Kinh Nikāya Giảng Giải - Phân Biệt Thức Tri Và Tuệ Tri (Đại kKinh Phương Quảng - Trung Bộ 43)
Kinh Nikāya Giảng Giải
Phân Biệt Thức Tri Và Tuệ Tri
(Đại Kinh Phương Quảng – Trung Bộ 43)
Thích Minh Thành
Ngày 01 tháng 05 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối thoại giữa hai vị Thánh Tăng PAGEREF _Toc197329192 \h 1
II. Ba hạng trí tuệ PAGEREF _Toc197329193 \h 3
III. Lo lắng, cẩn thận PAGEREF _Toc197329194 \h 6
IV. Nhờ thấy khổ nên được an vui PAGEREF _Toc197329195 \h 10
V. Mục đích thực sự của đời sống PAGEREF _Toc197329196 \h 11
VI. Người tu tinh cần – người tu hời hợt PAGEREF _Toc197329197 \h 16
VII. Thức tri – tuệ tri PAGEREF _Toc197329198 \h 18
I. Đối thoại giữa hai vị Thánh Tăng
Con kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí. Hôm nay, chúng ta tìm hiểu bài kinh “Đại Phương Quảng”. Trong bản kinh này, chúng ta sẽ nghe được tôn giả Sariputa – Xá Lợi Phất, đàm luận với tôn giả Mahakotthita (Đại Câu-hy-la). Hai bậc thánh Tăng đàm luận với nhau, thì chúng ta sẽ hiểu được rất là nhiều phương diện, khía cạnh của thánh trí tuệ. Làm sao để đưa đến sự thấy đúng của một người tu, làm sao để đưa đến cái thấy biết bằng trí tuệ. Tại sao mình phải tái sanh, tại sao mình lại có mặt ở đây. Làm sao để mình đoạn tận sanh tử, cũng như là đạt đến những cái tâm rộng lớn, vô lượng, bất động và giải thoát. Thì trong buổi đàm luận của 2 bậc đại thánh Tăng, thì ta sẽ được học rất là nhiều những trí tuệ.
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahakotthita (Đại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahakotthita nói với Tôn giả Sariputta:
– Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Duppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?
– Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nap-pajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.
– Lành thay, Hiền giả! Tôn giả Mahakotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sariputta một câu hỏi nữa:
– Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
– Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.
– Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
– Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.
– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
– Này Hiền giả, Trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này. – Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
– Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc thọ. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.
– Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?
– Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.
– Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
– Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
– Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì? – Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.
– Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được? – Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?
– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).
(Trích Trung Bộ Kinh – Đại kinh Phương Quảng)
II. Ba hạng trí tuệ
Chúng ta thấy hồi xưa các bậc thánh, hay là các vị đi đến hỏi đạo đó, thì trong câu hỏi thôi sáng rõ lắm, lặp tới lặp lui nhiều lần. Tâm của các ngài rất là đơn giản, minh bạch, không thấy sự thúc giục ở bên trong. Câu hỏi rõ ràng, trong sáng, đơn giảng. Còn mình bây giờ nhiều khi hỏi, mà ngồi quài không biết hỏi cái gì nữa, nói giống như kể tiểu sử vậy đó. Chứng tỏ nội tâm si mê, nói ở trong hôn mê, nói ở trong mien mang, ở trong dục. Thành ra chỉ 1 câu hỏi thôi, mà chúng ta thấy được nó đơn giản lắm. “Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?” Lặp tới lặp lui như vậy là 3 lần câu hỏi đó, mỗi 1 cái mình để ý mình học.
Ngài Xá Lợi Phất mới trả lời: “Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nap-pajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ”. Hôm qua chúng ta học 3 loại trí tuệ là gì ạ? Đầu tiên biết bằng tưởng tri, thức tri và tuệ tri. Chính vì vậy mà con mới liên hệ đến bài kinh này đó, để chúng ta dễ nắm bắt sự liên hệ. Biết bằng tưởng, biết bằng nhận thức và biết bằng tuệ. Ngài mới hỏi ở đây thế nào là liệt tuệ? Liệt tuệ ở đây là cái biết hạ liệt, cái biết thấp kém. Vậy thế nào là cái biết hạ liệt và thấp kém? Thì ngài Xá Lợi Phất mới trả lời là cái biết đó không biết bằng trí tuệ, thì cái biết đó là cái biết thấp kém, gọi là liệt tuệ. Chữ “liệt” ở đây không phải bại liệt đâu, liệt ở đây đối với chữ “thắng”. Chữ “liệt” là hạ liệt, thấp kém, chữ “thắng” là cao thượng.
Nhiều khi mình không biết chữ Hán Việt thì nói liệt tuệ là trí tuệ bị tê liệt, liệt ở đây là hạ liệt. Không tuệ tri là không có biết bằng trí tuệ, mà người không có biết bằng trí tuệ thì người đó không có biết được thân xác là khổ. Người không biết được đời sống này khổ đau, người đó là người không có tuệ tri. Người mà ảo tưởng đời sống này là vui, là sướng, là bền, là lâu, là còn hoài, là có một cái tôi, là hấp dẫn, thì người đó là người không có tuệ tri. Không biết được thân xác này là khổ, không biết được nguyên nhân của khổ, rồi không biết được sự khổ chấm dứt và con đường đưa đến khổ đau. “Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này hiền giả nên được gọi là liệt tuệ”.
Thành ra chữ “liệt tuệ” nhiều khi người ta nói đơn giản là không có trí tuệ, không có tri thức. Nói tiếng Việt như vậy mình bây giờ dễ hiểu hơn. Tức là người này là một người rất là thông minh, rất là bén nhạy, thậm chí là tinh ranh, xảo quyệt, khôn khéo, ma lanh, nhưng mà người này không có trí tuệ. Đối với Phật pháp người này là cái biết hạ liệt, thấp kém. Và cái biết đó làm cho mình khổ đau, và làm cho người khác đau khổ. Cái này nhiều không ạ? Đây còn được gọi là ác tuệ, là cái biết theo chiều hướng xấu ác. Cái biết ở trong cái ích kỷ, hẹp hòi, cái biết ở trong cao thấp, hơn thua. Cái này là con nhấn mạnh 3 bữa đó, bữa nay là bữa thứ 3. Chúng ta nhớ trong bài “Dạy Con” của bậc đạo sư, ngài nói các bậc thánh từ bỏ những cái biết hơn thua đó.
“Sống trí tuệ các con thương mến
Sống tập nhìn ngũ uẩn vận hành
Tập nhận ra dục ái tham sân
Tập thấy rõ vô thường vô ngã
Sống buông bỏ các con thương mến
Bỏ đúng sai, được mất, hơn thua
Bỏ chê khen, thương ghét ở đời
Các bậc thánh đã từ bỏ chúng”
Thật ra cái này con đã ứng dụng từ hồi còn nhỏ, cho nên khi vào dòng pháp này con mới thấy mình đi đúng đạo lộ nên mới gặp được Chánh pháp. Mình tu mình đừng có quan tâm cái đúng sai, được mất, hơn thua, khen chê, thương ghét, cái này là rác rưởi. Mình quan tâm đến vấn đề mình có đi đúng Chánh pháp hay không, mình có đoạn tận được tham, sân, si, dục ái, mình có bẻ gãy bản ngã hay không. Còn cái chuyện của người thì người ta có miệng người ta nói, không quan trọng. Bây giờ nếu đây là cục vàng, mà người ta nói đó là cục phân, thì nó có từ cục vàng biết thành cục phân không? Mười người nói nó là cục phân, thì nó có biến thành cục phân không? Một trăm người nói, một triệu, một tỷ, tám tỷ người nói thì sao? “Dạ không”.
Chắc không? “Dạ chắc”. Bao nhiêu phần tram? “Dạ 100 %”. Sáng mắt ra chưa? Đừng quan trọng miệng đời, vàng thiệt thì đâu sợ lửa. Đức Thế Tôn nói đây là khổ, khổ là đây. Hơn 3000 năm sau thì sự thật khổ là khổ, không thể thay đổi được. Mà quan trọng mình thấy cái khổ đó đó, chứ không phải mình với người kia cự cãi nhau là Phật nói đúng hay là sai: “Phật nói ở đâu? Nói ở chỗ nào? Tôi đi tìm đến chỗ đó”. Không cần mấy cái đó, cần cái mình thể nhập sự thật khổ ở trong thân tâm của mình. Thành ra mình sống mà mình bỏ được những cái đúng sai, thương ghét, được mất, hơn thua, khen chê ở đời này mình nhẹ lắm. Nhẹ như là áng phù vân, ngồi ngắm mây bay, không có gì quan trọng trên cuộc đời này.
Nhiều khi mình mới ghe tiếng thôi, về cái là mình ăn cơm không ngon, ngủ không được. Chi cho khổ vậy? Tức là mình không có nội hàm, nội tại, nội lực. Giống như bông gòn vậy đó, đứng ở ngoài ngã bảy (ngã bảy chuồng chó hả). Rồi đứng tung lên bốn phương tám hướng hết. Chỉ cần một lời nói của người khác khiến tâm mình dao động, đổi thay, lung lay. Cho nên càng về sau này con mới càng thấy, tịnh tính bất động tại sao nhập lưu. Chỉ bám vào pháp thôi, không bám vào bất cứ một ai hết. Bám chắc, nắm chặt vô cái tuệ tri, thánh trí tuệ là tối thượng, tự nó là siêu việt hết tất cả. Đó là bí kíp để tâm mình tịnh tính bất động, bất lay chuyển, bất thoái chuyển, không rung chuyển, sát quyết trong tâm của mình.
Ngoài sự học pháp, hành pháp ra thì tất cả đều vô nghĩ, vô giá trị, vô thường, vô ngã, vô tích sự, là trống rỗng, trống không. Tất cả mọi cái của mình đều hướng về pháp, hướng về sự thật để thấy được khổ đau, bản chất của đời sống này. Không thấy cái đó dù mình tu cái gì đi nữa, thì cũng tu trong mê muội, tu ở trong tà kiến. Cho nên lấy khổ làm thầy, lấy khổ làm con mắt, làm trí tuệ, làm khối óc, làm trái tim, làm lẽ sống, sự sống, chất sống. Khi mình thấy khổ trùm khắp tất cả: “Ở đây là những đống đau khổ đang ngồi đây”. Khổ mình mới lên tu đúng không? Nhiều khi mình không chấp nhận, ngồi vậy đó chứ bên trong nó chống đối.
III. Lo lắng, cẩn thận
Nhưng mà đến khi nó thấm thía rồi, thì mới thấy được pháp vô thượng thậm thâm, vi diệu. Chỉ có thấy khổ mới bớt ham, bớt muốn, bớt thích, bớt khoái, bớt chạy, bớt đuổi, bớt tìm. Nếu mình không thấy khổ hổm rày lễ chết mấy chục mạng rồi, bị thương cả hang tram. Rồi mình thấy vui mà, xông lên, nhào lên, tiến lên, vọt ga cho mạnh lên. Cuối cùng rồi mình mang một tấm thân tàn ma dại, bệnh tật suốt đời, gãy chân, bể đầu, nằm 1 đống đó để cho cha mẹ khổ đau. Vì một cái dục ở trên cái xe phân khối lớn, đó là còn sống đó, còn không thôi thì chết. Cho nên khi mình nhìn thấy được cái khổ này, thì tham, sân, si, bản ngã, dục ái nó sẽ lắng rất là nhiều.
Mình có thể ở yên được mấy ngày lễ ở trên núi này, để mình thưởng thức sự bình an, sự li tham, sự rời ra, sự thoát ra. Thưởng thức chưa? Còn nếu mình không thấy khổ, mình không thấy những tai họa, hiểm nạn, bất an ở trong cuộc đời này. Thì mình bóp vô thì cái gai nó đâm, hoa hồng có gai (chú bên đây có biết không? Bên đây nữa có biết không?) Cũng nhìn thấy đóa hoa hồng, nhưng mà thấy nó đẹp quá, thì cầm giật cho nó nhanh, nó mạnh vô. Cái rồi trúng vô cái gai nhọn, nhiều khi trong gai có độc nữa. Thành ra nhiều khi nhìn thấy hoa hồng, nhưng không thấy cái gai ở dưới. Thấy hoa hồng tức là thấy vị ngọt của sắc, mà không thấy gai tức là không thấy sự nguy hiểm của nó. Chúng ta thấy giải thích như vậy có dễ hiểu không?
Sự ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly đó. Sau khi bị đâm chảy máu rồi thôi, nghỉ. Để cái tay không cho nó lành, để cái tay này mở kinh ra đọc, để cái tay này ngồi thiền. Vậy là thoát ra rồi đó, bàn tay này được thoát ra khỏi những đám gai, bụi gai, đống gai đó. “Này các Tỳ-kheo, phía trước mặt các ông là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, phía trên là gai, phía dưới là gai, chỗ nào cũng có gai, cẩn thận nha không”. Nó Đức Phật dạy không? Không phải chỉ hoa hồng mới có gai. Trong cái thấy của mình, nếu mình không khéo nhìn nó có gai. Trong cái nghe của mình, nếu không khéo thì nó có gai. Nổi lên không phải là bồ đề giác, mà có thêm từ là bồ đề gai. Tức là cây bả đậu đó, cái lá nó giống giống cái cây bồ đề mà nó có gai.
Người ta nhìn cái cây thì người ta tưởng là cây bồ đề, nhưng mà tới chừng lại gần đụng vô thì nó đâm, có gai. Người ta nhìn thấy tu tưởng đâu hiền lắm, từ bi lắm, ai dè lại thì sân si nổi gai lên, nên mới kêu bồ đề gai. Có không? Cái này cũng hơi bộn không? Cho nên mới có cái từ đó, chứ nếu không thì đâu có. Cây bồ đề vốn đâu có gai, cây bả đậu nó giống giống vậy đó những nó có gai, cái gai nhọn nhọn. Như vậy phải làm bồ đề thiệt, chứ đừng làm bồ đề gai, bồ đề dỏm. Như vậy để mình thấy được sự thật của khổ và nguyên nhân của khổ. Thì mình mới có được sự phòng hộ, sự dè chừng, cẩn thận, sự bảo hộ khi thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc.
Khi nói chuyện với một ai mình cần phải cẩn thận, khi hành xử với một ai thì mình cũng phải có sự chánh niệm và để ý. Chỉ cần một lời nói bất cẩn, một hành động vô ý của mình, không có kiểm soát, không có thân hành niệm. Thì có thể mình làm cho người ta rất là đau nhức, nhức nhối mà mình không biết. Bởi vì vô minh, bởi vì không thấy, không biết cho nên cứ nói vô tư, cứ nói. Người nghe đó người ta rất là buồn, rất là buồn đau. Thậm chí là mẹ cha của mình, những người thân thương nhất trong cuộc đời của mình. Vì hành vi, câu nói, cử chỉ, thậm chí là một ánh mắt của mình làm cho người ta quặng lòng, nhói tim, mà mình không hề hay biết.
