Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 2 - Kinh Xóm Ngựa - Trung Bộ
LÀM SAO ĐỂ THÀNH
NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 2
Kinh Xóm Ngựa – Trung Bộ
-Thích Minh Thành-
Rõ biết ở trước mặt. Cảm nhận hơi thở. Cảm nhận cơ thể. Cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu.
Chúng ta đã tìm hiểu về thân, miệng, ý minh chánh, cởi mở, không tỳ vết, không che giấu. Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu đến phần hộ trì các căn: “Khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”… Phải chịu khó, học bài kinh nào thì mình lấy bài kinh đó đọc trước, như vậy khi vào học mình sẽ tiếp nhận nhanh hơn.
"Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Đây là cả một sự tu tập hết sức cẩn thận. Hôm trước chúng ta đã nói sơ lược về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – tức là luôn luôn lúc nào mình cũng phải giữ gìn, hộ trì, bảo hộ sáu căn của mình. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình phải được giữ gìn. Vì chưa học duyên sanh pháp nên chúng ta chưa nắm rõ được sự vận hành của căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, cho nên mình phải học duyên sanh pháp. Chúng ta sẽ nói theo tiếng Việt để dễ hiểu, vì nếu nói tiếng Hán Việt căn, trần, thức thì ta cứ tưởng là mình hiểu nhưng thật ra mình không hiểu.
Duyên sanh pháp của mắt: do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi lên sự rõ biết của các sắc, khi ba pháp này giao thoa, hội tụ lại với nhau tạo thành sự tiếp xúc của con mắt gọi là nhãn xúc, khi tiếp xúc như vậy sanh ra cảm thọ, cảm giác. Và khi sanh ra cảm thọ thì sẽ rơi vào ba cảm thọ đã học là: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu thì mình tham, ái, thích; cảm giác khó chịu thì sanh mệt mỏi; cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì mình đơ đơ, trơ trơ trong cái si.
Có sự hộ trì là khi nhìn thì mình phải giữ gìn con mắt. Không phải muốn nhìn là nhìn và cái nhìn của mình là nhìn như thế nào để khi nhìn rồi thì mình không bị nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng. Ví dụ như một con người, nhìn chiều cao, dáng dấp, đen trắng là tổng thể, là tướng chung; còn tướng riêng là từng chi tiết, ví dụ như mũi, mắt, bàn tay, cánh tay. Nếu nhìn hoặc tiếp xúc mà mình bị nắm giữ tướng chung hay nắm giữ tướng riêng thì những tham ái ưu bi, ác bất thiện pháp sẽ khởi. Một khi nắm giữ tướng chung, tướng riêng đó, mình thọ, mình yêu thích hay ghét bỏ nó là mình đều bị tham ái hoặc ưu bi. Tức mình ưa thích thì mình tham ái; còn mình ghét bỏ, bực bội, khó chịu, ưu não là ưu bi. Cho nên trong kinh Tứ Niệm Xứ có nói là để trừ diệt tham, ưu ở đời là như vậy.
Để không tham muốn và buồn lo, đau khổ thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, điều này khó, không phải chuyện dễ. Không biết dụng tâm và hộ trì tu tập thì không bao giờ mình biết cái này. Khi tiếp xúc với con người, cảnh vật, món đồ nào thì mình thâu hết những cái đó vào tâm nên mình thu nhận, thọ nhận, thành ra cái thọ này ghê lắm. Từ xúc mới sanh thọ, tức là tiếp xúc mới sanh ra cảm giác và mình tiếp xúc là từ chỗ sáu căn. Cho nên nếu mình giữ gìn sáu căn thì cái xúc của mình đỡ, vì vậy cái thọ cũng đỡ. Còn nếu không giữ gìn, không phòng hộ, không hộ trì thì bung hết. Cứ tiếp xúc, thọ, thủ một cách thoải mái rồi tham, sân, si thoải mái thì đau khổ vô cùng, đó cũng từ chỗ mình không biết hộ trì. Thế nên mình phải giữ gìn, chế ngự, đối với tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp mình phải diệt trừ, chúng ta sẽ tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì sáu căn. Đó là duyên sanh pháp của mắt.
Duyên sanh pháp của tai: do duyên có tai, có âm thanh, có sự rõ biết của âm thanh, ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành nhĩ xúc – sự tiếp xúc của tai và tiếp xúc thì sanh thọ. Tức là nghe một câu nói hoặc nghe một tin gì đó thì cũng đã rụng rời tay chân, có thể bệnh luôn hoặc ngất xỉu.
Vừa rồi, cách đây mấy ngày, xem trên tin tức, có một cậu đang chở mẹ tới chỗ làm. Khi người mẹ bước xuống thì cậu này quay chiếc xe để trở về thì ngay chỗ đó có một chiếc xe tải che mất tầm nhìn, cậu này không thấy nên xe tải chạy tới cán lên nát người hết, người mẹ đứng kế bên thấy vậy xỉu xuống, bất tỉnh. Như vậy xúc một lần là sanh thọ, mà thọ này xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn, người mẹ té xỉu ngay tại chỗ khi thấy con mình như vậy. Chỉ bất cẩn một chút thôi là xảy ra án mạng, không ai có thể tưởng tượng nổi chỉ một cái quẹo xe thôi lại nát bét ra hết cả cơ thể, thân xác. Như vậy lúc đó căn, trần, thức, xúc, thọ, vận hành cùng một lúc, xâm chiếm toàn bộ thân tâm nên người này ngã quỵ, ngất xỉu. Lúc đó có căn gì? Mắt nhìn thấy, tai có nghe tiếng, lời nói kêu gào và ý xúc ở trong.
Như vậy, có tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao thoa tạo thành nhĩ xúc – sự tiếp xúc của tai. Ví dụ, có tai, âm thanh của máy lạnh, mình rõ biết âm thanh đó thì ba pháp này giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của tai rồi sanh ra cảm thọ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Sáu căn, sự tiếp xúc rất khiếp, nếu mình không có sự hộ trì thì nhìn thấy một cái gì hoặc nghe một tiếng là có thể bị sân si, tham ái; hoặc tiếp xúc, đụng chạm thì mình cũng chết. Trong kinh Đức Phật có nói chung quanh là gai, trước mặt là gai, hai bên là gai, sau lưng là gai, đi chỗ nào cũng có gai. Cho nên, người biết tu là người phải hộ trì rất cao vì không hộ trì thì sẽ đạp trúng gai.
