QUÁN CHIẾU CON MẮT
QUÁN CHIẾU CON MẮT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Phật tử Tâm Nhân chia sẻ PAGEREF _Toc73434229 \h 1
II.Bài kinh “Người Xứng Đáng Được Cung Kính” PAGEREF _Toc73434230 \h 2
III.Quán chiếu tự thân PAGEREF _Toc73434231 \h 6
IV.Trình pháp PAGEREF _Toc73434232 \h 9
Phật tử Tâm Nhân chia sẻ
Kính thưa đại chúng! Chiều hôm qua có một Phật tử từ nửa vòng trái đất bay về đây và đến thăm Minh Thành trong sự cảm động rất thiết tha, đảnh lễ và ôm chân Minh Thành khóc. Phật tử này cảm nhận được giáo pháp vô thường của Đức Phật và hiện tại Phật tử đang ngồi đây với chúng ta là Phật tử Tâm Nhân. Xin mời Phật tử Tâm Nhân chia sẻ cảm nhận tu học của mình trong suốt thời gian qua cho đại chúng được nghe.
Phật tử Tâm Nhân:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Thành sư phụ, kính bạch đại chúng, con là Tâm Nhân đệ tử Quan Âm Đạo Tràng, con biết Thầy là nhờ nghe pháp trên mạng. Con quy y khi mẹ con mất, lúc đó con quy y chỉ để hồi hướng cho mẹ. Mãi đến năm 2012 con nghe Thầy đến, nhưng lúc đó con không gặp Thầy. Năm 2015 nhờ một người quen giới thiệu rồi con nghe pháp của Thầy giảng. Con rúng động và khóc rất nhiều. Khi con nghe Duyên Khởi Vô Ngã đến tập thứ 4 thì con chịu không nổi nữa, con khóc và nhận ra được cái sự thật của cái thân này. Con hiểu rõ và từ đó cuộc đời của con thay đổi hẳn và thay đổi không thể nào biết được. Tức là tất cả những gì bên ngoài, tiền bạc, của cải không có gì quý bằng cái pháp của Phật. Lời của Thầy dạy thì không thể nào lấy trầm hương mà đi đổi gỗ được. Con nghe hết 9 tập Duyên Khởi Vô Ngã của Thầy.
Con chưa bao giờ gặp Thầy và đây là lần đầu tiên. Con có tâm nguyện muốn gặp được Thầy vì năm nay con cũng 60 tuổi rồi, năm tới là 61 tuổi (đáo tế) có thể ra đi con cũng không biết trước. Con sợ tâm nguyện của con không thực hiện được, nên con ráng thu xếp việc làm hết để đi về đây. Hôm nay Thầy có tổ chức Thọ bát ở đây, con biết thứ bảy Thầy sẽ đến đây trước một ngày nên con sắp xếp về đây kịp. Sáng hôm qua 9h45 con xuống phi trường, về nghỉ ngơi chút xíu rồi con lên đây liền. Lòng con mong cầu nhiều lắm và bây giờ đã được toại nguyện, gặp được Thầy coi như nguyện ước của con đã thành sự thật.
Điều quan trọng là nhờ Thầy mà thay đổi cuộc đời của con và giúp cho gia đình, anh chị em con đều đi quy y. Nghe pháp Phật mọi người đều được thay đổi, một sự vui và an lạc trong lòng không thể nghĩ được, khác với ngày xưa nhiều lắm. Con không cần phải tiếp xúc,, hay làm một cái gì, hay cần một người nào cho mình sự an lạc, mà con chỉ cần ngồi yên là đã an lạc rồi. Con vui sướng trong pháp là con nhớ và ôn lại những lời của Thầy dạy. Tất cả những bài pháp của Thầy con học thuộc lòng, nghe tới khi nào thuộc rồi con tự trả bài lại mình. Mỗi lần con nghe thì con lại hiểu khác hơn một chút. Giống như Thầy, nói một lần buông xuống một lần tăng lên một bước. Con luôn học và hành theo lời của Thầy dạy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Sư phụ: Quý Phật tử trong đạo tràng của mình đã nghe pháp hơn mười năm rồi. Phật tử Minh Nhân mới nghe năm 2015, nhưng có được sự an lạc, sự tinh tấn và cung kính. Bây giờ mình tới được đâu rồi, có đối chiếu lại không? Khi ngồi yên một mình, có an lạc không hay cần tìm người nói chuyện?
Bài kinh “Người Xứng Đáng Được Cung Kính”
Hôm nay chúng ta qua một bài kinh rất quan trọng, nếu không chú tâm, lắng tâm thì không hiểu được. Bài kinh có tựa đề là “Người Xứng Đáng Được Cung Kính”, Tăng Chi Bộ Kinh, Tập III:
Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người này, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Do ở đây nghĩa lý thâm sâu nên Minh Thành chỉ nêu nghĩa quan trọng trong bài kinh. Như vậy hạng người nào đáng được tôn trọng, cung kính, chắp tay, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời?
Ở đời, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ Kinh, Tập III, 7. Chương Bảy Pháp, IX. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp, bài kinh Người xứng đáng được cung kính)
Thế nào là: “sống tuỳ quán vô thường ở trên con mắt”? Chữ “tuỳ” ở đây là bất cứ lúc nào mình cũng quán xét sự vô thường ở trên con mắt. Trước giờ mình hiểu nghĩa vô thường cạn lắm, hiểu nghĩa vô thường chỉ ở bên ngoài. Ví dụ, mình đi gặp người bệnh, người già hay người qua đời mình thấy vô thường quá nhưng cái này không phải.
Đức phật chỉ ở ngay con mắt của mình, ta phải thấy con mắt này là vô thường. Con mắt này làm từ tứ đại: con mắt này làm từ nơi đất; con mắt này có ra là từ nơi nước; con mắt này nó có ra là từ nhiệt độ, hơi ấm, nơi lửa; con mắt này có ra là từ nơi gió, từ sự vận hành, sự vận động, sự vận chuyển của các tế bào ở trong cơ thể, cũng như ngoài. Đức Phật nói rằng từ những thứ vô thường làm nên thì con mắt đó làm sao mà thường được. Quý vị có khi nào ngồi lại để biết rằng con mắt là từ nơi đất không? Nói con mắt từ nơi đất là tại vì nó phải tự có thức ăn, phải từ nơi nước uống vào, phải từ nơi không khí, nơi nhiệt độ. Nếu như con mắt này không có đủ gió – phong đại ở trong (nội phong giới) thì con mắt không chớp được, tức là đứng tròng. Những người đứng tròng là hết gió rồi, nội phong đại gió bên trong không còn nữa. Phải soi gương để nhìn thấy rằng con mắt này không phải tôi, không phải của tôi. Thường quán chiếu như vậy gọi là tuỳ quán vô thường trên con mắt.
Con mắt ngày xưa là ánh mắt rất “mơ” huyền, hôm nay nó thêm một dấu huyền là “mờ”. Ví dụ như mình ngủ thức dậy mình chập chờn bước xuống giường bị té như mấy người già, hoặc vô nhà tắm mình không để ý bị té giống như thắng không ăn hoặc bị đứt thắng, vậy đó thì phải biết rằng con mắt nó vô thường. Khi bị mắt nhậm; khi bị bụi văng vào mắt; khi ra nắng, mặt trời chói chảy nước mắt mình không thấy rõ nữa phải biết quán chiếu con mắt. Đó là cái thấy của trí tuệ, của tuệ quán. Khi nào mình quên mắt kính thấy không rõ thì lúc đó mình biết con mắt là vô thường. Khi mình cầm được mắt kính và thấy tỏ thì con mắt đúng là vô thường. Khi đèn mở và nhắm mắt lại, mình thấy tối thui thì biết con mắt là vô thường.
“Tưởng vô thường, cảm thọ vô thường trong tất cả thời…” Tưởng ở đây là quán tưởng và thấy được cảm thọ của con mắt là vô thường. Quý vị có thấy cảm giác của con mắt không? Nếu như mình xem ti-vi hoặc màn hình điện thoại hoài thì sẽ bị mỏi mắt, chói mắt, mờ mắt, thì lúc đó mình biết cảm giác của con mắt là vô thường. Đây là mình đã đi sâu vào pháp, sẽ không quán nhìn bên ngoài nữa mà bắt đầu nội soi, nội quán lại tự thân của mình. Như vậy, cảm giác của con mắt là vô thường. Mình sẽ nói từng cái của sáu căn.
