tu được rồi thì mình làm việc siêu làm, siêu việt. Đó là cái làm của người tu, làm mà không dính mắc, làm mà tốt, mà đẹp thậm chí còn hơn người bình thường và không bị dính mắc trong công việc đó. Như vậy mới là cái làm của người tu, đó gọi là vô tác. Nói theo danh từ chữ nho là “vô tác diệu lực”, tức là thấy giống như nhẹ nhàng không có làm gì cả mà lại làm hơn hết, đó là sử dụng trí tuệ để làm việc.
Chúng ta thấy Đức Phật ngày xưa làm gì? Các bậc Thánh chúng hồi xưa làm gì? Các Ngài không làm gì hết, chỉ đi khất thực, ngồi thiền, ai tới hỏi pháp thì Đức Phật giảng pháp. Mà bây giờ đạo Phật là tôn giáo đừng đầu trên tất cả tôn giáo trên thế giới, được tất cả nhà khoa học kính trọng bậc nhất. Thầy của chư Thiên và loài Người là không có làm gì hết, mà cái đó là vô tác, siêu làm. Các bậc Thánh Tăng không có làm gì nhiều hết, còn giỏi mình làm đủ thứ hết, cho nên mình chết rồi là không còn gì nhiều hết, chỉ còn một đống tham, sân, si, được người ta nhắc lại tiếng thúi, tiếng nhơ.
Chính vì vậy, chúng ta phải biết mục đích việc làm ở trong chùa là làm để đi đến chỗ tích tụ thiện pháp, nhiếp phục tham, sân, si thì mới nên làm. Còn thấy bên trong là sân si, bản ngã, ganh tỵ thì tốt nhất đừng làm. Bỏ chỗ đó đi vào ngồi thiền, đi vào nghe pháp, còn công việc đó là dục, đừng làm. Nếu làm mà hoan hỷ, làm mà an lạc, làm mà thấy hỷ lạc, tích tụ phước báu công phức thì làm. Làm mà thấy sân si bản ngã thì đừng làm, khi đó nên ngồi thiền, tại vì ở đây không ai bắt làm hết. Nắm được chỗ này thì ra làm việc thì mới được an lạc. Làm tất cả cái gì cũng hướng đến mục đích là nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si, bản ngã. Làm bất cứ cái gì cũng hướng về mục đích đó. Còn chúng ta làm mà sân si lên thì làm làm chi? Làm mà bản ngã lên thì làm làm chi? Làm mà lòng tham càng ngày càng tăng trưởng thì đi ngược lại sự tu tập, thì làm làm cái gì?
Đặt tâm trong công việc
Trong khi làm việc phải nhìn lại tâm của mình. Đó là quán tâm của trên tâm, là tụng kinh Tứ Niệm Xứ. Khi lên chánh điện mở kinh lên tụng là tụng ở trên chữ, còn khi làm việc là nhìn được tâm mình, đó mới là Tứ Niệm Xứ sống, Tứ Niệm Xứ được vận dụng, là tụng kinh sống.
Này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo,
1. Với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham";
2. Hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham".
3. Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân";
4. Hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân".
5. Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si";
6. Hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si".
7. Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: "Tâm được thâu nhiếp";
8. Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: "Tâm bị tán loạn".
9. Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: "Tâm được quảng đại";
10.Hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: "Tâm không được quảng đại".
11.Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: "Tâm hữu hạn";
12.Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: "Tâm vô thượng".
13.Hay với tâm có định, tuệ tri: "Tâm có định";
14.Hay với tâm không định, tuệ tri: "Tâm không định".
15.Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát";
16.Hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: "Tâm không giải thoát".
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm.
(Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Khi chưa đi vào dòng pháp này, có một sư Nam Tông lên ngồi nói chuyện với Minh Thành, sư đó có đi học bên Miến Điện mấy năm, bên rừng thiền. Minh Thành mới trình bày muốn làm rừng thiền và những thứ khác, sư nói: “Thầy phải là thiền sư, thầy mới làm rừng thiền được. Thầy mà tu rồi thì thầy không muốn làm gì nữa hết”. Lúc đó Minh Thành mới đáp lại: “Con không làm thì chỗ đâu cho mấy thầy tu, mấy thầy ở”. Minh Thành khi đó nghĩ theo kiểu trước đây là phải làm cái này, làm cái kia. Rồi sư mới nói lại: “Sao thầy sân quá vậy”. Nhìn lại lúc đó là Minh Thành có sân. Sau này, đi vào dòng pháp này rồi thì Minh Thành định nhiều lần cảm ơn sư, vì bây giờ Minh Thành không muốn làm gì nữa. Thấy rằng lúc trước mình sai, mình nghĩ rằng phải làm cái này, làm cái kia, làm cái nọ, mà đó là tu với tâm hướng ngoại, không thấy bên trong là một núi rác thúi bốc mùi.
Giờ nhìn lại Minh Thành thấy nhục, lúc đó là lúc nhục. Cái bản ngã của mình như vậy, cái sân si của mình như vậy nhưng mình không thấy, mà mình lo làm cái này, làm cái kia. Thành ra nếu như tâm mình còn quá dao động, quá là sân, quá là bản ngã thì hãy tập trung thật nhiều quán tâm trên tâm. Đó mới là công việc thật sự của người xuất gia. Đừng có chùi cái nồi mà thấy cái lọ nồi không thôi, hãy nhìn vào tâm của mình, đừng chỉ thấy cái lọ của nồi mà không thấy cái lọ của tâm. Hoặc rửa cái chén chỉ thấy cái chén đó thôi, mà không biết cái thứ đóng trong tâm là gấp một ngàn lần thứ đó.
Thành ra người khéo léo mượn công việc để tẩy rửa nội tâm, đó gọi là người có kế sống. Nói theo danh từ thời bây giờ là người có nghề nghiệp chứ không phải người thất nghiệp. Còn bằng không mình là một người ăn không ngồi rồi ở trong đạo. Dù cho có làm đủ thứ bên ngoài nhưng lại gần mình là một đống rác bên trong. Làm chung với ai cũng không được, ai cũng không vừa lòng, làm với ai bản ngã cũng rầm rầm lên, như vậy là nhục, quá nhục. Vào bếp là không ai lại nấu được với mình hết, ra làm là không ai làm được với mình hết, bất cứ trong lãnh vực nào cũng vậy thì quá nhục.
Minh Thành nhìn lại thấy xấu hổ lắm, có nước vô thất đóng cửa lại rồi ngồi trong đó nhìn lại bản mặt xấu xa, thối tha. Soi gương nhìn lại cái mặt. Chúng ta thường không quán tâm trên tâm, tối ngày lo quán người ta, thành ra nghệ thuật tu tập ở trong công việc là phải phản tỉnh. Thấy cầm cây chổi quét nhà như vậy nhưng mà cũng đang quét ở bên trong. Thấy đang chùi cái nồi, rửa cái nồi nhưng mà cũng đang chùi rửa nội tâm cấu nhiễm. Có như vậy mới không phải là người ăn không ngồi rồi trong đạo pháp, không phải là người ẩn dương nương Phật, không phải là cây chùm gởi, không phải là đồ ăn bám. Còn nếu mình không có sự quán tâm trên tâm, không có sự tẩy rửa, quét dọn, lau chùi như vậy thì mình là kẻ ăn bám ở trong Tam bảo, là người ăn không ngồi rồi, người không có nghề nghiệp. Ngoài xã hội một người không có nghề nghiệp, cứ lang thang chỗ này, chỗ kia, ăn nhờ ở đậu, ăn bám như vậy thì trong đạo cũng vậy.
Cho nên, chúng ta phải quán tâm ở trên tâm, coi tham có khởi không? Lúc này có tham hay không tham? Lúc này có sân hay là không sân? Lúc nào có si hay là không có si? Có si thì si như thế nào? Có tham thì cái tham nó như thế nào? Có sân thì cái sân như thế nào? Có bản ngã hay không có bản ngã? Có bản ngã thì cái bản ngã như thế nào? Sau đó mình mới xử lí nó.
