Hóa Giải Nghiệp Chướng Tâm Từ Vi Diệu 1
Hóa Giải Nghiệp Chướng
TÂM TỪ VI DIỆU 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Căn bản của đạo đức PAGEREF _Toc76306836 \h 1
II. Bài quán trải tâm từ PAGEREF _Toc76306837 \h 3
III. Giá trị của bài quán PAGEREF _Toc76306838 \h 5
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc76306839 \h 6
1. Sư cô Tuệ Tâm: PAGEREF _Toc76306840 \h 6
2. Sư cô Hạnh Trí: PAGEREF _Toc76306841 \h 8
3. Chú Dũng: PAGEREF _Toc76306842 \h 9
4. Sư cô Tuệ Đức: PAGEREF _Toc76306843 \h 12
V. Vấn đề pháp môn PAGEREF _Toc76306844 \h 13
VI. Vì sao bác sỹ không ly tham? PAGEREF _Toc76306845 \h 14
I. Căn bản của đạo đức
Tiến tới một mức nữa là đạo đức, nhân nghĩa đang dần dần sụp đổ ngay cả đối với người xuất gia. Minh Thành nhắc điều này với các thầy, các cô, các chú bởi vì đây là vấn đề rất quan trọng.
Khi Minh Thành về chùa Hoằng Pháp, dù chỉ một ngày trong khóa tu vừa rồi, nhưng có khi Minh Thành cảm thấy ngại. Thầy Phó Trụ Trì chứ không phải đại chúng bình thường, nhưng bất cứ lúc nào khi đi ra đi vào gặp Minh Thành cũng đều chắp tay xá chào. Cả những bảo vệ, Phật tử, bất cứ lúc nào gặp Minh Thành cũng đều xá sâu xuống. Còn chúng ta, nói rằng mình tu sâu sắc Chánh Pháp, nói tới Thánh quả, nói tới những điều cao siêu trên trời nhưng những điều đó, những nền tảng căn bản mình vẫn chưa thực hiện được. Có khi thấy quý thầy, quý sư cô đi đến mà vẫn cứ trơ trơ giống như không nhìn thấy.
Cho nên, cần phải nhìn nhận lại để thấy nguyên nhân tại sao chúng ta tu học không thành tựu, không viên mãn hợp pháp, không viên mãn tâm cung kính, không đầy đủ giới hạnh, đức hạnh của người tu. Phật tử bây giờ cứ thấy quý thầy là ào ào đến chụp hình, như vậy là mất hết sự tôn nghiêm, cung kính, trách nhiệm này là của ai, chính là do mình không chỉ dẫn cho họ.
Sống là phải có trước, có sau, có tình, có nghĩa, có ân, có đức. Thật sự rất xót xa khi nhìn xã hội bây giờ, ngay cả trong chùa cũng thiếu sự nhân nghĩa, đạo đức, cung kính. Những điều này thiếu đi thì loài người dần dần sẽ giảm thiểu, ba đường ác tăng trưởng. Thế nên, chúng ta thấy đại họa, thảm họa xảy ra liên tục, tuổi thọ con người giảm xuống, ác nghiệp ngày càng hừng hực. Ngoài miền Bắc nước ta bị cháy rừng, hàng ngàn người phải đi dập lửa, hơn nữa còn xảy ra động đất mấy lần trong vòng vài ngày. Khí hậu, thời tiết cũng đang biến đổi, chiến tranh, động đất, dịch bệnh tràn lan. Con người ngày càng hung ác, bạo tàn, gian hiểm, độc địa: vợ giết chồng, cha giết con, con giết mẹ, anh em chém hại lẫn nhau, trò thưa kiện thầy, huynh đệ tương tàn. Đó là những báo động rất lớn, đại họa sẽ xảy ra tiếp tục chứ không phải dừng lại ở đây. Nhân nghĩa, đạo đức sụp đổ; tham, sân, si lừng lẫy; thế giới sẽ chìm ngập trong bóng đêm của ác nghiệp.
Minh Thành chỉ nêu ra những chuyện nhỏ để đại chúng chiêm nghiệm. Ngay tại mảnh đất này, Minh Thành muốn đại chúng được an ổn, tinh tấn tu hành, nên Minh Thành ít nói những chuyện mình phải gặp từ khi vào dòng pháp này. Có trùng trùng, thập diện mai phục, vô số những thế lực vô hình và hữu hình ngăn trở, phá hoại, không đơn giản để chúng ta được ngồi ở đây tu học.
Cho nên, mỗi một ngày chúng ta tu ở đây, mỗi một giờ chúng ta được ngồi đây đều phải trân trọng. Mọi người phải đánh đổi rất nhiều trong âm thầm để chúng ta an ổn tu hành. Xót xa lắm! Chùa tranh vách lá như thế này, mà người ta cứ lên câu tiền trong thùng phước sương, họ cạy cửa, phá cửa, đập cửa để vào lấy tiền. Vì vậy, để cho chúng ta có một sự yên tĩnh tu hành thì phải đánh đổi rất lớn, có nhiều người luôn âm thầm lo lắng cho mình. Minh Thành nói ra không phải để than thở, khoe công mà vì để cho đại chúng hiểu thêm, đừng để mình được an ổn tu mà lại không chịu tu, không biết trân trọng.
Chúng ta phải thực tập căn bản của đạo đức. Phải nuôi dưỡng lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, khoan nói đến báo ơn. Vì tu học chân chánh đó chính là báo ơn. Sống phải có nhân nghĩa, có đạo đức, có trước sau, có trên dưới, phải tương hoà, tương kính, hòa nhau, kính nhau. Thật sự trong mấy mươi năm qua, ngay khi chưa vào dòng pháp này, Minh Thành luôn luôn thực tập, luôn luôn dùng tâm từ và luôn luôn thi ân báo đức. Cho nên ngày giờ này, chúng ta mới an ổn tu tập trong Thánh Pháp. Đối với tất cả những người đối đãi ác, vong ân bội nghĩa, Minh Thành đều diệt tận tâm oán hận, phiền trách và dùng tâm từ đến với họ.
II. Bài quán trải tâm từ
Chúng ta sẽ tìm hiểu bài quán “Trải Tâm Từ”, Minh Thành còn dùng từ “hóa giải nghiệp chướng”, đây là cách vi diệu nhất để chúng ta hóa giải nghiệp chướng. Từ cái nhỏ, cái vừa cho đến cái lớn, đều phải sử dụng tâm từ. Ví dụ: trong huynh đệ có chuyện buồn, làm ta bực bội, thì phải trải tâm từ để hóa giải nghiệp chướng. Khi mình bực bội, hoặc người kia bực bội thì đều dùng tâm từ để hóa giải nghiệp chướng. Đi vào chuyện đó là đi vào nghiệp chướng, nghiệp quả, ác nghiệp. Cho nên, đối với tất cả các đối tượng làm hại, làm khổ, làm khó, ngăn chướng mình thì luôn luôn lúc nào cũng sử dụng tâm từ, Như Lý Tác Ý bằng tâm từ, trải tâm từ thì mới hóa giải được nghiệp chướng.
Bài quán này dành cho người mới bắt đầu tu tập tâm từ. Quán thường trong ngày và quán trước khi ngủ. Có thể áp dụng bài quán này khi có cảm giác sợ hãi, bất an khi đi trong đêm vắng hay khi ở một mình...
Phải thường xuyên thực tập thì lúc hữu dụng mình cần thì nó mới có hiệu quả, còn nếu như đợi đến lúc sợ hãi, lúc bất an, lúc có chuyện, lúc sân hận thì mình trải không kịp. Vì vậy, phải thực tập thuần thục.
***
Cách quán 1: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình. Lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài, mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này. Tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, an lạc - bình an - trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Cách quán 2: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình, cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc an ổn này cũng đến với chư vị nơi này (sơn thần, địa thần, thổ thần, tất cả những chúng sanh vô hình, hữu hình), chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này (trong đó có : người thân, người quán,…). Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an. Nhờ lạc thọ này mà tâm được định, nhờ sự định tĩnh này mà trí tuệ được sáng tỏ, thấy rõ thân năm uẩn này sanh diệt vô thường, tâm chán ngán từ bỏ lòng tham ái đối với năm uẩn, thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, an lạc - bình an - trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Con xin mời tất cả các chư vị hữu tình ở nơi đây và ở khắp mọi nơi, xin hãy cùng với con đảnh lễ bảy Đức Thế Tôn – bảy bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đạt được tâm trong sạch thanh tịnh giải thoát.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Sikhì (Thi-khí)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Vessabhu (Tỳ-xá-phù)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Kakusandha (Câu-lưu-tôn)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Konàgamanan (Câu-na-hàm)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Mahà Sakyamuni (Đại Thích-ca-mâu-ni Cù-đàm)
Cúi đầu đảnh lễ các Ngài
Các Bậc an tịnh trầm lặng
Vâng lời dạy của các Ngài
Con xin tập Tâm trầm lặng.