Tiếp theo là lỗ tai. Lỗ tai làm bằng kim cương, vàng hay làm bằng tứ đại? Ví dụ bị ai đó nắm và kéo lỗ tai, mình có thấy rằng ai đó đang nắm kéo tứ đại hay cho rằng người đó đang nắm lỗ tai của tôi. Lúc đó mình sẽ tức giận lên vì bình thường mình không tuỳ quán lỗ tai này là tứ đại, lỗ tai này là vô thường, tai này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cho nên nhiều khi xảy ra tai nạn, có trường hợp rớt trái tai, văng trái tai ra, máu chảy thì lỗ tai đó của ai? Nếu đem đi gắn lại kịp thì xài đỡ. Nếu gắn không kịp thì sẽ bị hoại tử, vậy lúc đó lỗ tai của ai?
Cho nên phải luôn luôn quán lỗ tai là vô thường, lỗ tai là tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Hãy luôn luôn quán xét và thấy được cảm giác của lỗ tai là vô thường. Do có lỗ tai, do có âm thanh, do có sự rõ biết âm thanh – ba pháp này hội tụ, giao thoa lại với nhau tạo thành một sự xúc. Cái xúc này người ta gọi là nhĩ xúc – sự tiếp xúc của lỗ tai và âm thanh. Do sự tiếp xúc đó nên có cảm giác, gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, tức là cảm giác từ sự tiếp xúc của lỗ tai.
Hàng ngày mình có làm cái này không? Mình nghe tiếng khen, nghe lời chê, đang nghe Minh Thành nói và có cảm giác nơi lỗ tai. Mình luôn làm nhưng không thấy, không biết, Đức Phật gọi đó chính là Vô Minh. Mình chỉ tưởng rằng tôi đang nghe, có một cái tôi đang nghe, đó là vô minh, là si mê, là không thấy rõ bản chất của thân này. Mình không biết rằng cái nghe đó là pháp duyên sanh, pháp duyên hợp. Phải có đủ điều kiện: có lỗ tai, có tiếng và có sự rõ biết của âm thanh – ba cái pháp này hội tụ và tạo thành sự tiếp xúc, từ tiếp xúc này sinh ra cảm giác. Cảm giác đó gọi là thọ.
Chúng ta thường chết ở chỗ thọ này. Khi nghe tiếng khen thì khoái chí, thích thú, phơi phới, hân hoan. Lúc nghe tiếng chê thì buồn, bực bội, sân hận, thậm chí cãi vã, đánh nhau. Đức Phật gọi là vô minh vì mình không thấy, không biết các pháp tự thân, tự tâm của mình. Không biết đó chỉ là lỗ tai và âm thanh, chúng tiếp xúc và sinh ra cảm giác, cảm giác đó là vô thường. Mình được một người khen, lúc sau cũng người đó nhưng lại chê mình, vậy mà mình cứ đi theo cái khen chê đó mà mình khổ, buồn, mừng, vui. Như vậy có phải mình là người không hiểu biết, si mê không? Có công nhận mình bị si mê không? Vậy mà lúc trước cứ cho rằng mình thông minh. Cho nên mình học pháp thì mới có trí huệ.
Đức Phật dạy phải sống tùy quán như vậy “trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải (là sự hiểu biết sâu sắc), với tuệ thể nhập.” Mình quán như vậy là người xứng đáng cho người ta chắp tay, cung kính đảnh lễ, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Không phải người xuất gia mới làm được mà người cư sĩ vẫn là ruộng phước vô thượng ở trên đời, vẫn vào bậc Hiền Thánh của Đức Phật. Thời Đức Phật những vị cư sĩ chứng Tam quả, Nhị quả, Sơ quả rất nhiều. Cho nên mình tu như vậy thì khi được người ta đến lạy, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng là xứng đáng, vì lúc đó mình không còn thấy mình nữa. Còn nếu mình thấy mình tốt thì mình không xứng đáng.
Kế tiếp là lỗ mũi. Có khi nào soi gương mình cầm lỗ mũi lên bóp thử chưa? Lỗ mũi là tứ đại: từ thức ăn mọc từ đất, từ nước, từ không khí, gió, nhiệt độ. Nó biến đổi, vô thường, muốn mũi xẹp hoặc muốn mũi cao cũng được. Mũi đã cao muốn cao hơn vẫn được. Như con mắt là vô thường, nên một mí biến thành hai mí, hai mí biến thành một mí, nhỏ làm thành to, to kéo thành nhỏ cũng được, đó là vô thường, là pháp duyên sanh. Cho nên từ mũi xẹp làm thành cao, một thời gian đau nhức, chịu không nổi, phải lấy ra, thì xẹp xuống lại.
Vì vậy, phải quán lỗ mũi này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi, mũi là vô thường. Do có lỗ mũi, có mùi hương rồi sự rõ biết mùi hương – ba pháp này hội tụ lại tạo thành sự tiếp xúc. Xúc này ta gọi là tỷ xúc, là sự tiếp xúc của lỗ mũi.Khi tiếp xúc nếu thơm quá thì hít hà, khoái, thích, mê. Ông xã từng chết vì mùi hương của mình và mình cũng từng chết vì mũi hương của ổng, chúng ta cùng chết. Khi mình ăn món gì có mùi thơm bốc lên, mình gắp và để lên lưỡi thì lưỡi tê hết.
Nói đến cái lưỡi. Khi thức ăn đến, mình có quán chiếu thấy thọ, có thấy cảm thọ vô thường không hay mình mê mẩn trong cảm giác đó. Phải quán chiếu lưỡi này không phải là tôi, không phải là của tôi, lưỡi này là vô thường. Ví dụ mình thích ăn măng cụt ăn một ký thì ngon, ký thứ hai ngon, ký thứ ba cũng vẫn ăn, nhưng nếu ăn một thúng, phải ăn cho hết mười ký thì thế nào? Lúc đó phải thấy rằng lưỡi là vô thường, cảm giác của lưỡi là vô thường, bao tử là vô thường cho nên không phải như vậy hoài. Chính vì thấy được như vậy, cái chấp sẽ rơi rụng dần, mình sẽ bớt đam mê trong sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mình bớt đam mê thì bớt khổ và được giải thoát. Tất cả thứ gây khổ là từ chỗ ham mê, muốn hoài không thấy đầy đủ. Vì vậy Đức Phật dạy mình pháp ly tham, bớt cái muốn, lìa cái muốn và cuối cùng chấm dứt cái muốn là đến Niết-bàn. Đó là con đường, là đạo lộ đi đến Thánh đạo, Thánh quả.
Quý vị thấy con người ta khổ có phải vì cảm giác không? Tất cả mọi sự chạy lăng xăng, long nhong đều là do đi tìm cảm giác. Như đi vô khách sạn ba sao, năm sao là được cái gì? Đựợc ăn ngon, được ở nhà đẹp tiện nghi, chứ có gì nữa đâu. Hoặc đi nước này nước kia du lịch, cũng là cảm giác. Giới trẻ đi tìm cảm giác mạnh như những trò chơi cảm giác mạnh rồi gặp tai nạn bất ngờ, ma tuý, game, heroin,... tất cả chúng sanh bị chết trong cảm giác. Đức Phật dạy phải biết cảm giác là vô thường, là biến đổi, đừng ham thích trong cảm giác đó. Khi có cảm giác nào đó mình phải luôn luôn quán chiếu thoát ly, quán chiếu mình sẽ không bị đắm đuối trong cảm giác, biết bản chất của nó là vô thường mình sẽ thoát ra khỏi. Đó là trí huệ của bậc Thánh.
Quán chiếu tự thân
Tu tập được điều này thì rất tuyệt vời và kỳ diệu giữa cuộc đời này. Ta sẽ được nhẹ nhàng, bình an, khi mọi thứ đến, mình đều rất điềm tĩnh.
