Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Niệm Tử - Nhớ Mình Sẽ Chết

2026-03-03 00:52:18
Kinh Nikāya Giảng Giải

Niệm Tử

Nhớ Mình Sẽ Chết

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhớ mình sẽ chết PAGEREF _Toc174200234 \h 1

II. Tận lực tu hành PAGEREF _Toc174200235 \h 5

III. Thực hành niệm chết PAGEREF _Toc174200236 \h 10

I. Nhớ mình sẽ chết

Kính thưa đại chúng, chiều nay Minh Thành có nghe cuộc điện thoại trong nước mắt ràng rụa "Thầy ơi! Cứu thím Bảy", đây là người thím thứ bảy của Minh Thành đã nằm một chỗ năm sáu năm nay, bây giờ bị nhiễm bệnh phải đưa đi cách ly. Những người có chuyên môn đã nói gia đình chuẩn bị tinh thần đón nhận tin xấu nhất, tiếp theo đó là một thầy lớn tuổi bị tai biến nặng phải nhập viện. Chúng ta cùng hướng tâm an trú trong chánh pháp, tâm thương này hướng đến tất cả những người đang bệnh khổ, đang sầu đau, không có sự an ổn trong các hành, không có sự an toàn trong uẩn xứ giới này.

Hằng ngày chúng ta nghe những tin tức như vậy để càng tinh tấn hơn nữa trong thiện pháp, trong chánh pháp, trong Thánh pháp.

"Ta thấy người khác chết.

Trong lòng nóng xót xa!

Chẳng phải xót kẻ mất.

Vì sẽ đến phiên ta!"

Hãy an trú tâm vào những lời Thánh pháp thường xuyên. Đặt cảm thọ của mình vào trong sự thật. Vừa hết cô thì đến thím, người thím đạo khác nhưng nghiệp quả cũng rất xót xa, phải nằm một chỗ suốt năm sáu năm trời, mình có tấm thân lành lặn như vầy, có tinh thần minh mẫn như vầy, có môi trường Thánh pháp như vầy mà không nỗ lực tu thì rất hoang phí, uổng phí cho cuộc đời này.

Đó là kinh Nikāya sống, đó là những đề tài thiền quán, hãy cảm nhận một cách sâu sắc chứ đừng cảm nhận cạn cợt và an trú luôn trong cảm thọ đó thường xuyên. Trong Tăng Chi Bộ có hai bài kinh về niệm chết, có khi chúng ta dùng từ niệm tử, đây là một pháp tu giúp cho mình nhìn thấy được sự thật và xả bỏ tâm ham muốn, dính mắc, hơn thua trong cuộc đời này. Chúng ta sẽ nghe bài số 2 trước rồi nghe bài số 1 sau.

"Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo:

- Niệm chết, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Tu tập niệm chết như thế nào, làm cho sung mãn niệm chết như thế nào thời đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi ngày vừa tàn và đêm vừa an trú, suy tư như sau: 'Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: 'Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rít có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ trở ngại cho ta. Ta có thể vấp ngã và té xuống. Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay mật có thể khuấy động ta, đàm có thể khuấy động ta. Các gió như kiếm có thể khuấy động ta. Và như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta'. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: 'Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta'". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))

Phải nhớ về sự chết để thể nhập đến chỗ không chết. Nếu những pháp ác chưa được tẩy sạch, chưa được rửa hết, chưa được thanh lọc mà ta lỡ chết trong đêm nay thì đó là chướng ngại cho ta. Mình sẽ rơi vào những đường ác, có khả năng bị sa đọa, mình chưa vào được Dự Lưu thì có khả năng rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú, đọa xứ, như vậy gọi là chướng ngại. Mình chưa vào được địa vị bất thối chuyển đối với Khổ Thánh Trí, mình chưa tịnh tín bất động đối với pháp, chưa thành tựu thể nhập vô ngã trí, chưa xác quyết hoàn toàn ngũ uẩn này là khổ đau.

