16. CHIÊM NGHIỆM VỀ DỊCH BỆNH - KHỔ THÁNH TRÍ VỀ NĂM UẨN
Tinh Hoa Nikāya
CHIÊM NGHIỆM VỀ DỊCH BỆNH
KHỔ THÁNH TRÍ VỀ NĂM UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc90559965 \h 1
II.Đoạn trừ lòng dục đối với ngũ uẩn PAGEREF _Toc90559966 \h 2
III.Khổ Thánh Trí về năm uẩn PAGEREF _Toc90559967 \h 5
Bản chất của ngũ uẩn
Hôm nay là ngày rằm tháng mười, cũng là ngày kỉ niệm tròn ba mươi năm xuất gia cuả Minh Thành, đây cũng là ngày cả nước ta hướng tâm cầu nguyện cho hơn hai mươi ba ngàn nạn nhân trong nước đã qua đời vì đại dịch và cả thế giới là hơn năm triệu người. Tối hôm nay, tất cả chùa chiền, tự viện cũng như chính quyền sẽ có buổi lễ tưởng niệm. Tại Linh Quy Pháp Ấn trong buổi tưởng niệm cố Hoà Thượng Trưởng Lão Thượng Minh Hạ Châu đã có làm lễ tưởng niệm cho những vị đã quá cố trong đại dịch. Hôm nay chúng ta cũng đốt nén tâm hương để hướng về những người đã ra đi về dịch bệnh. Mọi người cùng nhìn lại những hình ảnh đã diễn ra, đang diễn ra để chiêm nghiệm sự thật về sanh, già, bệnh, chết, sự thật về đau khổ của đời sống này. Và bằng sự thể nghiệm, thể nhập sự thật về Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Tuệ này, chúng ta hướng tâm, hồi hướng, cầu nguyện, mong rằng tất cả kẻ còn, người mất đều thể nhập Khổ Thánh Trí, thấy được bản chất của đời sống này, từ đó nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ.
Từ sự chiêm nghiệm về những người đã ra đi trong đại dịch, nếu nhìn sâu sắc hơn thì chúng ta sẽ thấy rằng không chỉ có đại dịch mới là khổ, mà đại dịch chỉ là một phần nhỏ của khổ nằm trong sắc uẩn. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ của bệnh khổ cũng đủ làm cho khắp hành tinh điêu đứng, tan thương. Thế giới dường như trống rỗng, thế giới dường như trống không, thế giới trở thành trống vắng. Tất cả những thành phố lớn nhất nhì trên hành tinh này đều trống vắng giống lời Đức Thế Tôn trong Tương Ưng Bộ Kinh. Trong đó Ngài nói trống không là thế giới này, thế giới này là trống không, trống rỗng, mà thế giới tức là ngũ uẩn, bao gồm tổ hợp của hình sắc, tổ hợp của tứ đại; tổ hợp của những cảm giác, cảm thọ; tổ hợp của những hình bóng trong tâm; tổ hợp của những suy tư, nghĩ ngợi; tổ hợp của những nhận thức, rõ biết.
Đức Phật cũng nói bản chất của năm tổ hợp này là tan rã, là hoại diệt, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là cục bướu, là vực thẳm, là con dao, là than đỏ. Bản chất của ngũ uẩn này là tan rã như sự tan rã của một món đồ gốm. Thân này chẳng khác gì món đồ gốm, tánh bể đã nằm trong món đồ gốm dù đã được đưa vào lò nung, hay vẫn còn là đất sét. Dù món đồ gốm còn là đất sét chưa được nung, hay đã đưa vào lò để nung thành một món đồ gốm rồi thì tánh bể vẫn nằm trong đó. Bản chất của món đồ gốm này là bể, là nát, là vỡ, là tan thì làm sao nó có thể thường còn, thường trú, thường hằng, làm sao nó có thể trường cửu, bất biến. Thân xác này cũng là món đồ gốm, chỉ cần chạm nhẹ là vỡ tan. Mỗi ngày những món đồ gốm này vỡ trên đường giao thông, hằng ngày những món đồ gốm này bể trong bệnh viện, hằng ngày món đồ gốm này nát tan trong sự sanh ly, tử biệt, chia lìa, trong những dòng nước mắt tuôn chảy không ngừng, trong những khổ thọ xót xa, đau đớn, quằn quại, bất lực.