Trong kinh nói là chúng ta phải tuệ tri – biết bằng trí tuệ. Chính hai chữ “tuệ tri” này làm người ta đã hiểu lầm. Tuệ tri dịch ra là rõ biết, tức là “tôi tham tôi biết tôi có tham”, tự nhiên cái tham hết là xong, bây giờ đa số toàn học Tứ Niệm Xứ như vậy, nhưng như vậy là không phải. Biết bằng trí tuệ là biết bằng Chánh tri kiến để đánh phá lậu hoặc, biết để mà Như Lý Tác Ý, để quán chiếu, để diệt tận nó. Đó mới là cái biết bằng trí tuệ. Còn cái biết mà biết rồi để vậy thì không phải, đó chỉ là biết bằng nhận thức, không phải biết bằng trí tuệ, đó là thức tri.
Ví dụ đang ngủ mà con rắn hổ mang bò sát ở bên, mình chỉ biết vậy rồi thôi. Như vậy, cái biết đó là cái biết bình thường hay là cái biết bất bình thường? Người đó có bình thường không? Thấy nó nguy hiểm, độc hại thì mình phải nhảy lên, hoặc đuổi nó ra, hay làm sao đó mới phải. Cũng vậy, nếu biết rồi mà còn y chang như cũ thì cái biết đó không phải là tuệ tri.
Thành ra chữ “tuệ tri” là rất quan trọng trong bài kinh Tứ Niệm Xứ. Biết bằng trí tuệ là phải đánh đuổi, phải phá dẹp, phải đoạn tận, phải tẩy sạch, phải trừ diệt những rác bẩn đã thấy được. Như vậy mới gọi tuệ tri, là biết bằng trí tuệ của Chánh tri kiến. Nếu một người làm việc với tâm thái như vậy thì có sanh phiền não được không? Nếu có phiền não đi nữa thì cũng trong tầm kiểm soát. Đây là bí kíp Chánh Pháp trong làm việc. Khi làm mà thấy phiền não quá mức thì nghỉ, đừng làm, lúc nào bình thường thì vào làm lại. Làm việc là phải cẩn thận, không được qua loa, không được cẩu thả, không được làm cho xong. Cho nên, bất cứ việc gì mình làm cũng phải bằng sự để tâm của Tứ Như Ý Túc. Hai chữ “để tâm” là hết sức quan trọng. Để tâm là mình đặt cả trái tim vào công việc, dù chuyện đó là chuyện hết sức nhỏ như bưng một chén trà.
Cho nên tại sao uống một chén trà bên Nhật là hơn tám trăm ngàn. Một chén trà để bưng lên uống là công phu lắm, là cả một sự để tâm trong đó. Rồi bao nhiêu nghi thức, bao nhiêu văn hoá, bao nhiêu triết lí, đạo lí trong đó. Vì vậy mà uống chén trà là hơn tám trăm ngàn, mà cách đây mấy năm rồi đó. Trà đạo của Nhật vang dội trên thế giới tại vì có sự để tâm, tại vì có Tứ Như Ý Túc ở trong đó. Người ta muốn đưa cái đó nó lên thành một văn hoá, một nghệ thuật, một đặc sắc của dân tộc. Đầu tiên là người ta muốn, kế đó người ta nỗ lực làm điều đó, người ta để tâm trong điều đó, người ta suy nghĩ mọi cách để làm cho được điều đó, vậy là Tứ Như Ý Túc trong chén trà đó. Chén trà đó không còn là chén trà bình thường nữa mà nó thêm chữ đạo. Minh Thành cũng thường hay là “cơm đạo”, “hành đạo”, “quét đạo”, “tụng đạo”.