Bởi vì mình đâu có chánh niệm tỉnh thức, đâu có tỉnh giác đâu. Giống như mình chạy xe vậy đó, chỉ cần mình bất cẩn 1 chút thôi có thể rớt xuống vực sâu, chỉ cần mình bất cẩn 1 chút thôi có thể tai nạn giao thông. Chỉ cần mình mở 1 cánh cửa ra, có thể chết người. Mà đâu có ai suy nghĩ là mình mở cánh cửa ra, thì có thể làm chết người ta đâu. Không ai nghĩ vậy hết, mà đó là sự thật, chúng ta có thấy không? Chuẩn bị bước xuống xe chỉ có mở cánh cửa ra, và chết người đang chạy tới, người ta đập đầu, vỡ sọ não. Nhiều khi cha mẹ dạy con, hay Đức Thế Tôn dạy các đệ tử, hay sư phụ hướng dẫn học trò: “Sao khó quá vậy, làm gì nói dữ vậy, mấy cái này làm gì dữ thần vậy”, mà đụng chuyện thì trễ rồi.
Bởi vì có học, có hiểu, có sự cẩn thận, cẩn trọng, cẩn mật, nghiêm cẩn trong 4 oai nghi, trong thân hành niệm, suy tư trong cảm thọ, nhận thức, suy tưởng của mình. Cho nên mỗi cái mình đều cẩn trọng, cẩn thận giữ cho mình và giữ cho người. Cuộc đời đã khổ rồi, mà bây giờ nếu mình không chánh niệm tỉnh giác, không bảo vệ tâm hiền tâm từ, thì nó càng khổ them, càng gây hại cho mình, cho người. Cho mình quán nguy hại rất là hay, lúc nào cũng phải nhớ sự nguy hiểm và tác hại, sự buông lung phóng dật. Nguy hiểm và tác hại của sự bất cẩn, của lời nói, của suy nghĩ bất thiện này. Nguy hiểm và tác hại của những cảm giác buông thả, buông trôi, buông lơi, buông rơi, buông lung phóng dật này. Nguy hiểm và tác hại, của hình bóng này trong tâm.
Nguy hiểm và tác hại của nhận thức mà nó ngược lại với trí tuệ, tuệ tri này. Mình phải luôn luôn quán nguy hiểm và tác hại ở trong 5 thủ uẩn, 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xứ, thập nhị xứ, thập bát giời. Nhìn thấy được sự nguy hiểm, nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm hết. Cho nên nhiều khi mình ra mình ngồi ngoài vườn tre, con nhìn lên cho thấy nguyên 2, 3 cây mà nó yếu rồi, nó rớt xuống mà trúng cái đầu là coi như tiêu đời, toàn là đầu trọc không. Mà ngồi đó không ai để ý, con phải kêu đi lên coi thử. Mình thấy được sự nguy hại đó rất là tốt, bảo vệ cho mình và cho người, mình thì cứ đơ đơ, trơ trơ à. Hôm qua đi qua bên thánh pháp viện cũng vậy, có 2 cái ngã xuống, đi lên thêm xíu nữa thấy thêm 1 cái cây nó ngã xuống nữa. Mà không có ai dòm hết trơn, ở đó không có ai nhìn, ai nói gì hết.
Bởi vậy nhiều khi con cũng khổ, đi tới đâu có chuyện tới đó. Mình cẩn thận, mình kx, mình lo cho mọi người thì đi tới đâu nó có chuyện tới đó. Mình sống vô tư, sống như nai tơ, như trẻ thơ, sống tâm lờ đờ, mắt lờ mờ, thì mình không thấy có chuyện gì hết. Lúc nào cũng bình bình, an an, ổn ổn, có an toàn cảm. Tức là có cảm giác an toàn, an ổn, an bình dữ lắm. Mà không thấy nguy hiểm đang rình rặp cùng khắp trên đầu, dưới chân, phải trái, trên dưới, trước sau, chỗ nào cũng có nguy hiểm hết. Thành ra Đức Phật dạy trong bài kinh “Chánh Giác”, Ngài mới quán chiếu sao mà nó gần tới rồi mà chưa tới, không biết tại sao. Mà sự từ bỏ của Ngài về 5 thủ uẩn, chưa được tới chỗ thâm sâu.
Thì Ngài mới phát giác, phát hiện ra sự quán về nguy hại của Ngài chưa có viên mãn. Sau đó Ngài phát triển lên sự quán về nguy hại của 5 thủ uẩn, quán quài, quán thâm sâu vô đó đầy đủ mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, cho đến tận cùng sự nhỏ nhiệm nhất. Rồi cuối cùng Ngài xuất ly 5 thủ uẩn, thành tựu chánh giác. Bài kinh đó rất quan trọng, bài kinh “Chánh Giác” chúng ta đọc, để chút con gửi lên nhóm. Vì mình không có thấy nguy hiểm và tác hại xung quanh mình, tức là mình không có thấy khổ, không có thấy vô thường. Mình cứ nghĩ nó thường thường, đều đều: “Ngày mai tôi cũng nghe, tuần sau tôi cũng nghe, tháng sau tôi cũng nghe, cho nên bữa nay không nghe được thì thôi mai nghe. Hôm nay không thiền được thì mai thiền, bữa nay không làm được thì mai làm”. Chứ mình không biết ngày mai, chính là đời sau của mình.
Mình thấy mấy người đi chơi lễ chết, họ đâu có nghĩ lã lễ này họ chết, học biết họ chết thì họ đâu có đi. Mấy người đi máy bay họ chết, nếu học nghĩ, họ biết được học chết thì họ đâu có bị chết. Chỉ cần ánh mắt nhìn thôi, thì họ đâu có biết là họ sẽ chết sau ánh nhìn đểu đó. Mấy người chụp hình ở Đà Lạt, Nha Trang, tạo dáng trên ngọn đồi, họ đâu có nghĩ là họ chết. Cho nên họ trượt chân họ chết ngay chỗ chụp hình đó, mà nhiều người chứ không phải một người. Tháp Tràm ở Nha Trang, ở đây có mấy vị ở Nha Trang nè. Mới vừa sửa xong bậc thang 5, 7 bậc thang, lên đứng tạo dáng, sao mà nó trượt nó đập đầu xuống chết ngay tại chỗ, là vì một tấm hình thôi.
Cho nên thật sự mình không biết rằng mình chết khi nào, mình chết ở đâu, mình chết ra sao, mình không biết. Người trẻ chứ đừng nói chi người già, đừng nói chi người bệnh mà bệnh gần chết luôn, mà mình chứng kiến người ta không nghĩ người ta chết. Tâm thức chúng sanh là hôn ám, si mê lắm. Chính vì mình không có lo trước, không có suy tư, không có lo sợ, không có chuẩn bị, không có lo lắng cho cẩn thận. Cho nên khi bất thình lình nó ấp tới, thì mình chết trong hoảng loạn, hụt hẫng, bàng hoàng, khủng hoảng, khủng bố, tai nạn. Mà cái chết như vậy là cái chết mà Đức Phật gọi là bất tượng. Chẳng những về vật lý mà còn về tâm lý nữa, còn tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, mà chết như vậy là chết trong bất tượng.
IV. Nhờ thấy khổ nên được an vui
Cho nên thường xuyên phải nhớ sự nguy hiểm cùng khắp mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp này. Trong thân xác, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, trong nhận thức, tất cả trong này. Rất nhiều nguy hiểm và tác hại, nếu mình không có chánh niệm và tỉnh giác, không có phân biệt giảng trạch,trạch pháp. Không có phân biệt rõ cái này là thiện, cái này là bất thiện, trong một ý nghĩ có thể giết chết người ta. Một suy nghĩ, một quyết định sai lầm có thể là phá sản, vô tù, gặp tai nạn, mất mạng như chơi. Cho nên là mình phải lật ngược suy nghĩ từ trước tới nay trở lại, từ cái biết theo tưởng tượng thành cái biết theo tri thức, bằng cái biết theo trí tuệ.
Những cái biết mà nãy giờ chúng ta học, là cái biết bằng trí tuệ. Cái biết này nó đưa chúng ta đến sự cẩn thận, đưa đến sự phòng hộ, bảo vệ, chánh niệm tỉnh giác, lo lắng và lo sợ. Để cho mình được an ổn, an lành, an toàn, an bình, an tịnh, an lạc, an vui. Nhờ thấy khổ cho nên mình được an vui, chịu không? Thấy khổ mới được an vui, còn nghĩ vui nó đưa đến khổ. Mà thấy khổ được an ổn và an vui, đây là chỗ đặc biệt mà chỉ có học Phật mới biết, chứ không có học Phật là không biết. Mấy thầy ngồi thanh tịnh, mấy sư cô ngồi lắng dịu ở đây nè. Nếu giờ này mà không có cạo đầu, không có đắp y, không có ngồi ở đây thì bây giờ ở dưới nhà làm gì? Tưởng tượng ra đi, đang làm gì ạ?
Cô Hiền Mai cuời dữ kìa, cô ở nhà làm gì? Có tham, sân, si, dục ái, nước mắt không? “Dạ có”. Đó là mình phải quán được sự bình an và hạnh phúc, khi mình thoát ra, mình rời xa, mình từ bỏ cái đống khổ đau ở dưới kia. Các vị cư sĩ còn tóc đang ngồi ở dưới đây an bình như vậy, sáng thức dậy mà được tỉnh táo, tỉnh giác, nghe thánh trí tuệ, ngồi thiền, pháp nhũ vang rền thánh âm của Đức Phật được trùng tuyên như vậy. Nếu mà quý vị ở nhà thì giờ này làm gì? Có 2 cậu cười kìa, ở nhà làm gì? Các cậu, các chú, các cô đang làm gì? Có được giống như vầy không? Có thưởng thức được cảm thọ giống như vầy không? Có một không gian, một nội tâm như vầy không? Có sự thấy biết như vầy không? “Dạ không”.
Hoan hỉ không? Mình phải khéo biết như vậy đó, thưởng thức hương vị hỷ lạc li tham. Cái đó chính là thức ăn, nguồn bổ dưỡng, dinh dưỡng, dưỡng chất, thuốc bổ tâm linh cho mình, để cho mình hân hoan, thích thú tu hành. Còn nếu mình ở đây mà mình cứ nhớ những cái dục lạc ở nhà, là uổng lắm, là 2 đường đều mất hết trơn. Cái kia không được hưởng, mà cái này cũng không được nếm. “Lưỡng đồ câu thất”, 2 đường đều mất hết.
V. Mục đích thực sự của đời sống
Biết cách hưởng thụ chưa? Chỉ cho biết cách hưởng thụ đó, đó là cái tâm mình hướng đến sơ thiền, hướng đến sự vui thích, khoan khoái, phấn khởi, hân hoan, hạnh phúc, sung sướng trong đời sống rời xa những cái ồn ào, lao xao, lăn xăn, động loạn, hỗn loạn.
Bây giờ là thiên hạ đại loại, mà mình được an bình, an yên, an nhàn, an tịnh, an lạc, an ổn như thế này. Để mà mình được thấm thía trong thánh trí tuệ của Đức Phật, đó là những giây phút thần tiên của cuộc đời. Phải biết chiêm nghiệm, thưởng thức, cảm thọ, suy tư như vậy. Mỗi một ngày mình ở đây là nó quý hơn vàng, quý hơn hột xoàn, quý hơn resort 5 sao, 7 sao gì đó. Quý hơn tất cả những cái gì ở trên địa cầu này, không quý bằng giây phút mình được thực hành thánh pháp, thánh trí, thánh tuệ, thánh đạo này. Có nếm được không thưa chú Nhất Từ? Chú ngồi chú cười híp từ đầu đến giờ, mẹ chú cũng cười theo, 2 mẹ con cùng cười, hạnh phúc không? “Dạ có”.
Tu là mẹ đi tu, xong rồi dẫn con đi tu, dẫn anh chị em đi tu. Đó là vì từ tâm, vì tình thương, muốn lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho những người thân thương của mình. Phần này con đã chia sẽ rất nhiều lần, cho nên ở đây con chia sẻ theo một phương diện khác, để chúng ta nắm thêm.
“– Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
– Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.”
Có tuệ tri về 4 sự thật về đời sống, thật là vấn đề này là con chia sẻ hổm rày là 4, 5 buổi, mà cái này là nói tới chết luôn, thánh trí về đời sống. Chúng ta phải tự hỏi mình tại sao mình sanh ra, sanh ra để làm gì, mục đích thực sự của đời sống này là gì trong cuộc đời này. Câu hỏi này là câu hỏi mình phải hỏi hoài, hỏi cho chừng nào thành tựu thánh trí tuệ thì mới thôi. Một vấn đề lớn, một câu hỏi lớn của nhân loại, là một vấn đề của bản thân, của tự thân mình. Mình sanh ra ở đây để làm cái gì? Đời sống này làm cái gì? Mục đích thực sự của kiếp người này là cái gì? Là tìm dục ư? Là tìm ái ư? Chạy theo cái ham muốn, ham thích, thèm khát, khao khát, khát ái ư? Mục đích của đời sống này là để đi sân giận, đấu đá, hơn thua, đúng sai với người ta hay sao?
Mục đích của đời sống này là để phình to, phình trương, để ngất cao cái bản ngã này lên hay là để làm gì? Đó có phải là mục đích của đời sống này? Mình thường nhắc mình như vậy, thường hỏi mình như vậy, thường hư niệm, quán niệm như vậy. Thì lần lần những cái sân hận, bản ngã, vô minh, hôn ám, vô nghĩa trên cuộc đời này lần lần nó sẽ rơi rụng, tự động rơi rụng như lá mùa thu. Không còn muốn hơn thua với bất cứ 1 ai. Mình thấy sự hơn thua là một sự nhục nhã, mình thấy sự đấu đá nhau là sự hèn hạ, nhục nhã, ngu si, dại dột, trẻ thơ, ấu trĩ. Nên không còn muốn hơn thua, với bất cứ một ngũ uẩn nào trong cuộc đời này.
Mình chỉ muốn hơn thua với chính mình, bởi vì mình ngu, mình vô minh, mình chưa có phá được đống vô minh này để mình đạt được trí tuệ. Thì mình phải hơn thua với chính mình, nhất trí không? Không có hơn thua với bất cứ 1 ai trên cuộc đời này hết. Giỏi hơn thua với tham, sân, si của mình đó: “Tao phải trị mày, tao phải bẻ cổ mày cho được. Cái bản ngã này tao phải diệt mày, tao phải đập tan cái thân kiến này, bẻ gãy ngọn cờ kiêu mạng này. Diệt tận hết tất cả những cảm thọ sân hận này. Để cho tâm ta hoàn toàn an tịnh lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, hiền hòa, từ bi, vô lượng”. Đó là “tại bãi xa trường thắng hàng ngàn quân địch, không bằng tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất”.
Đó là ý nghĩa của câu pháp cú đó đó, hàng ngày mình chiến đâu với mình, hơn thua với mình. Mình tranh đấu, tranh giành, tranh sáng, tranh tối với những cái ác và bất thiện pháp trong tâm, trong suy nghĩ, trong từng cảm giác, tư duy, nhận thức của mình. Thì như vậy là chiến sĩ, dung sĩ, là đi theo con đường của bậc vô thượng sĩ. Và vô thượng ở trong chính nội tâm của mình. Từng cái suy nghĩ phải hơn thua với nó: “Mày hồi xưa tao không thấy mày nha mày, bây giờ tao thấy mày rồi nha mạy, thằng hành này nè. Thằng hành đâu? Mày ra đây, cúi xuống đây tao đánh cho mày 100 roi, sáng 100, trưa 100, chiều 100”. Nhớ bài kinh không? Hành, thức gì quýnh ráo hết trơn. Dạy con mà, dạy ngũ uẩn. “Sắc mày nghe lời nha không? Cứ buông lung phóng dật hoài hả, ra đây quỳ xuống xử lý mày”.
