Tu Và Không Tu Khác Nhau Như Thế Nào
TU VÀ KHÔNG TU KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khác nhau giữa người tu và người không tu PAGEREF _Toc114414158 \h 1
II. Xuất ly PAGEREF _Toc114414159 \h 5
I. Khác nhau giữa người tu và người không tu
Chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh có tựa “Với Mũi Tên” trong Tương Ưng Bộ, tập IV. Đây là bài kinh rất quan trọng, nếu mọi người nắm vững bài kinh này sẽ thấy sự khác biệt giữa người tu và người không tu, giữa phàm phu và thánh đệ tử. Đây là bài kinh mà Minh Thành đã đọc khoảng 100 lần vì bài này rất quan trọng, đây là bài kinh phân biệt giữa phàm phu không tu và người có tu học khác nhau như thế nào để khi Phật tử, sư đệ hoặc đệ tử hỏi mình sự khác nhau giữa người tu và người không tu là như thế nào thì mình biết chỗ hướng dẫn cũng như mình biết chỗ để thực tập.
“-- Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Người phàm phu không nghe chánh pháp khi họ cảm nhận ba cảm giác khó chịu, dễ chịu, không khó chịu không dễ chịu thì họ sẽ cảm thọ ba loại cảm giác đó. Bậc đa văn thánh đệ tử cũng biết ba loại cảm đó vì trong cuộc sống hằng ngày của mình không ra khỏi ba loại cảm giác này.
“Này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Ba dòng cảm giác này chạy khắp cơ thể, thân tâm tất cả chúng sanh, người phàm phu cũng có ba dòng cảm giác này, đa văn thánh đệ tử cũng ba dòng cảm giác này nhưng khác nhau ở chỗ nào?
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
-- Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Kẻ vô văn phàm phu là người không nghe chánh pháp, không gặp chánh pháp, không thực tập chánh pháp nên khi họ cảm xúc với cảm giác khổ đau thì họ bứt rứt, sân hận thì họ có hai cảm giác: Cảm giác bực bội của thân và của tâm. Giống như bị bắn mũi tên rồi còn bị mũi thứ hai, một lần bị bắn cả hai mũi tên.
Ngay chỗ này mình phải phân biệt cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm. Chỉ có tu tập mới nhìn ra được, nếu mình bắt buộc phải đi ra ngoài nắng gắt lúc 12h trưa thì lúc đó mình chịu bao nhiêu cảm giác? Thân bị nóng nực, mồ hôi nhễ nhại, còn cái tâm thì bực, xong rồi tức giận, sân. Đó là hai cảm giác mình có khi buộc phải đi ra ngoài đường giữa trưa nắng chói chang. Bây giờ cũng là 12h nhưng mình đi chơi, tự ý mình đi chơi Bái Đính, Cố đô Huế… thì lúc đó mình có mấy cảm giác gì? Thời tiết nóng thì mình vẫn nóng nhưng tâm mình không bực tức.
Chỗ quan trọng là đây, cảm giác khó chịu của thân và cảm giác khó chịu của tâm là hai loại cảm thọ, một cái là khổ thọ, một cái là ưu thọ, cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm. Như vậy mỗi khi mình bực bội, khó chịu lên thì mình có nhìn ra đây là cảm giác của tâm, hoặc cảm giác của thân, hay là cả hai cảm giác không? Không nhìn ra được nếu mình không tu tập, không nhận diện, không quán chiếu cảm giác, cảm thọ.
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Khi mình có cảm thọ bứt rứt thì lúc đó mình có sân, ở trong cảm thọ về thân có thể dẫn đến cảm thọ về tâm, khi đi ngoài trời nắng nóng quá thì tự nhiên trong tâm sẽ thấy bực bội, khi bực lên thì sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ, ngay lúc đó nhìn kĩ vào cảm thọ sẽ thấy sân nằm trong đó. Tùy là đi theo, miên là miên man không bao giờ dứt, cho nên trong cảm thọ bực bội đó mà sanh khởi cái sân lên thì cái sân đó an trú trong cảm thọ, nó tồn tại ở trong đó rồi trở thành hàng tồn kho, vì vậy hễ mình khó chịu là cái sân sẽ phựt lên, như thế là mình đang chấp nhận, nuôi dưỡng cái sân và làm cho nó tăng trưởng trong cảm giác khổ thọ, trong cảm giác khó chịu đó sân được duy trì, tiếp nhận, tăng trưởng và phát triển.
Học cái này rồi khi ngồi thiền nhìn lại cảm giác rồi sẽ thấy trong lồng ngực có một điểm không được thông, có một điểm bị tắt, bị nặng trong lồng ngực thì đó là uất khí và sanh khí, những người như vậy rất khó thực tập thiền định. Mình nhìn vào ngay cảm thọ rồi hóa giải nó, thực tập tâm hiền và tâm từ để hóa giải cảm giác sân khí trong cảm thọ. Thành ra những lúc bình thường mình thấy người đó hiền lắm, từ tốn lắm nhưng khi đụng chuyện phát sanh cảm giác thì mới biết người đó như thế nào, cảm giác bùng nổ ra vì cảm giác chất chứa trong đó, làm không một ai có thể ngờ vì nó đã tồn chỉ, tồn tại trong đó, mình chấp nhận nuôi dưỡng nó, làm nó phát triển tăng trưởng lớn mạnh trong nội tâm mình. Đây là kẻ vô văn phàm phu không biết tu, còn mình biết tu mà giống vậy tức là chưa biết tu.
“ Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Người đó hoan hỷ với dục lạc và tham tùy miên đối với cảm giác vui sướng đó tồn tại trong nội tâm họ. Khi có cảm giác vui sướng khởi lên mình không có quán chiếu cảm giác nên mình không biết trong cảm giác vui sướng đó có tham dục ái trong đó, ngay chỗ đó mình để cho nó hiện hữu, mình chấp nhận nó, mình để cho nó bám víu, mọc rễ, nảy mầm, lớn mạnh trong nội tâm, như vậy trong cảm giác vui sướng đó có tham ái dục, sâu sắc hơn nữa là có chấp thủ. Vì nó bám vào cảm giác vui sướng đó nên sau này sẽ đi tìm cảm giác đó nữa, đây là chỗ rất sâu sắc, đây cũng là pháp hành cho mình tu học.
Như vậy trong cảm giác vui sướng, thích thú đó thì mình có nhìn ra tham đang có mặt không? Nếu mình không có sự quán chiếu thì mình sẽ không thấy tham trú ẩn trong đó, khi kẻ phàm phu gặp cái khổ thì người đó không biết làm sao, họ không tìm thấy con đường đi ra khỏi cái khổ cho nên họ duy trì dục lạc để xoa dịu cái khổ đó vì họ không biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy.
Tập là tập hợp, khởi là sanh khởi lên. Từ đâu có ra cảm giác? Đầu tiên là có lỗ tai, có âm thanh, sau đó có nhĩ thức là sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này hội tụ tạo nên sự tiếp xúc của lỗ tai với âm thanh, gọi là nhĩ xúc sanh. Khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra cảm giác, nếu là tiếng êm ái thì vui thích, đó là ái, nếu là tiếng ồn ào, bực mình là sân, cái sân này cũng là ái, vì ái tiếng êm ái dễ chịu mà không được thì chuyển thành sân, cho nên ái dục bao trùm cả tham sân si chứ không phải ái là khác và sân là khác.
II. Xuất ly
Nếu mình muốn một cái gì mà không được thì mình bực mình, cái bực mình này dẫn đến ái, chuyện tình cảm nam nữ ngoài đời muốn mà không được thì đi nói xấu nhau hoặc là xảy ra án mạng, cái này là sân nhưng cái sân này xuất phát từ ái dục tham, vì vậy cái gốc ái dục bao phủ cả tham sân si, đây là chỗ sâu sắc của ái dục chứ không phải ái, tham, sân là ba cái riêng biệt. Như vậy khi có cảm giác sẽ ái, thích rồi bám chặt là thủ, mình phải hiểu tập khởi là do xúc tập khởi nên ái tập khởi. Do có sự tiếp xúc nên sanh ra cảm giác, do có cảm giác nên mới có yêu thích.
Thế nào là đoạn diệt? Do xúc diệt nên ái sẽ diệt. Nói như vậy là mình không tiếp xúc nữa, nhắm mắt bịt tay hay sao? Một người nghiền thuốc lá mà không có thuốc thì họ có nghiền được không? Không có xúc thì làm sao có thọ? Họ nghiền rượu mà không có rượu thì họ có nghiền không? Họ nghiền game mà không có game thì họ có nghiền không? Trước đây không có game thì làm sao họ nghiền game được? Cho nên vì có sự tiếp xúc mới có thọ, có thọ rồi có ái, có ái thì mới nghiền, mà nghiền rồi nghiện.
Cho nên khi thấy chỗ nào mình bị ái, bị dính mắc thì mình bớt xúc chỗ đó, thành ra mình hay dùng từ tránh duyên, tức là bớt tiếp xúc với những đối tượng khả lạc, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, phải hạn chế xúc với những cái này, mình xúc với trí tuệ, chánh pháp, tiếp xúc với những pháp đưa đến ly tham, từ bỏ, giải thoát, khi xúc và thọ nhận những cái pháp này sẽ đưa đến chấm dứt xúc, chấm dứt thọ, đây là chỗ thâm sâu của tạng kinh Nikāya.
Cho nên việc hộ trì căn là hạn chế tiếp xúc, nhất là với những đối tượng có thể làm sanh ra dục tham ái, vì vậy đời sống người xuất gia là phải sống trong rừng, sống trong chỗ xa vắng để hạn chế xúc, vì hễ tiếp xúc sẽ sanh thọ, thọ sanh ái. Khi nào mình thành tựu trí huệ lúc đó mình mới đi đến xúc là chỗ bất động, nhưng điều này còn xa vì giờ mình vẫn đang trên con đường tu tập cho nên mình phải nắm được sự tập khởi và sự đoạn diệt của ái, dục, tham.
Thế nào là vị ngọt? Vị ngọt này xuất hiện đầy rẫy xung quanh chúng ta, nhà phố, hàng quán, tivi… đều là vị ngọt. Khi mình xúc cái gì mà nó làm cho mình khả lạc, khả hỷ, làm cho mình khoan khoái, thích thú, vui sướng thì đó là vị ngọt của thọ. Mình tiếp xúc với bất kì cái gì mà chỗ đó làm cho mình yêu thích thì đó là vị ngọt của thọ mà chính vị ngọt này làm cho tan nát cuộc đời tu hành. Vị ngọt của cảm xúc, vị ngọt của thọ, vị ngọt của cảm giác, tất cả chúng sanh trong tâm giới, đừng nói đến có hình tướng mà ngay cả chúng sanh sắc và vô sắc cũng bị vị ngọt của cảm giác này nhấn chìm trong ba cõi.
Những chỗ du lịch trong rừng núi sâu, trong hẻm hốc xa vắng họ cũng đi tới, trên trời dưới biển cũng lặn tìm thì tất cả những cái này họ đều đi tìm vị ngọt của cảm giác. Đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác chỉ phán một câu thôi mà kết luận toàn bộ sự sanh tử luân hồi của chúng sanh, tất cả đều đi tìm cảm giác, đi tìm vị ngọt của cảm giác. Trong giờ học mà ngủ là mình bị vị ngọt của cơn buồn ngủ lôi kéo, khi vào thiền không ngồi yên được là mình bị vị ngọt của những cái tưởng, hành sai khiến.