***
III. Giá trị của bài quán
Đại chúng cố gắng học thuộc lòng bài quán này. Sau mỗi thời ngồi thiền, đọc bài quán này lên và lạy bảy Đức Phật. Đây là báu vật, cũng chính là lá bùa hộ mệnh trong suốt cuộc đời tu tập của Minh Thành và cũng từ đây để có ra được Linh Quy Pháp Ấn – một nơi tu tập Chánh Pháp. Cho nên, Minh Thành mong tất cả trong đại chúng hãy tu tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa; tu tâm từ một cách điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục, thiện xảo và an trú thường trực, như vậy mới có thể hóa giải được nghiệp chướng. Bằng không tuy miệng nói tu nhưng mình đang tạo nghiệp.
Minh Thành sẽ giảng giải ra để mọi người hiểu được tầm vóc, giá trị, ý nghĩa và công năng của tâm từ. Chúng ta thấy rằng, dù ta cạo mái đầu, đắp chiếc y lên nhưng không có nghĩa là tâm mình hoàn toàn được thay đổi. Các chú cư sĩ cũng vậy, không phải mặc lên người chiếc áo lam, vào trong chùa là hết được tham, sân, si. Vào chùa rồi nhưng vẫn sân hận người này, tức giận người kia, khó chịu người nọ mà không sử dụng tâm từ này để hóa giải là chúng ta vẫn đang tạo nghiệp. Nghiệp cũ chưa giải quyết xong, nghiệp mới lại đến thì chúng ta tu đến chừng nào mới sạch nghiệp, hết nghiệp.
Chính vì vậy, phải tập xem những người gây ra cho mình đau khổ, mất mát, đau thương trong cuộc đời này là ân nhân. Nhờ đó, ta nhìn thấy được bản chất gian trá, xảo ngụy, giả dối, vô thường, trống rỗng của đời sống này để mình phát tâm tu hành. Phải cảm ơn thật nhiều những người làm khổ mình, đừng sân hận với họ, đó chính là đại ân nhân giúp mình thoát ly sanh tử.
Cuộc đời Minh Thành có rất nhiều điều lạ, nhưng thật sự chính nhờ tâm từ mà hóa giải được rất nhiều nghiệp chướng trong quá khứ, hiện tại, cũng như tương lai. Đây là sự che chắn, bảo vệ, bảo hộ bình an thật sự cho chúng ta. Minh Thành gặp rất nhiều chuyện xảy đến, đối với người bình thường không biết tu sẽ xem đó là đại sự khủng khiếp, đổ vỡ, tan nát, lớn lao, nhưng nhờ tâm từ, nhờ cách quán chiếu Như Lý Tác Ý mà Minh Thành được bình an kỳ diệu.
Những chuyện này bảy ngày bảy đêm cũng kể không hết được. Phải tu tập tâm từ, thực tập tâm từ, nuôi lớn tâm từ, chăm sóc tâm từ. Phải tăng trưởng, phát triển, làm cho quảng đại, làm thành cỗ xe, căn cứ địa ở trong tâm từ. Hãy nhìn những người làm chúng ta khổ đau, những người ghét mình, thù mình, hận mình, khó chịu với mình như là những bậc đại ân nhân, đại thí chủ.
Mời đại chúng chia sẻ về công năng, tác dụng của tâm từ mà chúng ta đã từng thực tập. Ví dụ, chúng ta bị sân hận, nhưng nhờ thực tập tâm từ nên chuyển hóa được.
IV. Trình pháp
1. Sư cô Tuệ Tâm:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, kính bạch quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ một chút về hoàn cảnh của mình và sự thực tập tâm từ trong cuộc sống.
Kính thưa sư phụ, con xuất thân trong gia đình có ông bà nội theo đạo Thiên Chúa, rất giàu có. Nhưng trong sự giàu có đó chỉ toàn là danh vọng, tiền tài và bao nhiêu thứ khác theo con được biết ở bên ngoài là bất thiện pháp. Bố con sống trong gia đình đó nhưng không chấp nhận được cuộc sống giả tạo đó. Trong gia đình con có một người chú có tâm không tốt, tranh giành, chiếm đoạt gia tài và hại bố con. Đỉnh điểm là chú thuê người ám sát bố con, nhưng bố vượt qua được nhờ sự che chở. Cả gia đình chúng con bỏ hết vật chất, gia tài và toàn quyền cho người chú sử dụng.
Gia đình con lúc đó rất bơ vơ, không có nơi nương tựa nên bố mới dẫn dắt gia đình hướng theo đạo Phật và cả nhà con cuối cung cũng vượt qua sóng gió. Từ gia đình giàu có bậc nhất ở khu quận 3, mà phải sống trong cảnh gọi là địa ngục trần gian, sống trong ngôi nhà to lớn nhưng phải cầm cố, cho người này thuê, người kia mướn và phải ngủ trong một diện tích rất nhỏ, chỉ vừa đủ chỗ nằm. Những người thuê, mướn đó đi ngang qua ngang lại trên đầu trên cổ, thậm chí đạp lên chân, lên tay của chúng con, rất là khổ. Rồi gia đình con cũng vuợt qua và sống đời sống lương thiện, buôn gánh bán bưng, bỏ qua tất cả những tài sản mà gia đình có thể lấy được.
Có rất nhiều người muốn giúp bố con đứng lên giành lại quyền hưởng tài sản nhưng bố con bỏ qua hết tất cả và gia đình con sống nương nhờ vào giáo lý của đạo Phật, bằng tâm từ. Nhưng vì không ai hướng dẫn, nên gia đình con cứ nghĩ bỏ hết tất cả để tâm được thanh thản. Kính thưa sư phụ, cho đến khi gia đình con gặp được chùa Hoằng Pháp, gặp được sư phụ, tất cả mọi người đều quy y làm Phật tử chùa Hoằng Pháp, các anh chị em con biết được thế nào là ý nghĩa của một người con Phật. Con không biết rằng, chính những tâm từ, tâm buông bỏ từ thuở trước gia đình con thực tập mà nó đã trở thành căn cứ để giúp gia đình con có được cuộc sống bình an, an lành, may mắn.
Ngày giờ đây, con đã gặp được sư phụ, gặp được Chánh Pháp. Hôm nay con thật sự cảm động khi sư phụ chia sẻ được những tâm từ và quán tâm từ. Đây là những phương pháp con đã thực tập từ trước khi con xuất gia và hôm nay nghe bài pháp này càng sâu sắc hơn nữa. Con nguyện tâm từ là báu vật trong suốt cuộc đời con, tâm từ đã giúp con được bình an, giúp gia đình con vượt qua được rất nhiều sóng gió. Con xin chia sẻ và gửi lời tri ân đến sư phụ, tri ân đến dòng Thánh Pháp này đã giúp con nhận thức sâu sắc được những bất hạnh của mình chính là những căn cơ giúp con tiến sâu vào đạo.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
2. Sư cô Hạnh Trí:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính ngưỡng bái bạch lên sư phụ, con ngưỡng bái bạch lên Chư Tôn Đức Tăng, Chư Tôn Đức Ni, con kính ngưỡng bái bạch hiền đức Phật tử. Con kính xin chia sẻ một chút về sự thực tập tâm từ, công năng và giá trị của tâm từ trong sự thực tập. Nhờ đó, con đã được vượt qua được những oan nghiệp, những chướng duyên trong cuộc sống tu tập.
Đây là câu chuyện cách đây gần hơn 10 năm. Khi mới bước vào chùa, con là người rất mới và con tinh tấn, nỗ lực tu học. Không lúc nào dám để tâm mình buông lung. Cho nên mỗi khi học xong, con đều viết một tờ giấy, bỏ vào túi để học bài. Con cố gắng học thuộc tất cả giới luật và những gì được chỉ dạy. Ngoài ra, những giờ công phu, công quả con cũng cố gắng hết mình. Con học thuộc bốn cuốn Luật và những oai nghi thì sư bà cho thọ giới. Sau một thời gian cố gắng, sư bà cho con thọ Sa-di, rồi thọ Tỳ. Trong đó có một cô không siêng học, nhưng mãi đứng sau con nên từ đó có sự hình thành sự ganh tỵ rất sâu sắc. Cô đó rất ghét con, thấy con ở đâu là ở đó cô nổi sân và rất khó chịu.
Con thấy rất là khổ, không biết làm như thế nào. Lúc đó, con thấy đó là nghiệp chướng của mình, thấy rằng mình tội nghiệp và người kia cũng rất đáng thương. Lúc đó con chưa gặp Chánh Pháp, con thường tranh thủ thời gian rảnh lên lạy Phật sám hối nghiệp chướng. Mỗi cái lạy con đều hướng tâm đến cô đó và trải lòng từ, hướng tâm đến tất cả những gì con tu tập được để giải oan gia nghiệp chướng này. Suốt thời gian 7 năm con hành trì như vậy, đi bất cứ đâu con cũng mua quà về cho cô, con lấy ân để trả oán. Nhờ sự thực tập kiên trì, con thấy nghiệp chướng được hóa giải, cho đến khi cô ấy thương lại con thì lúc đó nhân quả con đã hết, con đã trả xong nhân quả đó.