Minh Thành vẫn có rất nhiều lời khen lẫn tiếng chê. Đừng nghĩ ai cũng khen Minh Thành, đệ tử quy y còn có người mắng mình. Khi nghe lời mắng, mình biết quán chiếu thì thấy rất nhẹ nhàng. Đó chính là trí huệ Đức Phật để lại cho mình. Trong cuộc sống này đâu phải chỗ nào cũng trải thảm đỏ đón mình. Đức Phật nói không có ai hoàn toàn được khen hay hoàn toàn bị chê hết, thậm chí Đức Phật còn bị chê bai, vu khống. Cho nên nếu mình có được trí huệ này thì tuyệt vời lắm. “Trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn” lúc nào chúng ta cũng cần quán chiếu vô thường, đây là pháp hành thâm sâu, là tâm thắng giải (giải tức là hiểu, thắng là thù thắng, thắng giải là trí huệ hiểu biết một cách tuyệt vời).
Ví dụ trưa nay có cúng trai tăng, dọn lên mười món, toàn những món mình thích. Lúc đó mình phải tùy quán, quán chiếu như thế nào? Phải quán chiếu lưỡi này là vô thường, thức ăn là vô thường, vị giác – cái biết của cái lưỡi là vô thường. Cho nên khi ăn, mình biết là ngon nhưng trong cái biết ngon đó không nuôi dưỡng tâm tham. Đức Phật khi đi khất thực, nếu không ai cho gì cả thì Đức Phật về uống nước. Có lúc nhà vua hứa phát tâm cúng dường ba tháng an cư nhưng lại quên do bận việc triều chính, thì Đức Phật và chư Tỳ-kheo phải dùng lúa cho ngựa ăn trong suốt ba tháng nhưng Đức Phật không thấy khổ hay khó chịu. Khi Đức Phật được vua Ba Tư Nặc lạy dưới chân, các vị tướng quân, thiên tử dâng cúng những thực phẩm như sơn hào hải vị, thượng vị, mỹ vị nhất trên đời nhưng Đức Phật không có tham, vì Ngài lúc nào cũng tùy quán luôn luôn quán chiếu vô thường.
Cho nên khi ăn ngon biết ngon, nhưng không để tâm tham đắm nhiều vào đó. Mình biết đây là vô thường, đừng hoan hỷ với nó, hãy có ý niệm thoát ly ra khỏi sự tham đắm. Thậm chí ăn món dở, thức ăn đó không ngon nhưng không khó chịu, không bực bội mà phải biết đây là vô thường, không nên dính mắc, hãy có ý niệm thoát ra khỏi đó. Vì thức ăn là tứ đại, bản thân mình cũng là tứ đại. Mục đích của sự ăn là chấm dứt cảm thọ cũ và không cho sinh ra cảm thọ mới. Chấm dứt cái cảm thọ cũ là chấm dứt cảm thọ đói, vì đói rất khó chịu, ăn vào mới hết đói. Không cho sanh cảm thọ mới là không cho sanh cảm thọ ham thích món ăn tại vì ham thích thì đời sau mình vẫn đi tìm món ăn nữa, tức là mình vẫn còn luân hồi.
Đức Phật dạy: thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi, thức ăn hội tụ lại và sanh khởi nên mới có thân ta. Mình còn ham thức ăn thì mình còn sinh ra cái thân để ăn nữa, cho nên không ra khỏi luân hồi. Đức Phật nói chúng sanh ăn những thức ăn nơi đất mọc ra, nên đi không cách lên mặt đất được. Cho nên mình phải tập từ từ, cái ăn tuy nhỏ nhiệm nhưng cũng rất sâu sắc. Nếu tu được mình cũng sẽ đỡ được những phiền não, nếu không khéo ăn thì ăn sẽ ra bệnh, khéo ăn thì ăn sẽ ra dinh dưỡng, sức khoẻ và có sức khoẻ thì mới tu tập được. Cho nên, khi ăn nên chánh niệm chọn món nào nên ăn, món nào không nên ăn, món nào khoẻ, món này tốt đưa đến sự nhẹ nhàng. Mình thường chọn cái ngon hay cái khỏe?
Đức Phật dạy người nhìn thấy những cái yêu thích, cái hấp dẫn, những cái đáng ưa trên cuộc đời này, cho nó là đẹp, là thường còn, cho nó là tốt sẽ làm cho ái tăng trưởng. Ái tăng trưởng thì đau khổ sẽ tăng trưởng. Người nào thường quán chiếu những cái đẹp, những cái hấp dẫn, ưa thích là vô thường, là biến hoại, là khổ, người đó không đam mê thì ái sẽ được giảm. Ái giảm thì khổ giảm. Khổ giảm, khổ dứt thì sẽ đi đến giải thoát. Như vậy mình muốn ái tăng trưởng để khổ tiếp hay muốn giảm ái từ từ để giải thoát? Nếu muốn giải thoát thì cái gì hấp dẫn, lôi cuốn, đẹp thì phải quán chiếu nó: do có con mắt này mới có bệnh, có đau; có bệnh có đau mới có khổ.
Cách đây vài hôm, Minh Thành giảng ở Nha Trang hai ngày, sáu thời pháp. Minh Thành có giảng ở chùa Kim Quang, một đạo tràng khiếm thị, toàn là người khiếm thị. Minh Thành giảng cho những vị đó con mắt trí tuệ. Chú theo quay phim nhìn thấy cảnh đó, không cầm được nước mắt, từ trẻ cho đến già đều là người mù, có người chột thì còn thấy được một con. Đó là hội người mù của tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang. Lúc đó cũng khoảng cả hàng trăm người, họ đứng lên ca bài nhạc về mẹ trong dịp Vu Lan. Có cô trong khi hát, đứng dựa vào cột để biết chỗ, cô ấy sợ di chuyển là sẽ đụng vô bàn pháp sư, hoặc bị té vào chỗ khác. Mình biết đó là điểm tựa cho người ta, chứ họ có thấy gì đâu, nhìn rất xót xa.
Cho nên, con mắt này là khổ, phải quán chiếu. Đừng nói chi là mù, chỉ cần bị bụi bay vào mắt khi đang chạy xe thì đã thấy rất khó chịu và nguy hiểm. Mình bị nhậm mắt thôi mà hai tuần lễ mới hết thì đã thấy cảm giác của con mắt khó chịu thế nào. Trong khi đó, người ta mù suốt cuộc đời, biết bao nhiêu cảnh khổ. Cho nên Đức Phật nói khổ trên thế gian này đa dạng, đa chủng, đa loại gắn liền với già và chết. Phải quán chiếu con mắt nay là khổ, từ bỏ ý niệm tham đắm, yêu thích con mắt này. Con mắt này nhất định sẽ trở về với cát bụi, sẽ vào lò thiêu, sẽ bị chôn vùi tan rã. Không có gì đam mê trong con mắt này, không có gì đáng vui sướng trong con mắt này, mình chỉ mượn nó để tu hành thành tựu. Ví dụ mình mang mắt kính cận năm độ, nếu rớt mắt kính trong lúc đang cần sử dụng là đã thấy khó chịu thì làm sao mình chịu nổi cảnh mù lòa. Quán như vậy để mình biết trân trọng con mắt này.
Đức Phật dạy: thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, cung kính vô thượng, là mình đem con mắt này để nhìn Thiện Pháp, đem con mắt này để nhìn Chánh Pháp, đem lỗ tai để nghe cái Thiện Pháp, Chánh Pháp. Đừng đem con mắt xài phí vô những chuyện không đáng và nó đưa đến bất thiện pháp, ác pháp, đưa đến tạo nghiệt, quán chiếu con mắt là khổ. Lỗ tai cũng như vậy, lỗ mũi, thân, ý cũng như vậy.
Giờ ngồi thiền mà con mắt cứ sụp xuống hoài, lúc đó có quán mắt là khổ không? Phải tùy quán li tham ở trên con mắt này, quán từ bỏ, ly tham, không ham muốn nó nữa, có cái gì ham muốn nơi con mắt này đâu. Nếu mình thật sự nhìn thì thấy kết cuộc của thân này đau lòng lắm. Quý vị có tưởng tượng được cái ngày tàn cuộc hạ màn của mình không? Nhớ cái đó, quán cái đó, soi rọi tư duy cái đó để có thể từ bỏ những cái tham, sân, si không đáng, những chuyện nhỏ nhặt. Hở chút giận, hở chút buồn, hở chút sân, hở chút là khó chịu, có phải vô minh không? Vì không thấy được bản chất của sự thật. Nếu mình thấy rõ thì không có gì hết, quán để mà ly tham, từ bỏ nó. Bây giờ mình bỏ nó trước trong tâm, tới lúc nó bỏ mình thật thì mình đã biết điều này lâu rồi. Còn bây giờ mình không quán từ bỏ, tới lúc đó mình bấn loạn lên, “mất mình rồi, con mắt mờ của tui giờ đã bị bồ câu ăn rồi”. Ở Tây Tạng người ta điểu táng, để cho mấy con kênh kênh, quạ, diều hâu, đại bàng xuống rỉa ăn.