Hồi sáng nay Minh Thành có chia sẻ về vấn đề đọc kinh. Đọc kinh là cả một sự cảm thọ, cả một sự cảm xúc, cả một sự cảm động, chấn động trong đó. Như vậy mới là đọc kinh, đọc kinh bằng cả trái tim, đó là vận dụng Tứ Như Ý Túc vào trong việc đọc kinh Nikāya. Khi để tâm vào thì cái gì cũng thành đạo, khi học hay làm việc cũng vậy, không được làm ở đây mà để tâm ra chỗ khác, đã làm thì phải để tâm vào chỗ đó trong tất cả mọi mặt
Đó là tại sao thầy Pháp Từ được người ta quý mến, người ta thương. Tại vì hướng dẫn người ta là thầy hướng dẫn bằng cái tâm. Cho nên ai cũng mến, ai cũng quý hết. Tuy rằng không học cao, không hiểu rộng nhưng mà nắm được căn bản tu tập, chia sẻ bằng cả trái tim, tấm lòng của mình thì người ta cảm nhận được. Sự chia sẻ như vậy là cả một tấm lòng, đó là sự vận dụng Tứ Như Ý Túc, mà như vậy là chắc chắn thành tựu. Trong tất cả mọi lãnh vực có vận dụng Tứ Như Ý Túc thì sẽ thành tựu, đây là điều Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ cho mình, chứ đâu phải là bình thường, đây là báu vật, là chìa khoá vàng để thành công. Còn mình đọc, học xong rồi để trong cuốn sách, đem đi cất, làm việc thì cứ làm việc theo thói quen của mình thì sao thành tựu.
Thành ra phải để tâm trong từng bước thiền hành, để tâm từ lúc bưng chén trà đến lúc uống trà, để tâm khi ngồi nghe pháp, khi lễ lạy, khi ngồi thiền tất cả mọi cái để trọn tâm mình vô trong đó. Khi trồng một cây trúc cũng phải có trái tim của mình trong đó. Cho nên nhiều khi Minh Thành làm, mấy chú làm chung không thích. Tại vì khi làm là Minh Thành chỉnh tới, chỉnh lui. Cũng như làm nhà thiền này, hay công trình gì đó, Minh Thành phải để tâm vào nhiều, coi tới coi lui, chỉnh tới chỉnh lui, lúc đầu rất là khó mà khi sửa xong rồi là coi như được rồi, không thay đổi nữa. Chỗ mình đang ngồi cũng vậy, phải sửa tới sửa lui cả tháng, khi ổn định rồi là xong. Chứ không phải vài bữa sửa cái này, vài bữa sửa cái kia, vài bữa mở cửa này, vài bữa đập vách kia, Minh Thành không làm như vậy.
Chúng ta phải để tâm vào mọi chuyện. Nấu cơm phải để tâm vào việc nấu cơm, mình phải có tu trong đó, như vậy là trở thành “cơm đạo”, thành “bếp thiền”. Cái này khó lắm mà làm được là siêu. Hồi xưa, thời Đức Phật có một vị cư sĩ nấu cơm cho chồng cô ăn. Khi xào đồ ăn thì lửa phực lên cháy chảo đồ ăn, lúc đó cô đang quán về các hạnh vô thường, ngay lúc lửa phực lên như vậy thì cô chứng Tam quả. Tham sân được diệt tận, chứng Thánh quả thứ ba ngay lúc xào đồ ăn. Đó là nghệ thuật tu tập tối thượng trong khi làm việc. Mình phải biết rằng tâm của họ chuyên chú thiền quán tới mức độ nào để họ đốt hết lậu hoặc, tham sân không còn và chứng Bất lai Thánh quả.
Chỉ việc cầm chảo chiên xào trên bếp, thấy cháy khét đen hết mà ngay tại đó chứng ngộ được chân lí vô thường. Chúng ta tu cũng phải hướng tâm đến như vậy. Còn đằng này khi làm là sân si, đụng đâu sân đó, đụng đâu bực nấy, làm với ai là có chuyện với người đó mà không thấy lỗi mình, thấy lỗi người ta không thôi. Cứ đổ thừa tại người kia thế này, tại người kia thế khác. Như vậy mình tu bao nhiêu kiếp rồi cũng vẫn như vậy. Tại vì nguyên nhân thật sự – Tập Đế mình không nhìn thấy. Đức Phật nói: “Này các Tỷ-kheo,một nỗ lực cần cố gắng để làm, để rõ biết là thấy được nguyên nhân của khổ”. Còn chúng ta không thấy nguyên nhân của khổ, nguyên nhân của bực bội, sân hận, bản ngã vì chỉ hướng ngoại thì sao mà thấy; không quán thân, không quán thọ, không quán pháp thì sao mà thấy. Không thấy thân hành, khẩu hành, ý hành; không thấy thân thể, hành động, lời nói, suy nghĩ; không thấy cảm giác, không thấy nội tâm, không thấy cái gì đang vận hành trong nội tâm thì sao mà thấy nguyên nhân của khổ.
