Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp hành vi diệu

2026-03-03 00:53:57
PHÁP HÀNH VI DIỆU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bản chất thân thể PAGEREF _Toc76714561 \h 1

1.Bài kinh “Hạng Người Ít Nghe” PAGEREF _Toc76714562 \h 1

2.Bài kinh “Bọt Nước”: PAGEREF _Toc76714563 \h 5

II.Nội soi tự tâm PAGEREF _Toc76714564 \h 6

1.Trí tuệ về thọ uẩn PAGEREF _Toc76714565 \h 6

2.Nhận diện ngũ uẩn và lợi ích của nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc76714566 \h 7

3.Chiếu phá tưởng uẩn PAGEREF _Toc76714567 \h 10

4.Chiếu phá hành uẩn PAGEREF _Toc76714568 \h 12

5.Diệt trừ bản ngã PAGEREF _Toc76714569 \h 16

III.Tổng kết PAGEREF _Toc76714570 \h 17

Bản chất thân thể

Ngưỡng bạch trên Hòa thượng Tôn Sư, chư Tăng tại bổn tự. Kính thưa toàn thể quý nam nữ Phật tử, cách đây hơn 20 năm, Minh Thành đã được học những lời dạy của Hòa thượng tôn sư Trụ trì của chúng ta từ Kinh Di Giáo ở tại trường hạ chùa Bửu Liên ở quận Bình Thạnh. Ngài là một trong những bậc trưởng lão tiên phong trong vấn đề truyền bá giáo pháp cội gốc của Đức Thế Tôn trong tạng kinh Nikāya, đó là những lời dạy gốc của Đức Phật. Sau 20 năm tương phùng tao ngộ gặp lại ở Linh Quy Pháp Ấn, tình nghĩa thầy trò vẫn dào dạt, mặn nồng. Sư ông lớn tuổi yếu ốm, bệnh tật, nhưng vẫn không ngại đường xa, hướng dẫn quý Phật tử về chỗ xa xôi hẻo lánh để làm từ thiện cho hơn 200 những người dân nghèo, thấy mặt sư ông xanh mét, mỏi mệt thì Minh Thành rất xúc động. Sau đó, Minh Thành thỉnh sư ông lên trên núi nghỉ ngơi và chia sẻ pháp thì lúc đó sư ông khỏe trở lại, như vậy là Chánh Pháp có khả năng trị liệu tật bệnh!

Ở trong tạng kinh Nikāya, Đức Thế Tôn và các vị Thánh tăng cũng thường dùng Pháp để trị bệnh. Vừa rồi Minh Thành giảng hai bài pháp, có đưa lên trang linhquyphapan.vn là bài “Mười Cách Quán Tưởng Trị Bệnh”, thường thường, có một người bệnh thì Đức Phật hoặc các bậc Thánh Tăng thường đến nói bảy pháp là Thất Giác Chi hoặc là Mười Cách Quán Tưởng thì người đó sẽ giảm bệnh hoặc lập tức ngay chỗ đó hết bệnh. Đây là sự thần diệu của Chánh Pháp mà có thể chúng ta chưa thực tập nhiều. Cho nên, hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu đến quý vị phương pháp thực hành, bởi vì Minh Thành biết quý vị học chắc là giỏi, nghe chắc là nhiều, nhưng mà hành thì chưa biết được bao nhiêu. Vì vậy, hôm nay Minh Thành chú trọng vào sự thực hành nhiều hơn.

Bài kinh “Hạng Người Ít Nghe”

Trong Tương Ưng Bộ kinh tập 2, có bài kinh “Hạng Người Ít Nghe”, tại sao ở đây lại dùng từ “hạng người ít nghe”? Ở trong kinh, Đức Phật thường dùng từ “Vô văn Phàm phu” và “Đa văn Thánh đệ tử”, tức là đệ tử của Đức Phật là những người nghe rất là nhiều nghe về Chánh Pháp; còn những người chưa được nghe Chánh Pháp thì Đức Phật gọi là vô văn phàm phu, họ nghe nhiều lắm mà nghe mấy chuyện khác chứ không chịu nghe Chánh Pháp. Thế nên, bài kinh này có tên là “Hạng Người Ít Nghe”, đây là bài kinh hết sức là sâu sắc.

“Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.

Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy được cái thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.

Do vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.

Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

Vì sao? Đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"

Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát. (Tương Ưng Bộ Kinh II, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, bài kinh Hạng Người Ít Nghe 1)

Câu kinh đơn giản như vậy nhưng ý nghĩa của nó hết sức thâm sâu.

Đầu tiên, chúng ta nói về thân này. Tại sao mình khổ đau? Tại sao mình suy nghĩ hoài? Tại sao mình lo lắng mãi? Tại sao mình cứ sợ hãi? Tại sao và tại sao? Thứ nhất là mình không thấy được bản chất thật sự của thân này. Mình không biết thật sự thân này là cái gì. Từ những yếu tố nào cấu tạo thành cái thân này. Vì sao cái thân này hoại diệt, chấm dứt và tan rã mình không biết mà mình bị ngộ nhận, nhận lầm, hiểu lầm, sai lầm và cho rằng cái đống thịt mấy chục kí lô này là tôi, là của tôi.

Cho nên cái đống thịt này ai mà khen là hỉnh lỗ mũi lên, ai mà chê thì nó xụ cái mặt xuống, tại vì mình tưởng cái đống thịt, khối thịt này là mình mà không biết rằng cái cục thịt này là bốn thứ tạo thành, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, biến hoại, hoại diệt là cái thân này. Rầm một cái là ra nghĩa địa, một tiếng rầm thôi là vào lò thiêu, chỉ cần trợt chân vấp ngã là nằm một chỗ đi không được. quý vị có thấy cái món đồ gốm này không, đây là món đồ gốm dễ vỡ, nên Minh Thành yêu cầu quý vị đi về nhà viết ba chữ dán lên trên ngực, lên trán là “hàng dễ vỡ”; dán vào trong tim là “đồ dễ bể”; khắc vào trong trí não là đồ gốm, đồ giả, đồ không ra gì hết. Làm như vậy để chúng ta thay đổi nhận thức sai lầm, chấp ngã, chấp thủ, tưởng đây là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Chính vì hiểu sai, nhận lầm, mê lầm nên bao nhiêu thứ sầu, bi, khổ, ưu, não cứ tiếp diễn, không có chấm dứt. Ví dụ, mình đi ngang có người nói “sao chị hôi quá vậy”, lúc đó mình tức lên giận lên, bực lên mà mình có hôi thiệt không, tại sao người ta nói thì mình giận? Cái đó là minh hay không có minh (vô minh)?