“Thằng thọ tối ngày mày cứ phừng phừng lên hả, sôi máu, hăng máu dữ lắm phải không? Hăng máu, khát máu phải không?” Khát máu là đi ăn những chúng sanh, hăng máu là chạy theo những cái dục, sôi máu là sân hận. Là bên trong của con người mình đó, ăn đủ thứ con hết, không con gì chừa. Con bò ăn cỏ, nó có ra sữa cho mọi người uống, những con vật như con thỏ nó ăn củ cà rốt đơn sơ. Còn con người mình là giống gì cũng ăn, ăn khủng khiếp, ăn kinh hoàng, ăn ghê rợn, ăn rung rợn. Thậm chí là mình lấy máu người ta uống, ghê lắm. Có những loài chúng sanh, mình thấy trong phim ma cà rồng chẳng hạn, là đi tìm máu không à. Và những loài ngạ quỷ nó sôi máu, sôi sùng sụt cả ngày đêm. “Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu, đốt cháy tâm can trong hận sân”.
Sôi sùng sụt, cái bếp lò lửa phía dưới cảm thọ đun lên, mặt hầm hầm tối ngày. Hễ ai đụng vô 1 cháy là té lửa ra, nhất là trời nóng này nữa. Có không? Nó cọ, nó quẹt chút xíu thôi là sẵn sang xuống xách dao, xách mã tấu đâu trong xe, trong người cất ở trỏng dao thái, dao gì đó, hễ đụng vô 1 cái là mốc ra. Cho nên thật sự con có nhiều vị lên hỏi: “Sao mà thầy bỏ Sài Gòn lên đây hay vậy?” Thật sự hồi xưa lúc nhỏ xíu 20, 30, mười mấy năm trước con đã đọc kinh Nikāya. Đức Phật nói sao này tới thời ác đó, thì chúng sanh cầm cái gì vô cũng thành vũ khí hết. Con người sẽ sát hại, tàn sát với nhau mà không còn nhân nghĩa, không còn đạo đức, không còn lương thiện gì hết. Thì những người hiền lành người ta sợ hại, người ta chạy lên núi.
Người ta ở lại người ta giữ giới lại, và các cái giới bị phá đổ hết hoàn toàn. Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nghiệm ngập, say xưa đầy dẫy hết tất cả. Mà chẳng những người ta không giữ gìn, mà người ta còn tung hô, xưng tán, khích lợi, ca tụng những tội ác. Mình thấy bây giờ mà đăng người nào tu, người nào nghĩ đạo đức đồ ít người coi lắm. Mà mình đăng vô giết, chém, hãm hiếp này nọ kia thì coi số lượng lớn lắm. Ăn tầm bậy tầm bạ, chửi tùm lum tùm la mà coi quá xá quà xa. Mà ta nói đạo đức, chánh pháp không ai muốn nghe hết. Chúng ta thấy không? Đó là điềm đi trước, tướng báo trước của mạt vận. Sụp đổ hết tất cả cái hiền thiện, thiện pháp sẽ suy giảm, sẽ mai một, sẽ đổ bể.
Và các bất thiện pháp, ác pháp tăng trưởng, hưng thịnh, phát triển, quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo tất cả thân tâm của chúng sanh trên địa cầu này. Như vậy thì sao? Thì những người hiền thiện sẽ chạy vô núi, đi vô rừng sống ẩn dật và bắt đầu giữ giới hạnh lại, và tuổi thọ con người sẽ tang lên. Tại vì lúc đó Đức Phật nói là giảm giảm, càng phạm giới nhiều thì tuổi thọ càng giảm. Càng ác nhiều, thì sanh mạng càng ngắn lại, giảm riết cho tới tuổi thọ con người còn 10 tuổi. Bây giờ chúng ta thấy khủng khiếp, vị thành niên mà tội là mấy chụp ngàn. Kinh hoàng những con số người ta báo cho đó, mình nghe mà khiếp đảm. Vị thành niên 14 tuổi là giết người, 12 tuổi là có con, mới vừa rồi có 1 học sinh đó.
Vậy thì những gì Đức Phật nói, đã biểu hiện ra rất là nhanh. Mà hồi xưa con tưởng đâu 100 năm mới tới, mà bây giờ mới mười mấy năm mà những cái đó đã biểu hiện ra. Bây giờ chúng ta chạy về núi là êm, là chúng ta đang làm theo lời Đức Phật đó, thọ giáo phụng theo lời Đức Phật. Thật sự là sau này rất là khó sống ơ dưới đó, chúng ta đi trước, đừng để nước tới chân rồi mới nhảy. Nước tới lưng rồi lúc đó là lội không kịp. Cho nên khi con nghĩ, con quyết định đi lên trên này 18 năm trước, con nghĩ sau này cái duyên không phải một mình con, mà cho nhiều người khác. Càng về sau này thì sẽ càng nhiều, không có chỗ trước là không được.
Con người quá ác, quá hung hăng, hung dữ, bạo tàn. Bây giờ mình thấy đi ngoài đường là nó giật, cướp giật ngay cả đi vô nhà. Mà rất là hoành hành, bá đạo, khủng khiếp lắm. Những cái ác lấn hết những cái thiện, cho nên sự mà mình nói gọn ở trong cả đại tạng kinh Nikāya “thiện pháp đại thành”. Thành tựu trọn vẹn thiện pháp đó, là sự tu học của mình từng bước lên bậc A-la-hán là chí thiện. Là cảnh giới cao nhất của thiện, chứ đâu có gì đâu. Thành ra kinh Nikāya mình học hay, không có nói gì cao siêu, đao to búa lớn, lựu đạn nổ hay đại bát gì hết. Nói những cái hết sức bình dị, lời của thánh là thánh ngôn, không có nói dối.
Mình tưởng đâu lời thánh giống như trong Tây Du Ký nói ở trên mây, mà nó vang vang ra, không phải, lời thánh là những lời nói chân thật. Còn có bản ngã là nói: “Dạ con còn bản ngã”. Còn có tham: “Dạ con còn có tham”. Còn có dục: “Dạ con còn có dục, con chấp nhận”. Lời nói của thánh ngôn là lời nói thật, không có gì xa vời hết. Hai vợ chồng đánh lộn, chửi lộn, đập lộn nhau rượt chạy rần rần. Mà người ta bấm cửa ra hỏi vợ chồng em sống sao? Thưa: “Dạ sống hạnh phúc dữ lắm”. Cái nắm tay, cái cười, ôm ôm đồ ha, rồi người ta về là màn 2, tập 2, cảnh 2 bắt đầu tiếp tục. Có không mà cười dữ dạ?
Giả dối đóng tuồng thôi, tất cả trên cuộc đời này là những vở tuồng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Là những vở tuồng khéo che, khéo đậy, khéo diễn, nhập vai một chút. Ở trong đó là rầu thúi ruột, mình nói chuyện tiếng Việt cho dễ hiểu. Rầu thúi ruột, tiếng của dân miền Tây mình. Trong kinh thì gọi là sầu, bi, khổ, ưu não, còn tiếng Việt là rầu thúi ruột. Rầu đến nỗi ở bên trong này nó thúi luôn, nó cứ chất chứa bên trong mà không biết làm sao, nó cứ ủ trong này. Nó cứ ủ từ hồi mới lấy chồng, tới về ở mà gặp mẹ chồng nàng dâu là cảnh của bậc đạo sư. Quý vị không biết đâu chứ bậc đạo sư chia sẻ với con nhiều lắm, cảnh của ngài khủng khiếp lắm.
Cảnh mẹ chồng nàng dâu khủng khiếp lắm, nó u uất để nỗi mà trong người ngài nhìn thấy một khối đen trong này. Với thiện tâm của ngài, thì ngài không muốn sân hận lại với người khác. Phải chịu những cảnh u uất khủng khiếp lắm, đập đầu vô trong tường, đấm tay vô trong tường, không biết phải làm sao. Quá khổ đau cho nên cuối cùng ngài mới tìm ra được thánh đạo, sự thể nhập của ngài đây là khổ. Tất cả chúng ta đều có 1 câu chuyện, nhiều câu chuyện dấu kính ở trong lòng. Những câu chuyện đầy nước mắt, những câu chuyện đầy buồn tủi, sầu đau. Do vậy nên tại sao khi chúng ta thiền quán về khổ, chúng ta chia sẻ cảm thọ là khóc rần rần, khóc tan tành, khóc đệ nhất hết trơn. Nói một hồi bây giờ khóc liền nè, để mấy người mới học, chừng nào mấy người mới hết khóa tu về rồi tiếp tục mình khóc. Nhất trí không?
Bên trong là rầu thúi ruột, nó sầu đau, buồn tủi, uất ức, nghẹn ngào, tức tưởi, đau xót, quặn lòng, nhói tim. Mỗi khi mình nhớ lại những cái mình đã từng bị, người nào tâm sự ra rồi thấy hết trơn. Nước mắt ràng rụa trào ra, bởi vì cái thân này chứa không nổi cái cảm thọ uất ức, đau khổ, tức tưởi như vậy đó. Cho nên nó tuôn, nó trào ra được là nó bung ra 1 cái là nghẹn ngào, uất ức. Đó là gì? Là những sự tích tụ ở trong cảm thọ đó, đại khổ uẩn. Mà cái đó mà nó xổ ra là tới rồi đó, bởi vị nó đã chất chứa vô số, vô lượng, vô biên kiếp ở trong đó, chứ không phải chỉ mới 1 đời này đâu. Cho nên chỉ có thánh trí mới xuyên thủng, phá vỡ được cái khổ uẩn đó, mới giải tỏa được cảm thọ đó.
Khi mình quán về khổ thánh trí, quán về những cái dòng luân hồi, oan nghiệt ở trong vô thỷ này. Thì mình được giải tỏa cảm thọ từ từ, nó sẽ vơi vơi. Rồi những lần mình khóc, những lần mình tức tưởi, tuôn trào những cảm thọ mà rúng động, kinh chấn hết trơn, thì là những lần mình giải tỏa khối cảm thọ đó. Những người mà nước mắt đầy mặt hết trơn, mà rung chấn đến nỗi phát biểu không được luôn thì rất là tốt. Bởi vì nó giải tỏa những cảm thọ uất ức, tức tưởi, nghẹn ngào tích tụ ở trong đó. Nó được khai phóng, giải phá, giải tỏa, giải thoát ra. Mà mình giải thoát cho tới khi A-la-hán là nó hết tất cả những cảm thọ đó.
VI. Người tu tinh cần – người tu hời hợt
Những hình bóng, những suy nghĩ, nhất là những cảm thọ đó sẽ giải từ từ. Nó được khai phóng, khai mở, tháo gỡ, xả hơi, xì hơi, bốc hơi, thoát hơi ra. Và tới sau cùng là được 1 cái tâm hoàn toàn tịch tịnh, vắng lặng. Tất cả những khối cảm thọ tích tụ, tham, sân, si, uất ức, đủ thứ ở trong đó nó được giải phóng, giải thoát ra hết, cho nên gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn bây giờ trong cảm thọ mình, là khủng khiếp lắm. Cho nên nhìn hiền hiền mà đụng vô là có chuyện là như vậy đó, tại vì nó nằm sẵn ở trong đó. Một người tu tập tinh tấn, siêng năng là hướng vô trong hoài. Để mà coi rà tới rà lui, kiểm đi kiểm lại, móc trong kẹt, trong xó, trong hốc để coi chuột, gián, tắc kè nó chết ở đâu. Khiêng tủ khiêng đổ ra hết để rửa, để tổng vệ sinh.
Còn người tu phớt phớt nhận diện ngũ uẩn biết vậy 1 chút rồi xong an lòng, vừa lòng với những cái nhỏ bé như vậy. Thì người này tu không có cơ hội, để thể nhập thâm sâu vào dòng pháp. Được ít cho là đủ, chưa được mà tưởng là được, chưa chứng mà cho là đã chứng, cái đó gọi là tăng thượng mạng. Cứ nhìn vô hoài, hướng vô hoài, để mà coi coi, tìm coi còn chỗ nào dơ không, còn chỗ nào mà hôi, thúi, bẩn, cấu nhiễm không. Cứ làm hoài, vệ sinh hoài hoài như vậy, để giải phóng, giải tỏa, giải phá những cảm thọ tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, uất ức, nghẹn ngào, tức tưởi, hận thù ở bên trong. Những cái tham ái, dục ái, cấu uế, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu ở bên trong.
Còn đi tới lậu hoặc nó còn sâu hơn nữa. Lậu hoặc thì nó không có thể hiện ra hành động, lời nói và suy nghĩ. Mà nó ngấm ngầm ở bên trong cảm thọ, nó hoạt động ngấm ngầm. Cái lậu hoặc nó khó nhìn, khó thấy, nó không có nói chuyện, không có hình bóng nhưng mà nó ngầm ngầm, cái đó mình phải tu tinh tấn lắm mới thấy được. Tất cả những cái đó mà đi tới nhiếp phục, chế ngự, diệt tận. Là chỉ khi nào mình ý thức sâu sắc, toàn diện tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sự khổ đau trong dòng luân hồi oan nghiệt. Vô số, vô lượng tập phim mà mình đã đóng ở trong nước mắt, máu, kết thúc trong đau khổ.
Từ khi nào mình ý thức được 1 cách sâu sắc, thấm thía, thấm đẫm, thấm nhuần, thấm gội. Và thẩm thấu bên trong cảm thọ mình là 1 sự khổ đau trong kiếp người, trong đời sống và trong dòng luân hồi này. Không có cái gì là vui hết, mang một cái thân ung nhọt, bệnh hoạn. Mang một cái tâm tật bệnh, đầy dẫy thương tích nhự vầy. Mình coi coi, hằng ngày trong chiêm bao cũng đã dục ái, tham, sân, si rồi. Chứ đừng nói chi mà mở mắt ra là bắt đầu nghĩ đến 1 cái thân dục, rỉ chảy ra cái thân bất tịnh rồi. Trong suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ nó nói, mình nhìn sâu vô nó toàn là vô minh và tham ái, sân si, bản ngã nó điều khiển suốt luôn. Nếu mình nhận diện sâu sắc mình sẽ thấy, đâu có cái gì trong này đâu.
Cho nên người chân tu thật học là thật sự rầu lắm, lo lắm, buồn lắm. Nói cười xã giao như vậy, chứ quay lại chính mình lo lắng, ray rứt. Trăn trở phải làm sao mình phải tìm đủ mọi cách, mình phải giải quyết vấn đề lớn trọng đại này, phải giải quyết nó trước khi mình chết. Con người không biết tu là phơi phới, hướng ngoại, hỉ hả, đó gọi là dục. Không thấy sự nguy hiểm và tác hại của đống máu mủ này, những cái khối cảm thọ bên trong, những dòng suy nghĩ, những bóng dáng, nhận thức bên trong. Nó ủ những cái mầm, căn nguyên, gốc rễ, cội gốc, hang ổ, xào quyệt của khổ nó nằm trú ẩn ở trong đó. Nó nằm ở trong thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, sắc uẩn này.