Duyên sanh pháp của thân: do duyên có thân, có sự đụng chạm, ví dụ như tiếp xúc với quần áo, cái ghế đang ngồi, bồ đoàn, hay cái gì đó và mình rõ biết sự đụng chạm với nó thì đó là thân thức. Nhiều khi học nhưng không thực hành thì mình không biết thân thức là gì. Ví dụ như giờ mình đang ngồi, ngay chỗ cấn với bàn ghế, mình rõ biết điều đó thì đó là thân thức. Chỗ nào tiếp xúc với da, như quấn áo, cái ghế cây hay gỗ cấn vào chỗ đó và mình biết được chỗ đó, như vậy gọi là thân xúc. Do duyên có thân, có sự đụng chạm, chỗ đó sanh ra sự rõ biết của đụng chạm, ba pháp này giao thoa với nhau gọi là thân xúc, thân xúc sanh thọ. Ví dụ ngồi ghế gỗ bị cấn đau thì hơi khó chịu; còn khi ngồi ghế salon đẹp, xịn, mắc tiền thì không chỉ lên ngồi mà còn nhún nhún nữa, đó là sanh ra sự dễ chịu, ưa thích, tham ái; hoặc trời nóng nên khó chịu mà nếu máy ở nhiệt độ 18 ºC thì dễ chịu. Đó là là thọ thân. Khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ thì tất cả đều phải được hộ trì, được dòm ngó, được quản lý, xem xét xem trong đó có cái gì, trong thọ đó có tham ái, có sân si thì phải nhìn thấy, chứ không phải có thọ thì để vậy và không thấy gì hết. Phải nhìn thấy được cái nào mình cho thọ và cái nào mình không cho thọ. Có những cái mình cho thọ rồi sau đó mình bị trói cột suốt đời. Giới luật là chỗ này, vì Đức Phật là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Đức Phật biết thọ cái nào là nên và thọ cái nào là không nên. Những cái không nên thọ mà mình lại thọ thì mình chết, mình không tu được. Giới luật, oai nghi, phép tắc trong đạo là chỗ đó, để bảo hộ sự xúc, thọ – tức tức là khi mình tiếp xúc sanh ra cảm thọ gọi là cảm xúc.
Duyên sanh pháp của ý rất sâu sắc, có khi tu suốt đời mình cũng không biết thế nào là tu hộ trì ý căn. Điều này rất khó, phải có người hướng dẫn, phải có thiền tập thì mới biết làm thế nào để hộ trì ý căn. Ví dụ như giờ mình đang ngồi, thì bỗng nhiên trong tâm mình có hình bóng của một ai đó xuất hiện. Khi hình bóng đó xuất hiện thì có một cảm giác tương ứng đi theo hình bóng đó. Nếu hình bóng đó là một người mình ghét thì có cảm thọ sân si (khổ thọ), hình bóng đó là tưởng uẩn và hành nói chung quanh hình bóng đó – hành uẩn. Có hình bóng xuất hiện trong tâm dầu không có người, có cảm giác đi theo và suy nghĩ chạy lòng vòng, nếu có hộ trì ý căn, lúc đó mình biết có hình bóng, biết đang có cảm giác khó chịu và biết đang có suy nghĩ về hình bóng – đó chính là thức. Nếu có hộ trì, mình sẽ tự nhủ: “Giận gì mà giận, sân gì mà cứ sân hoài vậy, giận ba bốn chục năm rồi chưa đủ hay sao? Thôi đi, an tịnh đi, an dịu đi, mát mẻ đi. Cho khỏe, nhẹ nhàng. Đốt cháy hoài để làm cái gì?” Mình tác ý như vậy để đánh đuổi những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ sân giận ra khỏi tâm, ngăn chặn, không cho tâm đi theo những hình bóng, suy nghĩ, giữ gìn tâm để nó trở về cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, đó chính là hộ trì ý căn. Còn không hộ trì là mình đi theo, mình nhớ lại xem tuần trước người đó nói mình câu gì, nhớ lại ba tháng trước người đó hành động như thế nào, rồi lại nhớ thêm năm năm trước, mình lôi hết một chuỗi, kết thành nguyên một tràng đều là sân hận, khi tức quá thì phát ra ngôn ngữ, hành động thiêu đốt. Sự tu vi tế như vậy. Ý rất ghê gớm, nhiều khi chỉ một mình thôi mà nó tự vận hành, nếu không tu tập, không nhận thức ngũ uẩn là mình không biết, nên thọ, tưởng, hành khởi lên là mình nhập vào theo nó.
Trường hợp hình bóng của người mình ưa thích hiện ra, hoặc những điều mình từng tiếp xúc lúc chưa đi tu hoặc đã đi tu hiện ra, hoặc nghĩ rằng mai mốt sẽ như thế nào, lúc đó, hình bóng hiện ra, cảm giác đi theo, có suy nghĩ nói lầm thầm, cái thức biết những điều đó, ngay lúc đó nếu không hộ trì, không giữ gìn thì mình sẽ đi theo. Những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ của quá khứ sanh khởi lên thì thọ, tưởng, hành mới lại sanh, sau đó nó diệt, rồi lại sanh ra. Cứ vậy từ thọ, tưởng, hành một rồi tiếp tục có thọ, tưởng, hành hai, ba, bốn,… cứ vậy chúng nó sanh khởi nên gọi là chúng sanh, mình đi theo trong đó, không hộ trì ý căn. Mình thấy được những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ, mình biết được là tại vì mình có để ý vào trong tâm. Nếu không để ý thì mình không biết lúc đó mình đang suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì. Cho nên người không để ý vào trong mà cứ hướng ngoại thì người đó tu không được.
Có những việc mình gặp hằng ngày nhưng mình không biết, đó là vô minh. Ví dụ, đi đến đâu đó, mình va quẹt bị trầy xước nhưng không biết, mình lo làm bài, lo học hoặc thi cử, tới chừng biết thì mình nhìn lại thì không hiểu tại sao lại trầy một miếng. Khi để ý chỗ đó thì thấy hơi rát rát, đau đau, sưng sưng, tức là, mình để ý chỗ nào thì chỗ đó mới hiện rõ ra trong tâm của mình, và sự để ý đó là ý căn.
Một ví dụ khác, vào buổi tối hoặc trong phòng bị cúp điện thì mình cầm đèn pin, muốn nhìn chỗ nào rõ thì mình rọi vào chỗ đó thì vật ở trong hướng đó sẽ hiện rõ ra theo ánh sáng của mình rọi. Cũng như vậy, khi chúng ta để ý chỗ nào thì chỗ đó hiện ra các pháp trong thân tâm của mình; còn nếu mình không để ý là không hiện ra. Bây giờ mình ngồi lắng yên lại, để ý vào bên trong một hồi thì mình thấy trong tâm có một cái tưởng. Nhiều khi được hỏi thì nói mình không có hình bóng gì hết, đó là tại vì mình hướng ra ngoài, còn nếu để ý vào trong thì mình thấy có hình bóng, có cảm giác, có suy nghĩ. Như vậy, sự để ý hướng vào tâm để nhìn là ý căn; còn sự rõ biết lúc đó có hình bóng gì, có cảm giác gì, có suy nghĩ gì là ý thức; những hình bóng, những cảm giác, suy nghĩ, những cái mình đã nghe, đã tiếp xúc, giờ còn lưu bóng trong tâm mình và hiện khởi trở lại là pháp trần – ba cái này là căn, trần, thức, đây là chuỗi duyên sanh pháp. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần rồi sanh khởi sáu thức và xúc sanh ra thọ. Đây là nói đơn giản, sau này chúng ta sẽ học kĩ.