Đã rất lâu trong vòng luân hồi này chúng ta quen sống với vô minh và tham ái, mình không quen sống với sự thật. Đổi ngược lại, bây giờ mình biết tu, hằng ngày mình trở lại nhìn thân thể không sạch sẽ này. Tại sao mình súc miệng, tại sao phải rửa mặt, tại sao phải tắm, tại sao phải giặt..? Tại sao đừng giặt, đừng tắm, chúng ta nghĩ rằng cái thân mình sạch sẽ mà. Con mắt mình đổ ra cái gì, cái lỗ tai ra cái gì, rồi lỗ mũi chảy ra cái gì, cái miệng mình nó chảy ra cái gì, rồi cả cái thân mình nó bài tiết ra cái gì? Mình ăn xong rồi lại phải chạy vào trong cái phòng, đóng cửa kín mít, uống xong mình cũng chạy vào trong đó làm cái gì mà bịt cái lỗ mũi lại?

“Này các Tỳ-kheo, thân này là bất tịnh, có chín lỗ, chảy ra những thứ không sạch sẽ”, vậy mà mình đam mê, tham đắm, vậy mà ta đây, hơn thua, cống cao ngã mạn, tật đố, khen mình chê người, vậy đó mà tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp. Quý vị thấy thương cho cái mê này không, thương cho cái lầm này không, thương cho sự vô minh không thấy rõ bản chất sự thật này không và chúng ta đã sống trong cái vô minh đó dài lâu. Từ việc không chấp nhận sự thật đó nên mình cứ suy nghĩ, lo lắng, tính toán, sợ hãi, tìm kiếm, chạy đuổi, truy tầm, khao khát, ước mơ, già rồi gần xuống lỗ rồi mà cũng còn ham muốn hoài không dừng lại được.

Bây giờ, mình biết tu rồi Phật dạy thường quán xét chín cái chỗ chảy ra bất tịnh đó để mình nhìn thấy bản chất của thân này. Khi đó, có cô nào nói “chị hôi quá” thì mình: “Dạ đúng rồi chị nói phải, Đức Phật nói cái thân này chín lỗ thường chảy ra bất tịnh. Cái chữ hôi nó chưa đủ nó còn hơn cái chữ đó nữa, em cảm ơn chị nhắc nhở cho em”. Như vậy, người ta nói mình hôi thì quý vị nói lại vậy được không? Nếu không nói được là tại vì bình thường mình không thực tập, không quán chiếu bản chất thật của thân này, mà mình cứ sống theo cái tâm mê, sống theo sự tham ái, chấp thủ, bản ngã, cho nó là sạch, là đẹp, là tôi, là hay, là hơn, là tài, là hơn thiên hạ… suy nghĩ đó là của vô văn phàm phu chưa biết tu chưa nghe pháp, chưa chiêm nghiệm quán chiếu sâu sắc về cái bản chất của thân thể này. Cho nên quý vị thấy học cái tạng Nikāya này hay lắm, giúp cho mình chuyển đổi nhận thức từ phàm tăng thành Thánh trí, chuyển nghiệp chướng trở thành tuệ giác, chuyển những cái tham ái để trở thành sự giải thoát an lạc.

Cho nên, Minh Thành mong muốn quý Phật tử phải thực tập, chứ còn nghe thôi rồi để đó, trở về bệnh nào tật ấy y nguyên thì sầu, bi, khổ, ưu, não vẫn tiếp diễn như thường. Vào chùa thì nghe “bất tịnh” vỗ tay rần rần, trở ra thì nó lọt mất chữ bất, còn chữ “tịnh”, như vậy, quý vị nhớ giữ cho được hai chữ, đừng để lọt mất chữ đầu, mất một chữ coi như mất hết.

Đức Phật nói thân bốn đại tạo thành này kẻ phàm phu thấy nó đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, năm mươi năm, đứng vững một trăm năm… còn đứng vững nhiều hơn nữa. Chính vì thấy nó đứng vững như vậy nên mình lầm tưởng, mình không thấy nó là vô thường, nên khi vô thường bất thình lình ập tới thì lúc đó mình hoàn toàn hốt hoảng, sợ hãi, bàng hoàng vì mình đã bám rất chặt, rất chắc vào trong thân thể này. Minh Thành nói nghe vui vậy nhưng quý vị đừng quên mình là hàng dễ vỡ, quý vị phải thật sự thấy, biết và quán chiếu như vậy. Có một bà cụ đi cầu thang từ trên gác xuống thì bị trợt chân, khi người hàng xóm nghe mùi hôi không chịu nổi mới phá tung cửa ra thì cái xác đã phân. Chỉ cần trợt một bước chân thôi là không còn gì nữa, quý vị có thấy sự mong manh, tạm bợ, vô thường, vô ngã, trống rỗng của thân này không!

Bài kinh “Bọt Nước”:

Lúc đó, Đức Thế Tôn cùng các tỳ kheo đi trên bờ sông Hằng.

Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo...

Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷkheo, lại có lõi cứng trong đống bọt nước được?

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được? (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b, V. Phẩm Hoa, bài kinh Bọt Nước)

Tức là, nếu một người nào có trí quán sát, nhìn sâu cái sắc uẩn này, quán chiếu nghiền ngẫm một cách thấu đáo vào trong đống thịt này thì người đó sẽ thấy rõ ra đống sắc uẩn này là rỗng không, là trống không, làm gì ở trong sắc này có cái lõi cứng chắc được. Cho nên, mình phải thường quán chiếu cái sắc này, cái thân này là một đống bọt nước, một cái bong bóng nước, một ngày nào đó làm cái bụp thì nó nát ra, vỡ ra, bể ra, nổ tung ra.

Khi nào giận quán chiếu mình là đống bọt nước thì sao biết giận, khi nào tham thì quán chiếu đống bọt nước mà tham cái gì; khi nào lờ đờ lờ mờ cần chấn chỉnh lại cái đống bọt nước này, không được để nó ngủ hoài, phải làm cho nó tỉnh táo, tinh tấn. mạnh mẽ để vượt cái nỗi khổ của luân hồi. Như vậy, chúng ta phải khéo tác động tâm ý một cách thâm sâu, một cách triệt để, một cách toàn diện để khai mở được Thánh trí trí huệ Đức Phật ban cho.