Cho nên chúng ta thấy Tứ Niệm Xứ rất tuyệt diệu, đôi khi nói từ “Tứ Niệm Xứ”, đọc quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trên pháp rồi giải ra một bài dài thấy rất khó hiểu, nhưng thật sự đó là luôn luôn nhìn lại thân thể, hành động, cảm giác và những gì vận hành trong nội tâm của mình. Mà trong đó chỉ toàn dục, tham, ái, sân, si, bản ngã chứ đâu còn gì khác. Cho nên pháp này tuyệt diệu lắm.
Mấy cô trong nhà bếp cũng vậy, phải tu tập. Đừng nên có ý hành do mình làm cực khổ nên cho mình thoải mái. Ý hành như vậy là chết, phải giết ý hành đó, suy nghĩ này sẽ đưa mình đi xuống vực. Một suy nghĩ như vậy là phá hỏng hết tất cả sự tu tập của mình, nó không cho mình tu. Ý hành đó là ma. “Này các Tỷ-kheo, sắc là ác ma, thọ là ác ma, tưởng là ác ma, hành là ác ma, tưởng là ác ma”. Cho nên, chúng ta phải nhiếp niệm trong khi làm việc.
Nhiều khi Minh Thành nghe dưới bếp la lối là Minh Thành không có vui. Chúng ta phải tập từ từ. Khi làm là săn tay áo lên, la lối rồi chạy, cho người ta thấy mình làm việc, làm như vậy để làm gì, điều đó không cần thiết. Chúng ta làm việc trong chánh niệm, trong thiền, đó mới là sức mạnh. Còn chuyện nhà cháy hay cấp cứu mình mới chạy. Cho nên, chúng ta phải giữ được tâm mình, đó là báu vật tối thượng, thế gian chí bảo, giữ được cái này thì dù trời đất có sụp đổ cũng không có hấn gì đến chúng ta. Chúng ta phải cẩn thận, phải kĩ lưỡng, phải chu đáo, phải nhỏ nhiệm, phải sâu sắc. Tầm nhìn của mình phải vượt ra ngoài những cái mình đang thấy, đang nghe, đang làm. Không phải chỉ thấy chuyện mình đang làm thôi, mà vượt qua cái đó nữa.
Tinh thần tu học
Đặc biệt trong khi học pháp, chúng ta phải chí tâm, Đức Phật dùng từ “chí tâm” trong tu tập, còn mình sử dụng chí tâm trong cầu pháp. Học giống như đói được ăn, khát được uống. Học giống như một chút nữa mình sẽ chết, mình không được nghe pháp. Mỗi một lời kinh mình đọc mình phải thấy huyết lệ của Đức Thế Tôn, thấy sương máu của các bậc Thánh Tăng trong lời kinh đó. Chúng ta cầm cuốn kinh đó lên phải đội trên đầu, phải trân trọng, trân quý, trân kính, phải nhìn ra được suốt ba ngàn năm của Thánh giáo trong mỗi lời kinh. Tập cho mình có một cái thấy xuyên thấu. Tập cho mình có tâm cung kính, hiếm có, khó được, khó gặp, khó nghe, khó hiểu. Tập cho mình không biết mệt mỏi trong sự cầu pháp.