Vui vẻ gì, hay ho gì, cao ngạo, kiêu căng cái gì trong 1 đống nhơ nhớp, bất tịnh, hôi thối, bẩn thỉu, bệnh hoạn này. Trầm mặt, trầm tư đối với bệnh trầm kha này. Tham, dục, ái trong ta còn rất nhiều. Sao nay sân trong ta vẫn phát triển như vậy? Bản ngã trong ta còn to cao như vậy? Ta lo lắng, khắc khoải, ưu tư, trăn trở, thao thức, ray rứt, ăn không ngon, ngủ không yên. Tìm đủ mọi cách làm sao để tẩy sạch những thức rác rưởi, bẩn thỉu, cấu uế, nhơ nhớp này. Mộ khi ở trong đây là đầy bản ngã, bẩn thỉu, hạ liệt, thấp kém, hèn hạ. Không thể sống một đời sống mà ta kiêu căng, tự phụ, ngã mạn, kiêu mạng, tự thị, tự đại, tự cao, tự tôn như vậy. Đó là những người thực sự ưu tư về đời sống này, ưu tư về đời sống của mình.
Sống ở đây là để mình dẹp những thứ này nè, mình diệt những thứ này. Chứ không phải mình sống để làm cho lớn những thứ này lên, không phải để tăng trưởng, phát triển những thứ này lên. Để chạy theo dục, theo tham, theo ái, để sống vật vờ, phỉnh phờ lừa gạt với nhau. Không phải là để sống đóng phim, để diễn với nhau, giả dối. Chẳng những mình giả dối với người, mà mình còn giả dối với chính mình nữa. Nhận diện ngũ uẩn thì mình sẽ thấy, giả dối với mình là như thế nào. Làm thế nào để thoát ra khỏi đời sống này, làm sao để phá được vô minh, diệt được khát ái. Làm sao để thoát ra khỏi những đống khổ như thế này. Đó là một sự trăn trở, thao thức, ray rứt, lo lắng.
VII. Thức tri – tuệ tri
Cho nên ngài Ma-ha-ca-diếp trong Tương Ưng Cassapa: “Tỳ-kheo không có lo lắng, không có sợ hãi không có đến gần được Niết-bàn”. Tức là không lo lắng trong cái sự nhiếp phục, chế ngự, diệt tận tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Thì làm sao đi đến cái tâm thanh tịnh, hoàn toàn sạch sẽ đối với những thứ đó. Biết như vậy là biết bằng trí tuệ, biết bằng thánh trí, thánh pháp, thánh đạo để đi đến thánh quả.
“Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
“Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.”
Cái thức này biết được vui, biết được khổ, biết được không vui không khổ.
“Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?” Ý ngài hỏi tức là cái biết bằng trí tuệ với cái biết bằng nhận thức nó sự khác biệt gì, và nó có kết hợp với nhau không. Chúng ta học cái này chúng ta mới thấy. “Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp”. Cái biết bằng trí tuệ tức là tuệ tri và thức tri, nó có kết hợp với nhau, không phải là nó riêng biệt. “Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được”.
Cái pháp này có thể kết hợp với nhau, mình nói gọn cho dễ hiểu. Là cái thức và cái trí, 2 cái này có kết hợp với nhau. Điều gì trí tuệ biết được, thì cái thức nó cũng biết được. Điều gì thức biết được, thì trí tuệ nó cũng biết được. Hai cái này nó kết hợp với nhau mật thiết.
“Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
– Này Hiền giả, Trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này”. Trí tuệ là cần phải được tu tập, còn thức là cần phải được rõ biết. Bây giờ nói ví dụ mình dễ hiểu nè, mình nhìn lại tâm mình thì mình thấy có cảm giác không? Mình có thấy trong tâm mình có hình bóng, cảm giác hay suy nghĩ gì phải không? Thì cái biết là thức, thức là cần phải rõ biết, còn trí tuệ là cần phải được tu tập. Thì nó biết trong cái tâm đó, nội tâm có tham mình biết không? Đang sân thì có biết đang sân không? Đang bản ngã thì có biết đang bản ngã không?
Cái biết đó là thức, cho nên rất nhiều người lầm chỗ này. Chỗ này là chỗ rất là khó mà phân biệt, giống như ngỗng chúa chọn sữa. Ngày xưa tương truyền đem sữa với nước trộn chung với nhau, mà con ngỗng chúa khi nó uống là nó chọn sữa uống không uống nước, nó tách cái nước ra. Thì trong sách ví dụ là ngỗng chúa chọn sữa, nước với sữa hòa lại với nhau rất là khó tách, nhưng mà con ngỗng chúa chọn ra được. Thì như vậy làm sao để phân biệt được cái thức và cái trí, tức là thức tri và tuệ tri. Cái biết bằng thức thì nó biết, nhưng mà không có khả năng để đoạn được. Mình xuống dưới mình nhớ lại cái câu hồi nãy ngài giải thích.
“Này hiền giả, nhờ tuệ nhãn pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
Này hiền giả trí tuệ có nghĩa là gì?
Trí tuệ có nghĩa thắng tri, liễu tri, đoạn tận.”
Chúng ta thấy chỗ này sáng nghĩa lên không? Trí tuệ không những nó biết, mà nó có khả năng cắt đứt, còn cái thức là nó biết nhưng nó không có khả năng đoạn trừ được. Cho nên mình cũng biết mình đang giận mà, nhưng mà mình không có đoạn được. Mình không có làm, không có từ bỏ được cơn giận, cái biết đó là cái biết bằng thức, nhận thức thôi. Còn cái biết bằng trí tuệ chẳng những biết, mà nó có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận. Chính vì vậy mà gọi nó là thắng tri, liễu tri. Là cái biết cái biết thù thắng, cái biết rốt ráo. Chữ “liễu” là cái biết trọn vẹn, cái biết tháu đáo, đầy đủ, viên mãn, cao tột, thù thắng, đặt biệt, không cùng chung với cái biết của phàm phu, đó gọi là thắng tri, liễu tri tuệ.
Cái biết này nó có khả năng cắt đứt được tham sân si, phiễn não, bản ngã thì cái đó là tuệ. Chúng ta thấy chúng ta phân biệt được thức tri và tuệ tri chưa? Khi dục khởi lên mình biết có dục không? Nhưng mà mình không có khả năng đoạn được nó. Nó vẫn hoành hành, nó vẫn làm cho mình khổ, cái biết đó chỉ là thức tri thôi. Biết bằng trí tuệ thì biết như thế nào? Cái biết này nó liền đưa ra nguy hiểm, tác hại của dục. Đưa ra hậu quả, hệ quả, đau khổ, trói cột, nguy hiểm, tác hại của dục. Và từ cái biết bằng trí tuệ này, mình có như lý tác ý, nhìn sâu vào khía cạnh, góc độ, bản chất, hậu quả, tai hại, tác hại nguy hại của nó.
Như vậy thì từ cái biết này, nó phá cái dục ái, tham, sân, si. Từ đó nó có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đưa đến đoạn tận do cái tuệ mình sâu hay là cạn. Cho nên tuệ là cần phải được tu tập, trí tuệ cần phải được học tập. Nội lực, đạo lực, pháp lực, sức mạnh trong sự tu của mình nó mỏng hay dày, nó nhiều hay ít, thì lúc đó nó nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận theo sức của nó. Cho nên chúng ta có thể thấy là từ tính, tấn, niệm, định, huệ, ngũ căn biến thành ngũ lực, năm sức mạnh. Thì tuệ lực là sức mạnh để nó cắt đứt phiền não, nhiếp phục, chế ngự tham, sân, si, dục ái, vô minh. Cũng như bây giờ mình học mình biết vô thường không ạ? Biết vô thường sao còn phiền não? “Còn tham”. Đó là cái biết bằng thức, thức tri.
Là mình nhận thức, mình nghe, mình học giáo lý, học bài kinh đó. Thì mình biết à nó như vậy, Đức Phật dạy như vậy, nhưng mà cái biết đó là cái biết ở trong kinh của Phật nói. Nó chưa có được tu tập để nó thành cái biết của mình, chưa có sống được ơ trong cái đó. Mình thành cái biết của mình, thì mình sống trong đó, an trú trong đó, mình ngủ trong đó, mình thở trong đó, mình đi trong đó, mình suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức trọn vẹn ở trong cái đó. Thì cái đó là thể nhập, cũng là tuệ tri, cũng là thắng tri, cũng là liễu tri. Chịu không? Như vậy làm sao từ cái thức mình qua cái trí? Nó phải có một chặng đường, từ cái thức đưa đến cái trí.
Nhưng mà trước khi mình nhận thức được giáo pháp, thì cái thức này là cái thức vô minh không có biết. Nhưng mà nhờ cái thức này học được chánh pháp, thì đa văn thánh đệ tử nó nằm ở chỗ chuyển giao từ thức đi quá trí, thì nó có một chặng đường. Từ cái nghe, nó hiểu, nó suy tư rồi đi tới chặng giữa. Từ cái thức qua trí có 1 chặng giữa, là văn tư huệ và tu huệ. Thì cái này nó mới nghe, nó nhận thức được rồi thì nó hiểu ở trên tri thức, kiến thức, nhận thức, thì nó ở chặng xa hơn. Nhưng mà sau khi hiểu, tại ngày hôm qua có học rồi. Thì vị này tìm hiểu được ý nghĩ, vị này hoan hỉ, thích thú, vui sướng. Thì người này mới tư duy, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm, gặm nhấm, quán niệm thường xuyên.
Thì nó đi qua được chặng giữa rồi, cái chặng giữa này là chặng khó xử lắm, tranh tối tranh sáng. Có lúc nó tỉnh, có lúc nó mê, có lúc nó thấy, có lúc nó mờ. Có không? Mới ngủ thức dậy là mờ rồi đó, tỉnh nó không tỉnh, mê thì nó không mê. Mình gọi là gì? “Ba hồi tỉnh, bốn hồi mê. Đường xưa lối cũ biết về nơi mô”. Là nó chèm nhem mới ngủ thức dậy đó, là nó cũng mới lúc tỉnh, lúc mê, mắt cứ lem nhem lờ mờ. Cái giai đoạn này là giai đoạn tranh tối tránh sáng, từ cái thức đi qua cái trí. Mà làm sao để nó đi nhanh qua đoạn đường, là như lý tác ý. Chính cái nghe pháp và cái thiền quán, ròi tác ý hoài hoài là chặng đường đó đưa từ bên thức cho tới bên tỉnh.
Cho nên mình nhắc nhớ hoài, suy nghiệm, an trú ở trong đó hoài hoài. Cuối cùng cái đó ở luôn bên trong không mất, gọi là an trú pháp, niệm được an trú. Cái đó còn gọi là thể nhập thánh trí, hoặc là nhập lưu, nhiều cái từ lắm. “Dự lưu” tức là đi vô dòng chảy, chúng ta mới thấy cái tầm quan trọng của như lý tác ý, thiền quán và nghe pháp. Từ cái nghe pháp, từ cái suy nghiệm về pháp, suy tư pháp. Cho nên như trong bài Pháp Cú, Đức Phật nói: “Vị Tỳ-kheo mến pháp, thích pháp, suy tư pháp, tâm tư niệm chánh pháp, không rời bỏ chánh pháp”. Mến pháp, thích pháp, suy tư pháp, tư niệm chánh pháp là nhớ nghĩ. Đầu tiên là mến, thích, suy tư, nhớ nghĩ và chiêm nghiệm nó, đó là tư huệ, tư tuệ đó.
Tại sao mà nó quan trong như vậy, chánh tư duy, là vì khi mình đưa pháp vô giống như căn nhà mà tối ngàn năm. Bây giờ nó bắt đầu có được ánh sáng soi vào, thì lặp tức mình nhìn ra được những cấu bẩn, dơ trong căn nhà này. Sau khi mình thấy cấu bẩn, dơ trong căn nhà đó, tức là lúc đó mình mới nhận thức về căn nhà, mới thấy về căn nhà. Còn mình thì phải ra công phu dọn dẹp, tẩy rửa, vệ sinh, lau chùi 1 thời gian nó mới đi đến căn nhà sạch. Cũng vậy, cho nên tại sao mà nói nói: “Ủa, tại sao mà vị thành tựu chánh kiến thấy được tham, sân, si, bản ngã hết trơn mà vị này chưa có diệt”, thì là vậy đó. Là phải còn có một câu phu lâu dài, nhưng mà lúc đó đã biết bằng cái tuệ tri mình chưa viên mãn thôi.
Thành ra giai đoạn nghe pháp, suy tư pháp, chiêm nghiêm pháp, tư duy pháp, nghiền ngẫm pháp là giai đoạn làm cái gì? Là giai đoạn xoay đầu chuyển đổi, làm cho hệ điều hành của vô minh, tham ái chấp thủ trong này có 1 sự chuyển đổi. Tại vì nếu như mình nghe mình mới hiểu 1 lần, mình để qua 1 bên, rồi sau mình sẽ bị mất. Mình cứ nhắc hoài, nhớ hoài, suy tư, chiêm nghiệm hoài, thì những cái này nó vô nó rửa. Cái này là pháp thủy, thánh thủy, nó rửa những cái vô minh, những cái tham ái, những cái chấp thủ, những cái bản ngã đó. Nó thấm mỗi ngày 1 chút, mưa dầm thấm lâu vậy đó. Mình cứ tạt, cứ rửa, giống như mình đem ca nước mình tạt, mình xịt vô vậy đó.
Mình tạt riết thì những cái rong rêu, những cái dơ này kia mình lấy cái cây xịt mạnh đó. Thì như vậy nước pháp nó gội rửa vô, nó xoay đầu, chuyễn não, thay đổi hệ điều hành. Hệ vận hành của vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã trong đó nó bị cái pháp đưa vô trong đó nó đánh. Nó đánh, nó rửa, nó chuyển đổi cả 1 hệ điều hành mà vô thỷ kiếp cho tới nay. Quý vị nghĩ đi, dễ xoay đầu chuyển não không? Không dễ ăn một chút nào hết trơn. Nhiều khi mình thấy nó rõ ràng nhưu ngọn núi đó vậy đó, nhưng mà đi thì gian truân, chứ không phải nói thấy là tới đâu. Thì giai đoạn này là giai đoạn đưa cái pháp vô để mà tẩy não.
Bởi vì ở trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong nhận thức, trong cái tưởng của mình là thâm căn cố đế, muôn đời vạn kiếp ở trong này. Là nó cứng khừ cái khối vô minh uẩn to lớn, một cái khối tham dục, tham ái trong này siêu to khổng lồ. Cộng với 1 cái bản ngã như là tu di sơn, núi chúa. Thì như vậy mà mình tu phớt phớt, ngày mình nghe 1 chút vậy là được rồi, vừa nghe vừa ngủ, mở lên rồi nằm.