Đức Phật chỉ cho mình con đường thực tập thấy được rõ cái bản chất thân này, nếu không theo lời Phật dạy thì mình sẽ bị lừa gạt. Chúng ta đã bị lừa gạt từ lúc còn nhỏ, bị lừa gạt lúc mới bắt đầu lớn lên tới thiếu niên, tới thanh niên mình bị lừa gạt, lên tới trung niên mình bị lừa gạt lên tới lão niên mình bị lừa gạt, rồi lên tới cái gì niên nữa, hấp hối ở trên giường bệnh mình cũng vẫn bị lừa và cuối cùng nhắm mắt ra đi là ở trong một sự dối lừa. Cái gì dối lừa? Sắc thân này dối lừa, tất cả hình sắc chung quanh dối lừa vì mình không biết thân này là đống bọt. Những cảm giác, suy tưởng bên trong nội tâm cũng lừa gạt mình. Tới giờ công phu, bốn giờ chuông báo thức đồng hồ reo lên, nó nói: “Hồi hôm này thức khuya, nghỉ thêm chút nữa, không thôi là bệnh”, mình nghe theo chỗ đó là mình bị lừa. Lúc đó, phải nói: “Ta không có nghe theo mi, mi là tên làm biếng làm nhác, mi là tên giải đãi, mi là cái tên dẫn ta ngủ hoài ở trong đêm tối. Bây giờ ta thấy được bộ mặt mi rồi, mi đi ra khỏi ta đi, mi tan biến đi để ta bật dậy và ta bước lên bàn Phật ta lạy, tụng kinh ngồi thiền quán chiếu để trí huệ bừng sáng. Ta sẽ trở thành người chiến thắng, ta không phải là cái tên làm biếng, buồn ngủ này!”.

Đó là mình tu với cái buồn ngủ, tu với ngay trong cảm giác của mình chứ không phải tu với ai khác bên ngoài.

Nội soi tự tâm

Quý vị trước nay tu đã hai, ba chục năm… tu vì mục đích của đạo Phật là để cho mình diệt khổ, hết khổ. Vậy nguyên nhân làm ra khổ là gì? Là do tham, sân, si phải không? Vậy, Minh Thành hỏi quý vị tham, sân, si ở đâu?

Trí tuệ về thọ uẩn

Đức Phật dạy phải luôn luôn nhìn lại cảm giác, phải luôn luôn nhìn lại cảm thọ, phải luôn thường trực nhìn lại cảm xúc. Tại sao vậy, tại vì cảm thọ, cảm giác này là chỗ cư trú, là hang ổ, là chỗ quy tụ hết tất cả các cái pháp. Tất cả đều nằm trong cảm giác.

Minh Thành chỉ cho quý vị thấy lúc mà quý vị ngồi mà ăn bún riêu hoặc là hủ tiú, mình húp vào sột sột thì cảm giác ra sao? Lúc đó quý vị không nhìn cảm giác mà cứ thấy ngon. Hay lúc quý vị ăn cái món mặn chát hoặc chua lè thì cảm giác quý vị ra sao? Quý vị chỉ thấy dở chứ không có nhìn ra cảm giác. Còn lúc quý vị ăn món không ngon không dở thì cảm giác ra sao? Như vậy, Đức Phật dạy có ba loại cảm giác: cảm giác khoan khoái, thích thú, dễ chịu thì tham cư trú trong đó; cảm giác bực bội, khó chịu, sân hận thì sân nằm trong đó; cảm giác đều đều không khó chịu cũng không khó chịu thì cảm giác này có si nằm trong đó, mình cứ đơ đơ, đờ đờ, như gà mờ vậy. Danh từ chuyên môn gọi ba loại cảm giác đó là: lạc thọ, khổ thọ và bất lạc bất khổ thọ.

Khi thường trực nhìn ba loại cảm giác đó sẽ thấy tham, sân, si cư trú. Thấy được rồi thì mình phải có cách nhiếp phục, đánh đuổi làm cho nó chấm dứt và mình phương pháp để hóa giải nó. Chúng ta phải thường thường, bất cứ mọi lúc mọi nơi nhìn lại cảm giác, đừng cho nó qua mặt mình, đừng cho nó lừa dối mình, đừng cho nó gạt gẫm mình, đừng cho nó dẫn dụ mình. Quý vị thấy không, cũng vì cảm giác đó mà mình đau khổ. Từ hồi trẻ cho đến bây giờ mình toàn đi tìm cảm giác. Đi chơi có phải tìm cảm giác không, đi ăn có phải cảm giác không, rồi đánh bài đánh bạc có phải cảm giác không, rồi chạy xe rồ ga vậy có phải cảm giác không, rồi nhậu nhẹt xì ke ma túy có phải cảm giác không? Cho nên, tất cả đều bị cảm giác này nhấn chìm và nó sai khiến, dẫn dắt mình.

Chỗ này Đức Phật nói, đối với cái gọi là tâm, là ý, là thức thì kẻ vô văn phàm phu không đủ để nhàm chán để mà giải thoát. Tại sao vậy? Tại vì nó rất nhỏ nhiệm, thâm sâu và thay đổi rất là nhanh. Mỗi ngày, quý vị không thể nhìn thấy được bao nhiêu lần cảm giác thay đổi, vì nó sanh diệt liên tục, nếu mình không để ý, không nhìn mình mà nhìn người khác thì không thể thấy được. Lo nhìn người khác rồi giận hờn, mình tu mà cứ lo nhìn người ta rồi tự mình phiền não.

Nhận diện ngũ uẩn và lợi ích của nhận diện ngũ uẩn

Vì vậy, Đức Phật dạy, tu là nội soi chứ đừng ngoại soi. Nội soi là có bệnh thì đi bệnh viện, để xem mình bệnh ở đâu thì người ta nội soi, khi nội soi thì người ta thấy bệnh đó ở đâu và chữa trị thì mình hết bệnh. Mà bình thường mình không chịu nội soi, mà cứ dòm người ta, đây là khuyết điểm của mình, là chỗ hết sức quan trọng. Cho nên, tu là quay trở lại nhìn chính mình. Cũng như hình tượng Đức Phật trên chánh điện, con mắt Đức Phật lúc nào cũng nhìn xuống, đó là tự nhìn trở lại thân, tâm, nhìn trở lại cảm giác, nghĩ, tưởng của mình ở bên trong. Còn mình lo nhìn ở bên ngoài, nhìn đúng sai, hay dở, phải quấy, tốt xấu, thị phi thì chỉ quay trở lại phiền não thôi.