Vừa rồi Minh Thành có đi thăm các trường thiền lớn của Miến Điện và Thái Lan, nghiên cứu tám trường thiền lớn nhất của Phật giáo nguyên thủy. Trong đó có những thiền viện, người ta xây một chỗ nhỏ, hai bức tường cao cỡ chừng thước hai, thước ba, chính giữa để trống, nhìn giống như chỗ hỏa thiêu những đồ cúng. Khi có một vị tăng nào qua đời là để vào chỗ này và chất củi lên thiêu. Các thầy ngồi gần đó để nhìn từ đầu đến cuối, quán bất tịnh, quán thân vô thường ngay chỗ đó. Thông thường có nghĩa địa, nghĩa trang trong chùa, các thiền đường cũng vậy để rất nhiều hình, mai mốt ở trên núi mình cũng sẽ để các bộ xương ngồi, bộ xương đi, bộ xương nằm, đó là những hình ảnh giúp mình quán bất tịnh về thân này. Đằng sau lớp da này là một sự lừa dối khủng khiếp, một sự dối lừa kinh hãi nếu mình thấy được sẽ hoảng sợ chính mình. Lớp da này phủ lên giống như là một cái bao, trong đó là bộ đồ lòng heo nấu cháo. Khi mình nhìn thì chỉ thấy cái bao, đến chừng mở ra, tất cả sự thật được phơi bày.
Đức Phật là người phơi bày những điều bị giấu kính, bị che đậy, đem ánh sáng vào trong bóng tối cho những người có mắt được thấy rõ các sắc, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ, chỉ ra con đường cho mình tu. Cho nên khi tu đúng theo Chánh Pháp, ta sẽ thấy an lạc kì diệu ở giữa cuộc đời này. Luôn luôn quán chiếu chính mình chứ không quán người khác.
Trình pháp
Sau khi một tháng không gặp và hôm nay nghe bài pháp rất sâu sắc. Mới quý vị phát biểu cảm nhận.
Phật tử Diệu Phú:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa toàn thể quý Phật tử. Lúc đầu có vị Phật tử mới lên phát biểu là nhờ nghe băng đĩa của Thầy và xâm nhập được đạo pháp. Chúng con ở đây trước kia cũng giống vậy, cũng chưa có dịp đến chùa để biết Thầy, lúc đó chúng con còn phải sinh kế để nuôi gia đình. Nay chúng con về hưu thì chúng con có nhiều điều kiện hơn để tiếp xúc với đạo pháp và cũng nhờ thầy hướng dẫn trên đường đạo. Con nhận thấy đúng như lời anh Phật tử nói, chúng con cứ nghe băng đĩa của thầy giảng hoặc của những vị thầy cô khác, cứ nghe đi nghe lại nhiều lần thì chúng con lại xâm nhập hơn và thấy rằng trí huệ của mình cũng mở ra và được nâng cao.
Trong đĩa Thầy giảng Con số không vĩ đại, Thầy nói là luôn luôn phải xem mình là thường, không phải là số 1, number one, số dách. Hãy nghĩ đến sau bức tượng của Đức Phật Thích Ca là ánh hào quang, ánh hào quang đó là hình tròn và cũng tựa như con số 0. Con cũng nhớ bài Thầy giảng có ví dụ về một vị quan tướng, sau khi đánh thắng trận và được vua cho yêu cầu, muốn được điều gì thì nhà vua sẽ đáp ứng. Cụ thể thì quan tướng đó phi ngựa để giành đất, cuối cùng mệt mỏi và chỉ xin một mảnh đất bề dài hai mét và bề ngang một mét. Chúng con thấy sống trên cuộc đời này, điều đầu tiên chúng ta phải làm lụng, có lương bổng để nuôi sống gia đình bản thân, đầu tư để dành như lời của Đức Phật và Thầy dạy, phân bổ ra các khoản mục hợp lý.
Cuối cùng chúng con cũng được biết rằng, nếu nhắm mắt xuôi tay thì cũng không mang được gì cả, mà nhân gian hay nói “ngay cái nút áo họ cũng giữ lại”, nhưng cái để chúng ta mang theo đó là những phước đức mình đã gieo. Cũng nhờ ơn của quý thầy trong những dịp lễ, từ thiện, chúng con được gieo chút ít vào.
Nhờ sự động viên giúp đỡ của quý thầy, con thấy rằng những buổi nghe pháp tại chùa Bửu Liên rất là hữu ích. Cái gì cũng có đam mê có tham ái nhưng gần đây chúng con tham ái nhiều nhất là học pháp, nghe pháp và xem sách về Phật pháp.
Phật tử Minh Hùng:
Kính bạch thầy, kính thưa quý vị đạo tràng, tôi pháp danh là Minh Hùng, được thọ quy y của thầy cũng đã ba năm nay.
Trước đây tôi cũng ở trong những suy nghĩ, băn khoăn, trôi theo dòng đời cũng giống như tất cả chúng ta. Tôi cũng không biết Phật pháp, tôi không biết đạo, tôi không biết Phật. Một sự may mắn, một sự chuyển thật sâu sắc về suy nghĩ và tâm tư của mình khi tôi đã diện kiến được với Thầy, đã đến được chùa Bửu Liên và xin được quy y với Thầy cùng các thầy. Đã ba năm nay rồi, từ thỉnh thoảng đến thường xuyên, những thời pháp, những buổi lễ và những lúc thầy tổ chức thì tôi đều cố gắng sắp xếp thời gian tham gia.
Thú thật với quý vị, từ khi được dìu dắt, được hướng dẫn và được hiểu, trong thâm tâm mình cảm thấy cuộc sống thật sự nhẹ nhàng, không còn những điều làm mình cảm thấy đau khổ nhiều với nó, không còn phải băn khoăn, buồn, không phải trôi theo dòng đời. Tôi cảm giác cuộc sống bây giờ là một sự chấp nhận, chấp nhận nhìn thẳng và chấp nhận hiểu theo con đường của Phật, theo con đường của đạo, theo sự hướng dẫn của các thầy. Từ đó, chúng ta nhìn nhận ra được rằng trong cuộc đời này, cũng sẽ đến một giai đoạn chúng ta đi về một cõi hư không. Nhưng khi đi vào hư không, hay vào một cõi ta bà nào đó thì chúng ta nhẹ nhàng và được thanh thản với con đường mà chúng ta được sự hướng dẫn tận tình với sự dìu dắt thân thương của quý thầy.
Thưa quý vị, gia đình Minh Hùng ngoài tôi ra thì bà xã và ba đứa con đều đã được thọ quy y với Thầy ở chùa Bửu Liên. Đó thật sự là một niềm hạnh phúc, cơ duyên, dịp may được giao duyên với chùa Bửu Liên. Thầy rất là thương yêu quý mến quý Phật tử. Tôi vẫn còn nhớ những ngày đầu, khi tôi quỳ lạy, tôi bái các thầy, cho đến bây giờ dòng cảm xúc không bao giờ ngơi được. Bởi vì lắm lúc, cuộc đời đau khổ quá, làm cho chúng ta không thể nào tìm được ánh sáng. Nhưng khi đến được với thầy, ngay giờ phút này đứng đây để được trình bày với thầy với quý vị, cảm xúc nó vẫn trở lại vẫn cứ thôi thúc trong tâm, rằng mình phải cố gắng sống và cố gắng làm được những gì, cống hiến được những gì thêm đối với chùa, đối với quý thầy bằng một tấm lòng hết sức thương yêu, quý trọng.