Thế nên, bản chất của thân này là vậy, bản tánh của thân này là vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy. Bản chất món đồ gốm là bể, bản chất món đồ gốm là vỡ, bản chất món đồ gốm là nát, bản chất món đồ gốm là hoại diệt… như vậy thì làm sao có thể tìm tính kiên cố, vững chắc trong món đồ gốm được.
Đoạn trừ lòng dục đối với ngũ uẩn
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật có dạy:
“Cái gì vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông phải đoạn trừ lòng dục”. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, Phẩm A La Hán, bài kinh Vô Thường)
Đức Phật nói rằng, cái gì là những thứ vô thường, bại hoại, băng hoại, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tan nát, tan rã thì phải chấm dứt lòng tham muốn đối với nó. Và cái gì là vô thường?
Tổ hợp của những sắc tướng, sắc uẩn, sắc pháp, sắc chất, hình hài, hình vóc, hình dáng, hình thể, hình tướng là vô thường, khổ, bệnh tật, bất an, lo lắng, sợ hãi, sầu, bi, ưu, não, vì vậy, phải đoạn tận lòng dục, chấm dứt lòng ưa thích, khao khát, nắm giữ đối với nó.
Tổ hợp cảm giác là vô thường. Những cảm thọ vui sướng, buồn đau, không vui không buồn, những cảm thọ sanh diệt như những làn sương khói có bản chất là vô thường, vì vậy, phải đoạn trừ lòng dục, lòng tham muốn, lòng ưa thích, lòng nắm giữ, lòng chấp thủ đối với chúng. Hơn nữa, bản chất của các cảm thọ này là khổ. Trong Tương Ưng Thọ, Tương Ưng Bộ Kinh IV, Đức Phật tuyên bố: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”(Bài kinh Sống Một Mình). “Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc” (Bài kinh Với Mũi Tên). Tức là nếu cảm thọ một cảm giác vui thì kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc, say mê, tham đắm, dính mắc, chấp trước, nắm giữ, thèm thuồng, khao khát, yêu thích, si mê, truy tầm trong cảm thọ vui này và do bị cảm thọ vui sướng này trói cột mà người đó đau khổ.
Tưởng uẩn là tổ hợp của những hình bóng trong tâm, chúng cũng là do duyên sanh, là ảo ảnh, là ảo tưởng, là vô thường. Đức Phật tuyên bố: “Này các Tỳ Kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen” (Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch), tức là những hình ảnh ám ảnh trong tâm chúng ta chính là kết quả của thói quen. Những hình bóng đó khiến chúng ta ưa thích, nóng giận, si mê, nắm giữ và đau khổ. Tưởng uẩn này cứ ám ảnh trong tâm về một hình bóng của tự ngã, tự thân, tự mình, tự ta và chính những hình bóng về mình, về người, về hơn thua, về nóng giận, về tham muốn, về trói buộc, về luyến ái đó là khổ. Vì vậy, Đức Phật dạy: “Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục” (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, Phẩm A La Hán, bài kinh Khổ). Cái gì là những thứ vô ngã, duyên sanh, lắp ráp, mắt xích, trống rỗng thì phải từ bỏ lòng dục: “Cái gì vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục” (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, Phẩm A La Hán, bài kinh Vô Ngã).
Tổ hợp của hành uẩn là vô thường. Những suy nghĩ ngày đêm cứ nói luyên thuyên, trong giấc ngủ cũng không cho yên, cứ thì thào, thỏ thẻ, thì thầm hết chuyện này đến chuyện kia, bép xép cả ngày, đó là khẩu hành được phát ra từ ý hành. Bao nhiêu suy tư, nghĩ ngợi, toan tính cứ nói lầm thầm như radio và những thứ đó làm cho mình khổ. “Này các Tỳ Kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp. Sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý” (Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch). Đức Phật nói rằng “tác ý chính là nghiệp”, sau khi suy tư thì dẫn đến thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, tức là sau khi suy tư người đó sẽ hành động ra nơi thân, phát ra lời nơi miệng và suy nghĩ ở trong ý, cho nên nói, tác ý chính là nghiệp.