Trở lại vấn đề, mình để ý thì mới thấy trong tâm mình có hình bóng – tưởng uẩn. Đi theo hình bóng này thì sẽ có cảm giác và suy nghĩ cứ lòng vòng với nhau. đây là nội trần – pháp trần ở bên trong, vì đây là mình nói trong tâm, còn ngoại trần là nói bên ngoài, sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tức là khi mình để ý thì sẽ hiện ra hình bóng ở trong tâm, rồi tưởng, thọ, cảm giác, những suy nghĩ hiện ra; lúc đó mình nhận thức, ý căn phải để ý vào bên trong mới thấy ra được những cảm giác, hình bóng, nên thức mới rõ biết được – khi đó ba pháp này hội tụ với nhau tạo thành xúc. Ba pháp này chạm nhau, gặp gỡ ở một điểm giao thoa với nhau, đây gọi là ý xúc. Tức là cầm đèn pin, lia vào góc, nơi đó hiện rõ ra là cái bình, cái chén hay cái tô; ý căn đưa vào trong tâm nên thọ, tưởng, hành hiện ra và thức nhận thức được; khi đó ba pháp này giao thoa với nhau sanh ra cảm thọ. Cho nên ngồi một mình cũng có thể giận, có thể buồn, có thể vui. Tuy là ngồi một mình, nhưng nghĩ về người nào đó, có hình bóng người đó, rồi tự nói: “Tôi nghĩ về người đó tôi thấy thương quá!” hay “Nghĩ về người đó tôi thấy tôi bực mình, khó chịu quá, tôi thấy tôi ghét ghê vậy đó!” hoặc “Tôi thấy gj đó bình thường, không tốt không xấu.” Thành ra, tất cả mọi thứ trên cuộc đời đều không ra ngoài ngũ uẩn, tóm thâu hết Thánh trí ngũ uẩn là gom thâu được nhân sinh, vũ trụ, thế giới. Phải học kĩ ý xúc này, ngồi thiền sẽ sử dụng điều này.
Và khi tham sân, ưu bi là phải hộ trì, không đi theo nó, biết nó chỉ là thọ, tưởng, hành thôi, nó không có thật, chỉ là duyên sanh, là vô thường thôi. Vì con mắt của mình nhìn thấy người nên giờ hình bóng người đó hiện ra; tại vì mình nói chuyện với người đó nên giờ câu nói mới văng vẳng đâu đây nhưng đó là pháp duyên sanh, không có thật, vô thường, trống rỗng, vô ngã. Vì vậy, nên xả bỏ, từ bỏ nó, không vì những câu nói, những hình bóng đó mà mình đau khổ, tham ái, mệt mỏi, hãy buông xả, từ bỏ, vứt bỏ, chấm dứt. Đó là mình hộ trì, không để tâm mình bị tàn phá, phá hoại, đau khổ, khổ sở; còn nếu không hộ trì thì hình bóng hiện ra, dù mình giận hay mình thương đều chết hết. Thương có khổ không hay là nói thương không khổ? Có khi thương còn khổ hơn cả giận, mỗi cách mỗi kiểu khổ. Đừng tưởng được thương là ngon, nhiều khi chịu không nổi, như là bắt phải ăn cái này, bắt phải uống cái này, chỗ này cho đi, chỗ kia không cho đi, khổ lắm. Cho nên phải học hộ trì vì đây là pháp tu hết sức quan trọng.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay,phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ-Kheo)
Tỳ-kheo phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, phòng hộ tất cả sẽ giải thoát mọi khổ đau. Nếu mình không đề phòng là nguy hiểm, giặc bắn tỉa, du kích, bất cứ lúc nào nó cũng bắn đạn mình, cứ núp lùm, núp trong bụi cây, nhân lúc mình không để ý nó bắn thì xem như xong. Như ví dụ lúc nãy, cậu con trai không nhìn kỹ, không quán sát, quẹo một cái là toàn thân nát hết. Người tu cũng vậy, nếu không biết hộ trì, không biết giữ gìn, không biết bảo hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình thì tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ tàn phá thân tâm của mình và chúng ta sẽ sống trong một đời sống khổ sở, không an lạc, dù ở trong chùa nhưng không an lạc. Bởi vì mình chất chứa những thọ, tưởng, hành ác, bất thiện pháp.
Chúng ta không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng và làm sao không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Đó chính là phải phá thân kiến. Phải biết hình ảnh này là ảo ảnh trong tâm của mình, đây chỉ là ảo ảnh, trống rỗng, trống không, trống trơn, là do pháp duyên sanh vô thường, giả dối, ảo tưởng, ảo vọng, ảo giác, không có thật và do pháp vô ngã. Tại sao mình lại phải đau khổ với nó, tại sao mình lại giận hoài với nó để được cái gì? Tại sao mình cứ dính mắc, chấp chước, tham ái để làm cái gì trong đống giả dối, ảo ảnh này, có ai ở đây đâu? Hỏi tâm giận của mình: “Mày muốn vào bệnh viện tâm thần hay sao mà ngồi một mình ở đó mà thương với giận?” Cứ tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm giác, nghĩ tưởng đó ra khỏi tâm để cho mình an tịnh, lắng dịu, chánh niệm, tỉnh giác, trở về với thực tại, thiện pháp lạc trú, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác trong an tịnh, lắng dịu, không chạy theo những ảo ảnh, ảo tưởng đó nữa, trở về giây phút hiện tại và cảm nhận. Đó là thiền, là tu tâm, là chánh tư duy, là hộ trì. Cho nên khi mắt tiếp xúc; tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc phải hết sức cẩn thận.
Ví dụ mình biết người đó hay gây sự lắm, thế nào nói một hồi cũng gây sự nên mình cứ tránh đi. Đức Phật ví dụ đi ra đường gặp chó điên hay gặp người điên thì nên tránh, đừng lại gần, lại sẽ “lãnh đủ”. Một người sân hận, sân si, kiếm chuyện, gây sự thì tốt nhất mình nên tránh, chạy là thượng sách. Đức Phật từng dạy mình pháp đoạn trừ phiền não là phương pháp tránh né để đoạn trừ, không phải lúc nào mình cũng “yếu mà ra gió”, giống đang bị cảm mà ra tắm mưa thì sẽ bệnh. Vậy nên phải tránh né để đoạn trừ, kham nhẫn để được đoạn trừ. Tùy theo trường hợp, tùy theo loại phiền não mà tu tập để đoạn trừ, trừ diệt chứ không phải cái nào cũng nhào vô hết, như vậy mình sẽ chết, cho nên phải tránh né và phải hộ trì. Thế nên xúc rất ghê, bây giờ không nhất thiết là đi gặp mà chỉ cần cầm điện thoại trong phòng và “quẹt” một mình thì đó là xúc và có thọ, tưởng, hành. Những đứa nhỏ bị bệnh nghiện game, ghiền rồi bỏ học, bỏ ăn, bỏ ngủ và chết trên các bàn game, hết sức ghê gớm. Đó là xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, rồi chết trên đó – tử thủ, mà đó là các game thủ. Cho nên, người tu phải là xạ thủ, tức là phải bắn được giặc phiền não chứ không phải là game thủ. Khi mình tu mình phải phòng thủ, chứ đừng để thành chấp thủ, tử thủ. Việc này có nhiều trường hợp chứ không chỉ có người chơi game thôi. Ví như tử thủ trong nhà bếp – tức là không cho người khác vào: “Nhà bếp này là của con!” nếu có người nào vào thì: “Không được! Một mình con làm thôi”, không người khác nào được vào hết, mà ai vào cũng chạy hết. Như vậy là thủ, là nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, là ác bất thiện pháp sanh khởi, là sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì vậy, tu là phải xả, không phải thủ. Dễ lắm, tâm này là một tâm chấp thủ, chấp bên trong và chấp bên ngoài, phải nhìn thấy được điều đó để phòng hộ, hộ trì còn nếu không thì mình tu hoài không tiến.