Hôm nay sư phụ chia sẻ về công năng của tâm từ, con mới thấu hiểu một cách rõ ràng tại sao mình bị như vậy nhưng mình không oán ghét người, mà lấy tình thường, sự từ bi để trải lòng ra thì nghiệp chướng tự động biến mất một cách tự nhiên. Con thật sự tri ân và biết ân đến sư phụ. Khi thấy được giá trị, tầm quan trọng của tâm từ, con nguyện lấy đó làm hành trang, nền tảng tu tập hằng ngày để chuyển hóa tất cả những oan nghiệp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
3. Chú Dũng:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ câu chuyện cũng nhờ tâm từ mà con tránh được những cuộc thanh toán đẫm máu và tránh được sự tạo ác nghiệp. Chính thời điểm đó, con bắt đầu tìm hiểu và tu tập trong đạo Phật.
Đó là những năm 2017, sau khi con quay về Đà Lạt sau hơn hai mươi mấy năm sống và lập nghiệp tại Sài Gòn. Khi quyết định quay về Đà Lạt, lúc đó vào mùa mưa, rằm tháng 8, khi về Đà Lạt sống, có người đến mua đất ở kế bên, do đất đai ở khu vực đó đang sốt. Người này thuê những người khác canh lúc mưa để nhảy vào cắm cọc, lấn tầm một mét rưỡi đất mặt tiền. Vị này chỉ biết trước giờ chỉ có hai ông bà già, tức là cha mẹ con ở thôi, còn tất cả anh em con đều sống ở Sài Gòn. Khi sự tranh chấp xảy ra như vậy thì trong con khởi lên sự căm thù mãnh liệt. Trong đầu con khởi lên kế hoạch phải trừng trị, làm thế nào để gia đình người này dọn nhà biến khỏi đất Lâm Đồng và công an không làm gì được con.
Qua hai đêm suy nghĩ, con lên kế hoạch chi tiết cùng các huynh đệ sau khi điều tra toàn bộ đường đi nước bước, hoạt động của vị đại gia đó. Con có hai đêm không ngủ được vì kế hoạch và lòng sân hận thôi thúc không ăn uống được. Đến đêm thứ hai, con trằn trọc đến khoảng gần 1 giờ đêm, sự sân hận lên đến gần đỉnh điểm, các huynh đệ thì chờ con ra lệnh. Tình cờ khi đó con mở trang facebook, xem một clip được chia sẻ, có một vị Tăng khất sĩ ốm, ngồi bên bụi tre thuyết pháp. Hình ảnh này đối với con rất lạ, từ trước giờ con chỉ thấy những vị thầy trang nghiêm ngồi, to tròn, chứ con chưa thấy vị khất sĩ nhìn như người ăn xin, ngồi dưới đất ở một bụi tre thuyết pháp. Tò mò nên con vào xem, đó là sư Giác Khang ở Trà Vinh.
Trước giờ con nghe pháp chỉ được nghe về niệm Phật, nhưng khi nghe vị này con thật sự xúc động. Bài pháp con nghe cũng vào thời điểm đúng với trạng thái của con lúc đó. Sư có nói rất rõ về các nghiệp, do mình tạo các nghiệp quả, sự sân hận, lòng tham con người,… càng nghe con càng chiêm nghiệm theo thì thấy đúng với hoàn cảnh của mình. Trong đó sư cũng dạy về tâm từ đối với những người gây sân hận, đau khổ cho mình. Sư phân tích cũng rất chi tiết. Tuy chưa phải là bài pháp thuần về pháp Nguyên Thủy, nhưng bài pháp này làm con sanh khởi lên một cảm thọ, một cảm giác.
Khi nhìn nhận lại thân tâm, con thấy mình đã bị sự sân hận, hơn thua, tham lam áp bức. Con nhìn và quán chiếu sâu vào hậu quả của nó. Con chiệm nghiệm bản thân mình đã sống một thời gian dài, hơn hai mươi năm ở Sài Gòn, con đã tạo quá nhiều ác nghiệp, đã trả giá bằng hai lần phải ra đường ở. Lần cuối cùng là năm 2016, sau khi tán gia bại sản thì con mới về Đà Lạt. Khi chiệm nghiệm lại những ác nghiệp đã làm, những quả báo đã nhận, cộng với chuyện đêm đó nên con cảm thấy rất sợ hãi. Con thấy rằng người tranh giành đó cũng vì lòng tham.
Nếu không có bài pháp về lòng từ hôm đó thì con nghĩ về phía vị kia sẽ không biết vì sao họ phải nhận những hậu quả và cũng không biết là ai làm vì họ chưa gặp con bao giờ. Bản thân con có thể đã có thể tạo thêm những ác nghiệp, có thể đã làm cuộc đời mình rơi rớt vào hố vực thẳm sâu hơn. Nhưng nhờ nghe pháp xong và nhìn lại nội tâm, tác ý thì sự sân hận lập tức tan đi. Khi đi ngang qua chỗ người ta cắm cọc, con đứng nhìn vào đó, suy nghĩ về vị đó, trong tâm con khởi lên suy nghĩ nếu lúc đó con gặp vị đó thì con sẽ nói như thế nào, thái độ sẽ ra sao? Với sự sân hận đã được bỏ đi thì sẽ nói với họ như thế nào với tình thương. Con chỉ suy nghĩ tới đó.
Đúng như vậy, thường mỗi buổi sáng con chạy thể dục 5 km, một buổi sáng con gặp mẹ con của vị đó, họ đến với bên đo đạc để vẽ giấy tờ đất đai. Con mới đến và hỏi cô đó đến để đo đất hay sao? Cô đó và hai người con không biết con là ai, chỉ thấy một người vạm vỡ, mặt mũi bặm trợn. Cô đó nói chuyện giọng rất run, hỏi con là ai, con mới nói mình là con của ông bà chủ đất ở đó. Nghe xong họ rất sợ hãi, sợ con sẽ làm gì họ, khi đó người con nhìn rất sát khí và hung hăng. Nhưng nhờ học bài tâm từ nên con có sự chuẩn bị trước, vì thế con nói chuyện nhã nhặn, hòa giải với họ nên hóa giải được sự tranh chấp này.
Qua đó, con thấy tâm từ thật sự rất vi diệu, nó làm thay đổi tâm ý, cuộc đời của một con người. Con xin chia sẻ đến đây. Con cũng xin đảnh lễ vị sư Giác Khang, người con chưa bao giờ gặp và nói chuyện.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
4. Sư cô Tuệ Đức:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con pháp danh Tuệ Đức, con xin thành tâm phát lồ sám hối. Hôm nhổ cỏ, sư phụ có chỉ dạy con về oai nghi, nhưng sau đó con có tâm chống đối, tâm nổi loạn và tâm thối thất. Sau khi nghe sư phụ giảng vào sáng hôm qua, con định tâm lại và luôn tác ý, suy nghĩ rằng, tâm cầu pháp, tâm cầu đạo buổi ban đầu đã đi đâu?
Đến đây là để cầu pháp, cầu đạo, nhưng khi sư phụ chỉ dạy thì lại có tâm thối thất. Nay trước sư phụ, quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng xin hãy chứng minh cho con đây là tâm bản ngã. Tâm này làm con không tiến đến đạo pháp và không thành tựu. Con xin tri ân sư phụ đối với bài pháp hôm qua và hôm nay, xin sư phụ từ bi, hoan hỷ tha thứ cho con vì sự vô minh, vì sự tu tập còn non kém, sự hiểu biết nông cạn làm cho con có tâm thối thất. Nay con xin sư phụ từ nay về sau, thương con như đứa con nhỏ, chỉ dạy con nhiều hơn, cho con được tiến tu nhiều hơn để thành tựu trên đường đạo pháp mà con luôn mong cầu và thành tựu trên con đường đạo pháp.
Con xin trình pháp về ngày tu tập hôm qua và hôm nay. Kính mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô chứng minh và chỉ dạy cho con thêm về sự ngồi thiền trong tu tập. Trước đây, con tu Tịnh Độ, khi sư phụ nhắc nhở, con có ý nghĩ không biết mình có khả năng tu trong dòng pháp này hay không, vì dòng pháp này nhận diện rất vi tế, rất sâu sắc. Khi con ngồi thiền thì câu Phật hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” lại tuôn chảy từ miệng con như một dòng nước, hai bên tai con đều nghe tiếng niệm Phật. Con tác ý quán bộ xương thì lại thấy Đức Phật A Di Đà ngồi. Con không biết đường tu tập con sẽ như thế nào? Con xin sư phụ từ bi, thương xót khai thị, chỉ dạy để con tiến thêm trên bước đường đạo pháp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
***
V. Vấn đề pháp môn
Câu hỏi 1: Tu theo dòng pháp Nikāya, nhưng khi ngồi thiền, câu Phật hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” tuôn chảy từ miệng như một dòng nước, hai bên tai đều nghe tiếng niệm Phật. Tác ý quán bộ xương thì lại thấy Đức Phật A Di Đà ngồi. Như vậy, con đường tu tập phải thế nào?