Những nhận thức theo nghiệp, nhận thức theo thói quen, nhận thức trong vô minh, nhận thức trong si ám, nhận thức sai lầm này mới cho món đồ gốm là ta, là của ta, là tự ngã của ta.
“Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.”
***
“Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.”
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Đạo)
Tất cả sự vận hành của ngũ uẩn, hình hài, cảm giác, hình bóng, suy tư, nhận thức này là sự vận hành của khổ, cho nên nói tất cả hành là khổ đau. Tất cả mọi sự vận hành đó đều luôn đi tới và đẩy chúng ta đến lò thiêu, đẩy xuống huyệt, đẩy vào nấm mộ, đẩy tới nghĩa trang. Chúng ta phải bằng tuệ quán thấy được sự vận hành của ngũ uẩn, sự vận hành của hình sắc, cảm giác, suy tư, nghĩ, tưởng, nhận thức là sự vận hành của khổ; sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là sự vận hành của trống rỗng, duyên sanh, lắp ráp, chỉ là sự đứng vững của bó lau và bó sậy. Năm uẩn này là bó lau sậy nương vào nhau, là pháp duyên sanh, vô thường, vô ngã, trống rỗng và tất cả chúng sanh đều vô minh, khát ái nên nhận lầm năm đống khổ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Biết bao lo lắng, bất an, sợ hãi, sầu khổ, nước mắt, bệnh tật, tai nạn, hoạn nạn, chết chóc, ràng buộc, trói trăn trong thân này.
Thân trống rỗng không ai trong đó,
Tâm vào đây làm tổ chi tâm,
Tâm vào đây làm ổ làm gì,
Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.
Khổ Thánh Trí về năm uẩn
Trong bài kinh “Khổ”, Tương Ưng Bộ III, Đức Phật có dạy:
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Đức Phật thuyết về khổ, nguyên nhân sanh khởi khổ đau, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ?
Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.
Sự nắm chặt, chấp thủ vào ngũ uẩn này là khổ. Tức là sự nắm chặt vào tổ hợp của sắc; sự nắm chặt vào tổ hợp của cảm thọ; sự nắm chặt vào tổ hợp của các hình bóng trong tâm – tưởng uẩn; sự nắm chặt vào tổ hợp của những nghĩ ngợi, suy tư – hành uẩn; sự nắm chặt vào tổ hợp của những nhận thức rõ biết chính là khổ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi?
Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Đức Phật nói nguyên nhân sanh khởi ra khổ đau chính là khát ái, tức là sự yêu thích vào năm tổ hợp của ngũ uẩn. Cụ thể là sự yêu thích, khao khát đối với sắc chất, hình thể, đồ vật, cảnh vật này, yêu thích thân xác xương da, mủ máu, đó là nguyên nhân sanh khởi ra khổ. Khát ái là sự khao khát, yêu thích để có được sắc thân; khao khát, yêu thích để có được những cảm giác; khao khát, yêu thích để có được những hình bóng trong tâm; khao khát, yêu thích những suy nghĩ về tôi và của tôi; khao khát, yêu thích những sự rõ biết, nhận thức này là tôi, là của tôi. Chính sự yêu thích và khao khát trong năm tổ hợp này đẩy chúng sanh đi vào một đời sống tiếp theo, bị sanh ra.
Trong “Kinh Thánh Cầu”, Đức Phật nói có người tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh tật, ốm đau, tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết chóc và tử vong... Còn Như Lai cũng bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết nhưng Như Lai đi tìm cái không sanh, đi tìm cái không già, đi tìm cái không bệnh và đi tìm cái bất tử. Đó chính là sự tìm cầu của bậc Thánh.