Phân Biệt Thức Tri Và Tuệ Tri
(Đại Kinh Phương Quảng – Trung Bộ 43)
Thích Minh Thành
Ngày 01 tháng 05 năm 2024
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối thoại giữa hai vị Thánh Tăng PAGEREF _Toc197329192 \h 1
II. Ba hạng trí tuệ PAGEREF _Toc197329193 \h 3
III. Lo lắng, cẩn thận PAGEREF _Toc197329194 \h 6
IV. Nhờ thấy khổ nên được an vui PAGEREF _Toc197329195 \h 10
V. Mục đích thực sự của đời sống PAGEREF _Toc197329196 \h 11
VI. Người tu tinh cần – người tu hời hợt PAGEREF _Toc197329197 \h 16
VII. Thức tri – tuệ tri PAGEREF _Toc197329198 \h 18
I. Đối thoại giữa hai vị Thánh Tăng
Con kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí. Hôm nay, chúng ta tìm hiểu bài kinh “Đại Phương Quảng”. Trong bản kinh này, chúng ta sẽ nghe được tôn giả Sariputa – Xá Lợi Phất, đàm luận với tôn giả Mahakotthita (Đại Câu-hy-la). Hai bậc thánh Tăng đàm luận với nhau, thì chúng ta sẽ hiểu được rất là nhiều phương diện, khía cạnh của thánh trí tuệ. Làm sao để đưa đến sự thấy đúng của một người tu, làm sao để đưa đến cái thấy biết bằng trí tuệ. Tại sao mình phải tái sanh, tại sao mình lại có mặt ở đây. Làm sao để mình đoạn tận sanh tử, cũng như là đạt đến những cái tâm rộng lớn, vô lượng, bất động và giải thoát. Thì trong buổi đàm luận của 2 bậc đại thánh Tăng, thì ta sẽ được học rất là nhiều những trí tuệ.
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, tịnh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahakotthita (Đại Câu-hy-la), vào buổi chiều, khi thiền định xong, đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sariputta ở, sau khi đến nói lên với Tôn giả Sariputta những lời chào đón, hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahakotthita nói với Tôn giả Sariputta:
– Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ (Duppanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?
– Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nap-pajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ. Không tuệ tri gì? Không tuệ tri: đây là Khổ, không tuệ tri: đây là Khổ tập, không tuệ tri: đây là Khổ diệt, không tuệ tri: đây là con đường đưa đến Khổ diệt. Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là liệt tuệ.
– Lành thay, Hiền giả! Tôn giả Mahakotthita hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sariputta nói, rồi hỏi Tôn giả Sariputta một câu hỏi nữa:
– Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
– Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ. Có tuệ tri gì? Có tuệ tri: đây là Khổ, có tuệ tri: đây là Khổ tập, có tuệ tri: đây là Khổ diệt, có tuệ tri: đây là Con đường đưa đến Khổ diệt. Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.
– Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
– Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.
– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
– Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
– Này Hiền giả, Trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này. – Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
– Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc thọ. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.
– Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?
– Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.
– Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
– Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
– Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì? – Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.
– Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri được? – Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa gì?
– Này Hiền giả, trí tuệ có ý nghĩa là thắng tri (Abhinnattha), có nghĩa là liễu tri (Parinnattha), có nghĩa là đoạn tận (Pahanattha).
(Trích Trung Bộ Kinh – Đại kinh Phương Quảng)
II. Ba hạng trí tuệ
Chúng ta thấy hồi xưa các bậc thánh, hay là các vị đi đến hỏi đạo đó, thì trong câu hỏi thôi sáng rõ lắm, lặp tới lặp lui nhiều lần. Tâm của các ngài rất là đơn giản, minh bạch, không thấy sự thúc giục ở bên trong. Câu hỏi rõ ràng, trong sáng, đơn giảng. Còn mình bây giờ nhiều khi hỏi, mà ngồi quài không biết hỏi cái gì nữa, nói giống như kể tiểu sử vậy đó. Chứng tỏ nội tâm si mê, nói ở trong hôn mê, nói ở trong mien mang, ở trong dục. Thành ra chỉ 1 câu hỏi thôi, mà chúng ta thấy được nó đơn giản lắm. “Này Hiền giả, liệt tuệ, liệt tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là liệt tuệ?” Lặp tới lặp lui như vậy là 3 lần câu hỏi đó, mỗi 1 cái mình để ý mình học.
Ngài Xá Lợi Phất mới trả lời: “Này Hiền giả, vì không tuệ tri, không tuệ tri (Nap-pajanati), này Hiền giả nên được gọi là liệt tuệ”. Hôm qua chúng ta học 3 loại trí tuệ là gì ạ? Đầu tiên biết bằng tưởng tri, thức tri và tuệ tri. Chính vì vậy mà con mới liên hệ đến bài kinh này đó, để chúng ta dễ nắm bắt sự liên hệ. Biết bằng tưởng, biết bằng nhận thức và biết bằng tuệ. Ngài mới hỏi ở đây thế nào là liệt tuệ? Liệt tuệ ở đây là cái biết hạ liệt, cái biết thấp kém. Vậy thế nào là cái biết hạ liệt và thấp kém? Thì ngài Xá Lợi Phất mới trả lời là cái biết đó không biết bằng trí tuệ, thì cái biết đó là cái biết thấp kém, gọi là liệt tuệ. Chữ “liệt” ở đây không phải bại liệt đâu, liệt ở đây đối với chữ “thắng”. Chữ “liệt” là hạ liệt, thấp kém, chữ “thắng” là cao thượng.
Nhiều khi mình không biết chữ Hán Việt thì nói liệt tuệ là trí tuệ bị tê liệt, liệt ở đây là hạ liệt. Không tuệ tri là không có biết bằng trí tuệ, mà người không có biết bằng trí tuệ thì người đó không có biết được thân xác là khổ. Người không biết được đời sống này khổ đau, người đó là người không có tuệ tri. Người mà ảo tưởng đời sống này là vui, là sướng, là bền, là lâu, là còn hoài, là có một cái tôi, là hấp dẫn, thì người đó là người không có tuệ tri. Không biết được thân xác này là khổ, không biết được nguyên nhân của khổ, rồi không biết được sự khổ chấm dứt và con đường đưa đến khổ đau. “Vì không tuệ tri, không tuệ tri, này hiền giả nên được gọi là liệt tuệ”.
Thành ra chữ “liệt tuệ” nhiều khi người ta nói đơn giản là không có trí tuệ, không có tri thức. Nói tiếng Việt như vậy mình bây giờ dễ hiểu hơn. Tức là người này là một người rất là thông minh, rất là bén nhạy, thậm chí là tinh ranh, xảo quyệt, khôn khéo, ma lanh, nhưng mà người này không có trí tuệ. Đối với Phật pháp người này là cái biết hạ liệt, thấp kém. Và cái biết đó làm cho mình khổ đau, và làm cho người khác đau khổ. Cái này nhiều không ạ? Đây còn được gọi là ác tuệ, là cái biết theo chiều hướng xấu ác. Cái biết ở trong cái ích kỷ, hẹp hòi, cái biết ở trong cao thấp, hơn thua. Cái này là con nhấn mạnh 3 bữa đó, bữa nay là bữa thứ 3. Chúng ta nhớ trong bài “Dạy Con” của bậc đạo sư, ngài nói các bậc thánh từ bỏ những cái biết hơn thua đó.
“Sống trí tuệ các con thương mến
Sống tập nhìn ngũ uẩn vận hành
Tập nhận ra dục ái tham sân
Tập thấy rõ vô thường vô ngã
Sống buông bỏ các con thương mến
Bỏ đúng sai, được mất, hơn thua
Bỏ chê khen, thương ghét ở đời
Các bậc thánh đã từ bỏ chúng”
Thật ra cái này con đã ứng dụng từ hồi còn nhỏ, cho nên khi vào dòng pháp này con mới thấy mình đi đúng đạo lộ nên mới gặp được Chánh pháp. Mình tu mình đừng có quan tâm cái đúng sai, được mất, hơn thua, khen chê, thương ghét, cái này là rác rưởi. Mình quan tâm đến vấn đề mình có đi đúng Chánh pháp hay không, mình có đoạn tận được tham, sân, si, dục ái, mình có bẻ gãy bản ngã hay không. Còn cái chuyện của người thì người ta có miệng người ta nói, không quan trọng. Bây giờ nếu đây là cục vàng, mà người ta nói đó là cục phân, thì nó có từ cục vàng biết thành cục phân không? Mười người nói nó là cục phân, thì nó có biến thành cục phân không? Một trăm người nói, một triệu, một tỷ, tám tỷ người nói thì sao? “Dạ không”.
Chắc không? “Dạ chắc”. Bao nhiêu phần tram? “Dạ 100 %”. Sáng mắt ra chưa? Đừng quan trọng miệng đời, vàng thiệt thì đâu sợ lửa. Đức Thế Tôn nói đây là khổ, khổ là đây. Hơn 3000 năm sau thì sự thật khổ là khổ, không thể thay đổi được. Mà quan trọng mình thấy cái khổ đó đó, chứ không phải mình với người kia cự cãi nhau là Phật nói đúng hay là sai: “Phật nói ở đâu? Nói ở chỗ nào? Tôi đi tìm đến chỗ đó”. Không cần mấy cái đó, cần cái mình thể nhập sự thật khổ ở trong thân tâm của mình. Thành ra mình sống mà mình bỏ được những cái đúng sai, thương ghét, được mất, hơn thua, khen chê ở đời này mình nhẹ lắm. Nhẹ như là áng phù vân, ngồi ngắm mây bay, không có gì quan trọng trên cuộc đời này.
Nhiều khi mình mới ghe tiếng thôi, về cái là mình ăn cơm không ngon, ngủ không được. Chi cho khổ vậy? Tức là mình không có nội hàm, nội tại, nội lực. Giống như bông gòn vậy đó, đứng ở ngoài ngã bảy (ngã bảy chuồng chó hả). Rồi đứng tung lên bốn phương tám hướng hết. Chỉ cần một lời nói của người khác khiến tâm mình dao động, đổi thay, lung lay. Cho nên càng về sau này con mới càng thấy, tịnh tính bất động tại sao nhập lưu. Chỉ bám vào pháp thôi, không bám vào bất cứ một ai hết. Bám chắc, nắm chặt vô cái tuệ tri, thánh trí tuệ là tối thượng, tự nó là siêu việt hết tất cả. Đó là bí kíp để tâm mình tịnh tính bất động, bất lay chuyển, bất thoái chuyển, không rung chuyển, sát quyết trong tâm của mình.
Ngoài sự học pháp, hành pháp ra thì tất cả đều vô nghĩ, vô giá trị, vô thường, vô ngã, vô tích sự, là trống rỗng, trống không. Tất cả mọi cái của mình đều hướng về pháp, hướng về sự thật để thấy được khổ đau, bản chất của đời sống này. Không thấy cái đó dù mình tu cái gì đi nữa, thì cũng tu trong mê muội, tu ở trong tà kiến. Cho nên lấy khổ làm thầy, lấy khổ làm con mắt, làm trí tuệ, làm khối óc, làm trái tim, làm lẽ sống, sự sống, chất sống. Khi mình thấy khổ trùm khắp tất cả: “Ở đây là những đống đau khổ đang ngồi đây”. Khổ mình mới lên tu đúng không? Nhiều khi mình không chấp nhận, ngồi vậy đó chứ bên trong nó chống đối.
III. Lo lắng, cẩn thận
Nhưng mà đến khi nó thấm thía rồi, thì mới thấy được pháp vô thượng thậm thâm, vi diệu. Chỉ có thấy khổ mới bớt ham, bớt muốn, bớt thích, bớt khoái, bớt chạy, bớt đuổi, bớt tìm. Nếu mình không thấy khổ hổm rày lễ chết mấy chục mạng rồi, bị thương cả hang tram. Rồi mình thấy vui mà, xông lên, nhào lên, tiến lên, vọt ga cho mạnh lên. Cuối cùng rồi mình mang một tấm thân tàn ma dại, bệnh tật suốt đời, gãy chân, bể đầu, nằm 1 đống đó để cho cha mẹ khổ đau. Vì một cái dục ở trên cái xe phân khối lớn, đó là còn sống đó, còn không thôi thì chết. Cho nên khi mình nhìn thấy được cái khổ này, thì tham, sân, si, bản ngã, dục ái nó sẽ lắng rất là nhiều.
Mình có thể ở yên được mấy ngày lễ ở trên núi này, để mình thưởng thức sự bình an, sự li tham, sự rời ra, sự thoát ra. Thưởng thức chưa? Còn nếu mình không thấy khổ, mình không thấy những tai họa, hiểm nạn, bất an ở trong cuộc đời này. Thì mình bóp vô thì cái gai nó đâm, hoa hồng có gai (chú bên đây có biết không? Bên đây nữa có biết không?) Cũng nhìn thấy đóa hoa hồng, nhưng mà thấy nó đẹp quá, thì cầm giật cho nó nhanh, nó mạnh vô. Cái rồi trúng vô cái gai nhọn, nhiều khi trong gai có độc nữa. Thành ra nhiều khi nhìn thấy hoa hồng, nhưng không thấy cái gai ở dưới. Thấy hoa hồng tức là thấy vị ngọt của sắc, mà không thấy gai tức là không thấy sự nguy hiểm của nó. Chúng ta thấy giải thích như vậy có dễ hiểu không?
Sự ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly đó. Sau khi bị đâm chảy máu rồi thôi, nghỉ. Để cái tay không cho nó lành, để cái tay này mở kinh ra đọc, để cái tay này ngồi thiền. Vậy là thoát ra rồi đó, bàn tay này được thoát ra khỏi những đám gai, bụi gai, đống gai đó. “Này các Tỳ-kheo, phía trước mặt các ông là gai, bên phải là gai, bên trái là gai, phía trên là gai, phía dưới là gai, chỗ nào cũng có gai, cẩn thận nha không”. Nó Đức Phật dạy không? Không phải chỉ hoa hồng mới có gai. Trong cái thấy của mình, nếu mình không khéo nhìn nó có gai. Trong cái nghe của mình, nếu không khéo thì nó có gai. Nổi lên không phải là bồ đề giác, mà có thêm từ là bồ đề gai. Tức là cây bả đậu đó, cái lá nó giống giống cái cây bồ đề mà nó có gai.
Người ta nhìn cái cây thì người ta tưởng là cây bồ đề, nhưng mà tới chừng lại gần đụng vô thì nó đâm, có gai. Người ta nhìn thấy tu tưởng đâu hiền lắm, từ bi lắm, ai dè lại thì sân si nổi gai lên, nên mới kêu bồ đề gai. Có không? Cái này cũng hơi bộn không? Cho nên mới có cái từ đó, chứ nếu không thì đâu có. Cây bồ đề vốn đâu có gai, cây bả đậu nó giống giống vậy đó những nó có gai, cái gai nhọn nhọn. Như vậy phải làm bồ đề thiệt, chứ đừng làm bồ đề gai, bồ đề dỏm. Như vậy để mình thấy được sự thật của khổ và nguyên nhân của khổ. Thì mình mới có được sự phòng hộ, sự dè chừng, cẩn thận, sự bảo hộ khi thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc.
Khi nói chuyện với một ai mình cần phải cẩn thận, khi hành xử với một ai thì mình cũng phải có sự chánh niệm và để ý. Chỉ cần một lời nói bất cẩn, một hành động vô ý của mình, không có kiểm soát, không có thân hành niệm. Thì có thể mình làm cho người ta rất là đau nhức, nhức nhối mà mình không biết. Bởi vì vô minh, bởi vì không thấy, không biết cho nên cứ nói vô tư, cứ nói. Người nghe đó người ta rất là buồn, rất là buồn đau. Thậm chí là mẹ cha của mình, những người thân thương nhất trong cuộc đời của mình. Vì hành vi, câu nói, cử chỉ, thậm chí là một ánh mắt của mình làm cho người ta quặng lòng, nhói tim, mà mình không hề hay biết.