Thế nào là sự nguy hiểm của vị ngọt? Nắm được điều này là mọi người nắm được chìa khóa mở toàn bộ tạng kinh Nikāya. Cảm giác đó là vô thường, cảm giác đó là khổ, chịu sự biến hoại. Đó là cảm giác biến đổi, chỉ một chút là hết, càng sướng chừng nào thì cảm giác đó càng chóng tàn chừng đó, người ta càng nắm giữ cảm giác đó chừng nào thì người ta càng khổ thêm chừng đó vì bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy” (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Tất cả cảm giác là vô thường, là khổ, là không thỏa mãn, tất cả cảm giác đều chịu sự biến hoại, nếu mình muốn giữa cảm giác đó lâu dài thì đó gọi là vô minh, si mê và mình sẽ đau khổ dài dài, không bao giờ chấm dứt.
Trong chuyện tình cảm, việc ăn uống, điều kiện vật chất là không bao giờ thỏa mãn, đi tìm cho thỏa mãn một chút rồi lại đi tìm nữa cho nên không bao giờ có chuyện thỏa mãn thật sự. Nói đến chuyện tình cảm, lúc trước chưa có thì đi tìm cực khổ, đến khi tìm được một người ưng ý rồi, lúc đầu chưa có thì tìm được mình nghĩ là thỏa mãn rồi, đến khi được rồi lại đi tìm cái mới, cái lạ, cứ đi tìm cảm giác hoài thì tiếp tục cái khổ, họ không biết sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác, đó là vô thường, họ đi tìm hết cảm giác này đến cảm giác khác.
Chiếc điện thoại Iphone đầu tiên ra đời mà mình nghĩ mình có được nó là mình ngon lành, năm sau ra cái mới lại để giành tiền mua cho được, mình cứ chạy theo nó không cùng không tận, cái dục ái tham cũng y như vậy. Thấy vậy vị đa văn thánh đệ tử nhàm chán đối với dục, cảm giác, sắc, do nhàm chán nên vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát, trong sự giải thoát trí khởi lên "ta đã giải thoát".
“Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".”
(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Đây là lúc khải hoàng ca của đa văn thánh đệ tử, là hoa trái của người xuất gia, thánh quả chính là thành quả của người tu. Bây giờ mình trồng cây mà không có trái là bất thường, còn mình trồng cây mà có trái là bình thường, vậy thì tại sao khi tu mà nói đến thánh quả là mình lại sợ, như vậy là bất bình thường trong sự tu. Điều bình thường là mình tu mà tiến vào thánh đạo, thánh quả là lẽ đương nhiên, vì thánh quả là thành quả của một người tu đúng theo chánh pháp.
Sự xuất ly khỏi vị ngọt chính là con đường thoát khổ, tất cả bí quyết của chánh pháp nằm ở chỗ xuất ly này. Thế nào là sự xuất ly? Đó là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tất cả cảm thọ, cảm giác. Đó là sự ra khỏi cảm giác, giải thoát khỏi cảm giác. Bây giờ làm sao để nhiếp phục dục và tham? Làm sao để đoạn tận dục và tham?
Chỗ này cần phải có thiền quán và tuệ quán và mình phải quán như thế nào? Lột da mặt này xuống sẽ tràn ra máu thịt, tràn mỡ. Hai tròng con mắt lọt xuống. Như vậy một ngàn gương mặt cũng như nhau cả thôi, già trẻ; sang hèn; cao thấp; đẹp xấu cũng chỉ là một cái đầu lâu. Một cái đầu lâu dính máu, dính mỡ, dính thịt, dính gân. Rọc bụng ra là một bộ đồ lòng, phèo phổi, tim gan, lá lách, da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy. Tìm kĩ trong này không có cái nào là Minh Thành cả, Minh Thành chỉ là một sự giả danh, không có ai ngồi ở đây, chỉ là một mớ bất tịnh, tanh hôi.
Nhìn sâu vào ba mươi hai thể trược là một tên nằm dài, xanh phồng lên, chảy nước vàng hôi thối không chịu nổi, những con quạ, chó rừng, kên kên rỉa từng miếng thịt, ngày này qua ngày nọ còn lại bộ xương dính lại chút thịt, chút máu, cho tới lúc hết gân, hết thịt chỉ còn lại bộ xương khô.
Qua năm tháng những mảnh xương nằm rải rác, xương đầu lâu nằm chỗ này, xương sườn nằm chỗ kia. Cuối cùng xương cũng tan nát thành tro bụi, cái nào là tôi, cái nào là của tôi trong này, tất cả chỉ là tứ đại cát bụi vô thường, ảo mộng thế mà mình lại ảo ảnh về tự ngã, ảo ảnh về một cái tôi, thế mà mình ảo mộng. Cuối cùng là tham sân si, bản ngã, ta đây, tật đố, hơn thua, ganh tỵ, tạo ra bao nhiêu nghiệp làm đau khổ cho nhau. Đó là sự cay đắng của kiếp người, đó là sự đáng thương của vô minh, đó là sự xót xa của ái dục, đó là sự thật mà người tu chúng ta cần phải biết, cần phải thấy, cần phải tuệ tri, thắng tri, liễu tri, thấu triệt bằng sự thiền quán thâm sâu.
