NGƯỜI CHIẾN SĨ
Kinh Nikāya Giảng Giải
NGƯỜI CHIẾN SĨ
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Người Chiến Sĩ” PAGEREF _Toc72484873 \h 1
1.Tỳ-kheo thiện xảo về xạ trình PAGEREF _Toc72484874 \h 1
2.Tỳ-kheo bắn xa PAGEREF _Toc72484875 \h 6
3.Tỳ-kheo bắn như chớp nhoáng PAGEREF _Toc72484876 \h 10
4.Tỳ-kheo đâm thủng vật to lớn PAGEREF _Toc72484877 \h 13
II.Chiến sĩ trong Phật giáo PAGEREF _Toc72484878 \h 14
Bài kinh “Người Chiến Sĩ”
Kính thưa đại chúng, mùa xuân năm nay, Minh Thành cầu chúc cho các huynh đệ trở thành những người chiến sĩ, những người dũng sĩ và đi theo con đường của bậc vô thượng sĩ.
Thực ra, đối với thế loại, thế sự, thế vật, không có gì để đáng nói khi mục đích của mình chưa thành tựu. Đức Phật thường dạy chúng ta những đề tài, khi thảo luận, thì phải luận bàn về viễn ly, về xa lìa, bàn luận về ly tham, bàn luận về từ bỏ, sự chấm dứt tham sân si, sự giải thoát và Niết-bàn. Cho nên, đối với những điều thông thường mấy hôm nay chúng ta đã nghe, đã tiếp xúc thì tới đây là chấm dứt, mình không bàn tới Tết gì nữa.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2, bài kinh “Người chiến sĩ”, Đức Phật nói rằng:
“Này các Tỳ-kheo, thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Tỳ-kheo thiện xảo về xạ trình
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là người có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Đầu tiên là phải “có giới và sống với sự chế ngự của giới bổn”. Hai chữ “chế ngự” này là cả một sự thực tập của chúng ta.
Chế ngự mắt, chế ngự tai, chế ngự mũi, chế ngự lưỡi, thân và ý – điều này thực sự rất khó. Thông thường chúng ta quan niệm, nghĩ tu là lên chánh điện hay tới giờ ngồi thiền, tới giờ tụng kinh nhưng thực sự không phải. Bất cứ lúc nào, nếu mình thả lỏng các căn thì lúc đó là buông lung phóng dật, đó là một trong những sự trói cột mà mình không tháo gỡ ra được. Ví dụ, giờ ngồi thiền, giờ pháp hội trang nghiêm, hay trong giờ học pháp, ngay bây giờ đây, 1 tiếng, 2 tiếng đồng hồ, lúc đó mình cảm thấy khó chịu, nhưng khi vừa nghe tiếng chuông ra, hay tiếng kẻng xả thiền là khở cái khì, tươi tắn, đó là thả lỏng các căn.
Cho nên, sự tu tập của người chân tu, người tu thật sự là không phải tu trong giờ ngồi thiền, giờ tụng kinh, giờ nghe pháp, giờ hành lễ mà người đó phải luôn luôn chế ngự, phòng hộ, bảo vệ các căn. Chế ngự con mắt, không phải muốn nhìn đâu thì nhìn. Chế ngự tai, không phải muốn nghe đâu thì nghe. Có những cái cho nghe, có những cái không cho nghe, có những cái cho nhìn nhưng có những cái không cho nhìn.
Những cái mình cho nhìn là những thiện pháp, những pháp lành, những pháp đưa đến viễn ly, đưa đến ly tham, từ bỏ, đưa đến giải thoát, đưa đến tăng trưởng giới, định, huệ. Những pháp đó mình cho nhìn, cho nghe. Những pháp nào là bất thiện pháp, làm tăng trưởng tham, sân, si, bản ngã, vô minh, chấp thủ, tham ái, thì những cái đó mình không cho nhìn, không cho thấy, không cho nghe. Dù có nghe nhưng không thọ, đây là điều quan trọng. Dù cho âm thanh có đi vào lỗ tai, hình sắc đi vào trong con mắt, mà lúc đó mình không thọ, tức là mình không thọ nhận, mình đóng cửa.
Cũng như, ở những căn nhà hay những khách sạn tốt, trong đó có con mắt rất nhỏ trên cánh cửa, người ta nhìn qua con mắt đó, thấy ai đứng ở ngoài cửa, nếu muốn tiếp thì cho vô, nếu không muốn tiếp thì không mở cửa. Chứ không phải khách nào cũng tiếp, chẳng lẽ 12h00 đêm, nhìn thấy tướng du côn tới cũng mở cửa hay sao? Như vậy là một cái tâm không có cửa nẻo, không có chốt gài, không bảo vệ, không phòng hộ, không tu tập.., đó là cái tâm hoang vu và kiết sử. Một cái tâm không có huấn luyện, không có bảo an, bảo toàn, không bảo hiểm, bảo vệ.., thì đó là tâm khổ đau, chớ không phải là một người mà mình cho là thoải mái. Người đó là người thả lỏng các căn, là buông lung, là phóng dật.
Cho nên người tu, thứ nhất, thiện xảo về xạ trình là người đó kiểm soát, chế ngự, và làm chủ được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của mình. Đây là cả một quá trình công phu, không phải chuyện đùa. Có khi, mới vô tu thì còn giữ oai nghi tế hạnh, tu lâu rồi không giữ nữa, khi đó mình nhàm, thấy bình thường. Chính điểm này là thất bại ở bước thứ nhất, nếu khôn khéo, chịu để ý thì mình sẽ thấy. Cho nên sự chế ngự, sống chế ngự giới bổn, có oai nghi chánh hạnh, là một sự rèn luyện, huấn luyện, tu tập thân tâm của mình.
Thứ hai, người tu phải “sợ hãi trong những cái lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp”, sự sợ hãi này đưa đến chỗ thanh tịnh, đưa đến chỗ Thánh quả, chứ không phải sợ hãi này là điều bình thường.
Còn người không biết sợ là hết nói rồi. Các huynh đệ thấy mấy người chạy vô tiệm vàng đập kiếng, hay chạy vô ngân hàng mà đưa súng ra, hay là chạy vô mấy trạm thu phí để cướp thì mấy người đó còn sợ hay hết sợ? Hết sợ rồi, nên vô tù ngồi. Nếu họ biết sợ thì họ đâu dám làm, nếu biết sợ thì sao dám giết người, trộm cắp, cướp của, giựt đồ. Do lòng tham chi phối, cái dục chi phối, nó thúc giục, thúc đẩy sự khao khát ở trong, nó làm cho người này trở thành mù lòa, trở thành không mắt, trở thành vô trí. Đức Phật nói về năm triền cái, do tham mà tác thành si ám, tác thành mù loà, tác thành không mắt, nó làm thành vô trí. Cho nên, sự sợ hãi này hay lắm.
Các huynh đệ đọc hoặc nghe quyển “Con người siêu việt Milarepa”, Ngài là một vị Tổ sư mà người ta tôn giống như Phật của Tây Tạng. Khi Ngài sắp sửa viên tịch, thì các vị đệ tử bạch Ngài: “Ngài ở cõi nào xuống đây, Ngài là vị gì, trở lại cuộc đời này để hóa độ chúng con?” Ngài nói: “Nếu mà các ông suy nghĩ như vậy là các ông tà kiến sai lầm. Ta là một chúng sanh bình thường đầy tội lỗi, ta đã làm những huyền thuật để sát hại mấy chục người, hàng trăm người và một động lực duy nhất để cho ta đem cả sinh mạng cầu đạo với bậc Đạo sư là đem cả một cuộc đời này để khổ hạnh, thiền định ở trong rừng sâu núi thẳm, trong hang động suốt cuộc đời là do ta sợ nghiệp quả mà ta đã gây tạo.”
Ở Tây Tạng, rất chú trọng về đạo lý nghiệp quả. Nghiệp và quả của nghiệp. Từ nhỏ, Ngài đã hun đúc, đã huân tập, đã học hành giáo lý về nghiệp này, cũng như sau khi Ngài học về huyền thuật, Ngài mới học về đạo pháp. Ngài thấy được nghiệp quả và biết chắc chắn là Ngài sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nếu không tu. Chính vì vậy, Ngài sợ hãi bị đọa tam đồ ác đạo, khổ thú đọa xứ. Chính nỗi sợ hãi mãnh liệt, khủng khiếp, khủng bố đó là động lực đẩy Ngài hy sinh cả thân mạng để tìm cầu bậc Đạo sư, để tìm cầu Chánh pháp, để thực tập, để giải thoát khỏi, không thôi sẽ rơi vào khổ thú đọa xứ, vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngài giải thích với các đệ tử: “Chính ta thấy rằng, ta sợ hãi, ta hoảng sợ, ta lo sợ, lo lắng, khủng bố, ta kinh hãi đối với ba ác đạo, mà chính đó ta đã đem hết cuộc đời của mình ẩn cư và thiền định.” Ngài ăn những lá tầm ma, không khất thực, không xuống phố, không xin ăn. Cứ như thế, lấy lá cây ăn mãi, da của Ngài, mấy huynh đệ nhìn những hình bên mật tông, vị nào xanh lè mặt, mình mẩy tay chân, đó chính là Ngài Milarepa – là đại hành giả của Tây Tạng, người mở ra Phật giáo cho Tây Tạng.
Sự sợ hãi này, nếu người nào khéo vận dụng thì tối cao là đến bậc A-la-hán, thấp nhất là bậc hướng dự lưu và Tu-đà-hoàn, chứ không phải vừa. Còn người ở trong chùa lâu mà không biết sợ, là xong rồi, tiêu rồi. Không còn biết sợ, không sợ tội lỗi, không sợ nhân quả nghiệp báo, không sợ phải trả nợ của đàn na tín thí, không sợ mang lông đội sừng, không sợ khổ thú ác xứ đọa xứ, là xong rồi. Khủng khiếp lắm!