Chính sự khát ái, yêu thích và khao khát trong năm thủ uẩn là động lực, là nguyên nhân, là gốc rễ đưa đến tái sanh, đưa đến sự sanh ra của một đời sau, cùng với một tâm ham muốn, yêu thích trong năm uẩn. Cho nên chúngs sanh cứ ham muốn thân xác này và khoan khoái, hài lòng, nắm giữ, chấp thủ những cảm giác, suy tư, nghĩ, tưởng, nhận thức. Sau đó tìm cầu vui sướng hết chỗ này đến chỗ kia, chạy chỗ này tìm vui, chạy chỗ kia tìm sướng, chạy chỗ nọ tìm hỷ, chạy chỗ khác tìm lạc… nhưng có chạy đi đâu chăng nữa cũng là chạy trong ba chỗ: hữu ái, dục ái, phi hữu ái. Vì chạy trong thế giới yêu thích dục nên có mặt ở dục giới; chạy trong thế giới yêu thích sự hiện hữu nên có mặt trong những hình sắc vi tế, nhỏ nhiệm của chư Thiên; chạy trong sự yêu thích thế giới chẳng có hình sắc, gọi là phi hữu ái. Từ đó tạo nên Tam giới, gồm ba cõi: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Như vậy, nguyên nhân của khổ sanh khởi chính là khát ái, tức là sự khao khát và yêu thích năm uẩn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ đoạn diệt?
Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ đoạn diệt.
Khổ chấm dứt chính là sự lìa tham, đoạn diệt, chấm dứt hoàn toàn, không còn xót một chút nào về khát ái, khao khát, yêu thích đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhờ thấy được tính chất vô thường, khổ, vô đau, trống rỗng của năm uẩn dẫn đến sự rời bỏ, từ bỏ, thoát ra, thoát ly khỏi mọi dính mắc trong năm uẩn nên được gọi là khổ đoạn diệt. Thế nên, chấm dứt khổ là chấm dứt hoàn toàn sự ưa thích và tham muốn đối với năm uẩn: không ham muốn sắc; không muốn cảm giác; không ham muốn những hình bóng trong tâm; không ham muốn những suy nghĩ về ta, tôi mà phải từ bỏ hoàn toàn, diệt tận những suy nghĩ đó tận gốc rễ; cuối cùng là từ bỏ sự chấp thủ vào trong sáu thức. Như vậy, khi không còn sót lại bất cứ một chút khát ái nào đối với năm uẩn, hoàn toàn rời xa, từ bỏ, thoát ra, giải thoát khỏi mọi dính mắc đối với năm uẩn gọi là khổ đoạn diệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt?
Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh III, C. Năm Mươi Kinh Sau. I. Phẩm Biên, bài kinh Khổ)
Và con đường đưa đến khổ đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, gồm: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng và quán đúng của bậc Thánh. Chính con đường Tám đúng của bậc Thánh này là con đường đưa đến sự chấm dứt toàn bộ khổ đau. Đây chính là con đường đoạn tận khát ái, ly tham đối với năm uẩn, là con đường chứng ngộ của bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ, ngoài con đường này ra thì không còn con đường nào khác.
Như vậy, qua những thảm cảnh khổ đau của đại dịch Covid-19, chúng ta đã nghe, thấy, cảm nhận, thức tri về sự khổ của cuộc đời. Cùng với sự trùng tuyên Thánh giáo chánh tạng Nikāya trong bài kinh “Khổ”, Tương Ưng Bộ tập III, tất cả chúng ta cùng thiền quán sâu sắc về bản chất của cuộc đời để tri kiến này ngấm sâu vào cảm thọ, suy tư, nhận thức. Đó chính là động lực cho chúng ta tiến bước mạnh mẽ trong sự thấy biết về bản chất của đời sống này một cách thấu đáo, tận tường, nhờ đó sanh khởi sự nhàm chán, hướng đến từ bỏ, ly tham, thoát ra. Vì vậy, đây là con đường tối thượng, là Thánh đạo mà Đức Thế Tôn đã truyền lại cho chúng ta.
Kính chúc tất cả luôn tinh tấn trong chánh kiến vi diệu tối thượng này!
./.