Mình phải quán chiếu được như vậy hằng ngày, mỗi ngày đều có sự tu tập như vậy để phá tan ảo ảnh về tự ngã, đằng sau lớp da này là sự dối lừa khinh khiếp. Mình cứ mộng ảo với xác thân vô thường bất tịnh, dơ bẩn này, chúng ta bị lừa gạt 10 năm, 30 năm, 70 năm, chúng ta bị lừa gạt trong kiếp này, trong kiếp nữa và trong nhiều kiếp nữa mãi mãi vô cùng nếu mình không gặp được bậc Chánh Đẳng Giác. Đây là sự tu tập nhiếp phục dục và tham, đây là sự tu tập đoạn tận dục và tham, chấm dứt dục và tham, từ bỏ dục và tham đối với thọ; tưởng; hành; thức.
Đây là sự tu tập mà ngày nào cũng phải hành trì, nếu không hành trì sẽ không thể nào nhiếp phục được dục tham, dục ái, dục vọng. Phải quán chiếu điều này không thể quên được, Đức Thế Tôn gọi điều này là hương vị của bất tử, cảnh giới của bất tử, cửa mở của bất tử, con đường đưa đến bất tử. Đây là cốt lõi, là tinh hoa, là lõi cây của tạng kinh Nikāya để phá vỡ thân kiến. Khi mình nói chuyện với ai hoặc nghĩ điều gì về mình thì có một hình bóng chập chờn của mình hiện ra, khi mình nghĩ chiều nay sẽ đi đâu đó thì lúc nghĩ đó là hành, có hình bóng là tưởng mà đó là sự ảo tưởng về cái tôi, ngày nào trong lòng mình còn hình bóng lờ mờ về chính mình thì ngày đó thân kiến còn tồn tại, thân kiến còn tồn tại thì tham còn tồn tại, tham còn tồn tại thì dục còn tồn tại, dục còn tồn tại thì ái còn tồn tại, mà ái còn tồn tại thì đồng nghĩa với khổ còn tồn tại.
Cho nên ái tập khởi là khổ tập khởi, ái đoạn diệt là khổ đoạn diệt, đó là con đường chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này, đây là trái tim của Đức Thế Tôn, đây là trí huệ tối thượng của Chánh Đẳng Giác. Trí huệ này sẽ đưa mình đến chỗ công phá, diệt tận toàn bộ sào huyệt của tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã, tàn diệt năm uẩn để nó không còn tích lũy trong tương lai nữa. Ví dụ trong một chung cư cao tầng mà bị chập điện gây cháy nhà, mình chữa cháy mà đến từng phòng tắt công tắt sẽ không kịp lại vất vả, có khi chưa kịp làm đã cháy rụi cả chung cư. Người thông minh sẽ đi ngắt cầu dao tổng chứ không cần đi tìm cầu dao từng phòng.
Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật chỉ cho mình biết cách làm cho ngũ uẩn sanh thì sẽ biết cách làm cho ngũ uẩn diệt, chấm dứt hẳn, chỗ thâm sâu nhất của Nikāya chính là đoạn tận được hữu ái. Bây giờ mình đoạn cái ăn, đoạn cái ngủ, đoạn hoài đoạn không được mà bây giờ mình đoạn ngay chỗ không còn ưa thích sự hiện hữu trong cái thân năm uẩn này nữa, đó là mình tắt cầu dao tổng. Mình nhàm chán dòng luân hồi này, mình quán cho sâu sắc cái thân bất tịnh nhơ nhớp, đầy bệnh hoạn, gớm ghiếc này, cái thân chín lỗ chảy ra bao nhiêu chứng bệnh ung thư… phải nhìn sâu vào toàn bộ khổ uẩn để thấy bản chất của thân này, của đời sống này là khổ, khi đó mình muốn chấm dứt vòng luân hồi, không muốn tiếp tục trong sanh tử thì đó gọi là tắt cầu dao tổng.
Xét sâu vào trong nội tâm thì mình vẫn chưa muốn gạt cầu dao này xuống vì mình chưa thấy cái luân hồi sanh tử này là cái gớm ghiếc, đáng sợ, mình chưa thấy sự thống khổ. Đức Phật nói người xuất gia chân chánh là người thật sự cố gắng nỗ lực để thành tựu trí huệ để thấy đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là chỗ chấm dứt khổ và con đường đưa đến cảnh giới giải thoát thì đó là người xuất gia chân chánh, là bậc đa văn thánh đệ tử, là bậc hướng Dự lưu, là bậc Nhập pháp lưu, là bậc thành tựu thánh trí, là bậc Tu-đà-hoàn quả.
Đó mới là người xuất gia chân chánh, căn cứ vào pháp nghĩa trong tạng kinh thì mình thấy bây giờ có bao nhiêu người xuất gia chân chánh? Rất là hổ thẹn, mình không thấy nhàm chán đối với cái thân năm uẩn này, nó xấu vô cùng mà nhìn gương một lúc mỉm cười cũng thấy có chỗ đẹp, những người tật nguyền có 1m2 thôi mà họ nhìn họ cũng thấy đẹp, đó là vô minh và si mê. Nếu mình không học được kinh tạng này, không nghe nhiều chánh pháp, không quán chiếu và không tu tập thì không bao giờ có thể thành tựu được trí huệ này.