Đức Phật ví dụ tâm thức biến đổi như con vượn, nó chuyền từ cành này sang cành kia, con khỉ nó nhảy qua nhảy lại nhảy lung tung hoài không dừng lại được. Tại sao mình phải ngồi thiền, tại sao mình phải ngồi yên, tại sao mình phải quán chiếu nhìn lại nội tâm của mình? Bởi vì chúng ta bị một cái nhận lầm, Minh Thành mới chỉ nói một phần sắc uẩn, bây giờ chúng ta cùng khai triển thêm bốn phần nữa để quý vị thấy. Chúng ta nhìn lầm những cảm giác, những suy nghĩ, những cái tưởng và cái nhận thức. Mình không thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tưởng là những hình bóng trong nội tâm. Hành là những suy nghĩ lầm thầm lầm thầm, những lời nói đi theo những hình bóng đó. Thức là sự rõ biết được cái cảm giác và cái nghĩ tưởng đó. Khi quý vị có cảm giác quý vị biết mình đang có cảm giác gì không? Khi nội tâm có hình bóng, có suy nghĩ về người nào đó thì mình có biết mình suy nghĩ về ai không?

Ví dụ dễ thấy, ở trên núi Minh Thành, mùa này là mùa sầu riêng, mà sầu riêng ở trên Linh Quy Pháp Ấn đặc biệt là không thuốc, không phân, không tưới, sáu tháng mới có trái, khi có trái là nó rụng rồi nứt ra thơm phức, vậy là mình bật ra tại chỗ mình ăn, nó thơm, nó béo, nó bùi, nó bổ, mà nó ngon…

Minh Thành sẽ phân tích cho quý vị thấy năm uẩn vận hành ở trong cái trái sầu riêng đó. Khi nghe nói về cái trái sầu riêng đặc biệt như vậy thì ở trong đầu có hình bóng trái sầu riêng, đó là tưởng uẩn. Lúc đó quý vị có cảm giác khoái khoái, thích thích, muốn muốn đó là lạc thọ, tức là cảm giác dễ chịu khoan khoái, thích thú, gọi là thọ uẩn. Có người phát ra tiếng “nghe thầy nói, muốn ăn quá thầy ơi”, hoặc có lời nói thầm thầm ở trong tâm, đó là hành uẩn, hành uẩn chia làm ba loại: thân hành, khẩu hành, ý hành. Lời nói thầm ở bên trong, không phát ở miệng gọi là ý hành; lời nói thầm ở trong tâm mà khi phát ra miệng gọi là khẩu hành; lời nói ngoài miệng mà khi nó làm ra hành động đó thì đó gọi là thân hành. Quý vị thấy rằng ở trong tâm nói “bữa nào mình nói với sư phụ dẫn lên núi Linh Quy để ăn cái món sầu riêng này” thì lời nói đó là hành uẩn. Chúng ta đừng có lầm cái tưởng với cái hành. Hình bóng là tưởng; cảm giác là thọ; suy nghĩ, lời nói lầm thầm là hành; cái thức là rõ biết được hình bóng, suy nghĩ, cảm giác về trái sầu riêng. Như vậy, chúng ta phải nhận diện được thọ, tưởng, hành, chứ đừng chỉ nhớ trái sầu riêng không thôi.

Bây giờ ngồi đây, quý vị nhớ lại ngày đầu tiên mới gặp “ổng” thì lúc đó quý vị thấy gì? Hình bóng hồi lúc hai mấy tuổi của ổng hiện ra, đó là tưởng; rồi thấy hình bóng đó dễ thương, có cảm giác dễ chịu là thọ uẩn; rồi suy nghĩ nói rằng: “thấy cái mặt cũng hiền, cũng dễ thương nên mới ở chung với nhau có ra bốn đứa”, lời nói đó là cái gì hành uẩn; rồi sữ rõ biết được mình đang suy nghĩ, có hình bóng, có cảm giác là thức uẩn. Sự nhận diện này là cực kỳ quan trọng.

Lợi ích của nhận diện được năm uẩn là gì? Thứ nhất, phá vỡ cái nhìn sai lầm trước giờ, tưởng đâu tấm thân, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ này là tôi, là một cái nguyên vẹn, trọn vẹn, là một cái ta, một cái tôi, một cái bản ngã. Bây giờ, chúng ta phải nhìn thấy nó là năm thứ, năm nhóm, năm đống, năm uẩn chứ không phải là một. Hồi xưa chúng ta nghĩ mình là một cái trọn vẹn, mình không cần ai hết, “tui sống tui không cần ai hết trơn”. Giận lên là “giờ tui không cần ai trơn, mình tui sống”, giận lên thì nói vậy chứ một mình sao sống được.

Vậy nên, sự nhận diện năm uẩn này giúp cho quý vị nhìn thấy được sự thật về chính mình ở trong thân tâm. Quý vị sẽ nhìn thấy được một đống sắc; một đống cảm giác; một đống hình ảnh diễn ra chập chờn chập chờn ở trong nội tâm; những lời nói thì thầm, thỏ thẻ, thở than, mình nằm đó, muốn ngủ vì mệt mà nó cũng không cho mình ngủ, nó bép xép bép xép nói hoài, nói tới nổi mà phải uống thuốc ngủ mới ngủ được. Lúc nào chịu hết nổi thì bung ra, chuyện gì nó cũng nói hết, lúc đó đưa mình vào Chợ Quán, tại vì hành uẩn mạnh quá, nó sút bản lề rồi rớt ra luôn.