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: ""Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Đó là lời Đức Phật dạy, tu mà giữ luôn hộ trì sáu căn, giữ gìn kĩ lưỡng như vậy nhưng cũng không được tự mãn, không khen mình chê người. Đây là điều mình dễ mắc phải, khi tu được một chút thì mình nhìn người ta rồi nói người ta không tu, chúng ta dễ bị cái đó lắm. Thế nên mình chỉ quay về hướng nội, tự tu cho mình, còn chuyện của người ta là của người ta, nếu mình có trách nhiệm, bổn phận thì mình nhắc nhở, người ta nghe hay không là quyền của người ta, chứ mình đừng phiền não. Nhắc mà người ta không nghe thì mình buồn, như vậy để làm chi, sao không tự lo cho mình? Mình còn tham, sân, si, bản ngã mà không lo diệt, cứ nhắc người ta phải diệt, nếu người ta không diệt thì mình buồn, vậy tại sao mình không buồn cho chính mình?
Tiếp theo Đức Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hổ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Phải học thuộc lòng cách ăn của Đức Phật để thực tập hằng ngày. Đây là tám công đức của Đức Phật và các vị Thánh tăng lúc xưa khi ngồi ăn cơm: “Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp mà chỉ là để sống lâu, bảo dưỡng thân này để không bị thương hại, hỗ trợ phạm hạnh”. Mình ăn không phải để vui, không được vui thích trong cái ăn đó, tại vì nếu vui thích thì ngày sau chúng ta sẽ trở lại ăn nữa, không giải thoát. Đó là một trong tứ thực để nuôi ngũ uẩn, nếu mình ưa, mình thích tức là mình ái, nên đời sau mình sẽ kiếm để ăn nữa. Cho nên người tu để dứt sanh tử thì phải cắt đứt hết tất cả tứ thực, tức là diệt toàn bộ ái, không còn ái bất cứ thứ gì trên cuộc đời này thì người đó mới giải thoát; nếu còn ái với một cái gì thì đời sau sẽ đi kiếm cái đó, đây là chỗ thâm sâu, như vậy mới gọi là đoạn tận sanh tử. Một khi còn thích cái đó thì còn trở lại tìm cái đó, thế nên, không vui thích, đam mê thức ăn đó. Có thì ăn không có thì thôi, không đòi hỏi, không tìm kiếm, không có bị dính mắc trong thức ăn. Điều này phải tu tập nhiều lắm, phải tác ý trong đó chứ không đơn giản. Trong sự ăn có nhiều cái để tu, ăn không phải để trang sức, không phải để làm đẹp cho mình mà chỉ để thân này được sống, được bảo dưỡng, đừng bị tổn thương, bệnh hoạn hay suy yếu sức khỏe, hỗ trợ phạm hạnh, tức là thành tựu đời sống thanh tịnh cứu cánh, diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
“Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới”, câu này không phải dễ hiểu. Cảm thọ cũ là khi nhìn thấy tô bánh canh, tô hủ tíu hay tô bún huế, mình nhìn thấy thọ, tưởng, hành khởi ra vì mình từng ăn qua tô này rồi, món đó sẽ có sắc, hương, vị giống như vậy. Chúng ta nghĩ đến nghĩ tưởng lúc trước, đó gọi là cảm thọ cũ – cảm giác lúc xưa mình nhìn thấy món này. Cho nên ở đây mới nói là “diệt trừ các cảm thọ cũ” – tức là khi khởi lên thọ, tưởng, hành về các cảm giác lúc trước mình được không chấp nhận. Đừng tưởng tu là dễ, tu để mà thành tựu Thánh quả, để diệt tận tham ái là không đơn giản chút nào hết. Khi mình nhìn món ăn nào đó thì thọ, tưởng, hành sẽ vận hành theo cảm thọ cũ lúc trước mình từng ăn. Chúng ta tưởng ra vị của nó cũng như vậy, hương của nó cũng như vậy. Lúc đó tất cả hiện khởi ra nơi đó và mình phải dập tắt điều đó, không ưa thích, không đam mê và quán chiếu rằng món ăn này vô bụng rồi sẽ thành cái gì, khi ra có mùi gì? Lúc đó ưa thích không? Đam mê không? Khoan khoái không? “Ăn bao nhiêu chục lần rồi mà vẫn đam mê, tham ăn hoài vậy, làm như Trư Bát Giới hả?” Phải tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm thọ ưa thích, tham ái, khoan khoái, thích thú, dính mắc chỗ đó. Đó gọi là diệt trừ cảm thọ cũ không cho phát sanh cảm thọ mới. Khi ăn vào, lúc đó phải cẩn thận xem mình đang ăn bằng dục, tham, ái hay là ăn bằng chánh niệm tỉnh giác, phải quán chiếu.
Cho nên, ăn trong sự tu học là cả một vấn đề, giống như chiến trận, lâm trận, khi ăn giống như đang xáp lá cà chứ không phải ăn là sung sướng. Người tu phải ăn như vậy, chứ không phải ăn mà húp “sột sột”, gắp lia gắp lịa, mặt mày tươi rói, đó là vô văn phàm phu. Thời Đức Phật ôm bình bát khất thực, người ta cho chè, cháo, bánh trái đổ chung hết, rồi về ăn, khó ăn vô cùng, không phải dễ. Có Hòa thượng rất lớn bên Nam Tông nói với Minh Thành là cái gì sư cũng ăn, dễ ăn lắm nhưng để chung vào bình bát như vậy thì tuyệt đối ăn không được. Nhưng chúng ta phải ăn như vậy là để phá cảm giác tham ái trong khi ăn. Đó là trí huệ của Đức Thế Tôn. Còn bây giờ toàn lựa nhà hàng ngon để ăn. Do không học nên mình không biết, tưởng đó là bình thường nhưng đó là sai nặng. Chúng ta phải phá tham ái đối với vị giác, cho nên ngày nào về tới chùa không còn gì ăn nữa là mình coi đây là bài tập kiểm tra tâm mình, đừng sân hận, đừng buồn phiền. Chúng ta không thể nào được như Đức Phật nhưng ít nhất phải đỡ hơn bây giờ, khi học cái này thì mình nói: “À, giờ khó quá làm không được nhưng mà mình thực tập từ từ, mình để ý thì sẽ đỡ hơn hiện trạng bây giờ, rồi từ từ mình mới bước lên.” Minh Thành có một món rất đặc biệt, không biết có ai muốn ăn không? Món này độc địa lắm, lâu lâu Minh Thành mới đãi. Đó là tất cả đồ ăn còn thừa lại trong mâm cơm đem trộn chung vô hết tất cả, rồi nấu cho nóng lên, để một ít tiêu, tương ớt và ăn. Nhưng trộn phải biết cách trộn, không đổ chè, cháo hay trộn coca cola vào chung mà nấu. Bây giờ thọ, tưởng, hành chúng ta đang vận hành đó, qua tới cơm trộn bên Hàn luôn rồi phải không?