Bởi vì mình đâu có chánh niệm tỉnh thức, đâu có tỉnh giác đâu. Giống như mình chạy xe vậy đó, chỉ cần mình bất cẩn 1 chút thôi có thể rớt xuống vực sâu, chỉ cần mình bất cẩn 1 chút thôi có thể tai nạn giao thông. Chỉ cần mình mở 1 cánh cửa ra, có thể chết người. Mà đâu có ai suy nghĩ là mình mở cánh cửa ra, thì có thể làm chết người ta đâu. Không ai nghĩ vậy hết, mà đó là sự thật, chúng ta có thấy không? Chuẩn bị bước xuống xe chỉ có mở cánh cửa ra, và chết người đang chạy tới, người ta đập đầu, vỡ sọ não. Nhiều khi cha mẹ dạy con, hay Đức Thế Tôn dạy các đệ tử, hay sư phụ hướng dẫn học trò: “Sao khó quá vậy, làm gì nói dữ vậy, mấy cái này làm gì dữ thần vậy”, mà đụng chuyện thì trễ rồi.
Bởi vì có học, có hiểu, có sự cẩn thận, cẩn trọng, cẩn mật, nghiêm cẩn trong 4 oai nghi, trong thân hành niệm, suy tư trong cảm thọ, nhận thức, suy tưởng của mình. Cho nên mỗi cái mình đều cẩn trọng, cẩn thận giữ cho mình và giữ cho người. Cuộc đời đã khổ rồi, mà bây giờ nếu mình không chánh niệm tỉnh giác, không bảo vệ tâm hiền tâm từ, thì nó càng khổ them, càng gây hại cho mình, cho người. Cho mình quán nguy hại rất là hay, lúc nào cũng phải nhớ sự nguy hiểm và tác hại, sự buông lung phóng dật. Nguy hiểm và tác hại của sự bất cẩn, của lời nói, của suy nghĩ bất thiện này. Nguy hiểm và tác hại của những cảm giác buông thả, buông trôi, buông lơi, buông rơi, buông lung phóng dật này. Nguy hiểm và tác hại, của hình bóng này trong tâm.
Nguy hiểm và tác hại của nhận thức mà nó ngược lại với trí tuệ, tuệ tri này. Mình phải luôn luôn quán nguy hiểm và tác hại ở trong 5 thủ uẩn, 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 xứ, thập nhị xứ, thập bát giời. Nhìn thấy được sự nguy hiểm, nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm hết. Cho nên nhiều khi mình ra mình ngồi ngoài vườn tre, con nhìn lên cho thấy nguyên 2, 3 cây mà nó yếu rồi, nó rớt xuống mà trúng cái đầu là coi như tiêu đời, toàn là đầu trọc không. Mà ngồi đó không ai để ý, con phải kêu đi lên coi thử. Mình thấy được sự nguy hại đó rất là tốt, bảo vệ cho mình và cho người, mình thì cứ đơ đơ, trơ trơ à. Hôm qua đi qua bên thánh pháp viện cũng vậy, có 2 cái ngã xuống, đi lên thêm xíu nữa thấy thêm 1 cái cây nó ngã xuống nữa. Mà không có ai dòm hết trơn, ở đó không có ai nhìn, ai nói gì hết.
Bởi vậy nhiều khi con cũng khổ, đi tới đâu có chuyện tới đó. Mình cẩn thận, mình kx, mình lo cho mọi người thì đi tới đâu nó có chuyện tới đó. Mình sống vô tư, sống như nai tơ, như trẻ thơ, sống tâm lờ đờ, mắt lờ mờ, thì mình không thấy có chuyện gì hết. Lúc nào cũng bình bình, an an, ổn ổn, có an toàn cảm. Tức là có cảm giác an toàn, an ổn, an bình dữ lắm. Mà không thấy nguy hiểm đang rình rặp cùng khắp trên đầu, dưới chân, phải trái, trên dưới, trước sau, chỗ nào cũng có nguy hiểm hết. Thành ra Đức Phật dạy trong bài kinh “Chánh Giác”, Ngài mới quán chiếu sao mà nó gần tới rồi mà chưa tới, không biết tại sao. Mà sự từ bỏ của Ngài về 5 thủ uẩn, chưa được tới chỗ thâm sâu.
Thì Ngài mới phát giác, phát hiện ra sự quán về nguy hại của Ngài chưa có viên mãn. Sau đó Ngài phát triển lên sự quán về nguy hại của 5 thủ uẩn, quán quài, quán thâm sâu vô đó đầy đủ mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, cho đến tận cùng sự nhỏ nhiệm nhất. Rồi cuối cùng Ngài xuất ly 5 thủ uẩn, thành tựu chánh giác. Bài kinh đó rất quan trọng, bài kinh “Chánh Giác” chúng ta đọc, để chút con gửi lên nhóm. Vì mình không có thấy nguy hiểm và tác hại xung quanh mình, tức là mình không có thấy khổ, không có thấy vô thường. Mình cứ nghĩ nó thường thường, đều đều: “Ngày mai tôi cũng nghe, tuần sau tôi cũng nghe, tháng sau tôi cũng nghe, cho nên bữa nay không nghe được thì thôi mai nghe. Hôm nay không thiền được thì mai thiền, bữa nay không làm được thì mai làm”. Chứ mình không biết ngày mai, chính là đời sau của mình.
Mình thấy mấy người đi chơi lễ chết, họ đâu có nghĩ lã lễ này họ chết, học biết họ chết thì họ đâu có đi. Mấy người đi máy bay họ chết, nếu học nghĩ, họ biết được học chết thì họ đâu có bị chết. Chỉ cần ánh mắt nhìn thôi, thì họ đâu có biết là họ sẽ chết sau ánh nhìn đểu đó. Mấy người chụp hình ở Đà Lạt, Nha Trang, tạo dáng trên ngọn đồi, họ đâu có nghĩ là họ chết. Cho nên họ trượt chân họ chết ngay chỗ chụp hình đó, mà nhiều người chứ không phải một người. Tháp Tràm ở Nha Trang, ở đây có mấy vị ở Nha Trang nè. Mới vừa sửa xong bậc thang 5, 7 bậc thang, lên đứng tạo dáng, sao mà nó trượt nó đập đầu xuống chết ngay tại chỗ, là vì một tấm hình thôi.
Cho nên thật sự mình không biết rằng mình chết khi nào, mình chết ở đâu, mình chết ra sao, mình không biết. Người trẻ chứ đừng nói chi người già, đừng nói chi người bệnh mà bệnh gần chết luôn, mà mình chứng kiến người ta không nghĩ người ta chết. Tâm thức chúng sanh là hôn ám, si mê lắm. Chính vì mình không có lo trước, không có suy tư, không có lo sợ, không có chuẩn bị, không có lo lắng cho cẩn thận. Cho nên khi bất thình lình nó ấp tới, thì mình chết trong hoảng loạn, hụt hẫng, bàng hoàng, khủng hoảng, khủng bố, tai nạn. Mà cái chết như vậy là cái chết mà Đức Phật gọi là bất tượng. Chẳng những về vật lý mà còn về tâm lý nữa, còn tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, mà chết như vậy là chết trong bất tượng.
IV. Nhờ thấy khổ nên được an vui
Cho nên thường xuyên phải nhớ sự nguy hiểm cùng khắp mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp này. Trong thân xác, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, trong nhận thức, tất cả trong này. Rất nhiều nguy hiểm và tác hại, nếu mình không có chánh niệm và tỉnh giác, không có phân biệt giảng trạch,trạch pháp. Không có phân biệt rõ cái này là thiện, cái này là bất thiện, trong một ý nghĩ có thể giết chết người ta. Một suy nghĩ, một quyết định sai lầm có thể là phá sản, vô tù, gặp tai nạn, mất mạng như chơi. Cho nên là mình phải lật ngược suy nghĩ từ trước tới nay trở lại, từ cái biết theo tưởng tượng thành cái biết theo tri thức, bằng cái biết theo trí tuệ.
Những cái biết mà nãy giờ chúng ta học, là cái biết bằng trí tuệ. Cái biết này nó đưa chúng ta đến sự cẩn thận, đưa đến sự phòng hộ, bảo vệ, chánh niệm tỉnh giác, lo lắng và lo sợ. Để cho mình được an ổn, an lành, an toàn, an bình, an tịnh, an lạc, an vui. Nhờ thấy khổ cho nên mình được an vui, chịu không? Thấy khổ mới được an vui, còn nghĩ vui nó đưa đến khổ. Mà thấy khổ được an ổn và an vui, đây là chỗ đặc biệt mà chỉ có học Phật mới biết, chứ không có học Phật là không biết. Mấy thầy ngồi thanh tịnh, mấy sư cô ngồi lắng dịu ở đây nè. Nếu giờ này mà không có cạo đầu, không có đắp y, không có ngồi ở đây thì bây giờ ở dưới nhà làm gì? Tưởng tượng ra đi, đang làm gì ạ?
Cô Hiền Mai cuời dữ kìa, cô ở nhà làm gì? Có tham, sân, si, dục ái, nước mắt không? “Dạ có”. Đó là mình phải quán được sự bình an và hạnh phúc, khi mình thoát ra, mình rời xa, mình từ bỏ cái đống khổ đau ở dưới kia. Các vị cư sĩ còn tóc đang ngồi ở dưới đây an bình như vậy, sáng thức dậy mà được tỉnh táo, tỉnh giác, nghe thánh trí tuệ, ngồi thiền, pháp nhũ vang rền thánh âm của Đức Phật được trùng tuyên như vậy. Nếu mà quý vị ở nhà thì giờ này làm gì? Có 2 cậu cười kìa, ở nhà làm gì? Các cậu, các chú, các cô đang làm gì? Có được giống như vầy không? Có thưởng thức được cảm thọ giống như vầy không? Có một không gian, một nội tâm như vầy không? Có sự thấy biết như vầy không? “Dạ không”.
Hoan hỉ không? Mình phải khéo biết như vậy đó, thưởng thức hương vị hỷ lạc li tham. Cái đó chính là thức ăn, nguồn bổ dưỡng, dinh dưỡng, dưỡng chất, thuốc bổ tâm linh cho mình, để cho mình hân hoan, thích thú tu hành. Còn nếu mình ở đây mà mình cứ nhớ những cái dục lạc ở nhà, là uổng lắm, là 2 đường đều mất hết trơn. Cái kia không được hưởng, mà cái này cũng không được nếm. “Lưỡng đồ câu thất”, 2 đường đều mất hết.
V. Mục đích thực sự của đời sống
Biết cách hưởng thụ chưa? Chỉ cho biết cách hưởng thụ đó, đó là cái tâm mình hướng đến sơ thiền, hướng đến sự vui thích, khoan khoái, phấn khởi, hân hoan, hạnh phúc, sung sướng trong đời sống rời xa những cái ồn ào, lao xao, lăn xăn, động loạn, hỗn loạn.
Bây giờ là thiên hạ đại loại, mà mình được an bình, an yên, an nhàn, an tịnh, an lạc, an ổn như thế này. Để mà mình được thấm thía trong thánh trí tuệ của Đức Phật, đó là những giây phút thần tiên của cuộc đời. Phải biết chiêm nghiệm, thưởng thức, cảm thọ, suy tư như vậy. Mỗi một ngày mình ở đây là nó quý hơn vàng, quý hơn hột xoàn, quý hơn resort 5 sao, 7 sao gì đó. Quý hơn tất cả những cái gì ở trên địa cầu này, không quý bằng giây phút mình được thực hành thánh pháp, thánh trí, thánh tuệ, thánh đạo này. Có nếm được không thưa chú Nhất Từ? Chú ngồi chú cười híp từ đầu đến giờ, mẹ chú cũng cười theo, 2 mẹ con cùng cười, hạnh phúc không? “Dạ có”.
Tu là mẹ đi tu, xong rồi dẫn con đi tu, dẫn anh chị em đi tu. Đó là vì từ tâm, vì tình thương, muốn lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho những người thân thương của mình. Phần này con đã chia sẽ rất nhiều lần, cho nên ở đây con chia sẻ theo một phương diện khác, để chúng ta nắm thêm.
“– Này Hiền giả, trí tuệ, trí tuệ được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào là được gọi là trí tuệ?
– Vì có tuệ tri, có tuệ tri, này Hiền giả, nên được gọi là trí tuệ.”
Có tuệ tri về 4 sự thật về đời sống, thật là vấn đề này là con chia sẻ hổm rày là 4, 5 buổi, mà cái này là nói tới chết luôn, thánh trí về đời sống. Chúng ta phải tự hỏi mình tại sao mình sanh ra, sanh ra để làm gì, mục đích thực sự của đời sống này là gì trong cuộc đời này. Câu hỏi này là câu hỏi mình phải hỏi hoài, hỏi cho chừng nào thành tựu thánh trí tuệ thì mới thôi. Một vấn đề lớn, một câu hỏi lớn của nhân loại, là một vấn đề của bản thân, của tự thân mình. Mình sanh ra ở đây để làm cái gì? Đời sống này làm cái gì? Mục đích thực sự của kiếp người này là cái gì? Là tìm dục ư? Là tìm ái ư? Chạy theo cái ham muốn, ham thích, thèm khát, khao khát, khát ái ư? Mục đích của đời sống này là để đi sân giận, đấu đá, hơn thua, đúng sai với người ta hay sao?
Mục đích của đời sống này là để phình to, phình trương, để ngất cao cái bản ngã này lên hay là để làm gì? Đó có phải là mục đích của đời sống này? Mình thường nhắc mình như vậy, thường hỏi mình như vậy, thường hư niệm, quán niệm như vậy. Thì lần lần những cái sân hận, bản ngã, vô minh, hôn ám, vô nghĩa trên cuộc đời này lần lần nó sẽ rơi rụng, tự động rơi rụng như lá mùa thu. Không còn muốn hơn thua với bất cứ 1 ai. Mình thấy sự hơn thua là một sự nhục nhã, mình thấy sự đấu đá nhau là sự hèn hạ, nhục nhã, ngu si, dại dột, trẻ thơ, ấu trĩ. Nên không còn muốn hơn thua, với bất cứ một ngũ uẩn nào trong cuộc đời này.
Mình chỉ muốn hơn thua với chính mình, bởi vì mình ngu, mình vô minh, mình chưa có phá được đống vô minh này để mình đạt được trí tuệ. Thì mình phải hơn thua với chính mình, nhất trí không? Không có hơn thua với bất cứ 1 ai trên cuộc đời này hết. Giỏi hơn thua với tham, sân, si của mình đó: “Tao phải trị mày, tao phải bẻ cổ mày cho được. Cái bản ngã này tao phải diệt mày, tao phải đập tan cái thân kiến này, bẻ gãy ngọn cờ kiêu mạng này. Diệt tận hết tất cả những cảm thọ sân hận này. Để cho tâm ta hoàn toàn an tịnh lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, hiền hòa, từ bi, vô lượng”. Đó là “tại bãi xa trường thắng hàng ngàn quân địch, không bằng tự thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất”.