Thành tựu được trí huệ này rồi thế giới bùng nổ, tất cả sắc pháp chỉ là trống không, nó làm cho mình có sự xuất ly siêu việt, đây là trí huệ tối thượng của Chánh Biến Tri. Người nào muốn tu quyết liệt phải thể nhập trí huệ này vì nó có công năng đoạn tận, công phá, đập vỡ hết tất cả sào huyệt của vô minh, tham ái và chấp thủ. Nó đòi hỏi mình phải có sự lắng nghe rất nhiều, phải có sự tư duy quán chiếu tu tập liên tục, phải tinh cần tinh tấn nỗ lực không ngừng nghỉ.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khác nhau giữa người tu và người không tu PAGEREF _Toc114414158 \h 1
II. Xuất ly PAGEREF _Toc114414159 \h 5
I. Khác nhau giữa người tu và người không tu
Chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh có tựa “Với Mũi Tên” trong Tương Ưng Bộ, tập IV. Đây là bài kinh rất quan trọng, nếu mọi người nắm vững bài kinh này sẽ thấy sự khác biệt giữa người tu và người không tu, giữa phàm phu và thánh đệ tử. Đây là bài kinh mà Minh Thành đã đọc khoảng 100 lần vì bài này rất quan trọng, đây là bài kinh phân biệt giữa phàm phu không tu và người có tu học khác nhau như thế nào để khi Phật tử, sư đệ hoặc đệ tử hỏi mình sự khác nhau giữa người tu và người không tu là như thế nào thì mình biết chỗ hướng dẫn cũng như mình biết chỗ để thực tập.
“-- Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Người phàm phu không nghe chánh pháp khi họ cảm nhận ba cảm giác khó chịu, dễ chịu, không khó chịu không dễ chịu thì họ sẽ cảm thọ ba loại cảm giác đó. Bậc đa văn thánh đệ tử cũng biết ba loại cảm đó vì trong cuộc sống hằng ngày của mình không ra khỏi ba loại cảm giác này.
“Này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Ba dòng cảm giác này chạy khắp cơ thể, thân tâm tất cả chúng sanh, người phàm phu cũng có ba dòng cảm giác này, đa văn thánh đệ tử cũng ba dòng cảm giác này nhưng khác nhau ở chỗ nào?
“Ở đây, này các Tỳ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
-- Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Kẻ vô văn phàm phu là người không nghe chánh pháp, không gặp chánh pháp, không thực tập chánh pháp nên khi họ cảm xúc với cảm giác khổ đau thì họ bứt rứt, sân hận thì họ có hai cảm giác: Cảm giác bực bội của thân và của tâm. Giống như bị bắn mũi tên rồi còn bị mũi thứ hai, một lần bị bắn cả hai mũi tên.
Ngay chỗ này mình phải phân biệt cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm. Chỉ có tu tập mới nhìn ra được, nếu mình bắt buộc phải đi ra ngoài nắng gắt lúc 12h trưa thì lúc đó mình chịu bao nhiêu cảm giác? Thân bị nóng nực, mồ hôi nhễ nhại, còn cái tâm thì bực, xong rồi tức giận, sân. Đó là hai cảm giác mình có khi buộc phải đi ra ngoài đường giữa trưa nắng chói chang. Bây giờ cũng là 12h nhưng mình đi chơi, tự ý mình đi chơi Bái Đính, Cố đô Huế… thì lúc đó mình có mấy cảm giác gì? Thời tiết nóng thì mình vẫn nóng nhưng tâm mình không bực tức.
Chỗ quan trọng là đây, cảm giác khó chịu của thân và cảm giác khó chịu của tâm là hai loại cảm thọ, một cái là khổ thọ, một cái là ưu thọ, cảm giác của thân khác với cảm giác của tâm. Như vậy mỗi khi mình bực bội, khó chịu lên thì mình có nhìn ra đây là cảm giác của tâm, hoặc cảm giác của thân, hay là cả hai cảm giác không? Không nhìn ra được nếu mình không tu tập, không nhận diện, không quán chiếu cảm giác, cảm thọ.
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Khi mình có cảm thọ bứt rứt thì lúc đó mình có sân, ở trong cảm thọ về thân có thể dẫn đến cảm thọ về tâm, khi đi ngoài trời nắng nóng quá thì tự nhiên trong tâm sẽ thấy bực bội, khi bực lên thì sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn chỉ, ngay lúc đó nhìn kĩ vào cảm thọ sẽ thấy sân nằm trong đó. Tùy là đi theo, miên là miên man không bao giờ dứt, cho nên trong cảm thọ bực bội đó mà sanh khởi cái sân lên thì cái sân đó an trú trong cảm thọ, nó tồn tại ở trong đó rồi trở thành hàng tồn kho, vì vậy hễ mình khó chịu là cái sân sẽ phựt lên, như thế là mình đang chấp nhận, nuôi dưỡng cái sân và làm cho nó tăng trưởng trong cảm giác khổ thọ, trong cảm giác khó chịu đó sân được duy trì, tiếp nhận, tăng trưởng và phát triển.
Học cái này rồi khi ngồi thiền nhìn lại cảm giác rồi sẽ thấy trong lồng ngực có một điểm không được thông, có một điểm bị tắt, bị nặng trong lồng ngực thì đó là uất khí và sanh khí, những người như vậy rất khó thực tập thiền định. Mình nhìn vào ngay cảm thọ rồi hóa giải nó, thực tập tâm hiền và tâm từ để hóa giải cảm giác sân khí trong cảm thọ. Thành ra những lúc bình thường mình thấy người đó hiền lắm, từ tốn lắm nhưng khi đụng chuyện phát sanh cảm giác thì mới biết người đó như thế nào, cảm giác bùng nổ ra vì cảm giác chất chứa trong đó, làm không một ai có thể ngờ vì nó đã tồn chỉ, tồn tại trong đó, mình chấp nhận nuôi dưỡng nó, làm nó phát triển tăng trưởng lớn mạnh trong nội tâm mình. Đây là kẻ vô văn phàm phu không biết tu, còn mình biết tu mà giống vậy tức là chưa biết tu.
“ Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, 6. VI. Với Mũi Tên).