Vì vậy, nếu chúng ta thấy được vấn đề, hiểu được ý nghĩa của Đức Phật dạy thì hay lắm. Đó là để mình bớt tâm chấp thủ, tham ái trong món ăn, để mình được nhẹ nhàng hơn vì có những người chấp nặng. Mặn chút không được, lạt chút cũng không được, ngọt cũng không được, không có ớt thì ăn cơm không được, cũng có người cay quá ăn không được, nóng quá hay nguội quá cũng không được, đủ thứ chuyện trên đời. Mỗi chuyện ăn này thôi mà tu cũng ngon lành lắm, nó là cả một vấn đề trong sự tu, chứ không phải chỉ trên Chánh Điện là tu, ngay chỗ ăn cũng vậy, tu rất nhiều. Cả một vấn đề tu trong sự ăn, kiểm soát dục, tham, ái trong khi ăn, hoặc là tâm dính mắc, chấp thủ trong khi ăn. Xem nó như thế nào để mình nhiếp phục cảm thọ trong khi ăn. Chúng ta phải nghe bài Cách ăn của Đức Phật, nghe ba chục lần, trăm lần, nghe hoài bài kinh đó, người nào nặng về cái ăn thì phải nghe một ngàn lần để kiểm soát trong sự tu. Và dầu cho giữ được mình như vậy, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này nhưng không khen mình chê người, không được tự thỏa mãn, và có việc cần phải làm hơn nữa.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. " (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Đây là cả một vấn đề phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày mình đi kinh hành hay trong lúc ngồi phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ví dụ, đang đi thì bỗng nhiên sanh khởi lên ý thích, mến hay khoái, ham muốn cái gì đó thì phải tẩy sạch tâm ngay lúc đó. Nếu muốn được như vậy thì sự nội quán phải tinh chuyên, phải thường trực nhìn lại thọ, tưởng, hành, nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng mới biết được lúc đó đang nghĩ cái gì, nhìn bên ngoài thì không thể biết. Thế nên, phải thường trực nhìn lại nội tâm, nội quán, nội soi, nội chiếu, phản tỉnh. Khởi lên khó chịu là mình tẩy sạch liền ngay lập tức, ngay tại chỗ đó, không để cho nó thêm một chút nào nữa, tới ngày hôm sau hay tuần lễ sau mà còn giận thì đó không phải là người tu. Tại vì như vậy là mình chấp nhận, chấp chứa, nuôi dưỡng những cảm giác sân si, bản ngã, hơn thua, thị phi, ganh tị, đố kỵ, đó đâu phải là tâm của người tu. Chỉ khác cái đầu với cái áo thôi chứ ở trong thì không khác gì người thường hết. Người tu là người chú tâm cảnh giác, ban ngày khi đi kinh hành hay lúc ngồi, phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.
Chướng ngại pháp là ngũ cái: dục tham; sân; trạo cử, trạo hối; hôn trầm, thùy miên; hoài nghi – năm sự che đậy tâm. Thấy dục tham mình phải tẩy; thấy sân là mình phải diệt, phải dập tắt; thấy trạo hối, lăng xăng, lóc chóc là mình phải làm cho yên tịnh, khinh an; thùy miên, buồn ngủ thì phải đánh đuổi để làm cho mình tỉnh, ngồi thiền rồi đơ đơ, một lúc nằm dài xuống luôn, không có chống cự gì hết, làm kẻ chiến bại, binh tàn tướng bại, cho nên phải diệt nó. Như vậy mới là người tu, là thăng tấn, là sự tu tập của ta. Trong bài Đức Phật dạy phải đánh đuổi cảm giác si si, ngơ ngơ, đơ đơ. Lúc trì trệ xuống thì lúc đó mình phải cảm giác con mắt, cảm giác đầu, cảm giác tầm nhìn của mình. Vì mắt đơ đơ rồi đầu sẽ nặng xuống, vì đang cảm giác toàn thân nên mình nhận thức cao lắm, nó xuất hiện là mình biết liền, đánh đuổi nó.
Hồi xưa Minh Thành ngồi thiền trên Thiền Viện Trúc Lâm năm 1994, lúc đó Minh Thành còn nhỏ, 19 hay 20 tuổi, Minh Thành lấy dầu xanh xát vô hai mắt nhưng vẫn ngủ. Cho nên, chúng ta phải chống cự, phải chiến đấu, phải hùng dũng, mạnh mẽ làm dũng sĩ, chiến sĩ hay thậm chí là liệt sĩ cũng được chứ không thể ngồi đó rồi buồn ngủ cứ cho nó ngủ. Phải chiến đấu, thà sống huy hoàng, rực sáng trong một lúc thôi còn hơn le lói suốt ngàn năm. Phải làm cho bừng sáng, rực sáng, chiếu sáng trong Thánh trí huệ, chết cũng được.
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không tinh tấn,
Tốt hơn sống một ngày
Tinh tấn tận sức mình.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngàn)
Cho nên phải ứng dụng vào đời sống của mình, ứng dụng mọi lúc mọi nơi. Giờ học giờ tu, giờ hành trì là phải dùng hết sức, ngoài giờ đó cũng phải nỗ lực, tinh tấn chứ không phải nói ngoài giờ đó là mình không tu. Đức Phật nói những gì phải làm lúc “ban đêm canh một”, tức là đầu hôm, “ban đêm canh giữa”, “ban đêm canh đầu thức dậy”. Lúc xưa Đức Phật ngủ ít lắm, một đêm chỉ ngủ ba bốn tiếng đồng hồ để còn nhiều giờ ngồi thiền và đi kinh hành. Cho nên canh đầu, canh giữa, rồi lại ban đêm canh đầu thức dậy, lúc nào cũng vậy, thức dậy là đi kinh hành hay ngồi thiền, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Các Ngài chỉ có một việc là suốt ngày tẩy sạch, gội rửa bên trong nên các Ngài đi đến Thánh quả mau. Còn mình bây giờ không biết “gội” gì, mua xà bông xịn, xà bông nhập về gội, xà bông xả không xài, xà bông cục nhiều khi chê. Tu là gội trong tâm nhưng mà suốt ngày lo gội cái thân thì không được. Cho nên ngày đêm, giờ phút nào các Ngài cũng quay trở vào để tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, có như vậy tu mới mau, mới thành tựu, thành công, đạt Thánh quả.
Chúng ta không để tâm nhiều vào sự tu, giờ ra chơi nghe tiếng chuông thì đã nghĩ tới không biết chiều nay ăn gì, chứ không phải nói: “À, sao mà bây giờ mình thấy tu lâu quá rồi mà sao cái sân của mình cũng còn? Sao mình tu lâu quá rồi mà sao bản ngã của mình cũng khởi lên vậy? Mình tu lâu quá mà cái tham của mình cũng còn mà nó không chịu giảm? Thấy lo quá, buồn quá, giờ mình tu làm sao, phải làm cách nào để cho nó có hiệu quả mới được.” Như vậy mới có sự để tâm, có Tứ Như Ý Túc Túc, Tứ Chánh Cần. Còn nếu mình: “Thôi kệ, quan trọng là ăn gì, đi đâu, làm gì”, nhưng sự tu mình không quan trọng thì làm sao thành tựu? Cần để tâm rất nhiều vào sự tu học. Ban ngày đi kinh hành, trong lúc ngồi có cái gì sanh khởi lên chướng ngại pháp là tẩy liền, rửa liền, diệt trừ, đoạn tận liền.