Kính thưa quý vị, bản thân tôi muốn cùng chia sẻ với quý vị niềm hạnh phúc này, biết đâu quý vị cũng sẽ có được những cảm xúc, những hạnh phúc như cảm giác của Minh Hùng vậy.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Phật tử Tâm Nhân chia sẻ PAGEREF _Toc73434229 \h 1
II.Bài kinh “Người Xứng Đáng Được Cung Kính” PAGEREF _Toc73434230 \h 2
III.Quán chiếu tự thân PAGEREF _Toc73434231 \h 6
IV.Trình pháp PAGEREF _Toc73434232 \h 9
Phật tử Tâm Nhân chia sẻ
Kính thưa đại chúng! Chiều hôm qua có một Phật tử từ nửa vòng trái đất bay về đây và đến thăm Minh Thành trong sự cảm động rất thiết tha, đảnh lễ và ôm chân Minh Thành khóc. Phật tử này cảm nhận được giáo pháp vô thường của Đức Phật và hiện tại Phật tử đang ngồi đây với chúng ta là Phật tử Tâm Nhân. Xin mời Phật tử Tâm Nhân chia sẻ cảm nhận tu học của mình trong suốt thời gian qua cho đại chúng được nghe.
Phật tử Tâm Nhân:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch Thành sư phụ, kính bạch đại chúng, con là Tâm Nhân đệ tử Quan Âm Đạo Tràng, con biết Thầy là nhờ nghe pháp trên mạng. Con quy y khi mẹ con mất, lúc đó con quy y chỉ để hồi hướng cho mẹ. Mãi đến năm 2012 con nghe Thầy đến, nhưng lúc đó con không gặp Thầy. Năm 2015 nhờ một người quen giới thiệu rồi con nghe pháp của Thầy giảng. Con rúng động và khóc rất nhiều. Khi con nghe Duyên Khởi Vô Ngã đến tập thứ 4 thì con chịu không nổi nữa, con khóc và nhận ra được cái sự thật của cái thân này. Con hiểu rõ và từ đó cuộc đời của con thay đổi hẳn và thay đổi không thể nào biết được. Tức là tất cả những gì bên ngoài, tiền bạc, của cải không có gì quý bằng cái pháp của Phật. Lời của Thầy dạy thì không thể nào lấy trầm hương mà đi đổi gỗ được. Con nghe hết 9 tập Duyên Khởi Vô Ngã của Thầy.
Con chưa bao giờ gặp Thầy và đây là lần đầu tiên. Con có tâm nguyện muốn gặp được Thầy vì năm nay con cũng 60 tuổi rồi, năm tới là 61 tuổi (đáo tế) có thể ra đi con cũng không biết trước. Con sợ tâm nguyện của con không thực hiện được, nên con ráng thu xếp việc làm hết để đi về đây. Hôm nay Thầy có tổ chức Thọ bát ở đây, con biết thứ bảy Thầy sẽ đến đây trước một ngày nên con sắp xếp về đây kịp. Sáng hôm qua 9h45 con xuống phi trường, về nghỉ ngơi chút xíu rồi con lên đây liền. Lòng con mong cầu nhiều lắm và bây giờ đã được toại nguyện, gặp được Thầy coi như nguyện ước của con đã thành sự thật.
Điều quan trọng là nhờ Thầy mà thay đổi cuộc đời của con và giúp cho gia đình, anh chị em con đều đi quy y. Nghe pháp Phật mọi người đều được thay đổi, một sự vui và an lạc trong lòng không thể nghĩ được, khác với ngày xưa nhiều lắm. Con không cần phải tiếp xúc,, hay làm một cái gì, hay cần một người nào cho mình sự an lạc, mà con chỉ cần ngồi yên là đã an lạc rồi. Con vui sướng trong pháp là con nhớ và ôn lại những lời của Thầy dạy. Tất cả những bài pháp của Thầy con học thuộc lòng, nghe tới khi nào thuộc rồi con tự trả bài lại mình. Mỗi lần con nghe thì con lại hiểu khác hơn một chút. Giống như Thầy, nói một lần buông xuống một lần tăng lên một bước. Con luôn học và hành theo lời của Thầy dạy.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
- Sư phụ: Quý Phật tử trong đạo tràng của mình đã nghe pháp hơn mười năm rồi. Phật tử Minh Nhân mới nghe năm 2015, nhưng có được sự an lạc, sự tinh tấn và cung kính. Bây giờ mình tới được đâu rồi, có đối chiếu lại không? Khi ngồi yên một mình, có an lạc không hay cần tìm người nói chuyện?
Bài kinh “Người Xứng Đáng Được Cung Kính”
Hôm nay chúng ta qua một bài kinh rất quan trọng, nếu không chú tâm, lắng tâm thì không hiểu được. Bài kinh có tựa đề là “Người Xứng Đáng Được Cung Kính”, Tăng Chi Bộ Kinh, Tập III:
Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người này, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
Do ở đây nghĩa lý thâm sâu nên Minh Thành chỉ nêu nghĩa quan trọng trong bài kinh. Như vậy hạng người nào đáng được tôn trọng, cung kính, chắp tay, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời?
Ở đời, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán vô thường trên con mắt, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. (Tăng Chi Bộ Kinh, Tập III, 7. Chương Bảy Pháp, IX. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp, bài kinh Người xứng đáng được cung kính)
Thế nào là: “sống tuỳ quán vô thường ở trên con mắt”? Chữ “tuỳ” ở đây là bất cứ lúc nào mình cũng quán xét sự vô thường ở trên con mắt. Trước giờ mình hiểu nghĩa vô thường cạn lắm, hiểu nghĩa vô thường chỉ ở bên ngoài. Ví dụ, mình đi gặp người bệnh, người già hay người qua đời mình thấy vô thường quá nhưng cái này không phải.
Đức phật chỉ ở ngay con mắt của mình, ta phải thấy con mắt này là vô thường. Con mắt này làm từ tứ đại: con mắt này làm từ nơi đất; con mắt này có ra là từ nơi nước; con mắt này nó có ra là từ nhiệt độ, hơi ấm, nơi lửa; con mắt này có ra là từ nơi gió, từ sự vận hành, sự vận động, sự vận chuyển của các tế bào ở trong cơ thể, cũng như ngoài. Đức Phật nói rằng từ những thứ vô thường làm nên thì con mắt đó làm sao mà thường được. Quý vị có khi nào ngồi lại để biết rằng con mắt là từ nơi đất không? Nói con mắt từ nơi đất là tại vì nó phải tự có thức ăn, phải từ nơi nước uống vào, phải từ nơi không khí, nơi nhiệt độ. Nếu như con mắt này không có đủ gió – phong đại ở trong (nội phong giới) thì con mắt không chớp được, tức là đứng tròng. Những người đứng tròng là hết gió rồi, nội phong đại gió bên trong không còn nữa. Phải soi gương để nhìn thấy rằng con mắt này không phải tôi, không phải của tôi. Thường quán chiếu như vậy gọi là tuỳ quán vô thường trên con mắt.
Con mắt ngày xưa là ánh mắt rất “mơ” huyền, hôm nay nó thêm một dấu huyền là “mờ”. Ví dụ như mình ngủ thức dậy mình chập chờn bước xuống giường bị té như mấy người già, hoặc vô nhà tắm mình không để ý bị té giống như thắng không ăn hoặc bị đứt thắng, vậy đó thì phải biết rằng con mắt nó vô thường. Khi bị mắt nhậm; khi bị bụi văng vào mắt; khi ra nắng, mặt trời chói chảy nước mắt mình không thấy rõ nữa phải biết quán chiếu con mắt. Đó là cái thấy của trí tuệ, của tuệ quán. Khi nào mình quên mắt kính thấy không rõ thì lúc đó mình biết con mắt là vô thường. Khi mình cầm được mắt kính và thấy tỏ thì con mắt đúng là vô thường. Khi đèn mở và nhắm mắt lại, mình thấy tối thui thì biết con mắt là vô thường.
“Tưởng vô thường, cảm thọ vô thường trong tất cả thời…” Tưởng ở đây là quán tưởng và thấy được cảm thọ của con mắt là vô thường. Quý vị có thấy cảm giác của con mắt không? Nếu như mình xem ti-vi hoặc màn hình điện thoại hoài thì sẽ bị mỏi mắt, chói mắt, mờ mắt, thì lúc đó mình biết cảm giác của con mắt là vô thường. Đây là mình đã đi sâu vào pháp, sẽ không quán nhìn bên ngoài nữa mà bắt đầu nội soi, nội quán lại tự thân của mình. Như vậy, cảm giác của con mắt là vô thường. Mình sẽ nói từng cái của sáu căn.