Người đó hoan hỷ với dục lạc và tham tùy miên đối với cảm giác vui sướng đó tồn tại trong nội tâm họ. Khi có cảm giác vui sướng khởi lên mình không có quán chiếu cảm giác nên mình không biết trong cảm giác vui sướng đó có tham dục ái trong đó, ngay chỗ đó mình để cho nó hiện hữu, mình chấp nhận nó, mình để cho nó bám víu, mọc rễ, nảy mầm, lớn mạnh trong nội tâm, như vậy trong cảm giác vui sướng đó có tham ái dục, sâu sắc hơn nữa là có chấp thủ. Vì nó bám vào cảm giác vui sướng đó nên sau này sẽ đi tìm cảm giác đó nữa, đây là chỗ rất sâu sắc, đây cũng là pháp hành cho mình tu học.
Như vậy trong cảm giác vui sướng, thích thú đó thì mình có nhìn ra tham đang có mặt không? Nếu mình không có sự quán chiếu thì mình sẽ không thấy tham trú ẩn trong đó, khi kẻ phàm phu gặp cái khổ thì người đó không biết làm sao, họ không tìm thấy con đường đi ra khỏi cái khổ cho nên họ duy trì dục lạc để xoa dịu cái khổ đó vì họ không biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy.
Tập là tập hợp, khởi là sanh khởi lên. Từ đâu có ra cảm giác? Đầu tiên là có lỗ tai, có âm thanh, sau đó có nhĩ thức là sự rõ biết âm thanh. Ba pháp này hội tụ tạo nên sự tiếp xúc của lỗ tai với âm thanh, gọi là nhĩ xúc sanh. Khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra cảm giác, nếu là tiếng êm ái thì vui thích, đó là ái, nếu là tiếng ồn ào, bực mình là sân, cái sân này cũng là ái, vì ái tiếng êm ái dễ chịu mà không được thì chuyển thành sân, cho nên ái dục bao trùm cả tham sân si chứ không phải ái là khác và sân là khác.
II. Xuất ly
Nếu mình muốn một cái gì mà không được thì mình bực mình, cái bực mình này dẫn đến ái, chuyện tình cảm nam nữ ngoài đời muốn mà không được thì đi nói xấu nhau hoặc là xảy ra án mạng, cái này là sân nhưng cái sân này xuất phát từ ái dục tham, vì vậy cái gốc ái dục bao phủ cả tham sân si, đây là chỗ sâu sắc của ái dục chứ không phải ái, tham, sân là ba cái riêng biệt. Như vậy khi có cảm giác sẽ ái, thích rồi bám chặt là thủ, mình phải hiểu tập khởi là do xúc tập khởi nên ái tập khởi. Do có sự tiếp xúc nên sanh ra cảm giác, do có cảm giác nên mới có yêu thích.
Thế nào là đoạn diệt? Do xúc diệt nên ái sẽ diệt. Nói như vậy là mình không tiếp xúc nữa, nhắm mắt bịt tay hay sao? Một người nghiền thuốc lá mà không có thuốc thì họ có nghiền được không? Không có xúc thì làm sao có thọ? Họ nghiền rượu mà không có rượu thì họ có nghiền không? Họ nghiền game mà không có game thì họ có nghiền không? Trước đây không có game thì làm sao họ nghiền game được? Cho nên vì có sự tiếp xúc mới có thọ, có thọ rồi có ái, có ái thì mới nghiền, mà nghiền rồi nghiện.
Cho nên khi thấy chỗ nào mình bị ái, bị dính mắc thì mình bớt xúc chỗ đó, thành ra mình hay dùng từ tránh duyên, tức là bớt tiếp xúc với những đối tượng khả lạc, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, phải hạn chế xúc với những cái này, mình xúc với trí tuệ, chánh pháp, tiếp xúc với những pháp đưa đến ly tham, từ bỏ, giải thoát, khi xúc và thọ nhận những cái pháp này sẽ đưa đến chấm dứt xúc, chấm dứt thọ, đây là chỗ thâm sâu của tạng kinh Nikāya.
Cho nên việc hộ trì căn là hạn chế tiếp xúc, nhất là với những đối tượng có thể làm sanh ra dục tham ái, vì vậy đời sống người xuất gia là phải sống trong rừng, sống trong chỗ xa vắng để hạn chế xúc, vì hễ tiếp xúc sẽ sanh thọ, thọ sanh ái. Khi nào mình thành tựu trí huệ lúc đó mình mới đi đến xúc là chỗ bất động, nhưng điều này còn xa vì giờ mình vẫn đang trên con đường tu tập cho nên mình phải nắm được sự tập khởi và sự đoạn diệt của ái, dục, tham.
Thế nào là vị ngọt? Vị ngọt này xuất hiện đầy rẫy xung quanh chúng ta, nhà phố, hàng quán, tivi… đều là vị ngọt. Khi mình xúc cái gì mà nó làm cho mình khả lạc, khả hỷ, làm cho mình khoan khoái, thích thú, vui sướng thì đó là vị ngọt của thọ. Mình tiếp xúc với bất kì cái gì mà chỗ đó làm cho mình yêu thích thì đó là vị ngọt của thọ mà chính vị ngọt này làm cho tan nát cuộc đời tu hành. Vị ngọt của cảm xúc, vị ngọt của thọ, vị ngọt của cảm giác, tất cả chúng sanh trong tâm giới, đừng nói đến có hình tướng mà ngay cả chúng sanh sắc và vô sắc cũng bị vị ngọt của cảm giác này nhấn chìm trong ba cõi.
Những chỗ du lịch trong rừng núi sâu, trong hẻm hốc xa vắng họ cũng đi tới, trên trời dưới biển cũng lặn tìm thì tất cả những cái này họ đều đi tìm vị ngọt của cảm giác. Đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác chỉ phán một câu thôi mà kết luận toàn bộ sự sanh tử luân hồi của chúng sanh, tất cả đều đi tìm cảm giác, đi tìm vị ngọt của cảm giác. Trong giờ học mà ngủ là mình bị vị ngọt của cơn buồn ngủ lôi kéo, khi vào thiền không ngồi yên được là mình bị vị ngọt của những cái tưởng, hành sai khiến.