Mình còn yêu thích, còn tham đắm, còn nắm giữ, còn mong muốn nó hiện hữu trong tương lai như vầy như khác, lỡ mình chết bất thình lình thì rất nguy hiểm, có khả năng rơi vào ba đường ác. Khi cận tử nghiệp mà mình không có chánh niệm tỉnh giác, niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm giới, mình không có người nhắc nhở mà lại ở trong tâm hoảng loạn, hốt hoảng, kinh hoàng trong khi phước đức, trí tuệ chưa đầy đủ thì đó là tai họa lớn.

"Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo trong khi suy xét như vậy, biết được như sau: 'Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta', thời này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))

Nếu tự xét thấy trong người còn tham, sân, si, còn bản ngã, còn những pháp ác bất thiện thì phải dốc hết sức mình tác động ước muốn. Tận lực là dốc hết sức tác động tâm ý (tác ý), nhắc nhở, khích lệ, quở trách, rầy la, làm bản thân phát khởi lên sự tinh cần, tinh tấn, nỗ lực không thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác để đoạn trừ những pháp bất thiện đó, những thứ mà nhận diện ngũ uẩn mình thấy được nó.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))

Giống như mình quấn khăn trên đầu mà khăn bị cháy, mặc áo trên người mà áo bị cháy thì phải dốc hết sức, nỗ lực, tìm đủ mọi cách nhưng phải cẩn thận, suy xét tìm cách hiệu quả dập tắt lửa. Không được để ý những cái khác, bây giờ đầu cháy, áo cháy thì để ý ai nữa, dồn hết tâm ý vào việc dập tắt ngọn lửa đang cháy trên đầu hay đang cháy trên áo. Người chân tu thật học giờ phút nào cũng lo dập lửa, làm gì có thời gian hơn thua người ta, chỉ trích người ta, chỉ lo dập lửa cháy trên đầu, dập lửa cháy trên áo.

Đức Thế Tôn nói thường tu tập nhớ về cái chết, người nào làm cho nhớ về cái chết được đầy đủ, trọn vẹn thì người đó sẽ có kết quả rất lớn, lợi ích rất vĩ đại, người đó sẽ thể nhập vào cảnh giới bất tử. Nhớ về cái chết sẽ đạt đến chỗ không bao giờ chết, người nào nghĩ mình sống hoài thì người đó chết dài dài vì thế phải nhớ mình chết rồi mình sẽ thể nhập vào chỗ bất tử. Sau đó Thế Tôn giải thích phải nhớ chết như thế nào để có thể đạt đến bất tử, ngài nói khi ngày vừa tàn, màn đêm buông xuống thì phải tác ý, suy tư sẽ có rất nhiều lý do đưa mình đến cái chết.

Ngày xưa đơn giản nhưng hiện giờ có biết bao lý do mình có thể chết, ăn chay cũng bị ngộ độc, uống nước cũng có thể chết, đi tắm cũng có thể mất mạng (đột quỵ), có rất nhiều chuyện khi chiêm nghiệm sẽ thấy phổ quát hết chân lý của Đức Phật, không ai nghĩ đi phơi đồ chết nhưng lại có thật ở Sài Gòn. Có một cô sống gần đường ray xe lửa, cô ra lấy đồ phơi gần đường ray thì đúng lúc xe lửa đến nhưng cô vẫn ráng lấy thế là bị xe lửa cán chết. Làm sao có thể nghĩ rằng bị xe lửa tông chết chỉ vì đi lấy quần áo? Hoặc có ai nghĩ rằng mất mạng vì tạo dáng chụp hình?

Đứng ở trên các đồi cao tạo dáng rồi trượt chân té chết. Có vô số cái chết đến bất ngờ không ai có thể lường trước được, những người bị nhiễm bệnh và những người chết vì nhiễm bệnh có ngờ rằng bọn họ sẽ nhiễm hoặc sẽ chết vì dịch bệnh không? Những người bị tai nạn giao thông, tai nạn hàng không, tai nạn nghề nghiệp, trước đó họ có biết họ chết vì những nguyên nhân đó không? Nếu biết là họ đã tránh, đằng này không ai có thể biết được, tất cả đều nằm trong sự không biết, không ngờ nhưng tâm vô minh lại nghĩ là chắc chắn. Ngày xưa Minh Thành qua nước ngoài chia sẻ pháp là trước khi đi đã di chúc ghi âm lại mọi thứ, mỗi lần lên xe đều có suy nghĩ không chắn chắn sẽ đến được nơi cần đến.