Cho nên, mình phải nhìn thấy được cái sự vận hành của năm uẩn, nhìn thấy như vậy là bắt đầu khởi động Thánh Trí. Đây là lợi ích to lớn vĩ đại của người học Phật, so với người không biết nghe pháp, không biết tu là khác nhau tại chỗ này. Tại vì nếu không biết, mình cứ tưởng tất cả chỗ đó cộng lại là mình, bởi vậy năm cái đống này quậy mình, chuyện có chút xíu nhưng bị nó thúc giục tối ngày, mới nghe về sầu riêng là sẵn sàng đi năm trăm cây để thưởng thức hương vị đó. Thậm chí có người bay qua Singapore, bay qua Thái Lan ăn sáng xong rồi bay về. Quý vị thấy đó, chút xíu cảm giác của lưỡi thôi nhưng nó kéo mình đi vậy đó. Có người chạy xe xích lô, chạy xe ôm, chạy grab cực khổ suốt ngày, từ sáng tới chiều, chạy tới nửa đêm, vậy mà nhảy vào nhậu là hết trơn tiền. Chỉ vì một chút xíu cảm giác như vậy mà chịu khổ. Từ đó tới giờ quý vị có khổ với cảm giác này nhiều không? Bây giờ mình đã thấy được cái bản mặt nó, trước giờ nó gạt mình mà mình không thấy, bây giờ thấy được là bắt đầu mình có trí huệ. Hồi xưa không thấy, mình cứ coi cảm giác đó mình “tui đang bực lắm à nha, đừng có chọc tui à nghe”, “tui đang nóng à nghe, đi chỗ khác chơi à nghe”. Chúng ta nhận cảm giác đó là mình, mà không biết cảm giác đó không phải mình, cảm giác do duyên sanh.

Tu pháp này tuyệt vời, tuyệt diệu, tuyệt hảo như vậy, nếu không tu thì ở tù. Mình có tu thì mình không bị ở tù trong năm uẩn, còn không tu thì mình bị ở tù trong sắc uẩn. Tối ngày, cứ lòng vòng ăn rồi mặc rồi ở rồi trao chuốt hoài như vậy, bị buộc vô trong ngũ uẩn này như con chó bị buột vào cây cột, nó chạy lòng vòng không đi đâu được. Kêu đi tu thì không đi vì phải coi nhà, đến giờ đi tu nhưng đi không được vì không ai cho chó ăn hết, chúng ta cứ bị buộc trong cái dây, quanh cây cột, chạy lòng vòng không ra được. Quý vị ngồi đây là quý vị được sút dây rồi đó, tự khen mình đi, vì mình cũng gỡ được cái dây thằng, nó buộc chặt vào mình lắm. Đây là chỗ tuyệt diệu, Thánh Trí mà Đức Phật dạy cho mình bắt đầu được thể nhập.

Quý vị phải luôn luôn thường trực nhìn lại tấm thân tứ đại này, luôn luôn nhìn lại cảm giác hành hạ mình, từ đó tới giờ nó sai khiến mình, làm cho mình khốn khổ, chạy đuổi, tìm kiếm hoài như vậy. Quý vị thấy không, chỉ có một cảm giác với ông chồng có chút xíu thôi mà bây giờ phải dính bốn chục năm với ổng, cảm giác nó buột nặng như vậy đó. Sau này lại nói: “Thầy ơi, hồi đó con mà còn trẻ, con chưa có gia đình, con gặp mấy thầy là con đi tu rồi”. Bây giờ, dù chúng ta biết hơi trễ nhưng đi tu vẫn được, không sao, nhiều khi bị cảm giác buộc mạnh quá, biết là khổ, muốn đi ra mà ra không được.

Chiếu phá tưởng uẩn

Chúng ta cũng phải soi rọi những hình bóng ở trong tâm, cái hình bóng cũng lợi hại lắm, những cái tưởng ở trong tâm, người ta gọi là “tưởng tượng”.

Ví dụ, thường ông chồng đi làm năm giờ chiều về, mà bửa nay tám giờ ổng chưa về. Khi đó, bao nhiêu những hình ảnh hiện lên, đi vô đi ra, cầm điện thoại gọi, nó reo reo một hồi rồi tắt luôn, không reo nữa, cái tưởng hiện ra hết hình này tới hình kia, hiện lên đủ thứ, cuối cùng bực quá bực, từ cái tưởng nó dẫn tới sân. Rồi chín rưỡi đêm, ông chồng mới về, do kẹt xe nên về trễ chứ đâu có gì như la trước tính sau, như vậy là bị cảm giác dẫn dắt rồi. Lúc đó, mình không nhìn thấy đây là những cảm giác, đây là những cái tưởng, những suy nghĩ lung tung lang tang chứ có phải đâu. Kẹt xe về không được xe hư về không được chứ đâu phải không muốn về. Nếu có quán cảm thọ, có nhìn cảm giác thì mình nói: “Cái này nguy hiểm lắm, cái này chỉ là tưởng thôi, chỉ là những suy nghĩ, cái này đâu phải sự thật”. Để một hồi coi như thế nào, nếu là hiện thực thực tế thì tính sau, còn bây giờ đừng có suy nghĩ lung tung lang tang. Tại vì mình tưởng tượng, có con kiến tưởng ra con tượng, nên gọi là tưởng tượng. Chuyện bé xé ra to to, làm ra bự bự, làm ra hình sự, đó là người không biết tu.

Bây giờ chỉ hát karaoke, người ta chê hát dở, vậy mà xảy ra án mạng. Đó là tại vì người đó không nhìn lại cảm giác, không biết quán chiếu cảm giác, nếu mình tu là đâu có chuyện gì đâu. Tại sao phải sân hận lên, tại sao phải phực lửa, phực cháy lên, tại sao phải thiêu đốt, tại sao phải làm cho tự mình khổ, rồi cả gia đình mình khổ, rồi bao nhiêu ảnh hưởng chỉ vì một lời nói chê hát thôi dở mà xảy ra hình sự án mạng. Như vậy là không biết tu cho nên mình khổ.

Chính vì thế mới thấy đạo Phật cứu khổ là ở chỗ này! Đạo Phật giúp cho mình diệt khổ là ở chỗ này! Đạo Phật giúp cho mình giảm cái khổ là chỗ này! Đạo Phật giúp cho mình bình an hạnh phúc chính là cái chỗ này! Khi đó, thấy ổng về tới lúc chín giờ rưỡi, mình làm mặt lạnh, vận công phu hít vô thở ra, thay vì đi tới đi lui, bực bội, làm đủ thứ thì bắt nó ngồi thiền rồi nhìn cảm giác, nhìn cái tưởng: “Thôi đừng có tưởng tùm lum cho mệt, yên lặng đi, đừng có nói lải nhải, mệt quá im lặng đi”.