Thế nào là sự nguy hiểm của vị ngọt? Nắm được điều này là mọi người nắm được chìa khóa mở toàn bộ tạng kinh Nikāya. Cảm giác đó là vô thường, cảm giác đó là khổ, chịu sự biến hoại. Đó là cảm giác biến đổi, chỉ một chút là hết, càng sướng chừng nào thì cảm giác đó càng chóng tàn chừng đó, người ta càng nắm giữ cảm giác đó chừng nào thì người ta càng khổ thêm chừng đó vì bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy” (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Tất cả cảm giác là vô thường, là khổ, là không thỏa mãn, tất cả cảm giác đều chịu sự biến hoại, nếu mình muốn giữa cảm giác đó lâu dài thì đó gọi là vô minh, si mê và mình sẽ đau khổ dài dài, không bao giờ chấm dứt.
Trong chuyện tình cảm, việc ăn uống, điều kiện vật chất là không bao giờ thỏa mãn, đi tìm cho thỏa mãn một chút rồi lại đi tìm nữa cho nên không bao giờ có chuyện thỏa mãn thật sự. Nói đến chuyện tình cảm, lúc trước chưa có thì đi tìm cực khổ, đến khi tìm được một người ưng ý rồi, lúc đầu chưa có thì tìm được mình nghĩ là thỏa mãn rồi, đến khi được rồi lại đi tìm cái mới, cái lạ, cứ đi tìm cảm giác hoài thì tiếp tục cái khổ, họ không biết sự nguy hiểm và tác hại của cảm giác, đó là vô thường, họ đi tìm hết cảm giác này đến cảm giác khác.
Chiếc điện thoại Iphone đầu tiên ra đời mà mình nghĩ mình có được nó là mình ngon lành, năm sau ra cái mới lại để giành tiền mua cho được, mình cứ chạy theo nó không cùng không tận, cái dục ái tham cũng y như vậy. Thấy vậy vị đa văn thánh đệ tử nhàm chán đối với dục, cảm giác, sắc, do nhàm chán nên vị ấy ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát, trong sự giải thoát trí khởi lên "ta đã giải thoát".
“Thấy vậy, bậc Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".”
(Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
Đây là lúc khải hoàng ca của đa văn thánh đệ tử, là hoa trái của người xuất gia, thánh quả chính là thành quả của người tu. Bây giờ mình trồng cây mà không có trái là bất thường, còn mình trồng cây mà có trái là bình thường, vậy thì tại sao khi tu mà nói đến thánh quả là mình lại sợ, như vậy là bất bình thường trong sự tu. Điều bình thường là mình tu mà tiến vào thánh đạo, thánh quả là lẽ đương nhiên, vì thánh quả là thành quả của một người tu đúng theo chánh pháp.
Sự xuất ly khỏi vị ngọt chính là con đường thoát khổ, tất cả bí quyết của chánh pháp nằm ở chỗ xuất ly này. Thế nào là sự xuất ly? Đó là sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với tất cả cảm thọ, cảm giác. Đó là sự ra khỏi cảm giác, giải thoát khỏi cảm giác. Bây giờ làm sao để nhiếp phục dục và tham? Làm sao để đoạn tận dục và tham?
Chỗ này cần phải có thiền quán và tuệ quán và mình phải quán như thế nào? Lột da mặt này xuống sẽ tràn ra máu thịt, tràn mỡ. Hai tròng con mắt lọt xuống. Như vậy một ngàn gương mặt cũng như nhau cả thôi, già trẻ; sang hèn; cao thấp; đẹp xấu cũng chỉ là một cái đầu lâu. Một cái đầu lâu dính máu, dính mỡ, dính thịt, dính gân. Rọc bụng ra là một bộ đồ lòng, phèo phổi, tim gan, lá lách, da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy. Tìm kĩ trong này không có cái nào là Minh Thành cả, Minh Thành chỉ là một sự giả danh, không có ai ngồi ở đây, chỉ là một mớ bất tịnh, tanh hôi.
Nhìn sâu vào ba mươi hai thể trược là một tên nằm dài, xanh phồng lên, chảy nước vàng hôi thối không chịu nổi, những con quạ, chó rừng, kên kên rỉa từng miếng thịt, ngày này qua ngày nọ còn lại bộ xương dính lại chút thịt, chút máu, cho tới lúc hết gân, hết thịt chỉ còn lại bộ xương khô.
Qua năm tháng những mảnh xương nằm rải rác, xương đầu lâu nằm chỗ này, xương sườn nằm chỗ kia. Cuối cùng xương cũng tan nát thành tro bụi, cái nào là tôi, cái nào là của tôi trong này, tất cả chỉ là tứ đại cát bụi vô thường, ảo mộng thế mà mình lại ảo ảnh về tự ngã, ảo ảnh về một cái tôi, thế mà mình ảo mộng. Cuối cùng là tham sân si, bản ngã, ta đây, tật đố, hơn thua, ganh tỵ, tạo ra bao nhiêu nghiệp làm đau khổ cho nhau. Đó là sự cay đắng của kiếp người, đó là sự đáng thương của vô minh, đó là sự xót xa của ái dục, đó là sự thật mà người tu chúng ta cần phải biết, cần phải thấy, cần phải tuệ tri, thắng tri, liễu tri, thấu triệt bằng sự thiền quán thâm sâu.