Một ngày có biết bao tai nạn xảy ra cho nên cần phải niệm tử, phải thường nhớ mình sẽ chết. Mình đi chích vaccine có chuẩn bị tinh thần, có chuẩn bị tâm lý không? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết, hiện nay ở các thành phố lớn trên thế giới bị ô nhiễm môi trường, bụi mịn dày đặc trong không khí, ở nước mình cũng vậy thôi.

Đó là cái thở thôi cũng có thể làm mình bệnh chết chứ đừng nói gì đến đi đứng, nói qua nói lại rồi đâm nhau chết, chỉ có một tấm hình cũng có thể xảy ra án mạng, chỉ một ánh nhìn thôi cũng có thể xảy ra thảm sát. Có bao giờ mà những ác bất thiện pháp sung mãn, hưng thịnh, lừng lẫy giống như bây giờ không? Một tiếng đốt pháo làm giật mình cũng xảy ra án mạng, cãi nhau vì năm ngàn tiền gửi xe rồi lấy nón bảo hiểm đập đầu nhau, lấy dao đâm nhau.

Có ai nghĩ chỉ vì vài đồng tiền lẻ giữ xe mà có người mất mạng không? Đi đến nơi chích ngừa nhưng thuốc chưa kịp phát huy tác dụng đã bị lây bệnh, đi đến nơi nhận đồ ăn từ thiện cuối cùng bị lây bệnh rồi chết. Trên đời này không có chỗ nào là an toàn cho nên cần phải niệm tử thường xuyên, đó đều là những cách để tác ý, có như vậy trí huệ mới được tăng trưởng, phát triển, tỏa sáng, bừng sáng, nếu không tâm sẽ u ám.

Đó là những thứ bên ngoài, còn bên trong là tim, gan, đàm, mật… hệ tuần hoàn, hệ hô hấp bên trong nếu bất thình lình có vấn đề cũng có thể đưa đến cái chết, như vậy đó là chướng ngại cho ta. Nếu trong tâm còn dục ái, tham, sân, si, bản ngã mà lỡ mình chết trong đêm nay thì đó là những chướng ngại sẽ đưa chúng ta đến ác thú, khổ cảnh, đọa xứ. Ác thú là đường ác, nẻo ác, đọa xứ là những nơi trong bóng đêm, trong khổ đau.

II. Tận lực tu hành

Khi nhận diện ngũ uẩn thấy được thọ; tưởng; hành thì mình sẽ biết bản thân có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận mà lỡ chết thì đó là chướng ngại. Sống trong thời đại này ai có thể đảm bảo bản thân an toàn 100%? Bất thình lình xe cấp cứu đến hụ còi chở đi thì có thể vài ngày sau trả lại gia đình là một hủ cốt cho nên để đoạn tận, chấm dứt hết ác bất thiện pháp thì người đó cần "tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác".

Tận lực là dốc hết sức, tác động nghĩa là tác động tâm ý phát khởi ước muốn đoạn tận các ác bất thiện pháp, đó cũng là Dục Như Ý Túc. Tinh nghĩa là ròng rặc không bị pha tạp, tấn là tiến lên, trong tâm chỉ có một điều duy nhất là tẩy sạch, diệt tận tất cả ác bất thiện pháp, ngoài cái này không có cái nào khác chen vào thì mới gọi là tinh, trong việc đó mình cứ tiến tới để làm liên tục thì mới gọi là tấn. Nghĩa là trong tâm chỉ có một suy nghĩ, suy tư, ước muốn là dẹp bỏ, đoạn tận tất cả ác bất thiện pháp thì đó là tinh, toàn bộ ngũ uẩn vận hành theo tinh tấn.