Điều gì cũng do mình tập thành quen. Ở ngoài đời, thích nghe bài nhạc nào thì chúng ta sẽ thường nghe bài nhạc đó, lâu lâu khi ngồi lại, âm thanh của bài nhạc sẽ vang lên trong đầu mình. Câu niệm Phật cũng giống vậy, chúng ta huân tập thì cũng sẽ thành quen, ngay bản thân Minh Thành lúc đầu cũng thế. Tuy nhiên, chúng ta từ từ phải xả bỏ để trú vào pháp Nikāya mình đang thực tập. Cứ thấy xuất hiện câu niệm Phật dthì mình xả bỏ rồi trú vào pháp, cứ vậy dần dần rồi sẽ quen. Chúng ta phải tập dần dần, không phải vừa đi vào dòng pháp này, nói bỏ những cái cũ là bỏ được ngay.
Hơn nữa, phải để ý, nếu không tiếng niệm Phật sanh khởi lên là mình đi theo, như vậy, nếu mình chưa có ý muốn bỏ thì sẽ không bỏ được. Vì vậy, phải có ý muốn xả bỏ. Giống như trước giờ, khi đang cầm một món đồ nào đó mà lại muốn đổi qua cầm món khác thì mình phải bỏ món đồ đang cầm xuống, như vậy thì mới cầm được cái mới. Tâm của chúng ta cũng vậy, muốn đi vào dòng pháp để nhận diện được thân tâm ngũ uẩn của mình thì phải từ từ xả bỏ những điều đã quen, đã huân tập trước đó. Dần dần, nhờ sự quyết tâm, mạnh mẽ, dứt khoát trong tâm, chúng ta sẽ làm được. Sự dứt khoát rất quan trọng vì nhiều khi trong tâm chưa muốn bỏ thì sẽ không bỏ được, thế nên mình cần phải xem xét kĩ lại.
Cô cũng đã có nhiều thời gian nghe pháp, thực tập tại đây, đến nay thì không phải là mới nữa. Thế nên, phải suy nghĩ chín chắn để quyết định để chọn một. Nếu thấy không có duyên với pháp này thì cô có thể mình trở về với con đường trước giờ đã thực tập, tìm chỗ nào phù hợp để thực tập pháp mình ưa thích. Còn nếu ở đây thì phải thực tập theo đường lối kinh Nikāya, bỏ những cái cũ. Không thể hai chân đứng trên hai chiếc xuống, như vậy sẽ không đi được đến đâu. Phải nhất hướng, đứng cả hai chân trên một con thuyền, không thể mỗi chân đứng trên mỗi chiếc thuyền ở hai bên.
Có nhiều góc độ để chúng ta nhìn. Trường hợp do thói quen chứ thật sự không muốn điều đó thì từ từ mình sẽ xả bỏ được để an trú trong pháp hành này. Còn trong thân tâm ta thật sự không muốn bỏ pháp cũ thì trường hợp này là khác. Khi đó, phải nhìn kĩ lại, xem duyên của mình ở pháp nào thì đi theo pháp đó.
Minh Thành nhắc lại:
Thứ nhất, trong tâm không muốn, nhưng vì thói quen nên vẫn sanh khởi pháp cũ thì từ từ sẽ bỏ được.
Thứ hai, sâu thẳm trong tâm vẫn còn ưa thích pháp cũ, không muốn bỏ thì nên suy xét thật kĩ để chỉ chọn một pháp.
VI. Vì sao bác sỹ không ly tham?
Câu hỏi 2: Những người bác sĩ phẫu thuật, mỗi ngày đều nhìn thấy ruột, gan, phèo, phổi, máu mủ, vậy tại sao họ không chứng nhập trí bất tịnh?
Mỗi ngày đều nhìn thấy, đều tiếp xúc với ruột, gan, phèo, phổi, máu mủ, nhưng những người bác sĩ không chứng nhập được trí bất tịnh là do họ không đặt tâm vào hướng đó. Hướng đặt tâm của họ là nhằm mục đích trị bệnh chứ không phải đặt tâm với mục đích chứng nhập trí tuệ bất tịnh, vô ngã. Vì vậy, phải đặt tâm đúng hướng mới xuyên thủng được khối vô minh uẩn to lớn. Có một bài kinh nói về một loại cỏ rất bén ở Ấn Độ, Đức Phật nói cầm đúng cách thì không sao, nhưng nếu cầm không đúng cách thì sẽ đứt tay.
Ví dụ dễ hiểu, đối với con dao, nếu cầm cán dao thì mình làm việc được, còn nếu cầm lưỡi dao thì sẽ bị đứt tay, chảy máu. Người đời đối với tất cả mọi cái họ làm, trong mọi ngành nghề ở thế gian đều theo chiều hướng phục vụ cho ngũ uẩn, tham ái và bản ngã. Còn người tu là tu để đi ra những thứ đó, thế nên mới gọi là “nghịch lưu” tức là “ngược dòng”. Chúng ta dùng Ba Mươi Hai Thể Trược để thẩm thấu, quán chiếu nhằm thoát ra sự tham ái, ưa thích vào trong những thứ đó. Tuy rằng cùng nhìn vào Ba Mươi Hai Thể Trược là giống nhau nhưng sự hướng tâm giữa người đời và người tu lại khác nhau. Ở phía những người bác sĩ là để trị bệnh, đó cũng là pháp tốt, giúp cho mọi người được khỏi bệnh, được an ổn. Còn phía những người tu thì đó chính là Thánh Pháp để xuất ly năm uẩn, đoạn tận tham ái, chấp thủ. Hai hướng này hoàn toàn khác nhau.
Ví dụ: lần đầu tiên bước vào Vân Thủy Đường, mọi người đều thấy đẹp, thanh thoát. Chúng ta trang trí như vậy để mọi người nhẹ nhàng, thảnh thơi, dễ chịu để tu. Và cũng có nhiều chỗ giống như vậy, nhưng đó là quán cà phê, khu du lịch. Qua đó, chúng ta thấy rằng, cái đẹp có thể giống nhau, nhưng mục đích, động cơ là khác nhau. Một nơi là đẹp, thanh thoát, nhẹ nhàng để mọi người tu; còn cái đẹp kia là để người ta thích và bỏ tiền ra. Thành ra sự tiếp xúc, hình dáng hai bên cùng nhìn thấy là giống nhau, nhưng mục đích, động cơ là khác nhau. Cũng như, tụng kinh Nikāya là chúng ta đặt tâm theo đúng tinh thần mà Đức Phật dạy, đó là ly tham.
Như vậy, sự vi tế là phải nắm được tổng cương lĩnh của giáo pháp, bằng không nhìn bề ngoài giống nhưng thật chất không phải. Ngay cả cùng trong giờ ngồi thiền, nhưng trong tâm mỗi người là khác nhau. Cho nên, vấn đề quan trọng là chỗ nhắm, mục tiêu, chỗ hướng đến. Chính trong sự xuất gia cũng có nhiều động cơ để xuất gia. Người chân chân chánh chánh xuất gia để đoạn tận sanh tử là cực kì hiếm hoi. Người thật sự đặt tâm hướng đến chỗ đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, diệt tận khổ đau, chấm dứt sanh tử mới được gọi là bốn đôi tám chúng, là đệ tử chân chánh của Đức Phật. Không phải nhìn thấy xuất gia thì ai cũng giống ai, tuy nhiên, nhìn hình tướng để phân biệt, rồi bất kính với người xuất gia thì là lỗi của mình, vì đó là do cá nhân của mỗi người, Đức Phật không dạy như vậy.
Điều quan trọng trong sự tu hành là đặt tâm đúng hướng, nhắm thẳng mục tiêu, kiên trì để đạt đến đích. Mọi điều chúng ta suy nghĩ, nói năng, hành động, làm việc đều hướng đến mục tiêu đó. Lấy chánh kiến làm tiêu chuẩn trong sự tu học. Chánh kiến là thấy được năm uẩn; thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã; thấy được tính chất không đáng tham muốn, tính chất bại hoại, hoại diệt, tan nát, tan hoại, hủy hoại của ngũ uẩn và tâm mong cầu ra khỏi, xuất ly, thoát ly, giải thoát. Đó chính là đặt tâm đúng hướng, ngoài những cái đó ra thì những cái khác là chúng ta bị lệch hướng. Cho nên, thật sự chân chân chánh chánh chỉ để nhận thức đúng về đạo Phật đã là rất khó, chưa nói đến tu đúng Chánh Pháp và thành tựu, người được như vậy thật sự là bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
./.