Ví dụ như mình đang ngồi đây, bỗng nhiên có một lớp ra chơi, mình nghe tiếng ào ra thì trong này thọ, tưởng, hành nôn nôn, phải để ý kĩ mình mới thấy. Mình nghe lớp kế bên ra chơi, trong này đã thấy nôn nôn, cảm giác dâng dâng lên, hai chân rung rung, giật giật muốn đứng lên. Chúng ta phải nhìn thấy cảm thọ đó để nhiếp phục, bắt nó ngồi yên, không được nhúc nhích. Chừng nào chuông reo, hoặc thậm chí chuông reo mà ông thầy chưa ra thì nghĩ rằng hôm nay mình học được thêm, học được như vậy là ngon lanh. Hoặc là mình chỉ bắt chân ngồi yên đến khi chuông reo, như vậy là mình đã có chiến tích, chiến đấu.
Minh Thành khi đi hầu pháp với các Thầy, các Ngài, các Hòa thượng ở nước ngoài thì đến mười tiếng đồng hồ, bằng tiếng Hoa, khách đến thăm mà Hòa thượng không tiếp. Hồi xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, thường thường thuyết pháp suốt đêm, đọc kinh Nikāya mình sẽ thấy, Ngài rất thường thuyết pháp và ngồi thiền suốt đêm không ngủ. Khi đó Đức Thế Tôn giảng xong rồi Ngài nói với Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên: “Ta đau lưng, hãy trải y tăng-già-lê giùm ta”, lúc đó Ngài đã già, khoảng hơn 70 tuổi, Ngài xích qua một bên, nằm rồi Ngài kêu Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên “Các Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ rồi, hãy tiếp tục thuyết pháp, khích lệ, hướng dẫn cho chư tăng chúng.”, cứ như vậy suốt sáng đêm.
Như vậy, khi các Ngài đi vào pháp là quên thân, hỷ lạc trong pháp, trong sơ thiền nên hạnh phúc lắm. Còn chúng ta ngồi yên nghe pháp hoặc ngồi thiền khoảng chừng một tiếng hay một tiếng hơn là cảm thấy khó chịu, đó là tại vì mình không hỷ lạc trong pháp, còn các Ngài trú trong trạng thái sơ thiền, hỷ lạc của pháp. Thậm chí Đức Phật nói vua Ba-tư-nặc: “Các nhà vua có thể ngồi bất động nguyên một ngày đêm mà được hỷ lạc không?” Điều này đương nhiên là không được, Đức Phật mới nói: “Ta có thể ngồi suốt bảy ngày bảy đêm không cử động, trú trong hỷ lạc”. Đó là các vị tu tập và có được thiền lạc, pháp lạc, tịnh lạc. Còn chúng ta ở trong dục lạc, cứ đòi ăn, đòi ngủ, được buông lung, được thả ra thì mới thấy thoải mái, ngồi tu là thấy khổ, ngồi thiền thì đau chân, buồn ngủ, nghe pháp một hồi là chán. Tất cả những điều này là tại vì mình chưa nếm được hương vị của bất tử./.
NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 2
Kinh Xóm Ngựa – Trung Bộ
-Thích Minh Thành-
Rõ biết ở trước mặt. Cảm nhận hơi thở. Cảm nhận cơ thể. Cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu.
Chúng ta đã tìm hiểu về thân, miệng, ý minh chánh, cởi mở, không tỳ vết, không che giấu. Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu đến phần hộ trì các căn: “Khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng”… Phải chịu khó, học bài kinh nào thì mình lấy bài kinh đó đọc trước, như vậy khi vào học mình sẽ tiếp nhận nhanh hơn.
"Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Đây là cả một sự tu tập hết sức cẩn thận. Hôm trước chúng ta đã nói sơ lược về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – tức là luôn luôn lúc nào mình cũng phải giữ gìn, hộ trì, bảo hộ sáu căn của mình. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình phải được giữ gìn. Vì chưa học duyên sanh pháp nên chúng ta chưa nắm rõ được sự vận hành của căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, cho nên mình phải học duyên sanh pháp. Chúng ta sẽ nói theo tiếng Việt để dễ hiểu, vì nếu nói tiếng Hán Việt căn, trần, thức thì ta cứ tưởng là mình hiểu nhưng thật ra mình không hiểu.
Duyên sanh pháp của mắt: do duyên có mắt và các sắc, sanh khởi lên sự rõ biết của các sắc, khi ba pháp này giao thoa, hội tụ lại với nhau tạo thành sự tiếp xúc của con mắt gọi là nhãn xúc, khi tiếp xúc như vậy sanh ra cảm thọ, cảm giác. Và khi sanh ra cảm thọ thì sẽ rơi vào ba cảm thọ đã học là: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Cảm giác dễ chịu thì mình tham, ái, thích; cảm giác khó chịu thì sanh mệt mỏi; cảm giác không dễ chịu không khó chịu thì mình đơ đơ, trơ trơ trong cái si.
Có sự hộ trì là khi nhìn thì mình phải giữ gìn con mắt. Không phải muốn nhìn là nhìn và cái nhìn của mình là nhìn như thế nào để khi nhìn rồi thì mình không bị nắm giữ tướng chung và không nắm giữ tướng riêng. Ví dụ như một con người, nhìn chiều cao, dáng dấp, đen trắng là tổng thể, là tướng chung; còn tướng riêng là từng chi tiết, ví dụ như mũi, mắt, bàn tay, cánh tay. Nếu nhìn hoặc tiếp xúc mà mình bị nắm giữ tướng chung hay nắm giữ tướng riêng thì những tham ái ưu bi, ác bất thiện pháp sẽ khởi. Một khi nắm giữ tướng chung, tướng riêng đó, mình thọ, mình yêu thích hay ghét bỏ nó là mình đều bị tham ái hoặc ưu bi. Tức mình ưa thích thì mình tham ái; còn mình ghét bỏ, bực bội, khó chịu, ưu não là ưu bi. Cho nên trong kinh Tứ Niệm Xứ có nói là để trừ diệt tham, ưu ở đời là như vậy.
Để không tham muốn và buồn lo, đau khổ thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, điều này khó, không phải chuyện dễ. Không biết dụng tâm và hộ trì tu tập thì không bao giờ mình biết cái này. Khi tiếp xúc với con người, cảnh vật, món đồ nào thì mình thâu hết những cái đó vào tâm nên mình thu nhận, thọ nhận, thành ra cái thọ này ghê lắm. Từ xúc mới sanh thọ, tức là tiếp xúc mới sanh ra cảm giác và mình tiếp xúc là từ chỗ sáu căn. Cho nên nếu mình giữ gìn sáu căn thì cái xúc của mình đỡ, vì vậy cái thọ cũng đỡ. Còn nếu không giữ gìn, không phòng hộ, không hộ trì thì bung hết. Cứ tiếp xúc, thọ, thủ một cách thoải mái rồi tham, sân, si thoải mái thì đau khổ vô cùng, đó cũng từ chỗ mình không biết hộ trì. Thế nên mình phải giữ gìn, chế ngự, đối với tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp mình phải diệt trừ, chúng ta sẽ tự chế ngự những nguyên nhân ấy, hộ trì sáu căn. Đó là duyên sanh pháp của mắt.
Duyên sanh pháp của tai: do duyên có tai, có âm thanh, có sự rõ biết của âm thanh, ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành nhĩ xúc – sự tiếp xúc của tai và tiếp xúc thì sanh thọ. Tức là nghe một câu nói hoặc nghe một tin gì đó thì cũng đã rụng rời tay chân, có thể bệnh luôn hoặc ngất xỉu.