Cần nghĩa là chuyên cần trong công việc, trong học tập, lúc nào cũng nhìn cảm thọ kiểm tra trong đó có dục, sân, bản ngã không, ngủ dậy là tác ý rầy la lập tức, đó là tinh cần. Hai chữ tinh tấn, tinh cần không phải dễ hiểu để có thể thực tập được, trong mỗi ý nghĩ đều nghĩ về việc siêng năng, nỗ lực và tiến lên trong công việc. Đối với việc làm đoạn tận các ác và bất thiện pháp không được thối lui mà chỉ có tiến tới.

Toàn bộ sự để ý khi nói, cười, im, thức, ngủ, co, duỗi, cúi, ngước đều phải xem có ác bất thiện pháp không, nếu có là lập tức đánh đuổi, tẩy trừ thì mới gọi là chánh niệm, đó là một sự nhìn ngó vào bên trong ngũ uẩn xem cấu uế, cấu nhiễm ở chỗ nào là dọn rửa, lau chùi, tắm gội, tẩy sạch ngay. Đức Phật nói vị A-la-hán là người tắm gội sạch sẽ, có như vậy mới gọi là chánh niệm chứ không chỉ đơn giản là đi biết đi, ngồi biết ngồi, đứng biết đứng, nằm biết nằm. Trong cái đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước, nói, im đó có cái gì ở trong, phải thấy được điều này.

Trong phần thực hành ba pháp có nội tâm tỉnh giác, nghĩa là phải thấy rõ được thọ; tưởng; hành, thấy được thọ; tưởng; hành để xem trong này có tham, sân, si không. Nếu có tham, sân, si là tác ý quét dọn, quán chiếu tẩy sạch, đó là công năng của nhận diện năm uẩn và thực hành ba pháp. Dồn tất cả tâm lực, sức lực, trí lực, hạnh lực, nguyện lực, thần lực, tinh tấn lực, mãnh hổ lực, niệm – định – tuệ lực để đánh đuổi ác bất thiện pháp. Còn nếu không nhìn vào trong thì làm sao thấy được nó, đã không thấy thì không thể đoạn tận, chấm dứt, thậm chí được chỉ dạy cũng không thấy hoặc là nổi sân lên, sanh khởi bản ngã. Như vậy thì làm sao tu được?

Thế Tôn đưa ra hình ảnh người này đang bị cháy khăn quấn trên đầu, muốn dập tắt thì người này phải dốc hết sức mình, tìm chỗ gần nhất có nước hoặc những thứ có thể dập lửa, nỗ lực, tỉnh táo, sáng suốt dập lửa. Ngày xưa nhà Minh Thành có bán xăng dầu, người anh của Minh Thành cùng với người mua đang đong xăng thì bất ngờ xăng bốc cháy lên nóc nhà rồi anh và người mua chạy vào toilet đóng cửa lại.

Cứ nghĩ đóng cửa lại không thấy lửa là không có lửa, quýnh quáng, hốt hoảng lên rồi không chạy ra ngoài mà lại chạy ngược vào toilet trong nhà đóng cửa lại, cho nên khi không có chánh niệm tỉnh giác, nói dễ hiểu là không tỉnh táo và sáng suốt thì lúc đó bối rối, tinh thần hoảng loạn không định hướng được vì thế chánh niệm tỉnh giác là bình tĩnh, sáng suốt, tỉnh táo để nhìn ra được cách thức thoát ra khỏi ngọn lửa, cách thức dập tắt được nó. Đối với tâm cũng bị những ngọn lửa của ham muốn, bị những ngọn lửa của hơn thua, đúng sai, thị phi, cao thấp, nhân ngã bỉ thử, bị những ngọn lửa của nóng giận, bức xúc, nhiệt não, bản ngã, tôi ta, mi tớ thiêu đốt ngày đêm trong tim, trong đầu.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Chỉ có tâm chấp ngã hơn thua

Ngày đêm thiêu đốt tim gan máu

Đốt cháy tâm can trong giận sân.