Khi thực tập, quán chiếu, tu học theo kinh Nikāya, có hai pháp cực kỳ quan trọng đưa đến Thánh quả, mà tất cả chúng ta xem thường, thứ nhất là tàm quý, xấu hổ, nhục nhã; thứ hai là sợ hãi tội lỗi. Hai pháp này nếu được phát huy mãnh liệt là mình đi tới Thánh quả.
Ví dụ, bây giờ nói dối thôi là mình đã thấy sợ, hay phạm một giới chưa phải là giới trọng, như giới tăng tàn chẳng hạn, là hoảng sợ, lo lắng, sợ hãi, sám hối... tìm đủ mọi cách để điều chỉnh, khắc phục thì người đó mai mốt sẽ không phạm nữa. Còn đằng này, phạm rồi mà trơ trơ, nói “Lỡ phạm rồi, cho phạm luôn”, cái đó là xong thật rồi, không có con đường quay trở lại. Cái đó gọi là pháp thối đọa, là lùi lại và rơi xuống vực thẳm. Ít nhất là mình biết hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã đối với những giới pháp mình không giữ được. Mình phải dập đầu trước Phật “cộp, cộp”, sưng trán lên, thậm chí là trầy, chảy máu, để mỗi lần khởi lên những sân hận, tham dục thì nhìn vết đó mà sợ. Lạy Phật cho tới hai đầu gối chai.
Có một giai thoại kể lại, về việc ngồi thiền của Ngài Milarepa. Lúc đó đệ tử lớn nhất của Ngài từ biệt, muốn xin Ngài một pháp là bí pháp tối hậu sau cùng, vị này xin hoài, Ngài nói “Thôi, vậy là được rồi đó”. Và cuối cùng, vị đệ tử này đi, Ngài nói hết rồi, không còn gì hết. Vị đệ tử đi mà cứ quay lại nhìn, cuối cùng Ngài nói: “Thôi đứng lại, quay mặt lại đây”. Vị này quay lại thì Ngài vén cái y dưới lên, đưa cho nhìn thấy cái mông của Ngài đã chai cứng hết toàn bộ. Đó là do Ngài ngồi thiền, chỗ Ngài ngồi thiền bằng đá, ngồi đến nỗi nó thủng xuống, vì Ngài không có quần áo. Ngài tu tập, mở những luồng khí chân hỏa trong cơ thể, nên nội lực bên trong rất mạnh, âm bao nhiêu độ, trời tuyết những không mặc quần áo. Nội hỏa bên trong rất mạnh, tỏa ra đến mức mà đá thủng xuống ngay chỗ ngồi thiền.
Ngài Ajahn Mun ở Thái Lan gần đây, cách mình có mấy mươi năm, viên tịch, Ngài chứng quả A-la-hán. Trăm ngàn chư thiên Đế Thích, vua của ba mươi ba tầng trời, long vương, tất cả những vị đó xuống cầu pháp với Ngài liên tục. Quý huynh đệ mở Diệu Pháp Âm nghe về cuộc đời của đại sư Ajahn Mun. Khủng khiếp lắm! Mấy mươi năm Ngài thiền định, độc cư ở trong rừng núi, sống chung với cọp dữ và bệnh những chứng bệnh gần mất mạng nhưng Ngài hi sinh, quyết định tu hành. Nhìn lại những điều đó, mình thấy hổ thẹn lắm. Bây giờ mình tu kiểu tu văn nghệ, cưỡi ngựa xem hoa. Còn Ngài la rầy đệ tử khiếp lắm, Ngài giáo hóa bằng tha tâm thông, cho nên ai cũng sợ. Khởi lên ý nghĩ gì là Ngài bắt ngay ý nghĩ đó, rồi giảng dạy ngay tại chỗ, có ông võ sĩ tới đó tu, nghe mà run sợ, đứng run bần bật. Ai khởi lên ý niệm gì, Ngài lấy ngay cái ý niệm đó mà dạy, Ngài tu chứng tới mức độ như vậy. Chỉ tu trong một cái hang động, Ngài chứng quả Bất lai, tức là quả thứ ba ở đó.
Cho nên, tu đúng theo tinh thần Nikāya, đúng Thánh đạo thì mới đạt được Thánh quả. Minh Thành mong muốn các huynh đệ cố gắng để hết tâm mình vào bốn bộ kinh Nikāya. Những lời Minh Thành chia sẻ, các huynh đệ cố gắng ghi nhớ, nắm vững, đây là chìa khóa để các chúng ta mở được hết tạng kinh Nikāya. Nhớ kỹ pháp tàm quý, hổ thẹn, nhục nhã, và cái pháp sợ hãi đối với những tội lỗi nhỏ nhặt. Đừng xem thường những lỗi nhỏ, sợ hãi, khắc phục nó, điều chỉnh và cải thiện nó, hoàn thiện nó thì từ từ mình sẽ đi đến chỗ thanh tịnh. Mình ra trận đánh giặc, làm gì không có thắng bại, bại nhưng không chịu thua, đánh nữa, đánh với cái tâm hùng liệt, cuối cùng mình sẽ thắng. Ít nhất là mình đã có vũ khí, có phương pháp, học kinh Nikāya, mình sẽ có được đầy đủ những phương pháp tuyệt vời để đánh trận tuyến của phiền não.
Quý huynh đệ vào trang Linhquyphapan.vn, tìm nghe bài Chiến thuật tâm linh của Đức Phật, có 2-3 bài, giảng về “Kinh Giới Phân Biệt”, Đức Phật chỉ cho mình những cách để tu học. Điều quan trọng ở chỗ là thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp. Việc này rất khó nhưng phải chấp nhận, chứ không phải là không chấp nhận. Nhiều khi, người khác nói thì nghe vậy nhưng mình không nhận, trong tâm mình không chấp nhận, nghe thì biết là phải, là đúng; nhưng thôi, không chấp nhận; như vậy thì làm sao có thể học tập. Chúng ta học thì phải tập; tập là thực tập, thực hành. Thực hành rồi thì có thể nghiệm, mình có chính nghiệm thì mới có chứng ngộ, mới chứng đạt, chứng đắc. Đó là thiện xảo về xạ trình.
Tỳ-kheo bắn xa
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn xa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Đối với các cảm giác, với những nghĩ tưởng, với nhận thức cũng như vậy đối với năm thủ uẩn. Tất cả những gì là sắc thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, mình phải thấy rõ rằng, mình phải như thật với chánh trí huệ, thấy bằng chánh trí huệ là nó không phải mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, thấy được bản chất tứ đại của nó. Đó là thấy bằng trí huệ chân chánh. Còn nếu thấy bằng phàm tâm của mình thì cái nào cũng của mình hết. Thấy bằng trí huệ là dựa trên trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì mới thấy bằng Chánh trí được. Còn trí mình là trí phàm, mình nhìn cái nào cũng là tôi, là ngã, là ngã sở.
Như thế nào là sắc quá khứ, như thế nào là sắc vị lai? Khi chúng ta nghĩ về ngày xưa, lúc bao nhiêu tuổi, ở nhà, sau đó học bằng cấp gì, đã trải qua những gì... chúng ta nghĩ đó là mình, chấp nhận những cái tưởng, những hình bóng của sắc thuộc về quá khứ hiện ra trong nội tâm của mình, đó gọi là sắc tưởng. Thật ra, cái sắc ở bên ngoài không làm mình khổ nhiều, mà chính sắc tưởng trong nội tâm mới làm mình khổ. Quý huynh đệ để ý, cái sắc hiện tại mà mình tiếp xúc làm cho mình khổ ít, nhưng những hình bóng ở trong tâm, mình suy nghĩ về nó, những cái đó làm cho mình khổ đau nhiều. Tại vì sao? Tại vì cho rằng cái sắc tưởng đó là tôi, là của tôi: người bạn của tôi, huynh đệ, cha mẹ của tôi đã bị chết rồi.
Ví dụ có một người, mẹ chết ở trong nhà tắm nhưng không hay, sau khi hay được mẹ chết, người này hối hận suốt cuộc đời, tại sao? “Trong một giờ đồng hồ đó mình bỏ qua bên phòng mình ngủ, tại sao mình không ở lại chăm sóc cho mẹ? Nếu giờ đó ở lại thì mẹ mình đâu có chết”. Và chính tư tưởng đó, suy nghĩ đó dằn vặt hoài suốt cuộc đời, người này tự trách mình mãi. Nhưng trách là trách những hình bóng diễn ra trong quá khứ, chứ hiện tại đâu còn nữa. Tình cảm cũng vậy, những người yêu thương cũng vậy, ghét bỏ thù hận cũng vậy, mình ngồi nghĩ từng cái, từng cái, đối xử với mình như vậy, khổ đau như vậy... rồi đai nghiến, dày xéo tâm cang. Rồi, mình ngồi mỉm cười một mình, chảy nước mắt một mình. Như thế, có phải mình đang bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong quá khứ làm mình khổ không? Có phải là bị những sắc tưởng, thanh tưởng, và những cái nghĩ, nhớ về những âm thanh lúc trước? Những hương tưởng, vị tưởng là những mùi vị mà mình đã nếm qua lúc trước. Và những tiếp xúc mình đã từng tiếp xúc, đó là sáu cái tưởng, sáu cái tư. Đó là hành trong hành uẩn: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, những suy tư về sắc, những suy tư về âm thanh.