CHIÊM NGHIỆM VỀ DỊCH BỆNH
KHỔ THÁNH TRÍ VỀ NĂM UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc90559965 \h 1
II.Đoạn trừ lòng dục đối với ngũ uẩn PAGEREF _Toc90559966 \h 2
III.Khổ Thánh Trí về năm uẩn PAGEREF _Toc90559967 \h 5
Bản chất của ngũ uẩn
Hôm nay là ngày rằm tháng mười, cũng là ngày kỉ niệm tròn ba mươi năm xuất gia cuả Minh Thành, đây cũng là ngày cả nước ta hướng tâm cầu nguyện cho hơn hai mươi ba ngàn nạn nhân trong nước đã qua đời vì đại dịch và cả thế giới là hơn năm triệu người. Tối hôm nay, tất cả chùa chiền, tự viện cũng như chính quyền sẽ có buổi lễ tưởng niệm. Tại Linh Quy Pháp Ấn trong buổi tưởng niệm cố Hoà Thượng Trưởng Lão Thượng Minh Hạ Châu đã có làm lễ tưởng niệm cho những vị đã quá cố trong đại dịch. Hôm nay chúng ta cũng đốt nén tâm hương để hướng về những người đã ra đi về dịch bệnh. Mọi người cùng nhìn lại những hình ảnh đã diễn ra, đang diễn ra để chiêm nghiệm sự thật về sanh, già, bệnh, chết, sự thật về đau khổ của đời sống này. Và bằng sự thể nghiệm, thể nhập sự thật về Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Tuệ này, chúng ta hướng tâm, hồi hướng, cầu nguyện, mong rằng tất cả kẻ còn, người mất đều thể nhập Khổ Thánh Trí, thấy được bản chất của đời sống này, từ đó nhàm chán, ly tham, hướng đến từ bỏ.
Từ sự chiêm nghiệm về những người đã ra đi trong đại dịch, nếu nhìn sâu sắc hơn thì chúng ta sẽ thấy rằng không chỉ có đại dịch mới là khổ, mà đại dịch chỉ là một phần nhỏ của khổ nằm trong sắc uẩn. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ của bệnh khổ cũng đủ làm cho khắp hành tinh điêu đứng, tan thương. Thế giới dường như trống rỗng, thế giới dường như trống không, thế giới trở thành trống vắng. Tất cả những thành phố lớn nhất nhì trên hành tinh này đều trống vắng giống lời Đức Thế Tôn trong Tương Ưng Bộ Kinh. Trong đó Ngài nói trống không là thế giới này, thế giới này là trống không, trống rỗng, mà thế giới tức là ngũ uẩn, bao gồm tổ hợp của hình sắc, tổ hợp của tứ đại; tổ hợp của những cảm giác, cảm thọ; tổ hợp của những hình bóng trong tâm; tổ hợp của những suy tư, nghĩ ngợi; tổ hợp của những nhận thức, rõ biết.
Đức Phật cũng nói bản chất của năm tổ hợp này là tan rã, là hoại diệt, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là mũi tên, là cục bướu, là vực thẳm, là con dao, là than đỏ. Bản chất của ngũ uẩn này là tan rã như sự tan rã của một món đồ gốm. Thân này chẳng khác gì món đồ gốm, tánh bể đã nằm trong món đồ gốm dù đã được đưa vào lò nung, hay vẫn còn là đất sét. Dù món đồ gốm còn là đất sét chưa được nung, hay đã đưa vào lò để nung thành một món đồ gốm rồi thì tánh bể vẫn nằm trong đó. Bản chất của món đồ gốm này là bể, là nát, là vỡ, là tan thì làm sao nó có thể thường còn, thường trú, thường hằng, làm sao nó có thể trường cửu, bất biến. Thân xác này cũng là món đồ gốm, chỉ cần chạm nhẹ là vỡ tan. Mỗi ngày những món đồ gốm này vỡ trên đường giao thông, hằng ngày những món đồ gốm này bể trong bệnh viện, hằng ngày món đồ gốm này nát tan trong sự sanh ly, tử biệt, chia lìa, trong những dòng nước mắt tuôn chảy không ngừng, trong những khổ thọ xót xa, đau đớn, quằn quại, bất lực.