Khi Đức Thế Tôn còn tại thế thường có những vị Tỷ-kheo giảng pháp suốt đêm, điều đó là thường lắm. Như Lai lúc đó bảy chục tuổi rồi, mỏi lưng rồi. Còn ở đây, sau khi ngủ một đêm dài Minh Thành hấy mấy chú có người vẫn buồn ngủ khi học pháp, khi thiền. Sức của Minh Thành một ngày giảng ba thời vẫn được, mà Minh Thành thấy mọi người nghe không nổi.
Chúng ta học pháp cũng giống như sinh viên đại học vậy. Một ngày phải lên lớp bốn tiếng. Minh Thành từng kể cho mấy thầy nghe rồi, Minh Thành học tám tiếng liên tục trong mười năm. Còn bây giờ mấy thầy học bốn tiếng có nhằm nhò gì đâu. Phải học không biết mệt mỏi, không biết đủ, không biết nhàm chán trong Chánh Pháp thì người đó mới có cơ hội đi đến pháp tánh, thâm nhập được Thánh tri kiến. Còn thấy đầy đủ rồi, nhàm chán học pháp thì người đó không thâm nhập thánh tri kiến được.
Những lúc Minh Thành được bậc thiện tri thức chia sẻ pháp, nghe pháp mà Minh Thành giật mình, chấn động vô cùng, các vị hỏi Minh Thành: “Cái này thầy nghe rồi phải không?”, Minh Thành nói nghe rồi. Bậc thiện tri thức dặn dò Minh Thành nghe thêm một ngàn lần nữa, khi đó Minh Thành mới rúng động, khai ngộ. Nói với Minh Thành rằng: “Cho dù thầy nghe một ngàn lần nữa mà cũng giống như lúc mới nghe thì thầy mới thành tựu pháp” – điều này quá trúng ý nên Minh Thành rúng động hết.
Còn kẻ phàm phu nghe hai, ba lần là nói biết rồi, có gì đâu phải nghe nữa, nhưng nghe một ngàn lần mà có thấy được vô thường, có chứng đắc được vô thường chưa? Chừng nào mình chứng đắc được vô thường thì đừng nghe. Giờ nhìn thấy bất tịnh không? Chưa nhìn thấy thì nghe thêm một triệu lần bất tịnh nữa, chừng nào thấy bất tịnh thì khi đó mới không nghe. Chừng nào nhìn vô thân xác thấy bất tịnh thì lúc đó mới không cần nghe.
Có một sự việc mà Minh Thành nhớ hoài không quên. Mỗi lần Minh Thành cho bài kiểm tra bài từ Hán, Minh Thành sẽ dặn từ chút, từ chút: “Mọi người làm bài xong rồi thì ngồi yên, không cần đi xuống đi lên để nộp bài gì hết. Bài làm thì đưa cho người đầu bàn, thầy chỉ đi vào giữa và đưa hai tay ra lấy bài”. Có mấy người nói: “Thầy ơi cái này con biết rồi, thầy nói rồi, học tới năm thứ tư rồi mà lần nào kiểm tra thầy cũng nói”. Minh Thành mới nói: “Dạ. đúng rồi thưa mấy chú. Mấy chú biết rồi, con cũng nói nhiều lần rồi mà mấy chú làm chưa được, cho nên giờ con nói lại. Chừng nào làm được thì lúc đó con không nói”.
Nghe câu này là Minh Thành “khoát nhiên đại ngộ”. Mình đã chứng nhập Thánh trí vô thường chưa? Mình chứng nhập được Thánh trí vô ngã chưa? Mình có chứng nhập được cái khổ chưa? Giờ nói đến Tứ Thánh Đế thì mình nghĩ là mình biết rồi, nhưng chỉ biết gồm có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, như vậy thì vĩnh kiếp mình vẫn là phàm phu.
Hằng ngày nghe cái khổ vậy đó, hằng ngày nghe cái sân ác độc vậy đó, hằng ngày nghe cái sân vô minh vậy đó mà tới chừng có chuyện thì mình cũng nổi bản ngã chình ình lên. Mình nghe mỗi ngày mà vẫn như vậy? Chúng ta có bao giờ là đủ không? Có khi nào nói tôi ăn ba chục năm rồi, giờ tôi không ăn nữa không? Vậy tại sao nghe pháp mà nói đủ rồi, giờ tôi không nghe, đó chính là vô minh. Còn ăn là con nghe pháp, còn ăn là còn ngồi thiền, còn ăn là còn tu. Chúng ta ăn là ăn của đàn na tín thí, mình thiếu nợ người ta, vậy mà không chịu ráng lo học, không chịu ráng lo tu, toàn lo những suy nghĩ Phi Như Lý Tác Ý, suy nghĩ theo phàm phu vô minh không thôi.