Khi đó, quý vị ngồi thở ra thở vô biết mình thở vô thở ra. Kế đến chánh niệm trước mặt, mọi người mở mắt đừng nhắm, vì nhắm một hồi là sẽ hôn trầm tưởng tượng tùm lum. Mở mắt nhìn trước mặt, mở rộng tầm nhìn ra hai bên, đừng chú tâm vào một điểm, mở tầm nhìn hết mức ra hai bên. Thở vô thở ra làm cho thân an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Cảm nhận được sự chuyển động của hơi thở ở trong lòng ngực, ở chóp mũi, ở bụng… ba chỗ đó hơi thở chuyển động. Từ ba chỗ đó cảm giác ra toàn thân, đầu, mặt, cảm nhận cảm giác ở vai, ở bụng, ở mông, ở bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể mình, cảm nhận cảm giác toàn thân. Trong lòng không được chạy theo cái tưởng đó, mình nói: “Đây là vọng tưởng, ảo tưởng, là những cái tưởng giả dối, không có thật, không có đi theo”. Hãy chánh niệm trước mặt, trở về cảm giác toàn thân, an trú trong ngay trong hiện tại. Tất cả đều là tưởng, là những suy nghĩ vọng động, không có thật, trở về an tịnh hơn, lắng dịu tâm. Bình an, lắng dịu, dễ chịu, an tịnh…

An tịnh là giây phút này, lắng dịu là giây phút này, dễ chịu là giây phút này, vi diệu là giây phút này, mầu nhiệm là giây phút này, thần thánh là giây phút này, cực kì thiêng liêng là giây phút này. Hãy mỉm cười nhẹ lên! Đây là niềm hạnh phúc tối thượng của kiếp người. Đây là niềm hạnh phúc tuyệt diệu của đời sống. Đây là niềm hạnh phúc thiêng liêng của tâm linh. Đây là xác lập kỉ lục của trí tuệ giác ngộ ngay trong giờ phút hiện tại.

Bình an làm sao…Dễ chịu làm sao... Quý báu làm sao… Hỷ Lạc vô cùng… Quý vị có thực tập được không? Có thấy hạnh phúc có thấy an lạc không? Có thấy bình an không? Khi đó, mình có thể bình an hỏi: “Ủa, ông về rồi hả, bữa nay có chuyện gì mà về trễ vậy?” - “À, bữa nay xe hư kẹt xe”. Nhẹ nhàng, bình an, đơn giản, tuyệt vời, xác lập kỷ lục là ở chỗ này. Đó là hiệu quả của sự tu, là kết quả của sự quán chiếu cảm giác, là công năng của nhận diện năm uẩn, là diệu dụng của Thánh Trí. Hằng ngày, mình phải thực tập để nhìn lại như vậy.

Chiếu phá hành uẩn

Kế đế là suy nghĩ, nó nói hoài, hết cái này tới cái kia tới cái nọ. Suy nghĩ của mình nó không được yên tịnh, nó quậy mình nhiều lắm. Cho nên, bây giờ mình phải thực tập đừng có nghe theo suy nghĩ nữa. Chúng ta phải tập, trong nội tâm có suy nghĩ gì thì xem cái này là thiện hay bất thiện; những cảm giác này là thiện hay bất thiện. Nếu cảm giác, suy nghĩ này là thiện thì phải phát huy làm cho nó tăng trưởng, lớn mạnh, phát triển, làm cho nó quảng đại, đó chính là tu. Còn nếu suy nghĩ là ác bất thiện pháp, suy nghĩ tổn hại cho mình, tổn hại cho người thì suy nghĩ đó mình phải chấm dứt, từ bỏ, tẩy sạch, không cho nó hiện hữu trong nội tâm nữa, gọi là “nhất đao lưỡng đoạn” – một dao hai khúc, chặt cái rụp, chặt mạnh xuống.

“Không, ta không chấp nhận mi mi là cái đồ gian ác! Chính mi rù quến ta, mi thỏ thẻ, thù thầm, thủ thỉ, thỏ than để ta giận cái bà hàng xóm ba tháng rồi. Thôi giận tới đây là vừa đủ rồi, tới đây là nhàm chán rồi, tới đây là từ bỏ được rồi. Ngươi đi chỗ khác chơi đi, đừng có lảng vãng trước mặt ta nữa, đừng có xuất hiện trong nội tâm ta nữa. Ngươi thiêu đốt ta hả, ngươi đốt cháy ta hả, mi đốt cháy cả làng xóm này hả, mi đốt cả thế gian này ư? Ngày hôm nay ta đã có nước cam lồ, làm tắt hết mọi sân hận, ta được mát lạnh”.

Tu tuyệt diệu vậy đó, mình trị được suy nghĩ, trị được cảm giác, trị được tưởng tượng tầm bậy tầm bạ của mình. Chúng ta dạy dỗ, giáo dục, quản lý nó. Khi thấy cái nào có tác hại thì mình diệt tận, không cho nó xuất hiện trong nội tâm, không cho nó lưu trú tồn tại ở trong tâm, mình không chất chứa nó. Quý vị biết lựu đạn nổ thì quý vị có dám để trong nhà không? Mình không dám để lựu đạn trong nhà thì phải coi chừng, không chừng mình để ba trái lựu đạn tham, sân, si ở trong nhà mà mình không biết. Vì vậy, chúng ta không nên chất chứa những thứ làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não. Mình phải xử lý hàng tồn kho, thanh lý hàng tồn kho. Lâu lâu chạy ngoài đường, mình thấy bảng “xả sập tiệm”, “xả hàng thanh lý, hàng tồn kho”, bây giờ mình phải tu giống như vậy. Còn gặp cái gì cũng lụm vô, gặp cái gì cũng hốt về, gặp cái gì cũng bỏ vô, những thứ đó toàn là lựu đạn, toàn là pháo, toàn là những thứ hôi hám, khốn khổ.