Thế nên, bản chất của thân này là vậy, bản tánh của thân này là vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy. Bản chất món đồ gốm là bể, bản chất món đồ gốm là vỡ, bản chất món đồ gốm là nát, bản chất món đồ gốm là hoại diệt… như vậy thì làm sao có thể tìm tính kiên cố, vững chắc trong món đồ gốm được.
Đoạn trừ lòng dục đối với ngũ uẩn
Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật có dạy:
“Cái gì vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông phải đoạn trừ lòng dục”. (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, Phẩm A La Hán, bài kinh Vô Thường)
Đức Phật nói rằng, cái gì là những thứ vô thường, bại hoại, băng hoại, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tan nát, tan rã thì phải chấm dứt lòng tham muốn đối với nó. Và cái gì là vô thường?
Tổ hợp của những sắc tướng, sắc uẩn, sắc pháp, sắc chất, hình hài, hình vóc, hình dáng, hình thể, hình tướng là vô thường, khổ, bệnh tật, bất an, lo lắng, sợ hãi, sầu, bi, ưu, não, vì vậy, phải đoạn tận lòng dục, chấm dứt lòng ưa thích, khao khát, nắm giữ đối với nó.
Tổ hợp cảm giác là vô thường. Những cảm thọ vui sướng, buồn đau, không vui không buồn, những cảm thọ sanh diệt như những làn sương khói có bản chất là vô thường, vì vậy, phải đoạn trừ lòng dục, lòng tham muốn, lòng ưa thích, lòng nắm giữ, lòng chấp thủ đối với chúng. Hơn nữa, bản chất của các cảm thọ này là khổ. Trong Tương Ưng Thọ, Tương Ưng Bộ Kinh IV, Đức Phật tuyên bố: “Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ”(Bài kinh Sống Một Mình). “Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc” (Bài kinh Với Mũi Tên). Tức là nếu cảm thọ một cảm giác vui thì kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc, say mê, tham đắm, dính mắc, chấp trước, nắm giữ, thèm thuồng, khao khát, yêu thích, si mê, truy tầm trong cảm thọ vui này và do bị cảm thọ vui sướng này trói cột mà người đó đau khổ.
Tưởng uẩn là tổ hợp của những hình bóng trong tâm, chúng cũng là do duyên sanh, là ảo ảnh, là ảo tưởng, là vô thường. Đức Phật tuyên bố: “Này các Tỳ Kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen” (Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch), tức là những hình ảnh ám ảnh trong tâm chúng ta chính là kết quả của thói quen. Những hình bóng đó khiến chúng ta ưa thích, nóng giận, si mê, nắm giữ và đau khổ. Tưởng uẩn này cứ ám ảnh trong tâm về một hình bóng của tự ngã, tự thân, tự mình, tự ta và chính những hình bóng về mình, về người, về hơn thua, về nóng giận, về tham muốn, về trói buộc, về luyến ái đó là khổ. Vì vậy, Đức Phật dạy: “Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục” (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, Phẩm A La Hán, bài kinh Khổ). Cái gì là những thứ vô ngã, duyên sanh, lắp ráp, mắt xích, trống rỗng thì phải từ bỏ lòng dục: “Cái gì vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn trừ lòng dục” (Tương Ưng Bộ Kinh III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, Phẩm A La Hán, bài kinh Vô Ngã).
Tổ hợp của hành uẩn là vô thường. Những suy nghĩ ngày đêm cứ nói luyên thuyên, trong giấc ngủ cũng không cho yên, cứ thì thào, thỏ thẻ, thì thầm hết chuyện này đến chuyện kia, bép xép cả ngày, đó là khẩu hành được phát ra từ ý hành. Bao nhiêu suy tư, nghĩ ngợi, toan tính cứ nói lầm thầm như radio và những thứ đó làm cho mình khổ. “Này các Tỳ Kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp. Sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý” (Tăng Chi Bộ Kinh III, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch). Đức Phật nói rằng “tác ý chính là nghiệp”, sau khi suy tư thì dẫn đến thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, tức là sau khi suy tư người đó sẽ hành động ra nơi thân, phát ra lời nơi miệng và suy nghĩ ở trong ý, cho nên nói, tác ý chính là nghiệp.