Vừa rồi, cách đây mấy ngày, xem trên tin tức, có một cậu đang chở mẹ tới chỗ làm. Khi người mẹ bước xuống thì cậu này quay chiếc xe để trở về thì ngay chỗ đó có một chiếc xe tải che mất tầm nhìn, cậu này không thấy nên xe tải chạy tới cán lên nát người hết, người mẹ đứng kế bên thấy vậy xỉu xuống, bất tỉnh. Như vậy xúc một lần là sanh thọ, mà thọ này xâm chiếm toàn bộ ngũ uẩn, người mẹ té xỉu ngay tại chỗ khi thấy con mình như vậy. Chỉ bất cẩn một chút thôi là xảy ra án mạng, không ai có thể tưởng tượng nổi chỉ một cái quẹo xe thôi lại nát bét ra hết cả cơ thể, thân xác. Như vậy lúc đó căn, trần, thức, xúc, thọ, vận hành cùng một lúc, xâm chiếm toàn bộ thân tâm nên người này ngã quỵ, ngất xỉu. Lúc đó có căn gì? Mắt nhìn thấy, tai có nghe tiếng, lời nói kêu gào và ý xúc ở trong.
Như vậy, có tai, âm thanh, sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao thoa tạo thành nhĩ xúc – sự tiếp xúc của tai. Ví dụ, có tai, âm thanh của máy lạnh, mình rõ biết âm thanh đó thì ba pháp này giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của tai rồi sanh ra cảm thọ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Sáu căn, sự tiếp xúc rất khiếp, nếu mình không có sự hộ trì thì nhìn thấy một cái gì hoặc nghe một tiếng là có thể bị sân si, tham ái; hoặc tiếp xúc, đụng chạm thì mình cũng chết. Trong kinh Đức Phật có nói chung quanh là gai, trước mặt là gai, hai bên là gai, sau lưng là gai, đi chỗ nào cũng có gai. Cho nên, người biết tu là người phải hộ trì rất cao vì không hộ trì thì sẽ đạp trúng gai.
Duyên sanh pháp của thân: do duyên có thân, có sự đụng chạm, ví dụ như tiếp xúc với quần áo, cái ghế đang ngồi, bồ đoàn, hay cái gì đó và mình rõ biết sự đụng chạm với nó thì đó là thân thức. Nhiều khi học nhưng không thực hành thì mình không biết thân thức là gì. Ví dụ như giờ mình đang ngồi, ngay chỗ cấn với bàn ghế, mình rõ biết điều đó thì đó là thân thức. Chỗ nào tiếp xúc với da, như quấn áo, cái ghế cây hay gỗ cấn vào chỗ đó và mình biết được chỗ đó, như vậy gọi là thân xúc. Do duyên có thân, có sự đụng chạm, chỗ đó sanh ra sự rõ biết của đụng chạm, ba pháp này giao thoa với nhau gọi là thân xúc, thân xúc sanh thọ. Ví dụ ngồi ghế gỗ bị cấn đau thì hơi khó chịu; còn khi ngồi ghế salon đẹp, xịn, mắc tiền thì không chỉ lên ngồi mà còn nhún nhún nữa, đó là sanh ra sự dễ chịu, ưa thích, tham ái; hoặc trời nóng nên khó chịu mà nếu máy ở nhiệt độ 18 ºC thì dễ chịu. Đó là là thọ thân. Khi tiếp xúc sanh ra cảm thọ thì tất cả đều phải được hộ trì, được dòm ngó, được quản lý, xem xét xem trong đó có cái gì, trong thọ đó có tham ái, có sân si thì phải nhìn thấy, chứ không phải có thọ thì để vậy và không thấy gì hết. Phải nhìn thấy được cái nào mình cho thọ và cái nào mình không cho thọ. Có những cái mình cho thọ rồi sau đó mình bị trói cột suốt đời. Giới luật là chỗ này, vì Đức Phật là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Đức Phật biết thọ cái nào là nên và thọ cái nào là không nên. Những cái không nên thọ mà mình lại thọ thì mình chết, mình không tu được. Giới luật, oai nghi, phép tắc trong đạo là chỗ đó, để bảo hộ sự xúc, thọ – tức tức là khi mình tiếp xúc sanh ra cảm thọ gọi là cảm xúc.
Duyên sanh pháp của ý rất sâu sắc, có khi tu suốt đời mình cũng không biết thế nào là tu hộ trì ý căn. Điều này rất khó, phải có người hướng dẫn, phải có thiền tập thì mới biết làm thế nào để hộ trì ý căn. Ví dụ như giờ mình đang ngồi, thì bỗng nhiên trong tâm mình có hình bóng của một ai đó xuất hiện. Khi hình bóng đó xuất hiện thì có một cảm giác tương ứng đi theo hình bóng đó. Nếu hình bóng đó là một người mình ghét thì có cảm thọ sân si (khổ thọ), hình bóng đó là tưởng uẩn và hành nói chung quanh hình bóng đó – hành uẩn. Có hình bóng xuất hiện trong tâm dầu không có người, có cảm giác đi theo và suy nghĩ chạy lòng vòng, nếu có hộ trì ý căn, lúc đó mình biết có hình bóng, biết đang có cảm giác khó chịu và biết đang có suy nghĩ về hình bóng – đó chính là thức. Nếu có hộ trì, mình sẽ tự nhủ: “Giận gì mà giận, sân gì mà cứ sân hoài vậy, giận ba bốn chục năm rồi chưa đủ hay sao? Thôi đi, an tịnh đi, an dịu đi, mát mẻ đi. Cho khỏe, nhẹ nhàng. Đốt cháy hoài để làm cái gì?” Mình tác ý như vậy để đánh đuổi những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ sân giận ra khỏi tâm, ngăn chặn, không cho tâm đi theo những hình bóng, suy nghĩ, giữ gìn tâm để nó trở về cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, đó chính là hộ trì ý căn. Còn không hộ trì là mình đi theo, mình nhớ lại xem tuần trước người đó nói mình câu gì, nhớ lại ba tháng trước người đó hành động như thế nào, rồi lại nhớ thêm năm năm trước, mình lôi hết một chuỗi, kết thành nguyên một tràng đều là sân hận, khi tức quá thì phát ra ngôn ngữ, hành động thiêu đốt. Sự tu vi tế như vậy. Ý rất ghê gớm, nhiều khi chỉ một mình thôi mà nó tự vận hành, nếu không tu tập, không nhận thức ngũ uẩn là mình không biết, nên thọ, tưởng, hành khởi lên là mình nhập vào theo nó.
Trường hợp hình bóng của người mình ưa thích hiện ra, hoặc những điều mình từng tiếp xúc lúc chưa đi tu hoặc đã đi tu hiện ra, hoặc nghĩ rằng mai mốt sẽ như thế nào, lúc đó, hình bóng hiện ra, cảm giác đi theo, có suy nghĩ nói lầm thầm, cái thức biết những điều đó, ngay lúc đó nếu không hộ trì, không giữ gìn thì mình sẽ đi theo. Những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ của quá khứ sanh khởi lên thì thọ, tưởng, hành mới lại sanh, sau đó nó diệt, rồi lại sanh ra. Cứ vậy từ thọ, tưởng, hành một rồi tiếp tục có thọ, tưởng, hành hai, ba, bốn,… cứ vậy chúng nó sanh khởi nên gọi là chúng sanh, mình đi theo trong đó, không hộ trì ý căn. Mình thấy được những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ, mình biết được là tại vì mình có để ý vào trong tâm. Nếu không để ý thì mình không biết lúc đó mình đang suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì. Cho nên người không để ý vào trong mà cứ hướng ngoại thì người đó tu không được.