Những điều này rất mới, đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Từ trước giờ, mình học nhưng chưa biết cái này. Quý huynh đệ mở bài Quán chiếu sáu pháp ở trang Linhquyphapan.vn nghe. Trong đó Minh Thành có nói về 60 pháp vận hành ở trong tâm theo lời Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, để huynh đệ thấy rằng, mình cho rằng một suy nghĩ, một cảm giác sân hay tham khởi lên, mình thấy là đơn giản, nhưng nó không hề đơn giản. Nó chạy qua cả một hệ thống, vận hành của nó ra 36 pháp. Mình thấy rõ cái duyên sanh pháp vận hành trong nội tâm khi mình thiền quán, hay thường thường nhìn lại năm uẩn, mình sẽ thấy, sẽ biết.
“Này các Tỳ-kheo, lậu, hoặc là do thấy, do biết, ta nói cho người thấy biết để đoạn tận, chứ không phải người không thấy không biết.” Thấy biết điều gì? Thấy biết năm uẩn, thấy biết được sắc thân này, những cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức này, và trong năm uẩn đó – tham, sân, si, bản ngã hoạt động như thế nào? Mình phải thấy biết rõ ràng. Thấy biết sự tập khởi của năm uẩn, thấy biết sự chấm dứt của năm uẩn, sự an trú của năm uẩn như thế nào. Đây là cả một công trình, cả một sự cố gắng nỗ lực, tập cư thiền định, quán chiếu các pháp. Không phải chuyện đơn giản để mình ngồi mình nói suông, học rồi trả bài. Mình phải luôn luôn thường trực mọi lúc mọi nơi, nhìn lại cảm giác để thấy trong cảm giác có gì? Có tham không, có dục, có ái không; có sân, hận, bực tức phẫn nộ không? Sau khi thấy, sau khi biết, phải dùng sự quán chiếu để trừ diệt, tẩy rửa, đoạn tận, chấm dứt, từ bỏ, đưa đến chỗ an tịnh của Niết-bàn.
Đó là khéo tu tập, nhìn thấy được các pháp, luôn luôn nhận diện được năm uẩn, nhóm nào thuộc về sắc, nhóm nào thuộc về cảm giác, có mấy loại cảm giác, cảm giác trong đó vận hành như thế nào, có gì trong cảm giác.., phải thấy rõ. Ở trong tưởng, trong nội tâm của mình có hình bóng gì, những lời nói thầm gì phải thấy rõ. Theo những hình bóng đó, tức là hành uẩn, hình bóng đó là tưởng uẩn, phải thấy rõ, biết rõ, nhận thức rõ. Phải luôn luôn thấy rõ, sắc này không phải là tôi, không phải là của tôi; cái thân mấy chục ký lô này, phải tập nhìn thấy nó là sắc uẩn, không phải mình, không phải của mình. Tập tách suy nghĩ ra từ từ, trước giờ mình suy nghĩ là mình, là của mình... bây giờ mình tách ra bằng sự thiền quán, nghe pháp, tư sát, quán chiếu tu tập.
Tu tập như vậy gọi là bắn xa, đó là mũi tên trí huệ, phải bắn thật xa, bằng không, dù tu 5 năm, 10 năm, 20 năm, cuối cùng mấy chục ký lô này cũng là tôi, là của tôi, có khi còn kiếm cái của tôi cho to hơn, nhiều hơn, thêm hơn. Như thế không thể gọi là chiến sĩ được, mình là kẻ chiến bại, chưa mở được pháp nhãn. Chúng ta phải thành tựu được con mắt pháp nhãn, phải tỏa sáng ra. Mình thấy mình là tôi, là của tôi, là người mù, là kẻ mù lòa.
Còn khi mở mắt ra, thấy được thân tâm này là năm uẩn, không phải mình, thì lúc đó pháp nhãn của mình đã tỏa sáng. Đó là thành tựu Chánh tri kiến, là bậc hướng Dự lưu cho đến Dự lưu Thánh quả. Điều này không phải một ngày một bữa, nó đòi hỏi Đa văn Thánh đệ tử, phải nghe hoài nghe hoài, tư duy tu tập, tư sát quán chiếu hoài, phải thường trực nhìn lại, sắc ra sắc, cảm giác ra cảm giác, nghĩ ra nghĩ (tức là hành), tưởng hình bóng là ra hình bóng, thức là phải nhận thức rõ biết, thấy rõ cái nào ra cái đó. Mũi tên trí huệ của mình bắn rất xa, bắn chạm tới Thánh vực, là bờ cõi của bậc Thánh, như vậy mợi gọi là bắn xa.
Chúng ta không được chấp nhận những cảm giác này là mình. Từ sáng tới giờ, cảm giác của mình thay đổi biết bao nhiêu lần. Khi thức dậy, cảm giác như thế nào; khi ăn sáng, cảm giác như thế nào? Sáng này ăn gì, ăn có thấy ngon không, nếu món đó ngon quá, lại mới được ăn lần đầu, mình sẽ nghĩ mai mốt có thêm món này nữa không? Đó là tham, là dục, là ái ở trong cảm giác. Nếu món đó không vừa ý mình, mặn hay lạt hay cơm nguội, mì gói thì lúc ăn có cảm giác sẽ không thích, khó chịu, sân. Nhìn kỹ, thấy rõ cảm giác sanh diệt, sanh diệt.
Hiện tại đang ngồi đây, nhìn vào cảm giác của mình, xem có cảm giác gì? Khi nói mạnh về giáo pháp thì thấy khó chịu, khi nghe khen quý huynh đệ ở đây công đức vô lượng, thầy của trời người thì thấy thích. Xem trong cảm giác có tham, có thích thú, có ái không? Nhìn thấy thường trực, luôn luôn quán chiếu, tách mình ra khỏi cảm giác. Cảm giác là cảm giác, không phải là mình; suy nghĩ là suy nghĩ, không phải là mình.
Những hình bóng trong nội tâm cũng không đúng, những hình bóng đósao lại là mình được, chỉ là tưởng uẩn thôi. Cái tưởng là ảo tưởng, ảo ảnh, những cái bóng mờ không có thật nhưng mình lại đau khổ, bị ràng buộc bởi những cái bóng đó vô cùng. Bao nhiêu nước mắt đã chảy xuống vì những cái bóng mờ này, tưởng uẩn, lung tung, muốn ngưng để ngủ mà nó không chịu ngưng, cứ nghĩ hoài.
Có lúc mình ngồi nghĩ, mới gặp người kia, họ không nhìn mình, rồi mình nghĩ, “tại sao không nhìn tui, tại sao khinh thường tui, tui chào mà không nhìn, tại sao mời tui tới đây mà không nhìn tới tui là sao”. Người ta bận đám tiệc, pháp hội, cho nên mình hãy thông cảm cho người ta. Đó là hành uẩn, là sắc tư, hương tư, vị tư, thanh tư, pháp tư, xúc tư, không ra khỏi sáu trần. Thức uẩn cũng như vậy. Cho nên, thành tựu được trí huệ, con mắt pháp mở lên để mình thấy rõ năm uẩn là năm uẩn, không còn đồng hóa năm uẩn với chính mình. Như thế gọi là bắn xa.
Tỳ-kheo bắn như chớp nhoáng
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: "đây là khổ", như thật quán tri: "đây là khổ tập"; như thật quán tri: "đây là khổ diệt", như thật quán tri: "đây là con đường đưa đến khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Đây là trí huệ gọi về Tứ Thánh Đế. Xin thưa quý huynh đệ, đa số trước đây mình hiểu nhầm, mình tưởng đâu học khổ: sanh khổ, bệnh khổ, tử khổ,…bát khổ, mình học vậy là xong, không phải. Nếu mình thật sự thấy “đây là khổ” thì sẽ thành tựu cứu cánh triệt để là bậc A-la-hán, Thánh quả thứ tư. Còn nếu mình thấy chính xác của người bắt đầu thì bước vào vòng Dự lưu. Vậy, làm thế nào để thấy “đây là khổ”?
Minh Thành sẽ lấy những dữ kiện tin tức hằng ngày, trên báo chí, xung quanh mình cho quý huynh đệ thấy. Ví dụ, hát karaoke, người bạn chê hát dở, đâm chết tại chỗ, khủng khiếp không, đó chỉ là một tiếng nói thôi. Hay ánh đèn xe của chiếc honda, chói vô mắt, lóa một chút là xảy ra án mạng hình sự. Có phải đây là khổ không? Tất cả đều từ sân hận, bản ngã nhưng con người không thấy được, hoặc là chỉ biết lợi cho bản thân mình, sử dụng chất kích thích, sử dụng đá, cỏ Mỹ, chạy xe tới trạm đèn đỏ nhưng vượt, không dừng, làm chết biết bao nhiêu người. Đã rất nhiều trường hợp vượt đèn đỏ gây tai nạn hàng loạt xảy ra, có người bình luận, chấp hành luật lệ giao thông mà vẫn bị tai nạn giao thông thì không biết phải như thế nào. Có người còn bình luận, tới đèn đỏ là chạy xe lên lề, nhưng leo lề cũng chết. Thậm chí, đang ngồi trong nhà, đừng nói chi những người đứng bán dưa ngoài đường, cũng bị tai nạn. Mà đó chỉ là một vấn đề nhỏ thôi. Tết đến, chết hai trăm mấy chục người, bị thương hơn ba trăm người. Lỗ mũi cũng bệnh được, con mắt cũng bệnh được, bao tử cũng bệnh, cũng ung thư được, đường đại tiểu tiện cũng thành những chứng bệnh nan y. Cái gì trên cơ thể cũng trở thành bệnh được cả. Như vậy, có phải đây là khổ uẩn không?