Những nhận thức theo nghiệp, nhận thức theo thói quen, nhận thức trong vô minh, nhận thức trong si ám, nhận thức sai lầm này mới cho món đồ gốm là ta, là của ta, là tự ngã của ta.
“Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.”
***
“Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh.”
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Đạo)
Tất cả sự vận hành của ngũ uẩn, hình hài, cảm giác, hình bóng, suy tư, nhận thức này là sự vận hành của khổ, cho nên nói tất cả hành là khổ đau. Tất cả mọi sự vận hành đó đều luôn đi tới và đẩy chúng ta đến lò thiêu, đẩy xuống huyệt, đẩy vào nấm mộ, đẩy tới nghĩa trang. Chúng ta phải bằng tuệ quán thấy được sự vận hành của ngũ uẩn, sự vận hành của hình sắc, cảm giác, suy tư, nghĩ, tưởng, nhận thức là sự vận hành của khổ; sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là sự vận hành của trống rỗng, duyên sanh, lắp ráp, chỉ là sự đứng vững của bó lau và bó sậy. Năm uẩn này là bó lau sậy nương vào nhau, là pháp duyên sanh, vô thường, vô ngã, trống rỗng và tất cả chúng sanh đều vô minh, khát ái nên nhận lầm năm đống khổ này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Biết bao lo lắng, bất an, sợ hãi, sầu khổ, nước mắt, bệnh tật, tai nạn, hoạn nạn, chết chóc, ràng buộc, trói trăn trong thân này.
Thân trống rỗng không ai trong đó,
Tâm vào đây làm tổ chi tâm,
Tâm vào đây làm ổ làm gì,
Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.
Khổ Thánh Trí về năm uẩn
Trong bài kinh “Khổ”, Tương Ưng Bộ III, Đức Phật có dạy:
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Đức Phật thuyết về khổ, nguyên nhân sanh khởi khổ đau, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến diệt tận khổ đau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ?
Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo.
Sự nắm chặt, chấp thủ vào ngũ uẩn này là khổ. Tức là sự nắm chặt vào tổ hợp của sắc; sự nắm chặt vào tổ hợp của cảm thọ; sự nắm chặt vào tổ hợp của các hình bóng trong tâm – tưởng uẩn; sự nắm chặt vào tổ hợp của những nghĩ ngợi, suy tư – hành uẩn; sự nắm chặt vào tổ hợp của những nhận thức rõ biết chính là khổ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi?
Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Đức Phật nói nguyên nhân sanh khởi ra khổ đau chính là khát ái, tức là sự yêu thích vào năm tổ hợp của ngũ uẩn. Cụ thể là sự yêu thích, khao khát đối với sắc chất, hình thể, đồ vật, cảnh vật này, yêu thích thân xác xương da, mủ máu, đó là nguyên nhân sanh khởi ra khổ. Khát ái là sự khao khát, yêu thích để có được sắc thân; khao khát, yêu thích để có được những cảm giác; khao khát, yêu thích để có được những hình bóng trong tâm; khao khát, yêu thích những suy nghĩ về tôi và của tôi; khao khát, yêu thích những sự rõ biết, nhận thức này là tôi, là của tôi. Chính sự yêu thích và khao khát trong năm tổ hợp này đẩy chúng sanh đi vào một đời sống tiếp theo, bị sanh ra.
Trong “Kinh Thánh Cầu”, Đức Phật nói có người tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh lại tìm cầu cái bị bệnh tật, ốm đau, tự mình bị chết lại tìm cầu cái bị chết chóc và tử vong... Còn Như Lai cũng bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết nhưng Như Lai đi tìm cái không sanh, đi tìm cái không già, đi tìm cái không bệnh và đi tìm cái bất tử. Đó chính là sự tìm cầu của bậc Thánh.