TÂM TỪ VI DIỆU 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Căn bản của đạo đức PAGEREF _Toc76306836 \h 1
II. Bài quán trải tâm từ PAGEREF _Toc76306837 \h 3
III. Giá trị của bài quán PAGEREF _Toc76306838 \h 5
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc76306839 \h 6
1. Sư cô Tuệ Tâm: PAGEREF _Toc76306840 \h 6
2. Sư cô Hạnh Trí: PAGEREF _Toc76306841 \h 8
3. Chú Dũng: PAGEREF _Toc76306842 \h 9
4. Sư cô Tuệ Đức: PAGEREF _Toc76306843 \h 12
V. Vấn đề pháp môn PAGEREF _Toc76306844 \h 13
VI. Vì sao bác sỹ không ly tham? PAGEREF _Toc76306845 \h 14
I. Căn bản của đạo đức
Tiến tới một mức nữa là đạo đức, nhân nghĩa đang dần dần sụp đổ ngay cả đối với người xuất gia. Minh Thành nhắc điều này với các thầy, các cô, các chú bởi vì đây là vấn đề rất quan trọng.
Khi Minh Thành về chùa Hoằng Pháp, dù chỉ một ngày trong khóa tu vừa rồi, nhưng có khi Minh Thành cảm thấy ngại. Thầy Phó Trụ Trì chứ không phải đại chúng bình thường, nhưng bất cứ lúc nào khi đi ra đi vào gặp Minh Thành cũng đều chắp tay xá chào. Cả những bảo vệ, Phật tử, bất cứ lúc nào gặp Minh Thành cũng đều xá sâu xuống. Còn chúng ta, nói rằng mình tu sâu sắc Chánh Pháp, nói tới Thánh quả, nói tới những điều cao siêu trên trời nhưng những điều đó, những nền tảng căn bản mình vẫn chưa thực hiện được. Có khi thấy quý thầy, quý sư cô đi đến mà vẫn cứ trơ trơ giống như không nhìn thấy.
Cho nên, cần phải nhìn nhận lại để thấy nguyên nhân tại sao chúng ta tu học không thành tựu, không viên mãn hợp pháp, không viên mãn tâm cung kính, không đầy đủ giới hạnh, đức hạnh của người tu. Phật tử bây giờ cứ thấy quý thầy là ào ào đến chụp hình, như vậy là mất hết sự tôn nghiêm, cung kính, trách nhiệm này là của ai, chính là do mình không chỉ dẫn cho họ.
Sống là phải có trước, có sau, có tình, có nghĩa, có ân, có đức. Thật sự rất xót xa khi nhìn xã hội bây giờ, ngay cả trong chùa cũng thiếu sự nhân nghĩa, đạo đức, cung kính. Những điều này thiếu đi thì loài người dần dần sẽ giảm thiểu, ba đường ác tăng trưởng. Thế nên, chúng ta thấy đại họa, thảm họa xảy ra liên tục, tuổi thọ con người giảm xuống, ác nghiệp ngày càng hừng hực. Ngoài miền Bắc nước ta bị cháy rừng, hàng ngàn người phải đi dập lửa, hơn nữa còn xảy ra động đất mấy lần trong vòng vài ngày. Khí hậu, thời tiết cũng đang biến đổi, chiến tranh, động đất, dịch bệnh tràn lan. Con người ngày càng hung ác, bạo tàn, gian hiểm, độc địa: vợ giết chồng, cha giết con, con giết mẹ, anh em chém hại lẫn nhau, trò thưa kiện thầy, huynh đệ tương tàn. Đó là những báo động rất lớn, đại họa sẽ xảy ra tiếp tục chứ không phải dừng lại ở đây. Nhân nghĩa, đạo đức sụp đổ; tham, sân, si lừng lẫy; thế giới sẽ chìm ngập trong bóng đêm của ác nghiệp.
Minh Thành chỉ nêu ra những chuyện nhỏ để đại chúng chiêm nghiệm. Ngay tại mảnh đất này, Minh Thành muốn đại chúng được an ổn, tinh tấn tu hành, nên Minh Thành ít nói những chuyện mình phải gặp từ khi vào dòng pháp này. Có trùng trùng, thập diện mai phục, vô số những thế lực vô hình và hữu hình ngăn trở, phá hoại, không đơn giản để chúng ta được ngồi ở đây tu học.
Cho nên, mỗi một ngày chúng ta tu ở đây, mỗi một giờ chúng ta được ngồi đây đều phải trân trọng. Mọi người phải đánh đổi rất nhiều trong âm thầm để chúng ta an ổn tu hành. Xót xa lắm! Chùa tranh vách lá như thế này, mà người ta cứ lên câu tiền trong thùng phước sương, họ cạy cửa, phá cửa, đập cửa để vào lấy tiền. Vì vậy, để cho chúng ta có một sự yên tĩnh tu hành thì phải đánh đổi rất lớn, có nhiều người luôn âm thầm lo lắng cho mình. Minh Thành nói ra không phải để than thở, khoe công mà vì để cho đại chúng hiểu thêm, đừng để mình được an ổn tu mà lại không chịu tu, không biết trân trọng.
Chúng ta phải thực tập căn bản của đạo đức. Phải nuôi dưỡng lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, khoan nói đến báo ơn. Vì tu học chân chánh đó chính là báo ơn. Sống phải có nhân nghĩa, có đạo đức, có trước sau, có trên dưới, phải tương hoà, tương kính, hòa nhau, kính nhau. Thật sự trong mấy mươi năm qua, ngay khi chưa vào dòng pháp này, Minh Thành luôn luôn thực tập, luôn luôn dùng tâm từ và luôn luôn thi ân báo đức. Cho nên ngày giờ này, chúng ta mới an ổn tu tập trong Thánh Pháp. Đối với tất cả những người đối đãi ác, vong ân bội nghĩa, Minh Thành đều diệt tận tâm oán hận, phiền trách và dùng tâm từ đến với họ.
II. Bài quán trải tâm từ
Chúng ta sẽ tìm hiểu bài quán “Trải Tâm Từ”, Minh Thành còn dùng từ “hóa giải nghiệp chướng”, đây là cách vi diệu nhất để chúng ta hóa giải nghiệp chướng. Từ cái nhỏ, cái vừa cho đến cái lớn, đều phải sử dụng tâm từ. Ví dụ: trong huynh đệ có chuyện buồn, làm ta bực bội, thì phải trải tâm từ để hóa giải nghiệp chướng. Khi mình bực bội, hoặc người kia bực bội thì đều dùng tâm từ để hóa giải nghiệp chướng. Đi vào chuyện đó là đi vào nghiệp chướng, nghiệp quả, ác nghiệp. Cho nên, đối với tất cả các đối tượng làm hại, làm khổ, làm khó, ngăn chướng mình thì luôn luôn lúc nào cũng sử dụng tâm từ, Như Lý Tác Ý bằng tâm từ, trải tâm từ thì mới hóa giải được nghiệp chướng.
Bài quán này dành cho người mới bắt đầu tu tập tâm từ. Quán thường trong ngày và quán trước khi ngủ. Có thể áp dụng bài quán này khi có cảm giác sợ hãi, bất an khi đi trong đêm vắng hay khi ở một mình...
Phải thường xuyên thực tập thì lúc hữu dụng mình cần thì nó mới có hiệu quả, còn nếu như đợi đến lúc sợ hãi, lúc bất an, lúc có chuyện, lúc sân hận thì mình trải không kịp. Vì vậy, phải thực tập thuần thục.
***
Cách quán 1: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình. Lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài, mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này. Tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, an lạc - bình an - trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Cách quán 2: Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình, cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc an ổn này cũng đến với chư vị nơi này (sơn thần, địa thần, thổ thần, tất cả những chúng sanh vô hình, hữu hình), chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này (trong đó có : người thân, người quán,…). Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an. Nhờ lạc thọ này mà tâm được định, nhờ sự định tĩnh này mà trí tuệ được sáng tỏ, thấy rõ thân năm uẩn này sanh diệt vô thường, tâm chán ngán từ bỏ lòng tham ái đối với năm uẩn, thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, an lạc - bình an - trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
Con xin mời tất cả các chư vị hữu tình ở nơi đây và ở khắp mọi nơi, xin hãy cùng với con đảnh lễ bảy Đức Thế Tôn – bảy bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã đạt được tâm trong sạch thanh tịnh giải thoát.
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Sikhì (Thi-khí)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Vessabhu (Tỳ-xá-phù)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Kakusandha (Câu-lưu-tôn)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Konàgamanan (Câu-na-hàm)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn Mahà Sakyamuni (Đại Thích-ca-mâu-ni Cù-đàm)
Cúi đầu đảnh lễ các Ngài
Các Bậc an tịnh trầm lặng
Vâng lời dạy của các Ngài
Con xin tập Tâm trầm lặng.