Nhìn bằng Thánh trí là nhìn tới mức độ vậy, quán chiếu triệt để như vậy. Trên cơ thể mình chỗ nào cũng bệnh được, cũng ung thư được. Đó là cái khổ của sắc uẩn , là sự nguy hại của sắc uẩn nhưng người ta không thấy, chỉ lo tìm vị ngọt. Mình phải quán cái nguy hại của sắc uẩn để xuất ly khỏi sắc; thấy được cái nguy hại, mình quán được cái nguy hiểm và tác hại, vô thường, cái khổ, vô ngã ở trong đó. Phải nhìn thấy một cách sâu sắc bằng thiền quán, bằng tư duy, tư sát, chứ không phải thấy bằng cách thường. Nhìn vào trong nội tâm của mình, chúng ta bị dục ái hành hạ khổ như thế nào, nó đòi hỏi như thế nào? Dục ái làm mình khao khát, chạy đi tìm kiếm hoài suốt cuộc đời. Một ông già 80 tuổi hãm hiếp một đứa bé chưa đầy 10 tháng tuổi, khủng khiếp không?
Tất cả những điều đó là Tập Đế, là khổ tập, dục ái bên trong sai khiến, nó trấn áp, áp đảo, hành hạ, nó làm cho con người không còn biết gì nữa hết. Tất cả cảm giác lúc đó chỉ là cảm giác thúc giục, đòi hỏi, tất cả những cái tưởng chỉ hiện lên những hình bóng của dục, những suy nghĩ toàn là suy nghĩ về cái dục, cái thức chỉ biết có dục thôi. Lúc đó, sắc dục, thọ dục, tưởng dục, hành dục, thức dục, năm cái này cùng đánh phá một trận, ập vô như cơn sóng thần, không còn biết gì nữa hết.
Một cậu thiếu niên hãm hiếp một cô gái, cô gái chạy thoát được ra ngôi nhà ở gần đó, cậu ta chạy theo giết cô gái, giết luôn những người ở đó, đốt nhà luôn. Ngày 30 tết năm nay, một cô gái đi giao gà, đang là nữ sinh đại học, mới 22 tuổi, bị năm ngươi luân phiên nhau hãm hiếp cho tới chết, rồi giết. Như vậy, hơn bao giờ hết, trong thời đại này, cái tham dục, sân hận, cái sân si, bản ngã con người phát triển cao độ, cùng cực, mãnh liệt, nó nhận chìm toàn bộ thế giới. Hơn bao giờ hết, người xuất gia mình phải đi trên Thánh đạo, nhận diện lại những cảm giác, nhiếp phục, tẩy rửa, trừ diệt và đoạn tận. Hơn bao giờ hết, phải đem con đường tiêu diệt khổ đau để thực tập, hành trì và truyền bá cứu giúp thế giới, cứu giúp nhân loại và cứu giúp chúng sanh.
Chúng ta không thể nào trơ trơ, không thể tu cho qua ngày hết tháng. Mình phải có sự nhiệt tâm, sự tinh cần, tinh tấn, sự khao khát, mãnh liệt và nhiệt huyết để hành trì, học hỏi và tu tập, truyền bá Chánh pháp. Đó là việc cần làm, việc nên làm và việc phải làm! Cho đến một ngày kia, ta sẽ ngồi giữa đại chúng và tuyên bố rằng: sân đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Như thế là quang tông diệu tổ. Như thế là đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Phải tu như vậy, học như vậy, hành trì như vậy và hoằng pháp như vậy, chứ đâu phải lơ mơ, chạy lên cúng tụng hoài, cầu xin hoài, mà bên trong đầy ứ, rỉ chảy những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã… đụng vô là bùng cháy, lan cháy, đốt cháy. Tiếc lắm, tiếc cuộc đời tu lắm!
Tỳ-kheo đâm thủng vật to lớn
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn.
Vô minh uẩn là một đống uẩn vô minh, không sáng suốt, một đống tăm tối không thấy được sắc, không thấy được thọ, tưởng, hành, thức, đống đó là đống bản ngã, cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Sâu sắc hơn nữa là khi những cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức trong mình mà mình không biết, lúc đó là mình vô minh. Hoặc là biết mà biết không rõ, cũng là vô minh. Biết không rõ cảm giác nó vận hành như thế nào, những nghĩ tưởng ra sao, trong đó có gì mình không biết, nhận thức gì mình không biết... cũng là vô minh. Như vậy, đâm thủng vô minh uẩn to lớn là dùng trí huệ của Bát chánh đạo, của Chánh tri kiến, Chánh tư duy để xuyên thủng, từ bỏ cái nhìn sai lầm, cái thấy trong tăm tối. Chúng ta phải sử dụng Thánh trí, thể nhập trí huệ của bậc Thánh thì mới phá được cái uẩn to lớn của vô minh.
Đầy đủ bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Chiến sĩ trong Phật giáo
Từ những hình thức tín ngưỡng đó, mình phải đi sâu, chúng ta là lớp chuyên sâu, khi mình leo đến lớp cao đẳng là “cẳng đã đau” rồi. Cho nên, không thể học và tu một cách thường thường được, mình phải uống nước tận nguồn, phải tìm đâu là lõi cây của Chánh pháp, đâu là tinh hoa của Phật trí, để mình ứng dụng và hành trì. Quý huynh đệ làm được điều này, tu học được điều này thì sẽ lợi lạc cho cả nhân thiên, chứ không chỉ là cho nhân loại. Đây, những vị ngồi đây, trong tương lai, và ngay trong hiện tại là những Tỳ-kheo Sơ quả, Nhị quả, Tam quả và Tứ Thánh quả. Trong hội chúng này, hiện tại, có những vị đang hướng Dự lưu, có những vị đang Nhập lưu, thậm chí có những vị là Nhất lai, chỉ còn một đời trở lại đây thôi. Và có những vị sau đời sống này không trở lại nữa, mà lên Tịnh Cư Thiên để tẩy rửa những phiền não vi tế, ngũ thuận phần kiết sử, và cuối cùng là nhập Niết bàn.
Đó là những thành quả của người xuất gia mà chúng ta đang hướng tới. Cho nên, để thấy được khổ và nguyên nhân của khổ, không ở đâu xa thưa quý vị, hằng ngày báo chí, tin tức thời sự, mình nhìn thấy để quán chiếu, đó là kinh sống, pháp sống, đó là thiết thực, hiện tại đến để mà thấy, thấy những sân hận, bản ngã trong tâm mình, những kiêu căng, tự đắc, khó chịu, ganh tỵ, tật đố v.v.. Những cấu nhiễm đó phải diệt tận, đó là việc làm duy nhất của người xuất gia. Luôn luôn quay lại, nhận diện năm uẩn và phát hiện những cấu bẩn trong nội tâm, làm nó giảm thiểu, đoạn giảm, và cuối cùng là trừ diệt, diệt tận, tu nv là xong. Đó là công việc duy nhất và độc nhất, không có gì nhiều cả.
Theo lời Đức Phật dạy trong Chánh tạng, đối với những cấu nhiễn, chúng ta quay lại nhìn, phát hiện ra và có phương pháp trừ diệt, chứ không phải lên ngồi thở ra thở vô, mình cười là xong. Lầm! Mình ngồi thở ra thở vô rồi cười mà cái dục, cái tham còn y nguyên, cái ái, cái sân còn y nguyên thì phải làm sao? Chúng ta cần phải thanh lý hàng tồn kho. Bằng cách tẩy rửa quán chiếu, trừ diệt, diệt tận, không cho nó hoành hành, không cho nó làm chủ trong nội tâm mình nữa, phải đánh đuổi nó ra. Chúng ta là chiến sĩ mà. Dùng bất tịnh quán, dùng 32 thể trược, dùng 9 giai đoạn một tử thi, dùng hình ảnh của một bộ xương, một đống thịt bầy nhầy những con giòi để đánh tan hình bóng đẹp trong nội tâm của mình, cho nó là tịnh tưởng của thân xác này. Dùng bất tịnh quán đánh tan tịnh tướng, rồi dùng từ tâm giải thoát trị cái sân.
“Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập từ tâm giải thoát, làm nó thành căn cứ, làm nó thành cỗ xe, làm nó thành vững chắc thành trì, thì như vậy sẽ diệt tận tất cả sân hận trong nội tâm.” Ngày nào cũng phải trải tâm từ, phải thực tập từ bi quán. Không phải là vào họp hay hội nghị, hô lên một phút nhập từ bi quán bắt đầu, rồi hết một phút là xong, không phải vậy, mà mỗi ngày mình phải thực tập trải tâm từ. Minh Thành có hướng dẫn cách thực tập tâm từ, quý huynh đệ vào trang Linhquyphapan.vn để xem về Bốn Tâm Vô Lượng và cách thực tập trải tâm từ.
Cái si cũng vậy, chúng ta phải tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, quán chiếu, dẹp cái uể oải, lười biếng, giải đãi, ăn no muốn ngủ, đánh tan, diệt tận nó, không cho nó còn chỗ trú ẩn trong thân tâm mình, như vậy mới thành công.
Phải diệt Năm Triền Cái, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ, tu tập Thất Giác Chi, thực hành Tứ Niệm Xứ, đó là con đường mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại tương lai đã đi qua. Cho nên, thấy được Khổ Thánh Đế là điều tuyệt vời, không phải đơn giản. Đừng nghĩ mình học như vậy là mình hiểu Khổ Thánh Đế, mà chúng ta cần phải thực tập quán chiếu.
Mùa xuân năm nay, Minh Thành mong cho quý huynh đệ trở thành chiến sĩ trong Phật giáo.
./.