Chính sự khát ái, yêu thích và khao khát trong năm thủ uẩn là động lực, là nguyên nhân, là gốc rễ đưa đến tái sanh, đưa đến sự sanh ra của một đời sau, cùng với một tâm ham muốn, yêu thích trong năm uẩn. Cho nên chúngs sanh cứ ham muốn thân xác này và khoan khoái, hài lòng, nắm giữ, chấp thủ những cảm giác, suy tư, nghĩ, tưởng, nhận thức. Sau đó tìm cầu vui sướng hết chỗ này đến chỗ kia, chạy chỗ này tìm vui, chạy chỗ kia tìm sướng, chạy chỗ nọ tìm hỷ, chạy chỗ khác tìm lạc… nhưng có chạy đi đâu chăng nữa cũng là chạy trong ba chỗ: hữu ái, dục ái, phi hữu ái. Vì chạy trong thế giới yêu thích dục nên có mặt ở dục giới; chạy trong thế giới yêu thích sự hiện hữu nên có mặt trong những hình sắc vi tế, nhỏ nhiệm của chư Thiên; chạy trong sự yêu thích thế giới chẳng có hình sắc, gọi là phi hữu ái. Từ đó tạo nên Tam giới, gồm ba cõi: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Như vậy, nguyên nhân của khổ sanh khởi chính là khát ái, tức là sự khao khát và yêu thích năm uẩn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ đoạn diệt?
Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ đoạn diệt.
Khổ chấm dứt chính là sự lìa tham, đoạn diệt, chấm dứt hoàn toàn, không còn xót một chút nào về khát ái, khao khát, yêu thích đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nhờ thấy được tính chất vô thường, khổ, vô đau, trống rỗng của năm uẩn dẫn đến sự rời bỏ, từ bỏ, thoát ra, thoát ly khỏi mọi dính mắc trong năm uẩn nên được gọi là khổ đoạn diệt. Thế nên, chấm dứt khổ là chấm dứt hoàn toàn sự ưa thích và tham muốn đối với năm uẩn: không ham muốn sắc; không muốn cảm giác; không ham muốn những hình bóng trong tâm; không ham muốn những suy nghĩ về ta, tôi mà phải từ bỏ hoàn toàn, diệt tận những suy nghĩ đó tận gốc rễ; cuối cùng là từ bỏ sự chấp thủ vào trong sáu thức. Như vậy, khi không còn sót lại bất cứ một chút khát ái nào đối với năm uẩn, hoàn toàn rời xa, từ bỏ, thoát ra, giải thoát khỏi mọi dính mắc đối với năm uẩn gọi là khổ đoạn diệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt?
Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh III, C. Năm Mươi Kinh Sau. I. Phẩm Biên, bài kinh Khổ)
Và con đường đưa đến khổ đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, gồm: thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng và quán đúng của bậc Thánh. Chính con đường Tám đúng của bậc Thánh này là con đường đưa đến sự chấm dứt toàn bộ khổ đau. Đây chính là con đường đoạn tận khát ái, ly tham đối với năm uẩn, là con đường chứng ngộ của bậc Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ, ngoài con đường này ra thì không còn con đường nào khác.
Như vậy, qua những thảm cảnh khổ đau của đại dịch Covid-19, chúng ta đã nghe, thấy, cảm nhận, thức tri về sự khổ của cuộc đời. Cùng với sự trùng tuyên Thánh giáo chánh tạng Nikāya trong bài kinh “Khổ”, Tương Ưng Bộ tập III, tất cả chúng ta cùng thiền quán sâu sắc về bản chất của cuộc đời để tri kiến này ngấm sâu vào cảm thọ, suy tư, nhận thức. Đó chính là động lực cho chúng ta tiến bước mạnh mẽ trong sự thấy biết về bản chất của đời sống này một cách thấu đáo, tận tường, nhờ đó sanh khởi sự nhàm chán, hướng đến từ bỏ, ly tham, thoát ra. Vì vậy, đây là con đường tối thượng, là Thánh đạo mà Đức Thế Tôn đã truyền lại cho chúng ta.
Kính chúc tất cả luôn tinh tấn trong chánh kiến vi diệu tối thượng này!
./.