Thành ra, mình tu sao cho đừng giống như máy hút bụi, ra ngoài hút tùm lum về nhà xả ra không chịu nổi. Tu phải giống như lá sen, nước đổ xuống thì tuột luôn. Đừng giống máy hút bụi, đi chỗ này hút một miếng, đi chỗ kia hút một miếng, đi chùa mà làm cả nhà mệt tại vì đi chùa mà vác theo cái máy hút bụi. Chỗ này hết sức quan trọng, không khéo là vào chùa rồi nhìn lỗi Tăng Ni, dòm ngó xong về nói cho người này người kia, đi chùa như vậy là thất bại. Tu không khéo như vậy thì Đức Phật gọi là đặt tâm sai hướng. Chúng ta đi tìm chỗ an lạc, thanh tịnh, giải thoát, đi đã rồi than: “Con chán quá trời quá đất, giờ con vô chùa xong con chán chùa, chán luôn thầy”. Đó là đặt tâm sai hướng, tại vì cứ nhìn lỗi của người ta mà quên nội soi.

Cho nên, chúng ta tu phải nhớ hai chữ “nội soi”. Khi thấy rục rịch, cục kịt, thấy lấp ló ở cửa sổ có một cái tên trộm, mà cái tên trộm này nó không phải ở ngoài mà nó trú ẩn ở bên trong mới chết chứ thì phải nội soi chính mình ngay lập tức: “Bây giờ ta đã phát hiện cái mặt mi rồi nghe, mi đừng có tưởng âm thầm qua mặt được ta”. Như vậy, đối với thiện pháp, trí huệ, công đức của mình thì mình phải bảo hộ, phải phòng hộ, phải giữ gìn, phát huy, phát triển nó lên. Nếu giặc cướp vào nhà trộm những thiện pháp đó thì mình phải đánh đuổi nó. Ăn trộm vào nhà mình đâu thể để nó muốn bưng gì thì bưng đi. Mà mỗi một ngày như vậy, mấy tên trộm dục, ái, tham muốn, nóng giận, hơn thua, bản ngã, ganh tỵ, đố kỵ đi vào thăm mình được bao nhiêu lần, mỗi lần nó bưng hết mấy món trong ngôi nhà nội tâm của mình? Quý vị có thấy nó vào nhà mình không?

Hồi xưa, có khi mình không thấy mà nhận trộm là bà con, anh em chị em cột chèo, chú bác… rồi nó bưng hết trơn đồ trong nhà, cuối cùng rồi kêu trời. Tất cả là do mình nhận giặc làm con, nhận phiền não vào mình: “Không, cái này con không có tha thứ được đâu, cái này đáng giận lắm, không có tha thứ được”. Như vậy là mình nhận giặc làm con. Quý vị thử nghĩ, từ sáng tới chiều đó mình giận “ổng”, hai vợ chồng giận nhau, đi ra đi vô gặp mặt vậy thì dễ chịu hay khó chịu? Nóng hay là mát? Nhẹ hay là nặng? Bất hạnh hay là hạnh phúc? Nếu mình giận chừng bảy ngày như vậy thì mình có hạnh phúc không? Vậy mà tại sao mình cứ ôm giận hoài, giận một tháng không thèm dòm mà lại tưởng đâu mình hay, như vậy mới chết!

Cho nên, bây giờ quyết định từ bỏ, diệt tận, đánh đuổi cơn giận này ra khỏi tâm để cho mình bình an và hạnh phúc. Không chấp nhận cơn giận này, không chấp nhận cảm giác bực bội này. Khi đó, chúng ta cần phải trải tâm từ. Chúng ta thấy rằng,từ hồi nhỏ tới lớn mình bị khổ với cơn giận này, cơn giận này đốt mình không biết bao nhiêu lần, cái hỏa diệm sơn đốt hết thiên hạ chúng sanh mà mình rinh vào nhà làm gì! Cho nên, chúng ta mới quán chiếu rằng cả thế giới này, tất cả chúng sanh này, tất cả trái đất hành tinh này đều bị ngọn lửa của hỏa diệm sơn, ngọn lửa của cái sân hận, bực tức, bực bội đốt. Nó làm mình khổ, người khổ, bao nhiêu gia đình tan nát, đổ vỡ, vợ chồng li thân li dị, con không dòm mặt cha không dòm mặt mẹ, anh em tương tàn tàn sát với nhau cũng vì cái sân hận này.

Thấy được như vậy, chúng ta phải tác ý: “Thôi, giận như vậy là vừa đủ rồi, giận như vậy đến nay là mệt mỏi lắm rồi, giận như vậy đến đây là nó tan nát lụi tro tàn hết trơn rồi, giận như vậy đến đây là nhàm chán rồi. Thôi từ bỏ cơn giận đi, cảm giác này đi ra giùm ta cái đi, đừng ở trong đây nữa, người ở trong đây ta khổ lắm, đi ra giùm, đi ra đi. Ta vĩnh biệt cảm giác bực bội, tức tối, sân hận này, mi đi luôn đừng bao giờ về đây nữa”.

Đó là Như Lý Tác Ý, là tuệ lực, là đối thoại với chính mình, là Chánh Tư Duy trong Bát Chánh Đạo. Như Lý Tác Ý là tuệ lực, là sức mạnh của một nội tâm. Như Lý Tác Ý tức là mình suy nghĩ theo đúng Chánh Pháp, dùng những lời nói mạnh mẽ, mạnh bạo, thẳng tay trừng trị tham, sân, si – những thứ này là những nguyên nhân làm mình khổ. Vậy, tại sao mình lại dung túng nó, tại sao mình lại chất chứa nó, rồi vào cầu Phật: “Phật ơi Phật độ cho con được khỏe”, mà giận hoài thì “con có khỏe không con?”. Nguyên nhân của khổ mình không chịu bỏ mà cứ kêu Phật cho mình được hạnh phúc thì sao mà được, cho nên, đạo Phật rất là khoa học, rất là thực tế, thiết thực, hiện tại.

Cái tham cũng vậy, mình tham mấy chục năm, đi tìm kiếm, chạy tìm đã mấy chục năm mà vẫn còn tìm. Tìm tới đây là mòn mỏi rồi, tới đây là cúp bình thiết rồi, tới đây là quá cỡ thợ mộc rồi, tới đây là lụ khụ lù khù lụm khụm rồi, tới đây là mắt mờ, tai điếc, lưng còng, gối mỏi rồi, tới đây là tấm thân này giống miếng chuối khô rồi mà đi tìm gì nữa!