NGƯỜI CHIẾN SĨ
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Người Chiến Sĩ” PAGEREF _Toc72484873 \h 1
1.Tỳ-kheo thiện xảo về xạ trình PAGEREF _Toc72484874 \h 1
2.Tỳ-kheo bắn xa PAGEREF _Toc72484875 \h 6
3.Tỳ-kheo bắn như chớp nhoáng PAGEREF _Toc72484876 \h 10
4.Tỳ-kheo đâm thủng vật to lớn PAGEREF _Toc72484877 \h 13
II.Chiến sĩ trong Phật giáo PAGEREF _Toc72484878 \h 14
Bài kinh “Người Chiến Sĩ”
Kính thưa đại chúng, mùa xuân năm nay, Minh Thành cầu chúc cho các huynh đệ trở thành những người chiến sĩ, những người dũng sĩ và đi theo con đường của bậc vô thượng sĩ.
Thực ra, đối với thế loại, thế sự, thế vật, không có gì để đáng nói khi mục đích của mình chưa thành tựu. Đức Phật thường dạy chúng ta những đề tài, khi thảo luận, thì phải luận bàn về viễn ly, về xa lìa, bàn luận về ly tham, bàn luận về từ bỏ, sự chấm dứt tham sân si, sự giải thoát và Niết-bàn. Cho nên, đối với những điều thông thường mấy hôm nay chúng ta đã nghe, đã tiếp xúc thì tới đây là chấm dứt, mình không bàn tới Tết gì nữa.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh, tập 2, bài kinh “Người chiến sĩ”, Đức Phật nói rằng:
“Này các Tỳ-kheo, thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, một chiến sĩ xứng đáng để cho vua sử dụng, thuộc sở hữu của vua, là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ thiện xảo về xạ trình, là người bắn xa, bắn như chớp nhoáng, và đâm thủng được vật lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu bốn pháp này, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Tỳ-kheo thiện xảo về xạ trình
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo là người có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Patimokkha, có uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo thiện xảo về xạ trình.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Đầu tiên là phải “có giới và sống với sự chế ngự của giới bổn”. Hai chữ “chế ngự” này là cả một sự thực tập của chúng ta.
Chế ngự mắt, chế ngự tai, chế ngự mũi, chế ngự lưỡi, thân và ý – điều này thực sự rất khó. Thông thường chúng ta quan niệm, nghĩ tu là lên chánh điện hay tới giờ ngồi thiền, tới giờ tụng kinh nhưng thực sự không phải. Bất cứ lúc nào, nếu mình thả lỏng các căn thì lúc đó là buông lung phóng dật, đó là một trong những sự trói cột mà mình không tháo gỡ ra được. Ví dụ, giờ ngồi thiền, giờ pháp hội trang nghiêm, hay trong giờ học pháp, ngay bây giờ đây, 1 tiếng, 2 tiếng đồng hồ, lúc đó mình cảm thấy khó chịu, nhưng khi vừa nghe tiếng chuông ra, hay tiếng kẻng xả thiền là khở cái khì, tươi tắn, đó là thả lỏng các căn.
Cho nên, sự tu tập của người chân tu, người tu thật sự là không phải tu trong giờ ngồi thiền, giờ tụng kinh, giờ nghe pháp, giờ hành lễ mà người đó phải luôn luôn chế ngự, phòng hộ, bảo vệ các căn. Chế ngự con mắt, không phải muốn nhìn đâu thì nhìn. Chế ngự tai, không phải muốn nghe đâu thì nghe. Có những cái cho nghe, có những cái không cho nghe, có những cái cho nhìn nhưng có những cái không cho nhìn.
Những cái mình cho nhìn là những thiện pháp, những pháp lành, những pháp đưa đến viễn ly, đưa đến ly tham, từ bỏ, đưa đến giải thoát, đưa đến tăng trưởng giới, định, huệ. Những pháp đó mình cho nhìn, cho nghe. Những pháp nào là bất thiện pháp, làm tăng trưởng tham, sân, si, bản ngã, vô minh, chấp thủ, tham ái, thì những cái đó mình không cho nhìn, không cho thấy, không cho nghe. Dù có nghe nhưng không thọ, đây là điều quan trọng. Dù cho âm thanh có đi vào lỗ tai, hình sắc đi vào trong con mắt, mà lúc đó mình không thọ, tức là mình không thọ nhận, mình đóng cửa.
Cũng như, ở những căn nhà hay những khách sạn tốt, trong đó có con mắt rất nhỏ trên cánh cửa, người ta nhìn qua con mắt đó, thấy ai đứng ở ngoài cửa, nếu muốn tiếp thì cho vô, nếu không muốn tiếp thì không mở cửa. Chứ không phải khách nào cũng tiếp, chẳng lẽ 12h00 đêm, nhìn thấy tướng du côn tới cũng mở cửa hay sao? Như vậy là một cái tâm không có cửa nẻo, không có chốt gài, không bảo vệ, không phòng hộ, không tu tập.., đó là cái tâm hoang vu và kiết sử. Một cái tâm không có huấn luyện, không có bảo an, bảo toàn, không bảo hiểm, bảo vệ.., thì đó là tâm khổ đau, chớ không phải là một người mà mình cho là thoải mái. Người đó là người thả lỏng các căn, là buông lung, là phóng dật.
Cho nên người tu, thứ nhất, thiện xảo về xạ trình là người đó kiểm soát, chế ngự, và làm chủ được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của mình. Đây là cả một quá trình công phu, không phải chuyện đùa. Có khi, mới vô tu thì còn giữ oai nghi tế hạnh, tu lâu rồi không giữ nữa, khi đó mình nhàm, thấy bình thường. Chính điểm này là thất bại ở bước thứ nhất, nếu khôn khéo, chịu để ý thì mình sẽ thấy. Cho nên sự chế ngự, sống chế ngự giới bổn, có oai nghi chánh hạnh, là một sự rèn luyện, huấn luyện, tu tập thân tâm của mình.
Thứ hai, người tu phải “sợ hãi trong những cái lỗi nhỏ, chấp nhận và học tập các học pháp”, sự sợ hãi này đưa đến chỗ thanh tịnh, đưa đến chỗ Thánh quả, chứ không phải sợ hãi này là điều bình thường.
Còn người không biết sợ là hết nói rồi. Các huynh đệ thấy mấy người chạy vô tiệm vàng đập kiếng, hay chạy vô ngân hàng mà đưa súng ra, hay là chạy vô mấy trạm thu phí để cướp thì mấy người đó còn sợ hay hết sợ? Hết sợ rồi, nên vô tù ngồi. Nếu họ biết sợ thì họ đâu dám làm, nếu biết sợ thì sao dám giết người, trộm cắp, cướp của, giựt đồ. Do lòng tham chi phối, cái dục chi phối, nó thúc giục, thúc đẩy sự khao khát ở trong, nó làm cho người này trở thành mù lòa, trở thành không mắt, trở thành vô trí. Đức Phật nói về năm triền cái, do tham mà tác thành si ám, tác thành mù loà, tác thành không mắt, nó làm thành vô trí. Cho nên, sự sợ hãi này hay lắm.
Các huynh đệ đọc hoặc nghe quyển “Con người siêu việt Milarepa”, Ngài là một vị Tổ sư mà người ta tôn giống như Phật của Tây Tạng. Khi Ngài sắp sửa viên tịch, thì các vị đệ tử bạch Ngài: “Ngài ở cõi nào xuống đây, Ngài là vị gì, trở lại cuộc đời này để hóa độ chúng con?” Ngài nói: “Nếu mà các ông suy nghĩ như vậy là các ông tà kiến sai lầm. Ta là một chúng sanh bình thường đầy tội lỗi, ta đã làm những huyền thuật để sát hại mấy chục người, hàng trăm người và một động lực duy nhất để cho ta đem cả sinh mạng cầu đạo với bậc Đạo sư là đem cả một cuộc đời này để khổ hạnh, thiền định ở trong rừng sâu núi thẳm, trong hang động suốt cuộc đời là do ta sợ nghiệp quả mà ta đã gây tạo.”
Ở Tây Tạng, rất chú trọng về đạo lý nghiệp quả. Nghiệp và quả của nghiệp. Từ nhỏ, Ngài đã hun đúc, đã huân tập, đã học hành giáo lý về nghiệp này, cũng như sau khi Ngài học về huyền thuật, Ngài mới học về đạo pháp. Ngài thấy được nghiệp quả và biết chắc chắn là Ngài sẽ đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nếu không tu. Chính vì vậy, Ngài sợ hãi bị đọa tam đồ ác đạo, khổ thú đọa xứ. Chính nỗi sợ hãi mãnh liệt, khủng khiếp, khủng bố đó là động lực đẩy Ngài hy sinh cả thân mạng để tìm cầu bậc Đạo sư, để tìm cầu Chánh pháp, để thực tập, để giải thoát khỏi, không thôi sẽ rơi vào khổ thú đọa xứ, vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngài giải thích với các đệ tử: “Chính ta thấy rằng, ta sợ hãi, ta hoảng sợ, ta lo sợ, lo lắng, khủng bố, ta kinh hãi đối với ba ác đạo, mà chính đó ta đã đem hết cuộc đời của mình ẩn cư và thiền định.” Ngài ăn những lá tầm ma, không khất thực, không xuống phố, không xin ăn. Cứ như thế, lấy lá cây ăn mãi, da của Ngài, mấy huynh đệ nhìn những hình bên mật tông, vị nào xanh lè mặt, mình mẩy tay chân, đó chính là Ngài Milarepa – là đại hành giả của Tây Tạng, người mở ra Phật giáo cho Tây Tạng.
Sự sợ hãi này, nếu người nào khéo vận dụng thì tối cao là đến bậc A-la-hán, thấp nhất là bậc hướng dự lưu và Tu-đà-hoàn, chứ không phải vừa. Còn người ở trong chùa lâu mà không biết sợ, là xong rồi, tiêu rồi. Không còn biết sợ, không sợ tội lỗi, không sợ nhân quả nghiệp báo, không sợ phải trả nợ của đàn na tín thí, không sợ mang lông đội sừng, không sợ khổ thú ác xứ đọa xứ, là xong rồi. Khủng khiếp lắm!