Người ta nữa vòng trái đất về đây nghe pháp, thậm chí người ta khóc nước mắt tràn trụa rồi quỳ lạy khi nghe pháp, còn mình ở kế bên mà không thèm nghe, xem thường, tức là mình tự huỷ bỏ cơ hội ngàn năm một thuở, cơ hội thể nhập Thánh tri kiến. Tuy thấy nghe pháp có một buổi, hai buổi như vậy, nhưng đó là sự tích tập lâu ngày, tích tập vô thường tưởng, tích tập nguy hại tưởng, tích tập bất tịnh tưởng, tích tập ly tham tưởng, tích tập đoạn diệt tưởng. Có ai đi ra làm mấy bữa mà thành triệu phú không? Hay mỗi ngày họ phải cất một chút rồi từ từ mới nhiều lên? Tu học cũng như vậy, mỗi ngày phải nghe một chút để tích tập thực hành.
Cho nên, chúng ta nghe pháp là không được cho là đầy đủ, có như vậy mới gọi mình là Đa văn Thánh đệ tử. Đệ tử của bậc Thánh là bậc nghe rất là nhiều. Nghe Thánh Pháp, nghe Chánh Pháp thật là nhiều. Cô Toàn là nghe kinh đến nỗi thủng màng nhĩ, nghe điếc cả lỗ tai. Chúng ta phải lấy đó làm tấm gương sống ở trước mắt mình. Cô không phải được rảnh để ngồi nghe mà vừa đi làm vừa nghe. Vì vậy, chúng ta phải phát tâm cung kính, tôn trọng Cô, vì Cô là người khó gặp. Một vạn kiếp sau chưa chắc mình được nghe pháp này nữa. Pháp này sắp diệt rồi, mai mốt không còn ai biết về pháp này nữa. Thành ra đây là Minh Thành nói về tinh thần học. Chúng ta phải tha thiết học hỏi, không phải chỉ quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp, mà người nào chịu học hỏi mới là đệ tử tối tượng, Tỷ-kheo tối thượng của Đức Phật.
Minh Thành thưa với đại chúng là, khi học pháp mà Minh Thành cầm điện thoại học từ xa, học suôt ba tiếng nên tay tê cứng. Minh Thành cầm điện thoại không dám nhúc nhích, không dám bước ra chỗ khác, vì trên rừng, bước ra chỗ khác là nó mất sóng. Mỗi ngày xả thiền ra là Minh Thành hướng về bậc thiện tri thức để quỳ lạy. Mỗi ngày Minh Thành đều như vậy, chứ không phải xem pháp này bình thường mà tiếp nhận được pháp. Thậm chí phải dám hi sinh cả thân mạng để cầu Thánh Pháp này, phải có một thái độ tu học như vậy, chứ không phải dễ mà đắc pháp. Một người xem thường pháp, không cung kính pháp, không tha thiết đối với pháp, không để tâm ở trong pháp thì làm sao người đó đắc được Thánh Pháp. Pháp này không phải pháp bình thường, pháp này là pháp ngược đời, pháp ly tham, đảo lộn hết thế giới này, đi tới chỗ nhám chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt thì sao mà dễ nghe, dễ hiểu, dễ thực hành.