***
III. Giá trị của bài quán
Đại chúng cố gắng học thuộc lòng bài quán này. Sau mỗi thời ngồi thiền, đọc bài quán này lên và lạy bảy Đức Phật. Đây là báu vật, cũng chính là lá bùa hộ mệnh trong suốt cuộc đời tu tập của Minh Thành và cũng từ đây để có ra được Linh Quy Pháp Ấn – một nơi tu tập Chánh Pháp. Cho nên, Minh Thành mong tất cả trong đại chúng hãy tu tâm từ thành cỗ xe, thành căn cứ địa; tu tâm từ một cách điêu luyện, nhuần nhuyễn, thuần thục, thiện xảo và an trú thường trực, như vậy mới có thể hóa giải được nghiệp chướng. Bằng không tuy miệng nói tu nhưng mình đang tạo nghiệp.
Minh Thành sẽ giảng giải ra để mọi người hiểu được tầm vóc, giá trị, ý nghĩa và công năng của tâm từ. Chúng ta thấy rằng, dù ta cạo mái đầu, đắp chiếc y lên nhưng không có nghĩa là tâm mình hoàn toàn được thay đổi. Các chú cư sĩ cũng vậy, không phải mặc lên người chiếc áo lam, vào trong chùa là hết được tham, sân, si. Vào chùa rồi nhưng vẫn sân hận người này, tức giận người kia, khó chịu người nọ mà không sử dụng tâm từ này để hóa giải là chúng ta vẫn đang tạo nghiệp. Nghiệp cũ chưa giải quyết xong, nghiệp mới lại đến thì chúng ta tu đến chừng nào mới sạch nghiệp, hết nghiệp.
Chính vì vậy, phải tập xem những người gây ra cho mình đau khổ, mất mát, đau thương trong cuộc đời này là ân nhân. Nhờ đó, ta nhìn thấy được bản chất gian trá, xảo ngụy, giả dối, vô thường, trống rỗng của đời sống này để mình phát tâm tu hành. Phải cảm ơn thật nhiều những người làm khổ mình, đừng sân hận với họ, đó chính là đại ân nhân giúp mình thoát ly sanh tử.
Cuộc đời Minh Thành có rất nhiều điều lạ, nhưng thật sự chính nhờ tâm từ mà hóa giải được rất nhiều nghiệp chướng trong quá khứ, hiện tại, cũng như tương lai. Đây là sự che chắn, bảo vệ, bảo hộ bình an thật sự cho chúng ta. Minh Thành gặp rất nhiều chuyện xảy đến, đối với người bình thường không biết tu sẽ xem đó là đại sự khủng khiếp, đổ vỡ, tan nát, lớn lao, nhưng nhờ tâm từ, nhờ cách quán chiếu Như Lý Tác Ý mà Minh Thành được bình an kỳ diệu.
Những chuyện này bảy ngày bảy đêm cũng kể không hết được. Phải tu tập tâm từ, thực tập tâm từ, nuôi lớn tâm từ, chăm sóc tâm từ. Phải tăng trưởng, phát triển, làm cho quảng đại, làm thành cỗ xe, căn cứ địa ở trong tâm từ. Hãy nhìn những người làm chúng ta khổ đau, những người ghét mình, thù mình, hận mình, khó chịu với mình như là những bậc đại ân nhân, đại thí chủ.
Mời đại chúng chia sẻ về công năng, tác dụng của tâm từ mà chúng ta đã từng thực tập. Ví dụ, chúng ta bị sân hận, nhưng nhờ thực tập tâm từ nên chuyển hóa được.
IV. Trình pháp
1. Sư cô Tuệ Tâm:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, kính bạch quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ một chút về hoàn cảnh của mình và sự thực tập tâm từ trong cuộc sống.
Kính thưa sư phụ, con xuất thân trong gia đình có ông bà nội theo đạo Thiên Chúa, rất giàu có. Nhưng trong sự giàu có đó chỉ toàn là danh vọng, tiền tài và bao nhiêu thứ khác theo con được biết ở bên ngoài là bất thiện pháp. Bố con sống trong gia đình đó nhưng không chấp nhận được cuộc sống giả tạo đó. Trong gia đình con có một người chú có tâm không tốt, tranh giành, chiếm đoạt gia tài và hại bố con. Đỉnh điểm là chú thuê người ám sát bố con, nhưng bố vượt qua được nhờ sự che chở. Cả gia đình chúng con bỏ hết vật chất, gia tài và toàn quyền cho người chú sử dụng.
Gia đình con lúc đó rất bơ vơ, không có nơi nương tựa nên bố mới dẫn dắt gia đình hướng theo đạo Phật và cả nhà con cuối cung cũng vượt qua sóng gió. Từ gia đình giàu có bậc nhất ở khu quận 3, mà phải sống trong cảnh gọi là địa ngục trần gian, sống trong ngôi nhà to lớn nhưng phải cầm cố, cho người này thuê, người kia mướn và phải ngủ trong một diện tích rất nhỏ, chỉ vừa đủ chỗ nằm. Những người thuê, mướn đó đi ngang qua ngang lại trên đầu trên cổ, thậm chí đạp lên chân, lên tay của chúng con, rất là khổ. Rồi gia đình con cũng vuợt qua và sống đời sống lương thiện, buôn gánh bán bưng, bỏ qua tất cả những tài sản mà gia đình có thể lấy được.
Có rất nhiều người muốn giúp bố con đứng lên giành lại quyền hưởng tài sản nhưng bố con bỏ qua hết tất cả và gia đình con sống nương nhờ vào giáo lý của đạo Phật, bằng tâm từ. Nhưng vì không ai hướng dẫn, nên gia đình con cứ nghĩ bỏ hết tất cả để tâm được thanh thản. Kính thưa sư phụ, cho đến khi gia đình con gặp được chùa Hoằng Pháp, gặp được sư phụ, tất cả mọi người đều quy y làm Phật tử chùa Hoằng Pháp, các anh chị em con biết được thế nào là ý nghĩa của một người con Phật. Con không biết rằng, chính những tâm từ, tâm buông bỏ từ thuở trước gia đình con thực tập mà nó đã trở thành căn cứ để giúp gia đình con có được cuộc sống bình an, an lành, may mắn.
Ngày giờ đây, con đã gặp được sư phụ, gặp được Chánh Pháp. Hôm nay con thật sự cảm động khi sư phụ chia sẻ được những tâm từ và quán tâm từ. Đây là những phương pháp con đã thực tập từ trước khi con xuất gia và hôm nay nghe bài pháp này càng sâu sắc hơn nữa. Con nguyện tâm từ là báu vật trong suốt cuộc đời con, tâm từ đã giúp con được bình an, giúp gia đình con vượt qua được rất nhiều sóng gió. Con xin chia sẻ và gửi lời tri ân đến sư phụ, tri ân đến dòng Thánh Pháp này đã giúp con nhận thức sâu sắc được những bất hạnh của mình chính là những căn cơ giúp con tiến sâu vào đạo.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
2. Sư cô Hạnh Trí:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính ngưỡng bái bạch lên sư phụ, con ngưỡng bái bạch lên Chư Tôn Đức Tăng, Chư Tôn Đức Ni, con kính ngưỡng bái bạch hiền đức Phật tử. Con kính xin chia sẻ một chút về sự thực tập tâm từ, công năng và giá trị của tâm từ trong sự thực tập. Nhờ đó, con đã được vượt qua được những oan nghiệp, những chướng duyên trong cuộc sống tu tập.
Đây là câu chuyện cách đây gần hơn 10 năm. Khi mới bước vào chùa, con là người rất mới và con tinh tấn, nỗ lực tu học. Không lúc nào dám để tâm mình buông lung. Cho nên mỗi khi học xong, con đều viết một tờ giấy, bỏ vào túi để học bài. Con cố gắng học thuộc tất cả giới luật và những gì được chỉ dạy. Ngoài ra, những giờ công phu, công quả con cũng cố gắng hết mình. Con học thuộc bốn cuốn Luật và những oai nghi thì sư bà cho thọ giới. Sau một thời gian cố gắng, sư bà cho con thọ Sa-di, rồi thọ Tỳ. Trong đó có một cô không siêng học, nhưng mãi đứng sau con nên từ đó có sự hình thành sự ganh tỵ rất sâu sắc. Cô đó rất ghét con, thấy con ở đâu là ở đó cô nổi sân và rất khó chịu.
Con thấy rất là khổ, không biết làm như thế nào. Lúc đó, con thấy đó là nghiệp chướng của mình, thấy rằng mình tội nghiệp và người kia cũng rất đáng thương. Lúc đó con chưa gặp Chánh Pháp, con thường tranh thủ thời gian rảnh lên lạy Phật sám hối nghiệp chướng. Mỗi cái lạy con đều hướng tâm đến cô đó và trải lòng từ, hướng tâm đến tất cả những gì con tu tập được để giải oan gia nghiệp chướng này. Suốt thời gian 7 năm con hành trì như vậy, đi bất cứ đâu con cũng mua quà về cho cô, con lấy ân để trả oán. Nhờ sự thực tập kiên trì, con thấy nghiệp chướng được hóa giải, cho đến khi cô ấy thương lại con thì lúc đó nhân quả con đã hết, con đã trả xong nhân quả đó.