Khi thực tập, quán chiếu, tu học theo kinh Nikāya, có hai pháp cực kỳ quan trọng đưa đến Thánh quả, mà tất cả chúng ta xem thường, thứ nhất là tàm quý, xấu hổ, nhục nhã; thứ hai là sợ hãi tội lỗi. Hai pháp này nếu được phát huy mãnh liệt là mình đi tới Thánh quả.
Ví dụ, bây giờ nói dối thôi là mình đã thấy sợ, hay phạm một giới chưa phải là giới trọng, như giới tăng tàn chẳng hạn, là hoảng sợ, lo lắng, sợ hãi, sám hối... tìm đủ mọi cách để điều chỉnh, khắc phục thì người đó mai mốt sẽ không phạm nữa. Còn đằng này, phạm rồi mà trơ trơ, nói “Lỡ phạm rồi, cho phạm luôn”, cái đó là xong thật rồi, không có con đường quay trở lại. Cái đó gọi là pháp thối đọa, là lùi lại và rơi xuống vực thẳm. Ít nhất là mình biết hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã đối với những giới pháp mình không giữ được. Mình phải dập đầu trước Phật “cộp, cộp”, sưng trán lên, thậm chí là trầy, chảy máu, để mỗi lần khởi lên những sân hận, tham dục thì nhìn vết đó mà sợ. Lạy Phật cho tới hai đầu gối chai.
Có một giai thoại kể lại, về việc ngồi thiền của Ngài Milarepa. Lúc đó đệ tử lớn nhất của Ngài từ biệt, muốn xin Ngài một pháp là bí pháp tối hậu sau cùng, vị này xin hoài, Ngài nói “Thôi, vậy là được rồi đó”. Và cuối cùng, vị đệ tử này đi, Ngài nói hết rồi, không còn gì hết. Vị đệ tử đi mà cứ quay lại nhìn, cuối cùng Ngài nói: “Thôi đứng lại, quay mặt lại đây”. Vị này quay lại thì Ngài vén cái y dưới lên, đưa cho nhìn thấy cái mông của Ngài đã chai cứng hết toàn bộ. Đó là do Ngài ngồi thiền, chỗ Ngài ngồi thiền bằng đá, ngồi đến nỗi nó thủng xuống, vì Ngài không có quần áo. Ngài tu tập, mở những luồng khí chân hỏa trong cơ thể, nên nội lực bên trong rất mạnh, âm bao nhiêu độ, trời tuyết những không mặc quần áo. Nội hỏa bên trong rất mạnh, tỏa ra đến mức mà đá thủng xuống ngay chỗ ngồi thiền.
Ngài Ajahn Mun ở Thái Lan gần đây, cách mình có mấy mươi năm, viên tịch, Ngài chứng quả A-la-hán. Trăm ngàn chư thiên Đế Thích, vua của ba mươi ba tầng trời, long vương, tất cả những vị đó xuống cầu pháp với Ngài liên tục. Quý huynh đệ mở Diệu Pháp Âm nghe về cuộc đời của đại sư Ajahn Mun. Khủng khiếp lắm! Mấy mươi năm Ngài thiền định, độc cư ở trong rừng núi, sống chung với cọp dữ và bệnh những chứng bệnh gần mất mạng nhưng Ngài hi sinh, quyết định tu hành. Nhìn lại những điều đó, mình thấy hổ thẹn lắm. Bây giờ mình tu kiểu tu văn nghệ, cưỡi ngựa xem hoa. Còn Ngài la rầy đệ tử khiếp lắm, Ngài giáo hóa bằng tha tâm thông, cho nên ai cũng sợ. Khởi lên ý nghĩ gì là Ngài bắt ngay ý nghĩ đó, rồi giảng dạy ngay tại chỗ, có ông võ sĩ tới đó tu, nghe mà run sợ, đứng run bần bật. Ai khởi lên ý niệm gì, Ngài lấy ngay cái ý niệm đó mà dạy, Ngài tu chứng tới mức độ như vậy. Chỉ tu trong một cái hang động, Ngài chứng quả Bất lai, tức là quả thứ ba ở đó.
Cho nên, tu đúng theo tinh thần Nikāya, đúng Thánh đạo thì mới đạt được Thánh quả. Minh Thành mong muốn các huynh đệ cố gắng để hết tâm mình vào bốn bộ kinh Nikāya. Những lời Minh Thành chia sẻ, các huynh đệ cố gắng ghi nhớ, nắm vững, đây là chìa khóa để các chúng ta mở được hết tạng kinh Nikāya. Nhớ kỹ pháp tàm quý, hổ thẹn, nhục nhã, và cái pháp sợ hãi đối với những tội lỗi nhỏ nhặt. Đừng xem thường những lỗi nhỏ, sợ hãi, khắc phục nó, điều chỉnh và cải thiện nó, hoàn thiện nó thì từ từ mình sẽ đi đến chỗ thanh tịnh. Mình ra trận đánh giặc, làm gì không có thắng bại, bại nhưng không chịu thua, đánh nữa, đánh với cái tâm hùng liệt, cuối cùng mình sẽ thắng. Ít nhất là mình đã có vũ khí, có phương pháp, học kinh Nikāya, mình sẽ có được đầy đủ những phương pháp tuyệt vời để đánh trận tuyến của phiền não.
Quý huynh đệ vào trang Linhquyphapan.vn, tìm nghe bài Chiến thuật tâm linh của Đức Phật, có 2-3 bài, giảng về “Kinh Giới Phân Biệt”, Đức Phật chỉ cho mình những cách để tu học. Điều quan trọng ở chỗ là thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp. Việc này rất khó nhưng phải chấp nhận, chứ không phải là không chấp nhận. Nhiều khi, người khác nói thì nghe vậy nhưng mình không nhận, trong tâm mình không chấp nhận, nghe thì biết là phải, là đúng; nhưng thôi, không chấp nhận; như vậy thì làm sao có thể học tập. Chúng ta học thì phải tập; tập là thực tập, thực hành. Thực hành rồi thì có thể nghiệm, mình có chính nghiệm thì mới có chứng ngộ, mới chứng đạt, chứng đắc. Đó là thiện xảo về xạ trình.
Tỳ-kheo bắn xa
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn xa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phàm sắc gì thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc, vị ấy thấy như thật với chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Đối với các cảm giác, với những nghĩ tưởng, với nhận thức cũng như vậy đối với năm thủ uẩn. Tất cả những gì là sắc thuộc về quá khứ, vị lai, hiện tại, mình phải thấy rõ rằng, mình phải như thật với chánh trí huệ, thấy bằng chánh trí huệ là nó không phải mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, thấy được bản chất tứ đại của nó. Đó là thấy bằng trí huệ chân chánh. Còn nếu thấy bằng phàm tâm của mình thì cái nào cũng của mình hết. Thấy bằng trí huệ là dựa trên trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì mới thấy bằng Chánh trí được. Còn trí mình là trí phàm, mình nhìn cái nào cũng là tôi, là ngã, là ngã sở.
Như thế nào là sắc quá khứ, như thế nào là sắc vị lai? Khi chúng ta nghĩ về ngày xưa, lúc bao nhiêu tuổi, ở nhà, sau đó học bằng cấp gì, đã trải qua những gì... chúng ta nghĩ đó là mình, chấp nhận những cái tưởng, những hình bóng của sắc thuộc về quá khứ hiện ra trong nội tâm của mình, đó gọi là sắc tưởng. Thật ra, cái sắc ở bên ngoài không làm mình khổ nhiều, mà chính sắc tưởng trong nội tâm mới làm mình khổ. Quý huynh đệ để ý, cái sắc hiện tại mà mình tiếp xúc làm cho mình khổ ít, nhưng những hình bóng ở trong tâm, mình suy nghĩ về nó, những cái đó làm cho mình khổ đau nhiều. Tại vì sao? Tại vì cho rằng cái sắc tưởng đó là tôi, là của tôi: người bạn của tôi, huynh đệ, cha mẹ của tôi đã bị chết rồi.
Ví dụ có một người, mẹ chết ở trong nhà tắm nhưng không hay, sau khi hay được mẹ chết, người này hối hận suốt cuộc đời, tại sao? “Trong một giờ đồng hồ đó mình bỏ qua bên phòng mình ngủ, tại sao mình không ở lại chăm sóc cho mẹ? Nếu giờ đó ở lại thì mẹ mình đâu có chết”. Và chính tư tưởng đó, suy nghĩ đó dằn vặt hoài suốt cuộc đời, người này tự trách mình mãi. Nhưng trách là trách những hình bóng diễn ra trong quá khứ, chứ hiện tại đâu còn nữa. Tình cảm cũng vậy, những người yêu thương cũng vậy, ghét bỏ thù hận cũng vậy, mình ngồi nghĩ từng cái, từng cái, đối xử với mình như vậy, khổ đau như vậy... rồi đai nghiến, dày xéo tâm cang. Rồi, mình ngồi mỉm cười một mình, chảy nước mắt một mình. Như thế, có phải mình đang bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong quá khứ làm mình khổ không? Có phải là bị những sắc tưởng, thanh tưởng, và những cái nghĩ, nhớ về những âm thanh lúc trước? Những hương tưởng, vị tưởng là những mùi vị mà mình đã nếm qua lúc trước. Và những tiếp xúc mình đã từng tiếp xúc, đó là sáu cái tưởng, sáu cái tư. Đó là hành trong hành uẩn: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, những suy tư về sắc, những suy tư về âm thanh.