Thánh Pháp này có công năng phá tung quả địa cầu này. Trong khi vô minh, dục ái, khát ái của mình kinh khủng, khủng khiếp, nếu với một cái tâm sơ xuất, cẩu thả, qua loa, hời hợt, thiển cận, cạn cợt, máy móc, hình thức, làm cho có thì không thể nào đi vào Hướng Dự Lưu chứ đừng nói Nhập Lưu. Bằng chúng là pháp này 2.000 bị mai một. Tại sao vậy? Vì người ta chỉ muốn cái đơn giản, niệm một câu, ngồi thở vô ra, hay là Như Lý Tác Ý cho khoẻ, học làm chi cho nhiều. Có những người khác ở đây bỏ đi rồi đó, kiếm thầy khác dạy Nikāya cho dễ, còn ở đây dạy khó quá. Cho nên, người nào không thiết tha, không cung kính, không tôn trọng, không có để cả tâm lòng vào pháp là văng ra liền, bị Bát Chánh đào thải.
Chúng ta sẽ học như Ngài Ca-diếp là biết lo sợ. Còn ai không lo sợ, không hỗ thẹn, không có niềm tin thì người đó không đạt được pháp. Người xưa nói lo sợ giống như đi trên băng mỏng, bước trên kiếm bén. Đi trên băng mỏng xảy chân là lọt xuống, bước trên kiếm bén trợ chân là tan da nát thịt. Sự tu này cũng vậy, chỉ cần sơ xảy một chút thôi là mình văng ra khỏi dòng Thánh Pháp, trở lại phàm phu, phàm ngu, phàm mê, phàm tục, phàm dục, phàm ái, phàm tham, phàm sân, phàm si. Nếu không lo lắng, không sợ hãi, không nỗ lực thì khi nhắm mắt một cái rồi là mình đi đâu? Nếu chưa Nhập Lưu là hoàn toàn còn trong phạm trù nguy hiểm và tai hoạ.
Minh Thành hỏi đại chúng, mấy ngàn người chết vì dịch đó bây giờ đi đâu, ở đâu? Cho nên Minh Thành nói thiệt sự, bản thân cuộc đời Minh Thành từ giờ cho đến lúc nhắm mắt không còn cái gì có thể quan trọng hơn pháp nữa. Minh Thành tuyên bố một câu vang dội giữa đất trời này là không có cái gì quan trọng hơn Thánh Pháp này nữa hết. Cha mẹ rồi cũng vô thường, anh chị em rồi cũng vô thường, đệ tử rồi cũng vô thường, chùa chiền, đất trời này rồi cũng tan vỡ hết, chỉ có pháp mới cứu mình, mới cứu được người thân của mình. Cho nên thương người thân là đưa cái pháp này cho họ, như vậy là cứu độ.
Chúng ta thương mình là phải bám chặt pháp này, cầu pháp này, kính pháp này, tôn trọng pháp này, tha thiết bằng tất cả tấm lòng của mình với cái pháp này. Như vậy mới là thương mình, cứu mình. Chính vì vậy mà Minh Thành rất là quan trọng đối với pháp, với một thái độ như vậy thì chúng ta mới có khả năng tiếp nhận và thể nhập được Thánh tri kiến. Điều này chắc chắn một trăm phần trăm!
Chúng ta phải nghe pháp bằng tâm cung kính, nghe bằng tâm khát ngưỡng, nghe bằng tâm tôn trọng. Nghe giống như chưa từng được nghe, nghe giống như chút xíu nữa mình không được nghe, đây là lần nghe cuối cùng. Mồi lần nghe pháp phải tác ý như vậy. Thành ra mình phải cố gắng, ngoài pháp này ra thì những âm thanh khác không có gì đang nghe hết, đều có thể bỏ qua được. Pháp này là cái đáng nghe nhất trong kiếp người của mình. Ngoài cái pháp này ra không có gì đáng nghe hết, nghe mấy cái khác đều là tham, sân, si, phiền não không thôi. Nghe biết nhiều cái khác càng thêm nhiều sân si, bản ngã, chỉ có biết pháp này mới diệt tận được vô minh, mới phá được lậu hoặc, mới làm khô kiệt được khát ái.
Chánh Pháp tuyệt vời như vậy tại sao mình không chịu nghe, không chịu học, tại sao mình không chịu nỗ lực, không chịu để tâm, không chịu quyết lòng, không chịu hi sinh, không chịu dấn thân!
./.