Tiếp theo là lỗ tai. Lỗ tai làm bằng kim cương, vàng hay làm bằng tứ đại? Ví dụ bị ai đó nắm và kéo lỗ tai, mình có thấy rằng ai đó đang nắm kéo tứ đại hay cho rằng người đó đang nắm lỗ tai của tôi. Lúc đó mình sẽ tức giận lên vì bình thường mình không tuỳ quán lỗ tai này là tứ đại, lỗ tai này là vô thường, tai này không phải là tôi, không phải là của tôi. Cho nên nhiều khi xảy ra tai nạn, có trường hợp rớt trái tai, văng trái tai ra, máu chảy thì lỗ tai đó của ai? Nếu đem đi gắn lại kịp thì xài đỡ. Nếu gắn không kịp thì sẽ bị hoại tử, vậy lúc đó lỗ tai của ai?
Cho nên phải luôn luôn quán lỗ tai là vô thường, lỗ tai là tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Hãy luôn luôn quán xét và thấy được cảm giác của lỗ tai là vô thường. Do có lỗ tai, do có âm thanh, do có sự rõ biết âm thanh – ba pháp này hội tụ, giao thoa lại với nhau tạo thành một sự xúc. Cái xúc này người ta gọi là nhĩ xúc – sự tiếp xúc của lỗ tai và âm thanh. Do sự tiếp xúc đó nên có cảm giác, gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, tức là cảm giác từ sự tiếp xúc của lỗ tai.
Hàng ngày mình có làm cái này không? Mình nghe tiếng khen, nghe lời chê, đang nghe Minh Thành nói và có cảm giác nơi lỗ tai. Mình luôn làm nhưng không thấy, không biết, Đức Phật gọi đó chính là Vô Minh. Mình chỉ tưởng rằng tôi đang nghe, có một cái tôi đang nghe, đó là vô minh, là si mê, là không thấy rõ bản chất của thân này. Mình không biết rằng cái nghe đó là pháp duyên sanh, pháp duyên hợp. Phải có đủ điều kiện: có lỗ tai, có tiếng và có sự rõ biết của âm thanh – ba cái pháp này hội tụ và tạo thành sự tiếp xúc, từ tiếp xúc này sinh ra cảm giác. Cảm giác đó gọi là thọ.
Chúng ta thường chết ở chỗ thọ này. Khi nghe tiếng khen thì khoái chí, thích thú, phơi phới, hân hoan. Lúc nghe tiếng chê thì buồn, bực bội, sân hận, thậm chí cãi vã, đánh nhau. Đức Phật gọi là vô minh vì mình không thấy, không biết các pháp tự thân, tự tâm của mình. Không biết đó chỉ là lỗ tai và âm thanh, chúng tiếp xúc và sinh ra cảm giác, cảm giác đó là vô thường. Mình được một người khen, lúc sau cũng người đó nhưng lại chê mình, vậy mà mình cứ đi theo cái khen chê đó mà mình khổ, buồn, mừng, vui. Như vậy có phải mình là người không hiểu biết, si mê không? Có công nhận mình bị si mê không? Vậy mà lúc trước cứ cho rằng mình thông minh. Cho nên mình học pháp thì mới có trí huệ.
Đức Phật dạy phải sống tùy quán như vậy “trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải (là sự hiểu biết sâu sắc), với tuệ thể nhập.” Mình quán như vậy là người xứng đáng cho người ta chắp tay, cung kính đảnh lễ, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Không phải người xuất gia mới làm được mà người cư sĩ vẫn là ruộng phước vô thượng ở trên đời, vẫn vào bậc Hiền Thánh của Đức Phật. Thời Đức Phật những vị cư sĩ chứng Tam quả, Nhị quả, Sơ quả rất nhiều. Cho nên mình tu như vậy thì khi được người ta đến lạy, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng là xứng đáng, vì lúc đó mình không còn thấy mình nữa. Còn nếu mình thấy mình tốt thì mình không xứng đáng.
Kế tiếp là lỗ mũi. Có khi nào soi gương mình cầm lỗ mũi lên bóp thử chưa? Lỗ mũi là tứ đại: từ thức ăn mọc từ đất, từ nước, từ không khí, gió, nhiệt độ. Nó biến đổi, vô thường, muốn mũi xẹp hoặc muốn mũi cao cũng được. Mũi đã cao muốn cao hơn vẫn được. Như con mắt là vô thường, nên một mí biến thành hai mí, hai mí biến thành một mí, nhỏ làm thành to, to kéo thành nhỏ cũng được, đó là vô thường, là pháp duyên sanh. Cho nên từ mũi xẹp làm thành cao, một thời gian đau nhức, chịu không nổi, phải lấy ra, thì xẹp xuống lại.
Vì vậy, phải quán lỗ mũi này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi, mũi là vô thường. Do có lỗ mũi, có mùi hương rồi sự rõ biết mùi hương – ba pháp này hội tụ lại tạo thành sự tiếp xúc. Xúc này ta gọi là tỷ xúc, là sự tiếp xúc của lỗ mũi.Khi tiếp xúc nếu thơm quá thì hít hà, khoái, thích, mê. Ông xã từng chết vì mùi hương của mình và mình cũng từng chết vì mũi hương của ổng, chúng ta cùng chết. Khi mình ăn món gì có mùi thơm bốc lên, mình gắp và để lên lưỡi thì lưỡi tê hết.
Nói đến cái lưỡi. Khi thức ăn đến, mình có quán chiếu thấy thọ, có thấy cảm thọ vô thường không hay mình mê mẩn trong cảm giác đó. Phải quán chiếu lưỡi này không phải là tôi, không phải là của tôi, lưỡi này là vô thường. Ví dụ mình thích ăn măng cụt ăn một ký thì ngon, ký thứ hai ngon, ký thứ ba cũng vẫn ăn, nhưng nếu ăn một thúng, phải ăn cho hết mười ký thì thế nào? Lúc đó phải thấy rằng lưỡi là vô thường, cảm giác của lưỡi là vô thường, bao tử là vô thường cho nên không phải như vậy hoài. Chính vì thấy được như vậy, cái chấp sẽ rơi rụng dần, mình sẽ bớt đam mê trong sắc, thanh, hương, vị, xúc. Mình bớt đam mê thì bớt khổ và được giải thoát. Tất cả thứ gây khổ là từ chỗ ham mê, muốn hoài không thấy đầy đủ. Vì vậy Đức Phật dạy mình pháp ly tham, bớt cái muốn, lìa cái muốn và cuối cùng chấm dứt cái muốn là đến Niết-bàn. Đó là con đường, là đạo lộ đi đến Thánh đạo, Thánh quả.
Quý vị thấy con người ta khổ có phải vì cảm giác không? Tất cả mọi sự chạy lăng xăng, long nhong đều là do đi tìm cảm giác. Như đi vô khách sạn ba sao, năm sao là được cái gì? Đựợc ăn ngon, được ở nhà đẹp tiện nghi, chứ có gì nữa đâu. Hoặc đi nước này nước kia du lịch, cũng là cảm giác. Giới trẻ đi tìm cảm giác mạnh như những trò chơi cảm giác mạnh rồi gặp tai nạn bất ngờ, ma tuý, game, heroin,... tất cả chúng sanh bị chết trong cảm giác. Đức Phật dạy phải biết cảm giác là vô thường, là biến đổi, đừng ham thích trong cảm giác đó. Khi có cảm giác nào đó mình phải luôn luôn quán chiếu thoát ly, quán chiếu mình sẽ không bị đắm đuối trong cảm giác, biết bản chất của nó là vô thường mình sẽ thoát ra khỏi. Đó là trí huệ của bậc Thánh.
Quán chiếu tự thân
Tu tập được điều này thì rất tuyệt vời và kỳ diệu giữa cuộc đời này. Ta sẽ được nhẹ nhàng, bình an, khi mọi thứ đến, mình đều rất điềm tĩnh.