“Mi làm ơn mi chết cho rồi đi. Cái tham dục này xúi ta chạy hoài. Mi làm ơn chấm dứt, đừng sanh khởi trong nội tâm ta nữa, đừng xúi giục ta tham này, muốn kia đừng có xúi ta đi tìm nữa. Ta đi tìm rồi cuối cùng ta đi tìm cái nấm mồ với hủ cốt chứ còn tìm giống gì nữa. Bây giờ ngươi xúi ta đi tìm cái hủ cốt với lò thiêu thì được, ta sắp sửa tới ngày rồi mà cứ xúi ta dục, tham làm cái gì?”. Đó nhàm chán với cái dục này, chính cái dục này nó làm ta đảo điên, chính cái ham này làm ta chạy hoài, chính cái ái này làm cho mình lăng xăng tất bật.

Vội vội vàng vàng, khổ nhọc cầu,

Mưa mưa nắng nắng trải xuân thu,

Hôm hôm sớm sớm lo sinh kế

Lãng lãng quên quên bỗng bạc đầu.

“Thôi tham tới đây là vừa đủ rồi! Ái như vậy là vừa đủ rồi! Dục như vậy là vừa đủ rồi! Ta nhàm chán mi, ta nhàm chán mi, ta mệt mỏi với mi quá rồi, mi sai khiến ta bạc đầu rồi. Và hôm nay ta đã từ bỏ, chấm dứt mi, đoạn tận mi, để cho tâm ta hoàn toàn được bình an, để cho lòng ta được hoàn toàn an tịnh thanh tịnh, để cho tâm ta thực sự trong sáng, trí huệ ta tỏ rạng để ta chứng ngộ Niết-bàn vô thượng thanh lương”. Chúng ta nói với tâm mình, khi ngồi thiền quán chúng ta phải đối thoại với cái tâm mình, đối thoại với dục, tham, ái, sân hận như vậy.

Diệt trừ bản ngã

Cuối cùng là đối thoại với bản ngã, đối thoại với cảm giác hất hất mặt lên, không dòm dưới chân nên vấp cầu thang dập mặt. Luôn luôn lúc nào cũng ta đây, ta tài, ta giỏi, ta hay, ta sang, ta quý. Lúc nào cũng bản ngã, đi đâu cũng vác cái tôi chình ình một đống, nặng nề nó đè lên khổ sở. Vừa nói một câu là giận, chào người ta mà họ bận không nhìn mình là liền giận, nghỉ chơi, không thèm chơi nữa. Rồi khen mình chê người, cống cao ngã mạn, ta đây, nhân ngã bỉ thử…

Tất cả những điều đó được cái gì, cuối cùng bản ngã này là một nắm tro tàn, mọi người ngồi đây là những bộ xương đang di động. Không tin thì chụp X-quang, ai cũng là đầu lâu, không có gì khác. Già, trẻ, bé, lớn, mập, ốm, đen, trắng, giàu, nghèo, sang, hèn… thì khi chụp cũng chỉ là một cái đầu lâu, là một bộ xương, chứ có gì đâu mà ta đây, bản ngã. Tất cả chỉ là trống không, trống rỗng, rồi 10 năm, 20 năm, 30 năm, 40 năm nữa mình ở đâu mình hoàn toàn không hay biết, vậy mà ta đây, bản ngã làm cái gì!

Bản ngã hãy cúi đầu, gục đầu xuống lạy trước Tam Bảo, lạy trước Phật, trước Pháp, trước Tăng, lạy trước Hòa thượng, lạy trước Thượng tọa, Đại đức, lạy một chú tiểu. Bản ngã này hãy lạy ông, lạy bà, lạy cha, lạy mẹ, lạy anh, lạy em, lạy người ngang đồng đạo, người thấp hơn mình. Bản ngã hãy cúi xuống khiêm hạ, lạy luôn những đứa trẻ thơ, những người nghèo khổ, lạy một con chó mình cũng lạy được. Bởi vì, tất cả đều là tham ái, vô minh, khổ sở, có gì đâu mà ta, tôi, tao, bản ngã. Hãy lạy hết tất cả, lạy các bậc thành tựu Chánh Tri Kiến, lạy bậc Hướng Dự Lưu, bậc Nhập Lưu, bậc Hiền Thánh. Lạy cho bản ngã này nó tan đi, nát đi, vỡ ra để Thánh trí vô ngã được rực sáng.

Tu được như vậy là tuyệt diệu! Tu như vậy là cha mẹ sẽ có một người con hiếu thảo; tu như vậy thì vợ chồng sẽ hạnh phúc bình an; tu như vậy thì bạn đạo sẽ hòa hợp thanh tịnh; tu như vậy thì đạo tràng sẽ êm ấm, tăng trưởng giới, định, tuệ; tu như vậy thì xã hội sẽ an ninh trật tự, thế giới sẽ được thái bình thịnh trị. Đó là Phật Pháp đem lại lợi ích thiết thực, hiện tại cho bản thân, cho tha nhân, tự lợi lợi tha cho khắp cả hành tinh này…

Tổng kết

Như vậy, Minh Thành đã chia với quý vị những gì?

Trong sự tu tập, điều quan trọng nhất là Chánh Tri Kiến, còn gọi là Thánh Tri Kiến, tức là sự thấy biết của bậc Thánh. Còn nếu mình thấy theo phàm tình của mình thì vĩnh viễn không bao giờ mình hết khổ. Chúng ta phải tập thấy bằng cái thấy của Phật, bằng trí huệ để phá vỡ sự nhìn nhận sai lầm về một cái tôi. Chúng ta thấy rõ đây là năm đống: một đống sắc, một đống cảm giác, một đống nghĩ tưởng, một đống suy nghĩ, và một đống nhận thức. Nó chỉ là đồ lắp ráp, đồ kết hợp, đồ giả tạo. Khi thấy được bản chất rồi thì mình luôn luôn nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức, nhất là cảm giác. Từ đó, chúng ta phát hiện ra được những tham, sân, si, bản ngã để mình có những phương pháp thích ứng trong việc tẩy sạch, trừ diệt, làm trong sạch, thanh tịnh nội tâm. Như vậy sẽ đem lại hạnh phúc cho tự thân, cho tha nhân, cho xã hội và cho khắp thế giới chúng sanh.

Kính chúc quý vị có được sự hạnh phúc an lạc! Cuối lời, con xin ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo gia hộ cho Hòa thượng Tôn Sư và chư Tăng ở tại bổn tự được phước trí viên minh, là con mắt cho trời và người, khai mở Chánh Tri Kiến cho tất cả nhân thiên đều được lợi ích.

./.