Đó là ý nghĩa của câu pháp cú đó đó, hàng ngày mình chiến đâu với mình, hơn thua với mình. Mình tranh đấu, tranh giành, tranh sáng, tranh tối với những cái ác và bất thiện pháp trong tâm, trong suy nghĩ, trong từng cảm giác, tư duy, nhận thức của mình. Thì như vậy là chiến sĩ, dung sĩ, là đi theo con đường của bậc vô thượng sĩ. Và vô thượng ở trong chính nội tâm của mình. Từng cái suy nghĩ phải hơn thua với nó: “Mày hồi xưa tao không thấy mày nha mày, bây giờ tao thấy mày rồi nha mạy, thằng hành này nè. Thằng hành đâu? Mày ra đây, cúi xuống đây tao đánh cho mày 100 roi, sáng 100, trưa 100, chiều 100”. Nhớ bài kinh không? Hành, thức gì quýnh ráo hết trơn. Dạy con mà, dạy ngũ uẩn. “Sắc mày nghe lời nha không? Cứ buông lung phóng dật hoài hả, ra đây quỳ xuống xử lý mày”.
“Thằng thọ tối ngày mày cứ phừng phừng lên hả, sôi máu, hăng máu dữ lắm phải không? Hăng máu, khát máu phải không?” Khát máu là đi ăn những chúng sanh, hăng máu là chạy theo những cái dục, sôi máu là sân hận. Là bên trong của con người mình đó, ăn đủ thứ con hết, không con gì chừa. Con bò ăn cỏ, nó có ra sữa cho mọi người uống, những con vật như con thỏ nó ăn củ cà rốt đơn sơ. Còn con người mình là giống gì cũng ăn, ăn khủng khiếp, ăn kinh hoàng, ăn ghê rợn, ăn rung rợn. Thậm chí là mình lấy máu người ta uống, ghê lắm. Có những loài chúng sanh, mình thấy trong phim ma cà rồng chẳng hạn, là đi tìm máu không à. Và những loài ngạ quỷ nó sôi máu, sôi sùng sụt cả ngày đêm. “Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu, đốt cháy tâm can trong hận sân”.
Sôi sùng sụt, cái bếp lò lửa phía dưới cảm thọ đun lên, mặt hầm hầm tối ngày. Hễ ai đụng vô 1 cháy là té lửa ra, nhất là trời nóng này nữa. Có không? Nó cọ, nó quẹt chút xíu thôi là sẵn sang xuống xách dao, xách mã tấu đâu trong xe, trong người cất ở trỏng dao thái, dao gì đó, hễ đụng vô 1 cái là mốc ra. Cho nên thật sự con có nhiều vị lên hỏi: “Sao mà thầy bỏ Sài Gòn lên đây hay vậy?” Thật sự hồi xưa lúc nhỏ xíu 20, 30, mười mấy năm trước con đã đọc kinh Nikāya. Đức Phật nói sao này tới thời ác đó, thì chúng sanh cầm cái gì vô cũng thành vũ khí hết. Con người sẽ sát hại, tàn sát với nhau mà không còn nhân nghĩa, không còn đạo đức, không còn lương thiện gì hết. Thì những người hiền lành người ta sợ hại, người ta chạy lên núi.
Người ta ở lại người ta giữ giới lại, và các cái giới bị phá đổ hết hoàn toàn. Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nghiệm ngập, say xưa đầy dẫy hết tất cả. Mà chẳng những người ta không giữ gìn, mà người ta còn tung hô, xưng tán, khích lợi, ca tụng những tội ác. Mình thấy bây giờ mà đăng người nào tu, người nào nghĩ đạo đức đồ ít người coi lắm. Mà mình đăng vô giết, chém, hãm hiếp này nọ kia thì coi số lượng lớn lắm. Ăn tầm bậy tầm bạ, chửi tùm lum tùm la mà coi quá xá quà xa. Mà ta nói đạo đức, chánh pháp không ai muốn nghe hết. Chúng ta thấy không? Đó là điềm đi trước, tướng báo trước của mạt vận. Sụp đổ hết tất cả cái hiền thiện, thiện pháp sẽ suy giảm, sẽ mai một, sẽ đổ bể.
Và các bất thiện pháp, ác pháp tăng trưởng, hưng thịnh, phát triển, quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo tất cả thân tâm của chúng sanh trên địa cầu này. Như vậy thì sao? Thì những người hiền thiện sẽ chạy vô núi, đi vô rừng sống ẩn dật và bắt đầu giữ giới hạnh lại, và tuổi thọ con người sẽ tang lên. Tại vì lúc đó Đức Phật nói là giảm giảm, càng phạm giới nhiều thì tuổi thọ càng giảm. Càng ác nhiều, thì sanh mạng càng ngắn lại, giảm riết cho tới tuổi thọ con người còn 10 tuổi. Bây giờ chúng ta thấy khủng khiếp, vị thành niên mà tội là mấy chụp ngàn. Kinh hoàng những con số người ta báo cho đó, mình nghe mà khiếp đảm. Vị thành niên 14 tuổi là giết người, 12 tuổi là có con, mới vừa rồi có 1 học sinh đó.
Vậy thì những gì Đức Phật nói, đã biểu hiện ra rất là nhanh. Mà hồi xưa con tưởng đâu 100 năm mới tới, mà bây giờ mới mười mấy năm mà những cái đó đã biểu hiện ra. Bây giờ chúng ta chạy về núi là êm, là chúng ta đang làm theo lời Đức Phật đó, thọ giáo phụng theo lời Đức Phật. Thật sự là sau này rất là khó sống ơ dưới đó, chúng ta đi trước, đừng để nước tới chân rồi mới nhảy. Nước tới lưng rồi lúc đó là lội không kịp. Cho nên khi con nghĩ, con quyết định đi lên trên này 18 năm trước, con nghĩ sau này cái duyên không phải một mình con, mà cho nhiều người khác. Càng về sau này thì sẽ càng nhiều, không có chỗ trước là không được.
Con người quá ác, quá hung hăng, hung dữ, bạo tàn. Bây giờ mình thấy đi ngoài đường là nó giật, cướp giật ngay cả đi vô nhà. Mà rất là hoành hành, bá đạo, khủng khiếp lắm. Những cái ác lấn hết những cái thiện, cho nên sự mà mình nói gọn ở trong cả đại tạng kinh Nikāya “thiện pháp đại thành”. Thành tựu trọn vẹn thiện pháp đó, là sự tu học của mình từng bước lên bậc A-la-hán là chí thiện. Là cảnh giới cao nhất của thiện, chứ đâu có gì đâu. Thành ra kinh Nikāya mình học hay, không có nói gì cao siêu, đao to búa lớn, lựu đạn nổ hay đại bát gì hết. Nói những cái hết sức bình dị, lời của thánh là thánh ngôn, không có nói dối.
Mình tưởng đâu lời thánh giống như trong Tây Du Ký nói ở trên mây, mà nó vang vang ra, không phải, lời thánh là những lời nói chân thật. Còn có bản ngã là nói: “Dạ con còn bản ngã”. Còn có tham: “Dạ con còn có tham”. Còn có dục: “Dạ con còn có dục, con chấp nhận”. Lời nói của thánh ngôn là lời nói thật, không có gì xa vời hết. Hai vợ chồng đánh lộn, chửi lộn, đập lộn nhau rượt chạy rần rần. Mà người ta bấm cửa ra hỏi vợ chồng em sống sao? Thưa: “Dạ sống hạnh phúc dữ lắm”. Cái nắm tay, cái cười, ôm ôm đồ ha, rồi người ta về là màn 2, tập 2, cảnh 2 bắt đầu tiếp tục. Có không mà cười dữ dạ?
Giả dối đóng tuồng thôi, tất cả trên cuộc đời này là những vở tuồng của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Là những vở tuồng khéo che, khéo đậy, khéo diễn, nhập vai một chút. Ở trong đó là rầu thúi ruột, mình nói chuyện tiếng Việt cho dễ hiểu. Rầu thúi ruột, tiếng của dân miền Tây mình. Trong kinh thì gọi là sầu, bi, khổ, ưu não, còn tiếng Việt là rầu thúi ruột. Rầu đến nỗi ở bên trong này nó thúi luôn, nó cứ chất chứa bên trong mà không biết làm sao, nó cứ ủ trong này. Nó cứ ủ từ hồi mới lấy chồng, tới về ở mà gặp mẹ chồng nàng dâu là cảnh của bậc đạo sư. Quý vị không biết đâu chứ bậc đạo sư chia sẻ với con nhiều lắm, cảnh của ngài khủng khiếp lắm.
Cảnh mẹ chồng nàng dâu khủng khiếp lắm, nó u uất để nỗi mà trong người ngài nhìn thấy một khối đen trong này. Với thiện tâm của ngài, thì ngài không muốn sân hận lại với người khác. Phải chịu những cảnh u uất khủng khiếp lắm, đập đầu vô trong tường, đấm tay vô trong tường, không biết phải làm sao. Quá khổ đau cho nên cuối cùng ngài mới tìm ra được thánh đạo, sự thể nhập của ngài đây là khổ. Tất cả chúng ta đều có 1 câu chuyện, nhiều câu chuyện dấu kính ở trong lòng. Những câu chuyện đầy nước mắt, những câu chuyện đầy buồn tủi, sầu đau. Do vậy nên tại sao khi chúng ta thiền quán về khổ, chúng ta chia sẻ cảm thọ là khóc rần rần, khóc tan tành, khóc đệ nhất hết trơn. Nói một hồi bây giờ khóc liền nè, để mấy người mới học, chừng nào mấy người mới hết khóa tu về rồi tiếp tục mình khóc. Nhất trí không?
Bên trong là rầu thúi ruột, nó sầu đau, buồn tủi, uất ức, nghẹn ngào, tức tưởi, đau xót, quặn lòng, nhói tim. Mỗi khi mình nhớ lại những cái mình đã từng bị, người nào tâm sự ra rồi thấy hết trơn. Nước mắt ràng rụa trào ra, bởi vì cái thân này chứa không nổi cái cảm thọ uất ức, đau khổ, tức tưởi như vậy đó. Cho nên nó tuôn, nó trào ra được là nó bung ra 1 cái là nghẹn ngào, uất ức. Đó là gì? Là những sự tích tụ ở trong cảm thọ đó, đại khổ uẩn. Mà cái đó mà nó xổ ra là tới rồi đó, bởi vị nó đã chất chứa vô số, vô lượng, vô biên kiếp ở trong đó, chứ không phải chỉ mới 1 đời này đâu. Cho nên chỉ có thánh trí mới xuyên thủng, phá vỡ được cái khổ uẩn đó, mới giải tỏa được cảm thọ đó.
Khi mình quán về khổ thánh trí, quán về những cái dòng luân hồi, oan nghiệt ở trong vô thỷ này. Thì mình được giải tỏa cảm thọ từ từ, nó sẽ vơi vơi. Rồi những lần mình khóc, những lần mình tức tưởi, tuôn trào những cảm thọ mà rúng động, kinh chấn hết trơn, thì là những lần mình giải tỏa khối cảm thọ đó. Những người mà nước mắt đầy mặt hết trơn, mà rung chấn đến nỗi phát biểu không được luôn thì rất là tốt. Bởi vì nó giải tỏa những cảm thọ uất ức, tức tưởi, nghẹn ngào tích tụ ở trong đó. Nó được khai phóng, giải phá, giải tỏa, giải thoát ra. Mà mình giải thoát cho tới khi A-la-hán là nó hết tất cả những cảm thọ đó.
VI. Người tu tinh cần – người tu hời hợt
Những hình bóng, những suy nghĩ, nhất là những cảm thọ đó sẽ giải từ từ. Nó được khai phóng, khai mở, tháo gỡ, xả hơi, xì hơi, bốc hơi, thoát hơi ra. Và tới sau cùng là được 1 cái tâm hoàn toàn tịch tịnh, vắng lặng. Tất cả những khối cảm thọ tích tụ, tham, sân, si, uất ức, đủ thứ ở trong đó nó được giải phóng, giải thoát ra hết, cho nên gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Còn bây giờ trong cảm thọ mình, là khủng khiếp lắm. Cho nên nhìn hiền hiền mà đụng vô là có chuyện là như vậy đó, tại vì nó nằm sẵn ở trong đó. Một người tu tập tinh tấn, siêng năng là hướng vô trong hoài. Để mà coi rà tới rà lui, kiểm đi kiểm lại, móc trong kẹt, trong xó, trong hốc để coi chuột, gián, tắc kè nó chết ở đâu. Khiêng tủ khiêng đổ ra hết để rửa, để tổng vệ sinh.
Còn người tu phớt phớt nhận diện ngũ uẩn biết vậy 1 chút rồi xong an lòng, vừa lòng với những cái nhỏ bé như vậy. Thì người này tu không có cơ hội, để thể nhập thâm sâu vào dòng pháp. Được ít cho là đủ, chưa được mà tưởng là được, chưa chứng mà cho là đã chứng, cái đó gọi là tăng thượng mạng. Cứ nhìn vô hoài, hướng vô hoài, để mà coi coi, tìm coi còn chỗ nào dơ không, còn chỗ nào mà hôi, thúi, bẩn, cấu nhiễm không. Cứ làm hoài, vệ sinh hoài hoài như vậy, để giải phóng, giải tỏa, giải phá những cảm thọ tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, uất ức, nghẹn ngào, tức tưởi, hận thù ở bên trong. Những cái tham ái, dục ái, cấu uế, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu ở bên trong.
Còn đi tới lậu hoặc nó còn sâu hơn nữa. Lậu hoặc thì nó không có thể hiện ra hành động, lời nói và suy nghĩ. Mà nó ngấm ngầm ở bên trong cảm thọ, nó hoạt động ngấm ngầm. Cái lậu hoặc nó khó nhìn, khó thấy, nó không có nói chuyện, không có hình bóng nhưng mà nó ngầm ngầm, cái đó mình phải tu tinh tấn lắm mới thấy được. Tất cả những cái đó mà đi tới nhiếp phục, chế ngự, diệt tận. Là chỉ khi nào mình ý thức sâu sắc, toàn diện tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sự khổ đau trong dòng luân hồi oan nghiệt. Vô số, vô lượng tập phim mà mình đã đóng ở trong nước mắt, máu, kết thúc trong đau khổ.
Từ khi nào mình ý thức được 1 cách sâu sắc, thấm thía, thấm đẫm, thấm nhuần, thấm gội. Và thẩm thấu bên trong cảm thọ mình là 1 sự khổ đau trong kiếp người, trong đời sống và trong dòng luân hồi này. Không có cái gì là vui hết, mang một cái thân ung nhọt, bệnh hoạn. Mang một cái tâm tật bệnh, đầy dẫy thương tích nhự vầy. Mình coi coi, hằng ngày trong chiêm bao cũng đã dục ái, tham, sân, si rồi. Chứ đừng nói chi mà mở mắt ra là bắt đầu nghĩ đến 1 cái thân dục, rỉ chảy ra cái thân bất tịnh rồi. Trong suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ nó nói, mình nhìn sâu vô nó toàn là vô minh và tham ái, sân si, bản ngã nó điều khiển suốt luôn. Nếu mình nhận diện sâu sắc mình sẽ thấy, đâu có cái gì trong này đâu.