Những điều này rất mới, đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Từ trước giờ, mình học nhưng chưa biết cái này. Quý huynh đệ mở bài Quán chiếu sáu pháp ở trang Linhquyphapan.vn nghe. Trong đó Minh Thành có nói về 60 pháp vận hành ở trong tâm theo lời Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, để huynh đệ thấy rằng, mình cho rằng một suy nghĩ, một cảm giác sân hay tham khởi lên, mình thấy là đơn giản, nhưng nó không hề đơn giản. Nó chạy qua cả một hệ thống, vận hành của nó ra 36 pháp. Mình thấy rõ cái duyên sanh pháp vận hành trong nội tâm khi mình thiền quán, hay thường thường nhìn lại năm uẩn, mình sẽ thấy, sẽ biết.
“Này các Tỳ-kheo, lậu, hoặc là do thấy, do biết, ta nói cho người thấy biết để đoạn tận, chứ không phải người không thấy không biết.” Thấy biết điều gì? Thấy biết năm uẩn, thấy biết được sắc thân này, những cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức này, và trong năm uẩn đó – tham, sân, si, bản ngã hoạt động như thế nào? Mình phải thấy biết rõ ràng. Thấy biết sự tập khởi của năm uẩn, thấy biết sự chấm dứt của năm uẩn, sự an trú của năm uẩn như thế nào. Đây là cả một công trình, cả một sự cố gắng nỗ lực, tập cư thiền định, quán chiếu các pháp. Không phải chuyện đơn giản để mình ngồi mình nói suông, học rồi trả bài. Mình phải luôn luôn thường trực mọi lúc mọi nơi, nhìn lại cảm giác để thấy trong cảm giác có gì? Có tham không, có dục, có ái không; có sân, hận, bực tức phẫn nộ không? Sau khi thấy, sau khi biết, phải dùng sự quán chiếu để trừ diệt, tẩy rửa, đoạn tận, chấm dứt, từ bỏ, đưa đến chỗ an tịnh của Niết-bàn.
Đó là khéo tu tập, nhìn thấy được các pháp, luôn luôn nhận diện được năm uẩn, nhóm nào thuộc về sắc, nhóm nào thuộc về cảm giác, có mấy loại cảm giác, cảm giác trong đó vận hành như thế nào, có gì trong cảm giác.., phải thấy rõ. Ở trong tưởng, trong nội tâm của mình có hình bóng gì, những lời nói thầm gì phải thấy rõ. Theo những hình bóng đó, tức là hành uẩn, hình bóng đó là tưởng uẩn, phải thấy rõ, biết rõ, nhận thức rõ. Phải luôn luôn thấy rõ, sắc này không phải là tôi, không phải là của tôi; cái thân mấy chục ký lô này, phải tập nhìn thấy nó là sắc uẩn, không phải mình, không phải của mình. Tập tách suy nghĩ ra từ từ, trước giờ mình suy nghĩ là mình, là của mình... bây giờ mình tách ra bằng sự thiền quán, nghe pháp, tư sát, quán chiếu tu tập.
Tu tập như vậy gọi là bắn xa, đó là mũi tên trí huệ, phải bắn thật xa, bằng không, dù tu 5 năm, 10 năm, 20 năm, cuối cùng mấy chục ký lô này cũng là tôi, là của tôi, có khi còn kiếm cái của tôi cho to hơn, nhiều hơn, thêm hơn. Như thế không thể gọi là chiến sĩ được, mình là kẻ chiến bại, chưa mở được pháp nhãn. Chúng ta phải thành tựu được con mắt pháp nhãn, phải tỏa sáng ra. Mình thấy mình là tôi, là của tôi, là người mù, là kẻ mù lòa.
Còn khi mở mắt ra, thấy được thân tâm này là năm uẩn, không phải mình, thì lúc đó pháp nhãn của mình đã tỏa sáng. Đó là thành tựu Chánh tri kiến, là bậc hướng Dự lưu cho đến Dự lưu Thánh quả. Điều này không phải một ngày một bữa, nó đòi hỏi Đa văn Thánh đệ tử, phải nghe hoài nghe hoài, tư duy tu tập, tư sát quán chiếu hoài, phải thường trực nhìn lại, sắc ra sắc, cảm giác ra cảm giác, nghĩ ra nghĩ (tức là hành), tưởng hình bóng là ra hình bóng, thức là phải nhận thức rõ biết, thấy rõ cái nào ra cái đó. Mũi tên trí huệ của mình bắn rất xa, bắn chạm tới Thánh vực, là bờ cõi của bậc Thánh, như vậy mợi gọi là bắn xa.
Chúng ta không được chấp nhận những cảm giác này là mình. Từ sáng tới giờ, cảm giác của mình thay đổi biết bao nhiêu lần. Khi thức dậy, cảm giác như thế nào; khi ăn sáng, cảm giác như thế nào? Sáng này ăn gì, ăn có thấy ngon không, nếu món đó ngon quá, lại mới được ăn lần đầu, mình sẽ nghĩ mai mốt có thêm món này nữa không? Đó là tham, là dục, là ái ở trong cảm giác. Nếu món đó không vừa ý mình, mặn hay lạt hay cơm nguội, mì gói thì lúc ăn có cảm giác sẽ không thích, khó chịu, sân. Nhìn kỹ, thấy rõ cảm giác sanh diệt, sanh diệt.
Hiện tại đang ngồi đây, nhìn vào cảm giác của mình, xem có cảm giác gì? Khi nói mạnh về giáo pháp thì thấy khó chịu, khi nghe khen quý huynh đệ ở đây công đức vô lượng, thầy của trời người thì thấy thích. Xem trong cảm giác có tham, có thích thú, có ái không? Nhìn thấy thường trực, luôn luôn quán chiếu, tách mình ra khỏi cảm giác. Cảm giác là cảm giác, không phải là mình; suy nghĩ là suy nghĩ, không phải là mình.
Những hình bóng trong nội tâm cũng không đúng, những hình bóng đósao lại là mình được, chỉ là tưởng uẩn thôi. Cái tưởng là ảo tưởng, ảo ảnh, những cái bóng mờ không có thật nhưng mình lại đau khổ, bị ràng buộc bởi những cái bóng đó vô cùng. Bao nhiêu nước mắt đã chảy xuống vì những cái bóng mờ này, tưởng uẩn, lung tung, muốn ngưng để ngủ mà nó không chịu ngưng, cứ nghĩ hoài.
Có lúc mình ngồi nghĩ, mới gặp người kia, họ không nhìn mình, rồi mình nghĩ, “tại sao không nhìn tui, tại sao khinh thường tui, tui chào mà không nhìn, tại sao mời tui tới đây mà không nhìn tới tui là sao”. Người ta bận đám tiệc, pháp hội, cho nên mình hãy thông cảm cho người ta. Đó là hành uẩn, là sắc tư, hương tư, vị tư, thanh tư, pháp tư, xúc tư, không ra khỏi sáu trần. Thức uẩn cũng như vậy. Cho nên, thành tựu được trí huệ, con mắt pháp mở lên để mình thấy rõ năm uẩn là năm uẩn, không còn đồng hóa năm uẩn với chính mình. Như thế gọi là bắn xa.
Tỳ-kheo bắn như chớp nhoáng
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật quán tri: "đây là khổ", như thật quán tri: "đây là khổ tập"; như thật quán tri: "đây là khổ diệt", như thật quán tri: "đây là con đường đưa đến khổ diệt". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo bắn như chớp nhoáng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Đây là trí huệ gọi về Tứ Thánh Đế. Xin thưa quý huynh đệ, đa số trước đây mình hiểu nhầm, mình tưởng đâu học khổ: sanh khổ, bệnh khổ, tử khổ,…bát khổ, mình học vậy là xong, không phải. Nếu mình thật sự thấy “đây là khổ” thì sẽ thành tựu cứu cánh triệt để là bậc A-la-hán, Thánh quả thứ tư. Còn nếu mình thấy chính xác của người bắt đầu thì bước vào vòng Dự lưu. Vậy, làm thế nào để thấy “đây là khổ”?
Minh Thành sẽ lấy những dữ kiện tin tức hằng ngày, trên báo chí, xung quanh mình cho quý huynh đệ thấy. Ví dụ, hát karaoke, người bạn chê hát dở, đâm chết tại chỗ, khủng khiếp không, đó chỉ là một tiếng nói thôi. Hay ánh đèn xe của chiếc honda, chói vô mắt, lóa một chút là xảy ra án mạng hình sự. Có phải đây là khổ không? Tất cả đều từ sân hận, bản ngã nhưng con người không thấy được, hoặc là chỉ biết lợi cho bản thân mình, sử dụng chất kích thích, sử dụng đá, cỏ Mỹ, chạy xe tới trạm đèn đỏ nhưng vượt, không dừng, làm chết biết bao nhiêu người. Đã rất nhiều trường hợp vượt đèn đỏ gây tai nạn hàng loạt xảy ra, có người bình luận, chấp hành luật lệ giao thông mà vẫn bị tai nạn giao thông thì không biết phải như thế nào. Có người còn bình luận, tới đèn đỏ là chạy xe lên lề, nhưng leo lề cũng chết. Thậm chí, đang ngồi trong nhà, đừng nói chi những người đứng bán dưa ngoài đường, cũng bị tai nạn. Mà đó chỉ là một vấn đề nhỏ thôi. Tết đến, chết hai trăm mấy chục người, bị thương hơn ba trăm người. Lỗ mũi cũng bệnh được, con mắt cũng bệnh được, bao tử cũng bệnh, cũng ung thư được, đường đại tiểu tiện cũng thành những chứng bệnh nan y. Cái gì trên cơ thể cũng trở thành bệnh được cả. Như vậy, có phải đây là khổ uẩn không?