Minh Thành vẫn có rất nhiều lời khen lẫn tiếng chê. Đừng nghĩ ai cũng khen Minh Thành, đệ tử quy y còn có người mắng mình. Khi nghe lời mắng, mình biết quán chiếu thì thấy rất nhẹ nhàng. Đó chính là trí huệ Đức Phật để lại cho mình. Trong cuộc sống này đâu phải chỗ nào cũng trải thảm đỏ đón mình. Đức Phật nói không có ai hoàn toàn được khen hay hoàn toàn bị chê hết, thậm chí Đức Phật còn bị chê bai, vu khống. Cho nên nếu mình có được trí huệ này thì tuyệt vời lắm. “Trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn” lúc nào chúng ta cũng cần quán chiếu vô thường, đây là pháp hành thâm sâu, là tâm thắng giải (giải tức là hiểu, thắng là thù thắng, thắng giải là trí huệ hiểu biết một cách tuyệt vời).
Ví dụ trưa nay có cúng trai tăng, dọn lên mười món, toàn những món mình thích. Lúc đó mình phải tùy quán, quán chiếu như thế nào? Phải quán chiếu lưỡi này là vô thường, thức ăn là vô thường, vị giác – cái biết của cái lưỡi là vô thường. Cho nên khi ăn, mình biết là ngon nhưng trong cái biết ngon đó không nuôi dưỡng tâm tham. Đức Phật khi đi khất thực, nếu không ai cho gì cả thì Đức Phật về uống nước. Có lúc nhà vua hứa phát tâm cúng dường ba tháng an cư nhưng lại quên do bận việc triều chính, thì Đức Phật và chư Tỳ-kheo phải dùng lúa cho ngựa ăn trong suốt ba tháng nhưng Đức Phật không thấy khổ hay khó chịu. Khi Đức Phật được vua Ba Tư Nặc lạy dưới chân, các vị tướng quân, thiên tử dâng cúng những thực phẩm như sơn hào hải vị, thượng vị, mỹ vị nhất trên đời nhưng Đức Phật không có tham, vì Ngài lúc nào cũng tùy quán luôn luôn quán chiếu vô thường.
Cho nên khi ăn ngon biết ngon, nhưng không để tâm tham đắm nhiều vào đó. Mình biết đây là vô thường, đừng hoan hỷ với nó, hãy có ý niệm thoát ly ra khỏi sự tham đắm. Thậm chí ăn món dở, thức ăn đó không ngon nhưng không khó chịu, không bực bội mà phải biết đây là vô thường, không nên dính mắc, hãy có ý niệm thoát ra khỏi đó. Vì thức ăn là tứ đại, bản thân mình cũng là tứ đại. Mục đích của sự ăn là chấm dứt cảm thọ cũ và không cho sinh ra cảm thọ mới. Chấm dứt cái cảm thọ cũ là chấm dứt cảm thọ đói, vì đói rất khó chịu, ăn vào mới hết đói. Không cho sanh cảm thọ mới là không cho sanh cảm thọ ham thích món ăn tại vì ham thích thì đời sau mình vẫn đi tìm món ăn nữa, tức là mình vẫn còn luân hồi.
Đức Phật dạy: thức ăn tập khởi cho nên sắc tập khởi, thức ăn hội tụ lại và sanh khởi nên mới có thân ta. Mình còn ham thức ăn thì mình còn sinh ra cái thân để ăn nữa, cho nên không ra khỏi luân hồi. Đức Phật nói chúng sanh ăn những thức ăn nơi đất mọc ra, nên đi không cách lên mặt đất được. Cho nên mình phải tập từ từ, cái ăn tuy nhỏ nhiệm nhưng cũng rất sâu sắc. Nếu tu được mình cũng sẽ đỡ được những phiền não, nếu không khéo ăn thì ăn sẽ ra bệnh, khéo ăn thì ăn sẽ ra dinh dưỡng, sức khoẻ và có sức khoẻ thì mới tu tập được. Cho nên, khi ăn nên chánh niệm chọn món nào nên ăn, món nào không nên ăn, món nào khoẻ, món này tốt đưa đến sự nhẹ nhàng. Mình thường chọn cái ngon hay cái khỏe?
Đức Phật dạy người nhìn thấy những cái yêu thích, cái hấp dẫn, những cái đáng ưa trên cuộc đời này, cho nó là đẹp, là thường còn, cho nó là tốt sẽ làm cho ái tăng trưởng. Ái tăng trưởng thì đau khổ sẽ tăng trưởng. Người nào thường quán chiếu những cái đẹp, những cái hấp dẫn, ưa thích là vô thường, là biến hoại, là khổ, người đó không đam mê thì ái sẽ được giảm. Ái giảm thì khổ giảm. Khổ giảm, khổ dứt thì sẽ đi đến giải thoát. Như vậy mình muốn ái tăng trưởng để khổ tiếp hay muốn giảm ái từ từ để giải thoát? Nếu muốn giải thoát thì cái gì hấp dẫn, lôi cuốn, đẹp thì phải quán chiếu nó: do có con mắt này mới có bệnh, có đau; có bệnh có đau mới có khổ.
Cách đây vài hôm, Minh Thành giảng ở Nha Trang hai ngày, sáu thời pháp. Minh Thành có giảng ở chùa Kim Quang, một đạo tràng khiếm thị, toàn là người khiếm thị. Minh Thành giảng cho những vị đó con mắt trí tuệ. Chú theo quay phim nhìn thấy cảnh đó, không cầm được nước mắt, từ trẻ cho đến già đều là người mù, có người chột thì còn thấy được một con. Đó là hội người mù của tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang. Lúc đó cũng khoảng cả hàng trăm người, họ đứng lên ca bài nhạc về mẹ trong dịp Vu Lan. Có cô trong khi hát, đứng dựa vào cột để biết chỗ, cô ấy sợ di chuyển là sẽ đụng vô bàn pháp sư, hoặc bị té vào chỗ khác. Mình biết đó là điểm tựa cho người ta, chứ họ có thấy gì đâu, nhìn rất xót xa.
Cho nên, con mắt này là khổ, phải quán chiếu. Đừng nói chi là mù, chỉ cần bị bụi bay vào mắt khi đang chạy xe thì đã thấy rất khó chịu và nguy hiểm. Mình bị nhậm mắt thôi mà hai tuần lễ mới hết thì đã thấy cảm giác của con mắt khó chịu thế nào. Trong khi đó, người ta mù suốt cuộc đời, biết bao nhiêu cảnh khổ. Cho nên Đức Phật nói khổ trên thế gian này đa dạng, đa chủng, đa loại gắn liền với già và chết. Phải quán chiếu con mắt nay là khổ, từ bỏ ý niệm tham đắm, yêu thích con mắt này. Con mắt này nhất định sẽ trở về với cát bụi, sẽ vào lò thiêu, sẽ bị chôn vùi tan rã. Không có gì đam mê trong con mắt này, không có gì đáng vui sướng trong con mắt này, mình chỉ mượn nó để tu hành thành tựu. Ví dụ mình mang mắt kính cận năm độ, nếu rớt mắt kính trong lúc đang cần sử dụng là đã thấy khó chịu thì làm sao mình chịu nổi cảnh mù lòa. Quán như vậy để mình biết trân trọng con mắt này.
Đức Phật dạy: thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, cung kính vô thượng, là mình đem con mắt này để nhìn Thiện Pháp, đem con mắt này để nhìn Chánh Pháp, đem lỗ tai để nghe cái Thiện Pháp, Chánh Pháp. Đừng đem con mắt xài phí vô những chuyện không đáng và nó đưa đến bất thiện pháp, ác pháp, đưa đến tạo nghiệt, quán chiếu con mắt là khổ. Lỗ tai cũng như vậy, lỗ mũi, thân, ý cũng như vậy.
Giờ ngồi thiền mà con mắt cứ sụp xuống hoài, lúc đó có quán mắt là khổ không? Phải tùy quán li tham ở trên con mắt này, quán từ bỏ, ly tham, không ham muốn nó nữa, có cái gì ham muốn nơi con mắt này đâu. Nếu mình thật sự nhìn thì thấy kết cuộc của thân này đau lòng lắm. Quý vị có tưởng tượng được cái ngày tàn cuộc hạ màn của mình không? Nhớ cái đó, quán cái đó, soi rọi tư duy cái đó để có thể từ bỏ những cái tham, sân, si không đáng, những chuyện nhỏ nhặt. Hở chút giận, hở chút buồn, hở chút sân, hở chút là khó chịu, có phải vô minh không? Vì không thấy được bản chất của sự thật. Nếu mình thấy rõ thì không có gì hết, quán để mà ly tham, từ bỏ nó. Bây giờ mình bỏ nó trước trong tâm, tới lúc nó bỏ mình thật thì mình đã biết điều này lâu rồi. Còn bây giờ mình không quán từ bỏ, tới lúc đó mình bấn loạn lên, “mất mình rồi, con mắt mờ của tui giờ đã bị bồ câu ăn rồi”. Ở Tây Tạng người ta điểu táng, để cho mấy con kênh kênh, quạ, diều hâu, đại bàng xuống rỉa ăn.