Cho nên người chân tu thật học là thật sự rầu lắm, lo lắm, buồn lắm. Nói cười xã giao như vậy, chứ quay lại chính mình lo lắng, ray rứt. Trăn trở phải làm sao mình phải tìm đủ mọi cách, mình phải giải quyết vấn đề lớn trọng đại này, phải giải quyết nó trước khi mình chết. Con người không biết tu là phơi phới, hướng ngoại, hỉ hả, đó gọi là dục. Không thấy sự nguy hiểm và tác hại của đống máu mủ này, những cái khối cảm thọ bên trong, những dòng suy nghĩ, những bóng dáng, nhận thức bên trong. Nó ủ những cái mầm, căn nguyên, gốc rễ, cội gốc, hang ổ, xào quyệt của khổ nó nằm trú ẩn ở trong đó. Nó nằm ở trong thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, sắc uẩn này.
Vui vẻ gì, hay ho gì, cao ngạo, kiêu căng cái gì trong 1 đống nhơ nhớp, bất tịnh, hôi thối, bẩn thỉu, bệnh hoạn này. Trầm mặt, trầm tư đối với bệnh trầm kha này. Tham, dục, ái trong ta còn rất nhiều. Sao nay sân trong ta vẫn phát triển như vậy? Bản ngã trong ta còn to cao như vậy? Ta lo lắng, khắc khoải, ưu tư, trăn trở, thao thức, ray rứt, ăn không ngon, ngủ không yên. Tìm đủ mọi cách làm sao để tẩy sạch những thức rác rưởi, bẩn thỉu, cấu uế, nhơ nhớp này. Mộ khi ở trong đây là đầy bản ngã, bẩn thỉu, hạ liệt, thấp kém, hèn hạ. Không thể sống một đời sống mà ta kiêu căng, tự phụ, ngã mạn, kiêu mạng, tự thị, tự đại, tự cao, tự tôn như vậy. Đó là những người thực sự ưu tư về đời sống này, ưu tư về đời sống của mình.
Sống ở đây là để mình dẹp những thứ này nè, mình diệt những thứ này. Chứ không phải mình sống để làm cho lớn những thứ này lên, không phải để tăng trưởng, phát triển những thứ này lên. Để chạy theo dục, theo tham, theo ái, để sống vật vờ, phỉnh phờ lừa gạt với nhau. Không phải là để sống đóng phim, để diễn với nhau, giả dối. Chẳng những mình giả dối với người, mà mình còn giả dối với chính mình nữa. Nhận diện ngũ uẩn thì mình sẽ thấy, giả dối với mình là như thế nào. Làm thế nào để thoát ra khỏi đời sống này, làm sao để phá được vô minh, diệt được khát ái. Làm sao để thoát ra khỏi những đống khổ như thế này. Đó là một sự trăn trở, thao thức, ray rứt, lo lắng.
VII. Thức tri – tuệ tri
Cho nên ngài Ma-ha-ca-diếp trong Tương Ưng Cassapa: “Tỳ-kheo không có lo lắng, không có sợ hãi không có đến gần được Niết-bàn”. Tức là không lo lắng trong cái sự nhiếp phục, chế ngự, diệt tận tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Thì làm sao đi đến cái tâm thanh tịnh, hoàn toàn sạch sẽ đối với những thứ đó. Biết như vậy là biết bằng trí tuệ, biết bằng thánh trí, thánh pháp, thánh đạo để đi đến thánh quả.
“Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
“Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.”
Cái thức này biết được vui, biết được khổ, biết được không vui không khổ.
“Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?” Ý ngài hỏi tức là cái biết bằng trí tuệ với cái biết bằng nhận thức nó sự khác biệt gì, và nó có kết hợp với nhau không. Chúng ta học cái này chúng ta mới thấy. “Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp”. Cái biết bằng trí tuệ tức là tuệ tri và thức tri, nó có kết hợp với nhau, không phải là nó riêng biệt. “Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được”.
Cái pháp này có thể kết hợp với nhau, mình nói gọn cho dễ hiểu. Là cái thức và cái trí, 2 cái này có kết hợp với nhau. Điều gì trí tuệ biết được, thì cái thức nó cũng biết được. Điều gì thức biết được, thì trí tuệ nó cũng biết được. Hai cái này nó kết hợp với nhau mật thiết.
“Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
– Này Hiền giả, Trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này”. Trí tuệ là cần phải được tu tập, còn thức là cần phải được rõ biết. Bây giờ nói ví dụ mình dễ hiểu nè, mình nhìn lại tâm mình thì mình thấy có cảm giác không? Mình có thấy trong tâm mình có hình bóng, cảm giác hay suy nghĩ gì phải không? Thì cái biết là thức, thức là cần phải rõ biết, còn trí tuệ là cần phải được tu tập. Thì nó biết trong cái tâm đó, nội tâm có tham mình biết không? Đang sân thì có biết đang sân không? Đang bản ngã thì có biết đang bản ngã không?
Cái biết đó là thức, cho nên rất nhiều người lầm chỗ này. Chỗ này là chỗ rất là khó mà phân biệt, giống như ngỗng chúa chọn sữa. Ngày xưa tương truyền đem sữa với nước trộn chung với nhau, mà con ngỗng chúa khi nó uống là nó chọn sữa uống không uống nước, nó tách cái nước ra. Thì trong sách ví dụ là ngỗng chúa chọn sữa, nước với sữa hòa lại với nhau rất là khó tách, nhưng mà con ngỗng chúa chọn ra được. Thì như vậy làm sao để phân biệt được cái thức và cái trí, tức là thức tri và tuệ tri. Cái biết bằng thức thì nó biết, nhưng mà không có khả năng để đoạn được. Mình xuống dưới mình nhớ lại cái câu hồi nãy ngài giải thích.
“Này hiền giả, nhờ tuệ nhãn pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
Này hiền giả trí tuệ có nghĩa là gì?
Trí tuệ có nghĩa thắng tri, liễu tri, đoạn tận.”
Chúng ta thấy chỗ này sáng nghĩa lên không? Trí tuệ không những nó biết, mà nó có khả năng cắt đứt, còn cái thức là nó biết nhưng nó không có khả năng đoạn trừ được. Cho nên mình cũng biết mình đang giận mà, nhưng mà mình không có đoạn được. Mình không có làm, không có từ bỏ được cơn giận, cái biết đó là cái biết bằng thức, nhận thức thôi. Còn cái biết bằng trí tuệ chẳng những biết, mà nó có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận. Chính vì vậy mà gọi nó là thắng tri, liễu tri. Là cái biết cái biết thù thắng, cái biết rốt ráo. Chữ “liễu” là cái biết trọn vẹn, cái biết tháu đáo, đầy đủ, viên mãn, cao tột, thù thắng, đặt biệt, không cùng chung với cái biết của phàm phu, đó gọi là thắng tri, liễu tri tuệ.
Cái biết này nó có khả năng cắt đứt được tham sân si, phiễn não, bản ngã thì cái đó là tuệ. Chúng ta thấy chúng ta phân biệt được thức tri và tuệ tri chưa? Khi dục khởi lên mình biết có dục không? Nhưng mà mình không có khả năng đoạn được nó. Nó vẫn hoành hành, nó vẫn làm cho mình khổ, cái biết đó chỉ là thức tri thôi. Biết bằng trí tuệ thì biết như thế nào? Cái biết này nó liền đưa ra nguy hiểm, tác hại của dục. Đưa ra hậu quả, hệ quả, đau khổ, trói cột, nguy hiểm, tác hại của dục. Và từ cái biết bằng trí tuệ này, mình có như lý tác ý, nhìn sâu vào khía cạnh, góc độ, bản chất, hậu quả, tai hại, tác hại nguy hại của nó.
Như vậy thì từ cái biết này, nó phá cái dục ái, tham, sân, si. Từ đó nó có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đưa đến đoạn tận do cái tuệ mình sâu hay là cạn. Cho nên tuệ là cần phải được tu tập, trí tuệ cần phải được học tập. Nội lực, đạo lực, pháp lực, sức mạnh trong sự tu của mình nó mỏng hay dày, nó nhiều hay ít, thì lúc đó nó nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận theo sức của nó. Cho nên chúng ta có thể thấy là từ tính, tấn, niệm, định, huệ, ngũ căn biến thành ngũ lực, năm sức mạnh. Thì tuệ lực là sức mạnh để nó cắt đứt phiền não, nhiếp phục, chế ngự tham, sân, si, dục ái, vô minh. Cũng như bây giờ mình học mình biết vô thường không ạ? Biết vô thường sao còn phiền não? “Còn tham”. Đó là cái biết bằng thức, thức tri.
Là mình nhận thức, mình nghe, mình học giáo lý, học bài kinh đó. Thì mình biết à nó như vậy, Đức Phật dạy như vậy, nhưng mà cái biết đó là cái biết ở trong kinh của Phật nói. Nó chưa có được tu tập để nó thành cái biết của mình, chưa có sống được ơ trong cái đó. Mình thành cái biết của mình, thì mình sống trong đó, an trú trong đó, mình ngủ trong đó, mình thở trong đó, mình đi trong đó, mình suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức trọn vẹn ở trong cái đó. Thì cái đó là thể nhập, cũng là tuệ tri, cũng là thắng tri, cũng là liễu tri. Chịu không? Như vậy làm sao từ cái thức mình qua cái trí? Nó phải có một chặng đường, từ cái thức đưa đến cái trí.
Nhưng mà trước khi mình nhận thức được giáo pháp, thì cái thức này là cái thức vô minh không có biết. Nhưng mà nhờ cái thức này học được chánh pháp, thì đa văn thánh đệ tử nó nằm ở chỗ chuyển giao từ thức đi quá trí, thì nó có một chặng đường. Từ cái nghe, nó hiểu, nó suy tư rồi đi tới chặng giữa. Từ cái thức qua trí có 1 chặng giữa, là văn tư huệ và tu huệ. Thì cái này nó mới nghe, nó nhận thức được rồi thì nó hiểu ở trên tri thức, kiến thức, nhận thức, thì nó ở chặng xa hơn. Nhưng mà sau khi hiểu, tại ngày hôm qua có học rồi. Thì vị này tìm hiểu được ý nghĩ, vị này hoan hỉ, thích thú, vui sướng. Thì người này mới tư duy, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm, gặm nhấm, quán niệm thường xuyên.
Thì nó đi qua được chặng giữa rồi, cái chặng giữa này là chặng khó xử lắm, tranh tối tranh sáng. Có lúc nó tỉnh, có lúc nó mê, có lúc nó thấy, có lúc nó mờ. Có không? Mới ngủ thức dậy là mờ rồi đó, tỉnh nó không tỉnh, mê thì nó không mê. Mình gọi là gì? “Ba hồi tỉnh, bốn hồi mê. Đường xưa lối cũ biết về nơi mô”. Là nó chèm nhem mới ngủ thức dậy đó, là nó cũng mới lúc tỉnh, lúc mê, mắt cứ lem nhem lờ mờ. Cái giai đoạn này là giai đoạn tranh tối tránh sáng, từ cái thức đi qua cái trí. Mà làm sao để nó đi nhanh qua đoạn đường, là như lý tác ý. Chính cái nghe pháp và cái thiền quán, ròi tác ý hoài hoài là chặng đường đó đưa từ bên thức cho tới bên tỉnh.
Cho nên mình nhắc nhớ hoài, suy nghiệm, an trú ở trong đó hoài hoài. Cuối cùng cái đó ở luôn bên trong không mất, gọi là an trú pháp, niệm được an trú. Cái đó còn gọi là thể nhập thánh trí, hoặc là nhập lưu, nhiều cái từ lắm. “Dự lưu” tức là đi vô dòng chảy, chúng ta mới thấy cái tầm quan trọng của như lý tác ý, thiền quán và nghe pháp. Từ cái nghe pháp, từ cái suy nghiệm về pháp, suy tư pháp. Cho nên như trong bài Pháp Cú, Đức Phật nói: “Vị Tỳ-kheo mến pháp, thích pháp, suy tư pháp, tâm tư niệm chánh pháp, không rời bỏ chánh pháp”. Mến pháp, thích pháp, suy tư pháp, tư niệm chánh pháp là nhớ nghĩ. Đầu tiên là mến, thích, suy tư, nhớ nghĩ và chiêm nghiệm nó, đó là tư huệ, tư tuệ đó.
Tại sao mà nó quan trong như vậy, chánh tư duy, là vì khi mình đưa pháp vô giống như căn nhà mà tối ngàn năm. Bây giờ nó bắt đầu có được ánh sáng soi vào, thì lặp tức mình nhìn ra được những cấu bẩn, dơ trong căn nhà này. Sau khi mình thấy cấu bẩn, dơ trong căn nhà đó, tức là lúc đó mình mới nhận thức về căn nhà, mới thấy về căn nhà. Còn mình thì phải ra công phu dọn dẹp, tẩy rửa, vệ sinh, lau chùi 1 thời gian nó mới đi đến căn nhà sạch. Cũng vậy, cho nên tại sao mà nói nói: “Ủa, tại sao mà vị thành tựu chánh kiến thấy được tham, sân, si, bản ngã hết trơn mà vị này chưa có diệt”, thì là vậy đó. Là phải còn có một câu phu lâu dài, nhưng mà lúc đó đã biết bằng cái tuệ tri mình chưa viên mãn thôi.
Thành ra giai đoạn nghe pháp, suy tư pháp, chiêm nghiêm pháp, tư duy pháp, nghiền ngẫm pháp là giai đoạn làm cái gì? Là giai đoạn xoay đầu chuyển đổi, làm cho hệ điều hành của vô minh, tham ái chấp thủ trong này có 1 sự chuyển đổi. Tại vì nếu như mình nghe mình mới hiểu 1 lần, mình để qua 1 bên, rồi sau mình sẽ bị mất. Mình cứ nhắc hoài, nhớ hoài, suy tư, chiêm nghiệm hoài, thì những cái này nó vô nó rửa. Cái này là pháp thủy, thánh thủy, nó rửa những cái vô minh, những cái tham ái, những cái chấp thủ, những cái bản ngã đó. Nó thấm mỗi ngày 1 chút, mưa dầm thấm lâu vậy đó. Mình cứ tạt, cứ rửa, giống như mình đem ca nước mình tạt, mình xịt vô vậy đó.
Mình tạt riết thì những cái rong rêu, những cái dơ này kia mình lấy cái cây xịt mạnh đó. Thì như vậy nước pháp nó gội rửa vô, nó xoay đầu, chuyễn não, thay đổi hệ điều hành. Hệ vận hành của vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã trong đó nó bị cái pháp đưa vô trong đó nó đánh. Nó đánh, nó rửa, nó chuyển đổi cả 1 hệ điều hành mà vô thỷ kiếp cho tới nay. Quý vị nghĩ đi, dễ xoay đầu chuyển não không? Không dễ ăn một chút nào hết trơn. Nhiều khi mình thấy nó rõ ràng nhưu ngọn núi đó vậy đó, nhưng mà đi thì gian truân, chứ không phải nói thấy là tới đâu. Thì giai đoạn này là giai đoạn đưa cái pháp vô để mà tẩy não.
Bởi vì ở trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong nhận thức, trong cái tưởng của mình là thâm căn cố đế, muôn đời vạn kiếp ở trong này. Là nó cứng khừ cái khối vô minh uẩn to lớn, một cái khối tham dục, tham ái trong này siêu to khổng lồ. Cộng với 1 cái bản ngã như là tu di sơn, núi chúa. Thì như vậy mà mình tu phớt phớt, ngày mình nghe 1 chút vậy là được rồi, vừa nghe vừa ngủ, mở lên rồi nằm.