Mình phải quán chiếu được như vậy hằng ngày, mỗi ngày đều có sự tu tập như vậy để phá tan ảo ảnh về tự ngã, đằng sau lớp da này là sự dối lừa khinh khiếp. Mình cứ mộng ảo với xác thân vô thường bất tịnh, dơ bẩn này, chúng ta bị lừa gạt 10 năm, 30 năm, 70 năm, chúng ta bị lừa gạt trong kiếp này, trong kiếp nữa và trong nhiều kiếp nữa mãi mãi vô cùng nếu mình không gặp được bậc Chánh Đẳng Giác. Đây là sự tu tập nhiếp phục dục và tham, đây là sự tu tập đoạn tận dục và tham, chấm dứt dục và tham, từ bỏ dục và tham đối với thọ; tưởng; hành; thức.
Đây là sự tu tập mà ngày nào cũng phải hành trì, nếu không hành trì sẽ không thể nào nhiếp phục được dục tham, dục ái, dục vọng. Phải quán chiếu điều này không thể quên được, Đức Thế Tôn gọi điều này là hương vị của bất tử, cảnh giới của bất tử, cửa mở của bất tử, con đường đưa đến bất tử. Đây là cốt lõi, là tinh hoa, là lõi cây của tạng kinh Nikāya để phá vỡ thân kiến. Khi mình nói chuyện với ai hoặc nghĩ điều gì về mình thì có một hình bóng chập chờn của mình hiện ra, khi mình nghĩ chiều nay sẽ đi đâu đó thì lúc nghĩ đó là hành, có hình bóng là tưởng mà đó là sự ảo tưởng về cái tôi, ngày nào trong lòng mình còn hình bóng lờ mờ về chính mình thì ngày đó thân kiến còn tồn tại, thân kiến còn tồn tại thì tham còn tồn tại, tham còn tồn tại thì dục còn tồn tại, dục còn tồn tại thì ái còn tồn tại, mà ái còn tồn tại thì đồng nghĩa với khổ còn tồn tại.
Cho nên ái tập khởi là khổ tập khởi, ái đoạn diệt là khổ đoạn diệt, đó là con đường chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này, đây là trái tim của Đức Thế Tôn, đây là trí huệ tối thượng của Chánh Đẳng Giác. Trí huệ này sẽ đưa mình đến chỗ công phá, diệt tận toàn bộ sào huyệt của tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã, tàn diệt năm uẩn để nó không còn tích lũy trong tương lai nữa. Ví dụ trong một chung cư cao tầng mà bị chập điện gây cháy nhà, mình chữa cháy mà đến từng phòng tắt công tắt sẽ không kịp lại vất vả, có khi chưa kịp làm đã cháy rụi cả chung cư. Người thông minh sẽ đi ngắt cầu dao tổng chứ không cần đi tìm cầu dao từng phòng.
Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật chỉ cho mình biết cách làm cho ngũ uẩn sanh thì sẽ biết cách làm cho ngũ uẩn diệt, chấm dứt hẳn, chỗ thâm sâu nhất của Nikāya chính là đoạn tận được hữu ái. Bây giờ mình đoạn cái ăn, đoạn cái ngủ, đoạn hoài đoạn không được mà bây giờ mình đoạn ngay chỗ không còn ưa thích sự hiện hữu trong cái thân năm uẩn này nữa, đó là mình tắt cầu dao tổng. Mình nhàm chán dòng luân hồi này, mình quán cho sâu sắc cái thân bất tịnh nhơ nhớp, đầy bệnh hoạn, gớm ghiếc này, cái thân chín lỗ chảy ra bao nhiêu chứng bệnh ung thư… phải nhìn sâu vào toàn bộ khổ uẩn để thấy bản chất của thân này, của đời sống này là khổ, khi đó mình muốn chấm dứt vòng luân hồi, không muốn tiếp tục trong sanh tử thì đó gọi là tắt cầu dao tổng.
Xét sâu vào trong nội tâm thì mình vẫn chưa muốn gạt cầu dao này xuống vì mình chưa thấy cái luân hồi sanh tử này là cái gớm ghiếc, đáng sợ, mình chưa thấy sự thống khổ. Đức Phật nói người xuất gia chân chánh là người thật sự cố gắng nỗ lực để thành tựu trí huệ để thấy đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là chỗ chấm dứt khổ và con đường đưa đến cảnh giới giải thoát thì đó là người xuất gia chân chánh, là bậc đa văn thánh đệ tử, là bậc hướng Dự lưu, là bậc Nhập pháp lưu, là bậc thành tựu thánh trí, là bậc Tu-đà-hoàn quả.
Đó mới là người xuất gia chân chánh, căn cứ vào pháp nghĩa trong tạng kinh thì mình thấy bây giờ có bao nhiêu người xuất gia chân chánh? Rất là hổ thẹn, mình không thấy nhàm chán đối với cái thân năm uẩn này, nó xấu vô cùng mà nhìn gương một lúc mỉm cười cũng thấy có chỗ đẹp, những người tật nguyền có 1m2 thôi mà họ nhìn họ cũng thấy đẹp, đó là vô minh và si mê. Nếu mình không học được kinh tạng này, không nghe nhiều chánh pháp, không quán chiếu và không tu tập thì không bao giờ có thể thành tựu được trí huệ này.
Thành tựu được trí huệ này rồi thế giới bùng nổ, tất cả sắc pháp chỉ là trống không, nó làm cho mình có sự xuất ly siêu việt, đây là trí huệ tối thượng của Chánh Biến Tri. Người nào muốn tu quyết liệt phải thể nhập trí huệ này vì nó có công năng đoạn tận, công phá, đập vỡ hết tất cả sào huyệt của vô minh, tham ái và chấp thủ. Nó đòi hỏi mình phải có sự lắng nghe rất nhiều, phải có sự tư duy quán chiếu tu tập liên tục, phải tinh cần tinh tấn nỗ lực không ngừng nghỉ.
./.