Nhìn bằng Thánh trí là nhìn tới mức độ vậy, quán chiếu triệt để như vậy. Trên cơ thể mình chỗ nào cũng bệnh được, cũng ung thư được. Đó là cái khổ của sắc uẩn , là sự nguy hại của sắc uẩn nhưng người ta không thấy, chỉ lo tìm vị ngọt. Mình phải quán cái nguy hại của sắc uẩn để xuất ly khỏi sắc; thấy được cái nguy hại, mình quán được cái nguy hiểm và tác hại, vô thường, cái khổ, vô ngã ở trong đó. Phải nhìn thấy một cách sâu sắc bằng thiền quán, bằng tư duy, tư sát, chứ không phải thấy bằng cách thường. Nhìn vào trong nội tâm của mình, chúng ta bị dục ái hành hạ khổ như thế nào, nó đòi hỏi như thế nào? Dục ái làm mình khao khát, chạy đi tìm kiếm hoài suốt cuộc đời. Một ông già 80 tuổi hãm hiếp một đứa bé chưa đầy 10 tháng tuổi, khủng khiếp không?
Tất cả những điều đó là Tập Đế, là khổ tập, dục ái bên trong sai khiến, nó trấn áp, áp đảo, hành hạ, nó làm cho con người không còn biết gì nữa hết. Tất cả cảm giác lúc đó chỉ là cảm giác thúc giục, đòi hỏi, tất cả những cái tưởng chỉ hiện lên những hình bóng của dục, những suy nghĩ toàn là suy nghĩ về cái dục, cái thức chỉ biết có dục thôi. Lúc đó, sắc dục, thọ dục, tưởng dục, hành dục, thức dục, năm cái này cùng đánh phá một trận, ập vô như cơn sóng thần, không còn biết gì nữa hết.
Một cậu thiếu niên hãm hiếp một cô gái, cô gái chạy thoát được ra ngôi nhà ở gần đó, cậu ta chạy theo giết cô gái, giết luôn những người ở đó, đốt nhà luôn. Ngày 30 tết năm nay, một cô gái đi giao gà, đang là nữ sinh đại học, mới 22 tuổi, bị năm ngươi luân phiên nhau hãm hiếp cho tới chết, rồi giết. Như vậy, hơn bao giờ hết, trong thời đại này, cái tham dục, sân hận, cái sân si, bản ngã con người phát triển cao độ, cùng cực, mãnh liệt, nó nhận chìm toàn bộ thế giới. Hơn bao giờ hết, người xuất gia mình phải đi trên Thánh đạo, nhận diện lại những cảm giác, nhiếp phục, tẩy rửa, trừ diệt và đoạn tận. Hơn bao giờ hết, phải đem con đường tiêu diệt khổ đau để thực tập, hành trì và truyền bá cứu giúp thế giới, cứu giúp nhân loại và cứu giúp chúng sanh.
Chúng ta không thể nào trơ trơ, không thể tu cho qua ngày hết tháng. Mình phải có sự nhiệt tâm, sự tinh cần, tinh tấn, sự khao khát, mãnh liệt và nhiệt huyết để hành trì, học hỏi và tu tập, truyền bá Chánh pháp. Đó là việc cần làm, việc nên làm và việc phải làm! Cho đến một ngày kia, ta sẽ ngồi giữa đại chúng và tuyên bố rằng: sân đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Như thế là quang tông diệu tổ. Như thế là đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Phải tu như vậy, học như vậy, hành trì như vậy và hoằng pháp như vậy, chứ đâu phải lơ mơ, chạy lên cúng tụng hoài, cầu xin hoài, mà bên trong đầy ứ, rỉ chảy những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã… đụng vô là bùng cháy, lan cháy, đốt cháy. Tiếc lắm, tiếc cuộc đời tu lắm!
Tỳ-kheo đâm thủng vật to lớn
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đâm thủng vô minh uẩn to lớn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đâm thủng vật to lớn.
Vô minh uẩn là một đống uẩn vô minh, không sáng suốt, một đống tăm tối không thấy được sắc, không thấy được thọ, tưởng, hành, thức, đống đó là đống bản ngã, cho nó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Sâu sắc hơn nữa là khi những cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức trong mình mà mình không biết, lúc đó là mình vô minh. Hoặc là biết mà biết không rõ, cũng là vô minh. Biết không rõ cảm giác nó vận hành như thế nào, những nghĩ tưởng ra sao, trong đó có gì mình không biết, nhận thức gì mình không biết... cũng là vô minh. Như vậy, đâm thủng vô minh uẩn to lớn là dùng trí huệ của Bát chánh đạo, của Chánh tri kiến, Chánh tư duy để xuyên thủng, từ bỏ cái nhìn sai lầm, cái thấy trong tăm tối. Chúng ta phải sử dụng Thánh trí, thể nhập trí huệ của bậc Thánh thì mới phá được cái uẩn to lớn của vô minh.
Đầy đủ bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 4. Chương Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, bài kinh Người chiến sĩ)
Chiến sĩ trong Phật giáo
Từ những hình thức tín ngưỡng đó, mình phải đi sâu, chúng ta là lớp chuyên sâu, khi mình leo đến lớp cao đẳng là “cẳng đã đau” rồi. Cho nên, không thể học và tu một cách thường thường được, mình phải uống nước tận nguồn, phải tìm đâu là lõi cây của Chánh pháp, đâu là tinh hoa của Phật trí, để mình ứng dụng và hành trì. Quý huynh đệ làm được điều này, tu học được điều này thì sẽ lợi lạc cho cả nhân thiên, chứ không chỉ là cho nhân loại. Đây, những vị ngồi đây, trong tương lai, và ngay trong hiện tại là những Tỳ-kheo Sơ quả, Nhị quả, Tam quả và Tứ Thánh quả. Trong hội chúng này, hiện tại, có những vị đang hướng Dự lưu, có những vị đang Nhập lưu, thậm chí có những vị là Nhất lai, chỉ còn một đời trở lại đây thôi. Và có những vị sau đời sống này không trở lại nữa, mà lên Tịnh Cư Thiên để tẩy rửa những phiền não vi tế, ngũ thuận phần kiết sử, và cuối cùng là nhập Niết bàn.
Đó là những thành quả của người xuất gia mà chúng ta đang hướng tới. Cho nên, để thấy được khổ và nguyên nhân của khổ, không ở đâu xa thưa quý vị, hằng ngày báo chí, tin tức thời sự, mình nhìn thấy để quán chiếu, đó là kinh sống, pháp sống, đó là thiết thực, hiện tại đến để mà thấy, thấy những sân hận, bản ngã trong tâm mình, những kiêu căng, tự đắc, khó chịu, ganh tỵ, tật đố v.v.. Những cấu nhiễm đó phải diệt tận, đó là việc làm duy nhất của người xuất gia. Luôn luôn quay lại, nhận diện năm uẩn và phát hiện những cấu bẩn trong nội tâm, làm nó giảm thiểu, đoạn giảm, và cuối cùng là trừ diệt, diệt tận, tu nv là xong. Đó là công việc duy nhất và độc nhất, không có gì nhiều cả.
Theo lời Đức Phật dạy trong Chánh tạng, đối với những cấu nhiễn, chúng ta quay lại nhìn, phát hiện ra và có phương pháp trừ diệt, chứ không phải lên ngồi thở ra thở vô, mình cười là xong. Lầm! Mình ngồi thở ra thở vô rồi cười mà cái dục, cái tham còn y nguyên, cái ái, cái sân còn y nguyên thì phải làm sao? Chúng ta cần phải thanh lý hàng tồn kho. Bằng cách tẩy rửa quán chiếu, trừ diệt, diệt tận, không cho nó hoành hành, không cho nó làm chủ trong nội tâm mình nữa, phải đánh đuổi nó ra. Chúng ta là chiến sĩ mà. Dùng bất tịnh quán, dùng 32 thể trược, dùng 9 giai đoạn một tử thi, dùng hình ảnh của một bộ xương, một đống thịt bầy nhầy những con giòi để đánh tan hình bóng đẹp trong nội tâm của mình, cho nó là tịnh tưởng của thân xác này. Dùng bất tịnh quán đánh tan tịnh tướng, rồi dùng từ tâm giải thoát trị cái sân.
“Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập từ tâm giải thoát, làm nó thành căn cứ, làm nó thành cỗ xe, làm nó thành vững chắc thành trì, thì như vậy sẽ diệt tận tất cả sân hận trong nội tâm.” Ngày nào cũng phải trải tâm từ, phải thực tập từ bi quán. Không phải là vào họp hay hội nghị, hô lên một phút nhập từ bi quán bắt đầu, rồi hết một phút là xong, không phải vậy, mà mỗi ngày mình phải thực tập trải tâm từ. Minh Thành có hướng dẫn cách thực tập tâm từ, quý huynh đệ vào trang Linhquyphapan.vn để xem về Bốn Tâm Vô Lượng và cách thực tập trải tâm từ.
Cái si cũng vậy, chúng ta phải tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, quán chiếu, dẹp cái uể oải, lười biếng, giải đãi, ăn no muốn ngủ, đánh tan, diệt tận nó, không cho nó còn chỗ trú ẩn trong thân tâm mình, như vậy mới thành công.
Phải diệt Năm Triền Cái, an trú tâm trên Bốn Niệm Xứ, tu tập Thất Giác Chi, thực hành Tứ Niệm Xứ, đó là con đường mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại tương lai đã đi qua. Cho nên, thấy được Khổ Thánh Đế là điều tuyệt vời, không phải đơn giản. Đừng nghĩ mình học như vậy là mình hiểu Khổ Thánh Đế, mà chúng ta cần phải thực tập quán chiếu.
Mùa xuân năm nay, Minh Thành mong cho quý huynh đệ trở thành chiến sĩ trong Phật giáo.
./.