Nó đốt cháy mình trong bản ngã, trong hơn thua. Nếu mình không dốc hết sức tác động ước muốn, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực tiến lên, tỉnh táo và sáng suốt để nhìn thấy sự nhen nhóm của những mồi lửa đó, của những thuốc nổ, lựu đạn, súng ống đó thì làm sao có thể ngăn chặn được nó? Ở ngoài thấy mát mẻ nhưng bên trong là nóng bức, khó chịu, nếu mình không tự cứu mình thì ai có thể cứu được mình.

Khi Minh Thành về ngồi kế cô Sáu thấy cô lấy hơi lên trong sự khó khăn, đau khổ thì Minh Thành rất xúc động, dù có anh chị em ruột kế bên, có con cháu kế bên nhưng ai là người có thể chịu bệnh thay thế cho mình được, nghiệp quả mình làm mình phải chịu chứ không có bất cứ một ai, dù là cha mẹ, anh chị, bà con, cô bác, thầy trò, huynh đệ có thể chịu thay cho mình. Những ác nghiệp mình đã làm, những tội lỗi mình đã làm thì chính mình phải gánh lấy, phải chịu quả báo khi chín muồi, chính vì vậy cần phải tu để dập tắt những động cơ, những mầm móng có thể sanh khởi ra ác nghiệp, mình dập tắt nó từ trong trứng nước, chỉ có cách này mới đi đến chỗ sạch sẽ hoàn toàn và chấm dứt các nghiệp.

Bây giờ không nhìn ra được thọ; tưởng; hành, không nhìn ra được những suy tư ngấm ngầm, những cảm giác, tư tưởng, hình bóng trong tâm thì làm sao ngăn chặn nổi? Nó sẽ thiêu đốt chúng ta mãi mãi, nó đốt cháy tâm can chúng ta trong dục tham, bản ngã ác độc. Chỉ có cách quay trở lại và dồn hết tâm tư, dồn hết tâm ý, tinh cần, tinh chuyên, ròng rặc nội quán để nhìn ra mầm móng, sự khởi động của nó, mình đào bới gốc rễ, mé cành, chặt cây, băm nó ra thành trăm mảnh để thiêu đốt nó hoàn toàn thì mình mới hết khổ.

Ngoài cách này ra không còn cách nào khác, dù có Thánh Tăng kề cận nhưng mình không chịu tu, không chịu nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì mình vẫn đọa như thường, một khi nghiệp quả đến thì không có cha con, mẹ con, chị em, anh em gì nữa, không ai chết thay được cho ai, không ai chịu khổ được cho ai. Vì thế người trí chỉ lo một chuyện duy nhất là các ác bất thiện pháp chưa được đoạn tận bên trong, bậc hiền trí lo đoạn tận tham, sân, si, bản ngã, dục ái, đó là mối lo của bậc hiền trí, còn kẻ ngu lo vô số chuyện.

Đức Phật đưa ra ví dụ áo bị cháy hay đầu bị cháy rất tuyệt diệu, đang bị cháy như thế thì làm sao có thời gian nhìn người này ngó người kia, làm sao có thời gian đi so đo, ganh tỵ với người khác, làm sao có thời gian cự cãi, hơn thua, tranh giành với ai. Cháy vào mặt, cháy áo, cháy vào người, phỏng người thì còn nhìn ai nữa, còn ai cứ hơn thua, tranh giành là những kẻ mù, là những người không biết tu, còn người có trí, người thấy đường không ai đi làm chuyện vô ích cả. Người có mắt, có cảm giác, có nhận thức sẽ thấy lo lắng, sợ hãi vì đang bị cháy trên đầu, trên da thịt kia mà, vì thế hình ảnh này là để cho chúng ta thiền quán, để chúng ta tác ý, đừng nhìn bất kì ai mà chỉ cần dập tắt ngọn lửa trong người là thành công.