Hôm nay sư phụ chia sẻ về công năng của tâm từ, con mới thấu hiểu một cách rõ ràng tại sao mình bị như vậy nhưng mình không oán ghét người, mà lấy tình thường, sự từ bi để trải lòng ra thì nghiệp chướng tự động biến mất một cách tự nhiên. Con thật sự tri ân và biết ân đến sư phụ. Khi thấy được giá trị, tầm quan trọng của tâm từ, con nguyện lấy đó làm hành trang, nền tảng tu tập hằng ngày để chuyển hóa tất cả những oan nghiệp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
3. Chú Dũng:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ câu chuyện cũng nhờ tâm từ mà con tránh được những cuộc thanh toán đẫm máu và tránh được sự tạo ác nghiệp. Chính thời điểm đó, con bắt đầu tìm hiểu và tu tập trong đạo Phật.
Đó là những năm 2017, sau khi con quay về Đà Lạt sau hơn hai mươi mấy năm sống và lập nghiệp tại Sài Gòn. Khi quyết định quay về Đà Lạt, lúc đó vào mùa mưa, rằm tháng 8, khi về Đà Lạt sống, có người đến mua đất ở kế bên, do đất đai ở khu vực đó đang sốt. Người này thuê những người khác canh lúc mưa để nhảy vào cắm cọc, lấn tầm một mét rưỡi đất mặt tiền. Vị này chỉ biết trước giờ chỉ có hai ông bà già, tức là cha mẹ con ở thôi, còn tất cả anh em con đều sống ở Sài Gòn. Khi sự tranh chấp xảy ra như vậy thì trong con khởi lên sự căm thù mãnh liệt. Trong đầu con khởi lên kế hoạch phải trừng trị, làm thế nào để gia đình người này dọn nhà biến khỏi đất Lâm Đồng và công an không làm gì được con.
Qua hai đêm suy nghĩ, con lên kế hoạch chi tiết cùng các huynh đệ sau khi điều tra toàn bộ đường đi nước bước, hoạt động của vị đại gia đó. Con có hai đêm không ngủ được vì kế hoạch và lòng sân hận thôi thúc không ăn uống được. Đến đêm thứ hai, con trằn trọc đến khoảng gần 1 giờ đêm, sự sân hận lên đến gần đỉnh điểm, các huynh đệ thì chờ con ra lệnh. Tình cờ khi đó con mở trang facebook, xem một clip được chia sẻ, có một vị Tăng khất sĩ ốm, ngồi bên bụi tre thuyết pháp. Hình ảnh này đối với con rất lạ, từ trước giờ con chỉ thấy những vị thầy trang nghiêm ngồi, to tròn, chứ con chưa thấy vị khất sĩ nhìn như người ăn xin, ngồi dưới đất ở một bụi tre thuyết pháp. Tò mò nên con vào xem, đó là sư Giác Khang ở Trà Vinh.
Trước giờ con nghe pháp chỉ được nghe về niệm Phật, nhưng khi nghe vị này con thật sự xúc động. Bài pháp con nghe cũng vào thời điểm đúng với trạng thái của con lúc đó. Sư có nói rất rõ về các nghiệp, do mình tạo các nghiệp quả, sự sân hận, lòng tham con người,… càng nghe con càng chiêm nghiệm theo thì thấy đúng với hoàn cảnh của mình. Trong đó sư cũng dạy về tâm từ đối với những người gây sân hận, đau khổ cho mình. Sư phân tích cũng rất chi tiết. Tuy chưa phải là bài pháp thuần về pháp Nguyên Thủy, nhưng bài pháp này làm con sanh khởi lên một cảm thọ, một cảm giác.
Khi nhìn nhận lại thân tâm, con thấy mình đã bị sự sân hận, hơn thua, tham lam áp bức. Con nhìn và quán chiếu sâu vào hậu quả của nó. Con chiệm nghiệm bản thân mình đã sống một thời gian dài, hơn hai mươi năm ở Sài Gòn, con đã tạo quá nhiều ác nghiệp, đã trả giá bằng hai lần phải ra đường ở. Lần cuối cùng là năm 2016, sau khi tán gia bại sản thì con mới về Đà Lạt. Khi chiệm nghiệm lại những ác nghiệp đã làm, những quả báo đã nhận, cộng với chuyện đêm đó nên con cảm thấy rất sợ hãi. Con thấy rằng người tranh giành đó cũng vì lòng tham.
Nếu không có bài pháp về lòng từ hôm đó thì con nghĩ về phía vị kia sẽ không biết vì sao họ phải nhận những hậu quả và cũng không biết là ai làm vì họ chưa gặp con bao giờ. Bản thân con có thể đã có thể tạo thêm những ác nghiệp, có thể đã làm cuộc đời mình rơi rớt vào hố vực thẳm sâu hơn. Nhưng nhờ nghe pháp xong và nhìn lại nội tâm, tác ý thì sự sân hận lập tức tan đi. Khi đi ngang qua chỗ người ta cắm cọc, con đứng nhìn vào đó, suy nghĩ về vị đó, trong tâm con khởi lên suy nghĩ nếu lúc đó con gặp vị đó thì con sẽ nói như thế nào, thái độ sẽ ra sao? Với sự sân hận đã được bỏ đi thì sẽ nói với họ như thế nào với tình thương. Con chỉ suy nghĩ tới đó.
Đúng như vậy, thường mỗi buổi sáng con chạy thể dục 5 km, một buổi sáng con gặp mẹ con của vị đó, họ đến với bên đo đạc để vẽ giấy tờ đất đai. Con mới đến và hỏi cô đó đến để đo đất hay sao? Cô đó và hai người con không biết con là ai, chỉ thấy một người vạm vỡ, mặt mũi bặm trợn. Cô đó nói chuyện giọng rất run, hỏi con là ai, con mới nói mình là con của ông bà chủ đất ở đó. Nghe xong họ rất sợ hãi, sợ con sẽ làm gì họ, khi đó người con nhìn rất sát khí và hung hăng. Nhưng nhờ học bài tâm từ nên con có sự chuẩn bị trước, vì thế con nói chuyện nhã nhặn, hòa giải với họ nên hóa giải được sự tranh chấp này.
Qua đó, con thấy tâm từ thật sự rất vi diệu, nó làm thay đổi tâm ý, cuộc đời của một con người. Con xin chia sẻ đến đây. Con cũng xin đảnh lễ vị sư Giác Khang, người con chưa bao giờ gặp và nói chuyện.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
4. Sư cô Tuệ Đức:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con pháp danh Tuệ Đức, con xin thành tâm phát lồ sám hối. Hôm nhổ cỏ, sư phụ có chỉ dạy con về oai nghi, nhưng sau đó con có tâm chống đối, tâm nổi loạn và tâm thối thất. Sau khi nghe sư phụ giảng vào sáng hôm qua, con định tâm lại và luôn tác ý, suy nghĩ rằng, tâm cầu pháp, tâm cầu đạo buổi ban đầu đã đi đâu?
Đến đây là để cầu pháp, cầu đạo, nhưng khi sư phụ chỉ dạy thì lại có tâm thối thất. Nay trước sư phụ, quý thầy, quý sư cô, cùng toàn thể đại chúng xin hãy chứng minh cho con đây là tâm bản ngã. Tâm này làm con không tiến đến đạo pháp và không thành tựu. Con xin tri ân sư phụ đối với bài pháp hôm qua và hôm nay, xin sư phụ từ bi, hoan hỷ tha thứ cho con vì sự vô minh, vì sự tu tập còn non kém, sự hiểu biết nông cạn làm cho con có tâm thối thất. Nay con xin sư phụ từ nay về sau, thương con như đứa con nhỏ, chỉ dạy con nhiều hơn, cho con được tiến tu nhiều hơn để thành tựu trên đường đạo pháp mà con luôn mong cầu và thành tựu trên con đường đạo pháp.
Con xin trình pháp về ngày tu tập hôm qua và hôm nay. Kính mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô chứng minh và chỉ dạy cho con thêm về sự ngồi thiền trong tu tập. Trước đây, con tu Tịnh Độ, khi sư phụ nhắc nhở, con có ý nghĩ không biết mình có khả năng tu trong dòng pháp này hay không, vì dòng pháp này nhận diện rất vi tế, rất sâu sắc. Khi con ngồi thiền thì câu Phật hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” lại tuôn chảy từ miệng con như một dòng nước, hai bên tai con đều nghe tiếng niệm Phật. Con tác ý quán bộ xương thì lại thấy Đức Phật A Di Đà ngồi. Con không biết đường tu tập con sẽ như thế nào? Con xin sư phụ từ bi, thương xót khai thị, chỉ dạy để con tiến thêm trên bước đường đạo pháp.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
***
V. Vấn đề pháp môn
Câu hỏi 1: Tu theo dòng pháp Nikāya, nhưng khi ngồi thiền, câu Phật hiệu “Nam mô A Di Đà Phật” tuôn chảy từ miệng như một dòng nước, hai bên tai đều nghe tiếng niệm Phật. Tác ý quán bộ xương thì lại thấy Đức Phật A Di Đà ngồi. Như vậy, con đường tu tập phải thế nào?