Vừa rồi Minh Thành có đi thăm các trường thiền lớn của Miến Điện và Thái Lan, nghiên cứu tám trường thiền lớn nhất của Phật giáo nguyên thủy. Trong đó có những thiền viện, người ta xây một chỗ nhỏ, hai bức tường cao cỡ chừng thước hai, thước ba, chính giữa để trống, nhìn giống như chỗ hỏa thiêu những đồ cúng. Khi có một vị tăng nào qua đời là để vào chỗ này và chất củi lên thiêu. Các thầy ngồi gần đó để nhìn từ đầu đến cuối, quán bất tịnh, quán thân vô thường ngay chỗ đó. Thông thường có nghĩa địa, nghĩa trang trong chùa, các thiền đường cũng vậy để rất nhiều hình, mai mốt ở trên núi mình cũng sẽ để các bộ xương ngồi, bộ xương đi, bộ xương nằm, đó là những hình ảnh giúp mình quán bất tịnh về thân này. Đằng sau lớp da này là một sự lừa dối khủng khiếp, một sự dối lừa kinh hãi nếu mình thấy được sẽ hoảng sợ chính mình. Lớp da này phủ lên giống như là một cái bao, trong đó là bộ đồ lòng heo nấu cháo. Khi mình nhìn thì chỉ thấy cái bao, đến chừng mở ra, tất cả sự thật được phơi bày.
Đức Phật là người phơi bày những điều bị giấu kính, bị che đậy, đem ánh sáng vào trong bóng tối cho những người có mắt được thấy rõ các sắc, dựng đứng lên những gì bị ngã đổ, chỉ ra con đường cho mình tu. Cho nên khi tu đúng theo Chánh Pháp, ta sẽ thấy an lạc kì diệu ở giữa cuộc đời này. Luôn luôn quán chiếu chính mình chứ không quán người khác.
Trình pháp
Sau khi một tháng không gặp và hôm nay nghe bài pháp rất sâu sắc. Mới quý vị phát biểu cảm nhận.
Phật tử Diệu Phú:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa toàn thể quý Phật tử. Lúc đầu có vị Phật tử mới lên phát biểu là nhờ nghe băng đĩa của Thầy và xâm nhập được đạo pháp. Chúng con ở đây trước kia cũng giống vậy, cũng chưa có dịp đến chùa để biết Thầy, lúc đó chúng con còn phải sinh kế để nuôi gia đình. Nay chúng con về hưu thì chúng con có nhiều điều kiện hơn để tiếp xúc với đạo pháp và cũng nhờ thầy hướng dẫn trên đường đạo. Con nhận thấy đúng như lời anh Phật tử nói, chúng con cứ nghe băng đĩa của thầy giảng hoặc của những vị thầy cô khác, cứ nghe đi nghe lại nhiều lần thì chúng con lại xâm nhập hơn và thấy rằng trí huệ của mình cũng mở ra và được nâng cao.
Trong đĩa Thầy giảng Con số không vĩ đại, Thầy nói là luôn luôn phải xem mình là thường, không phải là số 1, number one, số dách. Hãy nghĩ đến sau bức tượng của Đức Phật Thích Ca là ánh hào quang, ánh hào quang đó là hình tròn và cũng tựa như con số 0. Con cũng nhớ bài Thầy giảng có ví dụ về một vị quan tướng, sau khi đánh thắng trận và được vua cho yêu cầu, muốn được điều gì thì nhà vua sẽ đáp ứng. Cụ thể thì quan tướng đó phi ngựa để giành đất, cuối cùng mệt mỏi và chỉ xin một mảnh đất bề dài hai mét và bề ngang một mét. Chúng con thấy sống trên cuộc đời này, điều đầu tiên chúng ta phải làm lụng, có lương bổng để nuôi sống gia đình bản thân, đầu tư để dành như lời của Đức Phật và Thầy dạy, phân bổ ra các khoản mục hợp lý.
Cuối cùng chúng con cũng được biết rằng, nếu nhắm mắt xuôi tay thì cũng không mang được gì cả, mà nhân gian hay nói “ngay cái nút áo họ cũng giữ lại”, nhưng cái để chúng ta mang theo đó là những phước đức mình đã gieo. Cũng nhờ ơn của quý thầy trong những dịp lễ, từ thiện, chúng con được gieo chút ít vào.
Nhờ sự động viên giúp đỡ của quý thầy, con thấy rằng những buổi nghe pháp tại chùa Bửu Liên rất là hữu ích. Cái gì cũng có đam mê có tham ái nhưng gần đây chúng con tham ái nhiều nhất là học pháp, nghe pháp và xem sách về Phật pháp.
Phật tử Minh Hùng:
Kính bạch thầy, kính thưa quý vị đạo tràng, tôi pháp danh là Minh Hùng, được thọ quy y của thầy cũng đã ba năm nay.
Trước đây tôi cũng ở trong những suy nghĩ, băn khoăn, trôi theo dòng đời cũng giống như tất cả chúng ta. Tôi cũng không biết Phật pháp, tôi không biết đạo, tôi không biết Phật. Một sự may mắn, một sự chuyển thật sâu sắc về suy nghĩ và tâm tư của mình khi tôi đã diện kiến được với Thầy, đã đến được chùa Bửu Liên và xin được quy y với Thầy cùng các thầy. Đã ba năm nay rồi, từ thỉnh thoảng đến thường xuyên, những thời pháp, những buổi lễ và những lúc thầy tổ chức thì tôi đều cố gắng sắp xếp thời gian tham gia.
Thú thật với quý vị, từ khi được dìu dắt, được hướng dẫn và được hiểu, trong thâm tâm mình cảm thấy cuộc sống thật sự nhẹ nhàng, không còn những điều làm mình cảm thấy đau khổ nhiều với nó, không còn phải băn khoăn, buồn, không phải trôi theo dòng đời. Tôi cảm giác cuộc sống bây giờ là một sự chấp nhận, chấp nhận nhìn thẳng và chấp nhận hiểu theo con đường của Phật, theo con đường của đạo, theo sự hướng dẫn của các thầy. Từ đó, chúng ta nhìn nhận ra được rằng trong cuộc đời này, cũng sẽ đến một giai đoạn chúng ta đi về một cõi hư không. Nhưng khi đi vào hư không, hay vào một cõi ta bà nào đó thì chúng ta nhẹ nhàng và được thanh thản với con đường mà chúng ta được sự hướng dẫn tận tình với sự dìu dắt thân thương của quý thầy.
Thưa quý vị, gia đình Minh Hùng ngoài tôi ra thì bà xã và ba đứa con đều đã được thọ quy y với Thầy ở chùa Bửu Liên. Đó thật sự là một niềm hạnh phúc, cơ duyên, dịp may được giao duyên với chùa Bửu Liên. Thầy rất là thương yêu quý mến quý Phật tử. Tôi vẫn còn nhớ những ngày đầu, khi tôi quỳ lạy, tôi bái các thầy, cho đến bây giờ dòng cảm xúc không bao giờ ngơi được. Bởi vì lắm lúc, cuộc đời đau khổ quá, làm cho chúng ta không thể nào tìm được ánh sáng. Nhưng khi đến được với thầy, ngay giờ phút này đứng đây để được trình bày với thầy với quý vị, cảm xúc nó vẫn trở lại vẫn cứ thôi thúc trong tâm, rằng mình phải cố gắng sống và cố gắng làm được những gì, cống hiến được những gì thêm đối với chùa, đối với quý thầy bằng một tấm lòng hết sức thương yêu, quý trọng.
Kính thưa quý vị, bản thân tôi muốn cùng chia sẻ với quý vị niềm hạnh phúc này, biết đâu quý vị cũng sẽ có được những cảm xúc, những hạnh phúc như cảm giác của Minh Hùng vậy.
./.