Bên cạnh đó cũng cần sự tỉnh táo, chánh niệm và tỉnh giác thì mới thấy được đầy đủ các lậu hoặc, nếu không chỉ có thể thấy phần nào thôi vì bản thân lậu hoặc đã là một thứ qua mặt mình rồi. Lậu là rỉ chảy, thấm ướt nhưng nghĩa thâm sâu là một sự ngấm ngầm, hoặc là mê lầm, cho nên lậu hoặc là cái mê lầm hoạt động ngấm ngầm. Tham, sân, si thì còn dễ thấy nhưng lậu hoặc thì rất khó thấy và vi tế hơn tham, sân, si rất nhiều.

Lâu lâu mình thấy buồn mà không biết vì sao buồn, lâu lâu cảm thấy tu sao nhạt nhẽo quá, chán chường thì đó chính là dục lậu, muốn cái gì đó nhưng không biết được đó là gì mà cứ muốn, bên trong thì có cảm giác thúc giục làm này làm nọ, đi đây đi đó thì đó là hữu lậu, là một sự dao động trong tâm. Vô minh lậu còn khủng khiếp và vi tế hơn thế nữa, nhìn thấy ngồi thiền như vậy nhưng tâm không sáng tỏ, gọi trình pháp nhận diện ngũ uẩn nhưng chỉ nhận diện được chút ít hoặc nói rằng không thấy gì cả, mình ngồi trong Vân Thủy Đường có mấy chục bóng đèn nhưng vẫn còn những góc khuất thì vô minh là những chỗ mình soi không tới, những chỗ đó mình không thấy không biết, chính vì không thấy không biết nên nó mới qua mặt mình, nó mới hoạt động ngấm ngầm trong đó.

Nếu tu đúng theo thời Đức Phật là chỉ đi khất thực rồi về ngồi thiền nhìn vào nội tâm liên tục, làm chừng nào cho xong chứ không làm nhiều việc như mình bây giờ cho nên núi rừng là môi trường thích hợp để chúng ta có nhiều thời gian tu tập, nhìn lại nội tâm để dập lửa, tập trung tâm ý, siêng năng, cố gắng, nỗ lực, không thối lui mà vẫn tiến lên phía trước bằng sự bình tĩnh, tĩnh táo dù biết khó khăn, thấy rõ được những ý niệm, suy tư, thấy rõ những cảm xúc, hình bóng trong tâm để dập tắt những cái xấu ác, bất thiện trong tâm.

"Nếu Tỳ-kheo ấy, trong khi suy xét, biết được như sau: 'Ta có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta'. Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ấy cần phải sống hoan hỉ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))

Lúc nãy là nhìn lại trong tâm có những ác bất thiện pháp thì cần dốc hết sức, tác động tâm ý ước muốn để dập tắt, đoạn tận. Bây giờ nhìn lại không có thì cần sống vui vẻ, hân hoan, ngày đêm cần học tập trong các thiện pháp. Khi nhìn lại bản thân không còn ác bất thiện pháp, không còn nội tham nữa, không thấy có sự bực bội, bản ngã nữa thì vị này sống hoan hỉ, hân hoan, ngày đêm cần học tập trong các thiện pháp. Hết những cấu uế, cấu nhiễm nên hân hoan nhưng vẫn chưa xong mà vẫn phải học tập các thiện pháp ngày đêm, có khi hết ác bất thiện nhưng các lậu hoặc vẫn còn.

III. Thực hành niệm chết

"Này các Tỳ-kheo, niệm chết, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời được quả lớn, được lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (X). Niệm Chết (2))

Sau đây chúng ta sẽ qua bài niệm tử số 1, bài này là sự trình bày của các thầy Tỳ-kheo, đó là sự trình pháp cho Đức Thế Tôn.

"Một thời, Thế Tôn trú ở Nàdika, tại Ginjakàvasattha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo' – 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Niệm chết, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.

Ðược nói vậy, một Tỳ-kheo bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Vị này mong mỏi bản thân sống cả ngày lẫn đêm luôn tác động tâm ý nhớ nghĩ đến sự chết mà Đức Phật đã dạy.

"Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Vị thầy này tác ý suy nghĩ mong rằng bản thân ngài sống trọn một ngày đều nhớ nghĩ bản thân sẽ chết. Vị này thường suy tư, thường chiêm nghiệm những nguyên nhân dẫn đến cái chết mà Đức Phật đã nói.

"Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào ?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Vị này mong rằng ngài sống trọn nửa ngày nhớ đến lời dạy của Thế Tôn về niệm chết.

"Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào ?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn một phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn". Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết'. (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Bây giờ giảm từ từ là còn ăn một phần đồ ăn khất thức là còn tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, nghĩa là còn ăn là còn nhớ nghĩ, còn chiêm nghiệm về sự chết. Ngay cả trong khi ăn cũng không quên nhớ nghĩ về cái chết, bình thường khi ăn thì nghĩ về món ăn ngon dở, mặn nhạt nhưng trong khi ăn cũng nhớ nghĩ đến sự chết, tác ý đến niệm tử mà Thế Tôn đã dạy.

"Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết" (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Vị thầy này mong rằng còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực là còn nghĩ đến lời dạy của Đức Phật về niệm chết. Từ ăn một phần bây giờ chỉ còn ăn nửa phần thôi thì cũng nhớ đến lời dạy niệm tử, niệm chết của Đức Thế Tôn.

"Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào ?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Dù chỉ còn ăn được chút ít thôi thì vẫn nhớ đến lời dạy của Thế Tôn.

" Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào ?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Vị này chỉ ăn một miếng đồ ăn nhưng vẫn nhớ tu tập niệm chết, vẫn nhớ nghĩ đến sự chết.

"Một Tỳ-kheo khác bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.

- Này Tỳ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào ?

- Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn'. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Vị này nhớ niệm chết trong từng hơi thở. Trong mỗi hơi thở, trong mỗi nắm cơm, trong mỗi bữa cơm, nửa ngày thậm chí trọn ngày đều nhớ nghĩ về sự chết được Thế Tôn dạy.

"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc". (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Thế Tôn lặp lại hết những lời của các vị Tỳ-kheo đã nói lúc ban đầu rồi ngài khen ngợi.

"Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải tu học như sau: 'Hãy sống không phóng dật. Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết, để đoạn diệt các lậu hoặc'.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập" (Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (IX). Niệm Chết (1))

Trước giờ chúng ta chỉ nghe đến niệm tử, niệm chết nhưng hôm nay chính tai chúng ta nghe lời Thế Tôn nói về niệm chết trong hai bài kinh, trong đó có một bài kinh là lời trình pháp của các vị Tỳ-kheo. Đây cũng là một pháp thực tập, qua đây chúng ta được thấy thêm một pháp nữa được Đức Phật dạy để phá các ác bất thiện và các lậu hoặc tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Tùy theo mình có nhân duyên với pháp nào thì hãy cố gắng thực tập cho sâu sắc, cho thành tựu pháp đó. Khi thường nhớ đến cái chết như hình ảnh đầu cháy, áo cháy thì những sự hơn thua, tham muốn, sân hận, bản ngã của cuộc đời này tự động bị dập tắt.

Như vậy hôm nay chúng ta được nghe thêm một pháp vi diệu của Đức Phật là niệm chết. Khi về chúng ta nằm trên gường thì hãy thấy giống như mình đang nằm trong hòm, ngày xưa có một ông già ở đây thì một hôm ông già nói rằng phát hiện ra cách tu đặc biệt, đó là mỗi ngày vào màn ngủ là thấy đang vào hòm và quán tưởng đang nằm chết trong hòm, khi giận ai thì cứ nghĩ là mình chết rồi nên buông xả rồi ngủ an lành, tâm nhẹ nhàng, thanh tịnh. Hãy quán chiếu giấc ngủ là một cái chết ngắn, còn cái chết thật sự là cái chết dài, nhớ đến cái chết để buông xả, tâm sẽ được nhẹ nhàng để tiến tu và nhớ đến hình ảnh áo cháy, đầu cháy để quay về nội tâm nỗ lực đoạn tận các ác bất thiện pháp, tinh cần, tinh tấn không thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác.

./.