Điều gì cũng do mình tập thành quen. Ở ngoài đời, thích nghe bài nhạc nào thì chúng ta sẽ thường nghe bài nhạc đó, lâu lâu khi ngồi lại, âm thanh của bài nhạc sẽ vang lên trong đầu mình. Câu niệm Phật cũng giống vậy, chúng ta huân tập thì cũng sẽ thành quen, ngay bản thân Minh Thành lúc đầu cũng thế. Tuy nhiên, chúng ta từ từ phải xả bỏ để trú vào pháp Nikāya mình đang thực tập. Cứ thấy xuất hiện câu niệm Phật dthì mình xả bỏ rồi trú vào pháp, cứ vậy dần dần rồi sẽ quen. Chúng ta phải tập dần dần, không phải vừa đi vào dòng pháp này, nói bỏ những cái cũ là bỏ được ngay.
Hơn nữa, phải để ý, nếu không tiếng niệm Phật sanh khởi lên là mình đi theo, như vậy, nếu mình chưa có ý muốn bỏ thì sẽ không bỏ được. Vì vậy, phải có ý muốn xả bỏ. Giống như trước giờ, khi đang cầm một món đồ nào đó mà lại muốn đổi qua cầm món khác thì mình phải bỏ món đồ đang cầm xuống, như vậy thì mới cầm được cái mới. Tâm của chúng ta cũng vậy, muốn đi vào dòng pháp để nhận diện được thân tâm ngũ uẩn của mình thì phải từ từ xả bỏ những điều đã quen, đã huân tập trước đó. Dần dần, nhờ sự quyết tâm, mạnh mẽ, dứt khoát trong tâm, chúng ta sẽ làm được. Sự dứt khoát rất quan trọng vì nhiều khi trong tâm chưa muốn bỏ thì sẽ không bỏ được, thế nên mình cần phải xem xét kĩ lại.
Cô cũng đã có nhiều thời gian nghe pháp, thực tập tại đây, đến nay thì không phải là mới nữa. Thế nên, phải suy nghĩ chín chắn để quyết định để chọn một. Nếu thấy không có duyên với pháp này thì cô có thể mình trở về với con đường trước giờ đã thực tập, tìm chỗ nào phù hợp để thực tập pháp mình ưa thích. Còn nếu ở đây thì phải thực tập theo đường lối kinh Nikāya, bỏ những cái cũ. Không thể hai chân đứng trên hai chiếc xuống, như vậy sẽ không đi được đến đâu. Phải nhất hướng, đứng cả hai chân trên một con thuyền, không thể mỗi chân đứng trên mỗi chiếc thuyền ở hai bên.
Có nhiều góc độ để chúng ta nhìn. Trường hợp do thói quen chứ thật sự không muốn điều đó thì từ từ mình sẽ xả bỏ được để an trú trong pháp hành này. Còn trong thân tâm ta thật sự không muốn bỏ pháp cũ thì trường hợp này là khác. Khi đó, phải nhìn kĩ lại, xem duyên của mình ở pháp nào thì đi theo pháp đó.
Minh Thành nhắc lại:
Thứ nhất, trong tâm không muốn, nhưng vì thói quen nên vẫn sanh khởi pháp cũ thì từ từ sẽ bỏ được.
Thứ hai, sâu thẳm trong tâm vẫn còn ưa thích pháp cũ, không muốn bỏ thì nên suy xét thật kĩ để chỉ chọn một pháp.
VI. Vì sao bác sỹ không ly tham?
Câu hỏi 2: Những người bác sĩ phẫu thuật, mỗi ngày đều nhìn thấy ruột, gan, phèo, phổi, máu mủ, vậy tại sao họ không chứng nhập trí bất tịnh?
Mỗi ngày đều nhìn thấy, đều tiếp xúc với ruột, gan, phèo, phổi, máu mủ, nhưng những người bác sĩ không chứng nhập được trí bất tịnh là do họ không đặt tâm vào hướng đó. Hướng đặt tâm của họ là nhằm mục đích trị bệnh chứ không phải đặt tâm với mục đích chứng nhập trí tuệ bất tịnh, vô ngã. Vì vậy, phải đặt tâm đúng hướng mới xuyên thủng được khối vô minh uẩn to lớn. Có một bài kinh nói về một loại cỏ rất bén ở Ấn Độ, Đức Phật nói cầm đúng cách thì không sao, nhưng nếu cầm không đúng cách thì sẽ đứt tay.
Ví dụ dễ hiểu, đối với con dao, nếu cầm cán dao thì mình làm việc được, còn nếu cầm lưỡi dao thì sẽ bị đứt tay, chảy máu. Người đời đối với tất cả mọi cái họ làm, trong mọi ngành nghề ở thế gian đều theo chiều hướng phục vụ cho ngũ uẩn, tham ái và bản ngã. Còn người tu là tu để đi ra những thứ đó, thế nên mới gọi là “nghịch lưu” tức là “ngược dòng”. Chúng ta dùng Ba Mươi Hai Thể Trược để thẩm thấu, quán chiếu nhằm thoát ra sự tham ái, ưa thích vào trong những thứ đó. Tuy rằng cùng nhìn vào Ba Mươi Hai Thể Trược là giống nhau nhưng sự hướng tâm giữa người đời và người tu lại khác nhau. Ở phía những người bác sĩ là để trị bệnh, đó cũng là pháp tốt, giúp cho mọi người được khỏi bệnh, được an ổn. Còn phía những người tu thì đó chính là Thánh Pháp để xuất ly năm uẩn, đoạn tận tham ái, chấp thủ. Hai hướng này hoàn toàn khác nhau.
Ví dụ: lần đầu tiên bước vào Vân Thủy Đường, mọi người đều thấy đẹp, thanh thoát. Chúng ta trang trí như vậy để mọi người nhẹ nhàng, thảnh thơi, dễ chịu để tu. Và cũng có nhiều chỗ giống như vậy, nhưng đó là quán cà phê, khu du lịch. Qua đó, chúng ta thấy rằng, cái đẹp có thể giống nhau, nhưng mục đích, động cơ là khác nhau. Một nơi là đẹp, thanh thoát, nhẹ nhàng để mọi người tu; còn cái đẹp kia là để người ta thích và bỏ tiền ra. Thành ra sự tiếp xúc, hình dáng hai bên cùng nhìn thấy là giống nhau, nhưng mục đích, động cơ là khác nhau. Cũng như, tụng kinh Nikāya là chúng ta đặt tâm theo đúng tinh thần mà Đức Phật dạy, đó là ly tham.
Như vậy, sự vi tế là phải nắm được tổng cương lĩnh của giáo pháp, bằng không nhìn bề ngoài giống nhưng thật chất không phải. Ngay cả cùng trong giờ ngồi thiền, nhưng trong tâm mỗi người là khác nhau. Cho nên, vấn đề quan trọng là chỗ nhắm, mục tiêu, chỗ hướng đến. Chính trong sự xuất gia cũng có nhiều động cơ để xuất gia. Người chân chân chánh chánh xuất gia để đoạn tận sanh tử là cực kì hiếm hoi. Người thật sự đặt tâm hướng đến chỗ đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, diệt tận khổ đau, chấm dứt sanh tử mới được gọi là bốn đôi tám chúng, là đệ tử chân chánh của Đức Phật. Không phải nhìn thấy xuất gia thì ai cũng giống ai, tuy nhiên, nhìn hình tướng để phân biệt, rồi bất kính với người xuất gia thì là lỗi của mình, vì đó là do cá nhân của mỗi người, Đức Phật không dạy như vậy.
Điều quan trọng trong sự tu hành là đặt tâm đúng hướng, nhắm thẳng mục tiêu, kiên trì để đạt đến đích. Mọi điều chúng ta suy nghĩ, nói năng, hành động, làm việc đều hướng đến mục tiêu đó. Lấy chánh kiến làm tiêu chuẩn trong sự tu học. Chánh kiến là thấy được năm uẩn; thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã; thấy được tính chất không đáng tham muốn, tính chất bại hoại, hoại diệt, tan nát, tan hoại, hủy hoại của ngũ uẩn và tâm mong cầu ra khỏi, xuất ly, thoát ly, giải thoát. Đó chính là đặt tâm đúng hướng, ngoài những cái đó ra thì những cái khác là chúng ta bị lệch hướng. Cho nên, thật sự chân chân chánh chánh chỉ để nhận thức đúng về đạo Phật đã là rất khó, chưa nói đến tu đúng Chánh Pháp và thành tựu, người được như vậy thật sự là bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
./.