Có những việc mình gặp hằng ngày nhưng mình không biết, đó là vô minh. Ví dụ, đi đến đâu đó, mình va quẹt bị trầy xước nhưng không biết, mình lo làm bài, lo học hoặc thi cử, tới chừng biết thì mình nhìn lại thì không hiểu tại sao lại trầy một miếng. Khi để ý chỗ đó thì thấy hơi rát rát, đau đau, sưng sưng, tức là, mình để ý chỗ nào thì chỗ đó mới hiện rõ ra trong tâm của mình, và sự để ý đó là ý căn.
Một ví dụ khác, vào buổi tối hoặc trong phòng bị cúp điện thì mình cầm đèn pin, muốn nhìn chỗ nào rõ thì mình rọi vào chỗ đó thì vật ở trong hướng đó sẽ hiện rõ ra theo ánh sáng của mình rọi. Cũng như vậy, khi chúng ta để ý chỗ nào thì chỗ đó hiện ra các pháp trong thân tâm của mình; còn nếu mình không để ý là không hiện ra. Bây giờ mình ngồi lắng yên lại, để ý vào bên trong một hồi thì mình thấy trong tâm có một cái tưởng. Nhiều khi được hỏi thì nói mình không có hình bóng gì hết, đó là tại vì mình hướng ra ngoài, còn nếu để ý vào trong thì mình thấy có hình bóng, có cảm giác, có suy nghĩ. Như vậy, sự để ý hướng vào tâm để nhìn là ý căn; còn sự rõ biết lúc đó có hình bóng gì, có cảm giác gì, có suy nghĩ gì là ý thức; những hình bóng, những cảm giác, suy nghĩ, những cái mình đã nghe, đã tiếp xúc, giờ còn lưu bóng trong tâm mình và hiện khởi trở lại là pháp trần – ba cái này là căn, trần, thức, đây là chuỗi duyên sanh pháp. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần rồi sanh khởi sáu thức và xúc sanh ra thọ. Đây là nói đơn giản, sau này chúng ta sẽ học kĩ.
Trở lại vấn đề, mình để ý thì mới thấy trong tâm mình có hình bóng – tưởng uẩn. Đi theo hình bóng này thì sẽ có cảm giác và suy nghĩ cứ lòng vòng với nhau. đây là nội trần – pháp trần ở bên trong, vì đây là mình nói trong tâm, còn ngoại trần là nói bên ngoài, sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tức là khi mình để ý thì sẽ hiện ra hình bóng ở trong tâm, rồi tưởng, thọ, cảm giác, những suy nghĩ hiện ra; lúc đó mình nhận thức, ý căn phải để ý vào bên trong mới thấy ra được những cảm giác, hình bóng, nên thức mới rõ biết được – khi đó ba pháp này hội tụ với nhau tạo thành xúc. Ba pháp này chạm nhau, gặp gỡ ở một điểm giao thoa với nhau, đây gọi là ý xúc. Tức là cầm đèn pin, lia vào góc, nơi đó hiện rõ ra là cái bình, cái chén hay cái tô; ý căn đưa vào trong tâm nên thọ, tưởng, hành hiện ra và thức nhận thức được; khi đó ba pháp này giao thoa với nhau sanh ra cảm thọ. Cho nên ngồi một mình cũng có thể giận, có thể buồn, có thể vui. Tuy là ngồi một mình, nhưng nghĩ về người nào đó, có hình bóng người đó, rồi tự nói: “Tôi nghĩ về người đó tôi thấy thương quá!” hay “Nghĩ về người đó tôi thấy tôi bực mình, khó chịu quá, tôi thấy tôi ghét ghê vậy đó!” hoặc “Tôi thấy gj đó bình thường, không tốt không xấu.” Thành ra, tất cả mọi thứ trên cuộc đời đều không ra ngoài ngũ uẩn, tóm thâu hết Thánh trí ngũ uẩn là gom thâu được nhân sinh, vũ trụ, thế giới. Phải học kĩ ý xúc này, ngồi thiền sẽ sử dụng điều này.
Và khi tham sân, ưu bi là phải hộ trì, không đi theo nó, biết nó chỉ là thọ, tưởng, hành thôi, nó không có thật, chỉ là duyên sanh, là vô thường thôi. Vì con mắt của mình nhìn thấy người nên giờ hình bóng người đó hiện ra; tại vì mình nói chuyện với người đó nên giờ câu nói mới văng vẳng đâu đây nhưng đó là pháp duyên sanh, không có thật, vô thường, trống rỗng, vô ngã. Vì vậy, nên xả bỏ, từ bỏ nó, không vì những câu nói, những hình bóng đó mà mình đau khổ, tham ái, mệt mỏi, hãy buông xả, từ bỏ, vứt bỏ, chấm dứt. Đó là mình hộ trì, không để tâm mình bị tàn phá, phá hoại, đau khổ, khổ sở; còn nếu không hộ trì thì hình bóng hiện ra, dù mình giận hay mình thương đều chết hết. Thương có khổ không hay là nói thương không khổ? Có khi thương còn khổ hơn cả giận, mỗi cách mỗi kiểu khổ. Đừng tưởng được thương là ngon, nhiều khi chịu không nổi, như là bắt phải ăn cái này, bắt phải uống cái này, chỗ này cho đi, chỗ kia không cho đi, khổ lắm. Cho nên phải học hộ trì vì đây là pháp tu hết sức quan trọng.
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ tai.
Lành thay, phòng hộ mũi,
Lành thay, phòng hộ lưỡi.
Lành thay,phòng hộ thân!
Lành thay, phòng hộ lời,
Lành thay, phòng hộ ý.
Lành thay, phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả.
Thoát được mọi khổ đau.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỳ-Kheo)
Tỳ-kheo phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, phòng hộ tất cả sẽ giải thoát mọi khổ đau. Nếu mình không đề phòng là nguy hiểm, giặc bắn tỉa, du kích, bất cứ lúc nào nó cũng bắn đạn mình, cứ núp lùm, núp trong bụi cây, nhân lúc mình không để ý nó bắn thì xem như xong. Như ví dụ lúc nãy, cậu con trai không nhìn kỹ, không quán sát, quẹo một cái là toàn thân nát hết. Người tu cũng vậy, nếu không biết hộ trì, không biết giữ gìn, không biết bảo hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình thì tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não sẽ tàn phá thân tâm của mình và chúng ta sẽ sống trong một đời sống khổ sở, không an lạc, dù ở trong chùa nhưng không an lạc. Bởi vì mình chất chứa những thọ, tưởng, hành ác, bất thiện pháp.
Chúng ta không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng và làm sao không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng? Đó chính là phải phá thân kiến. Phải biết hình ảnh này là ảo ảnh trong tâm của mình, đây chỉ là ảo ảnh, trống rỗng, trống không, trống trơn, là do pháp duyên sanh vô thường, giả dối, ảo tưởng, ảo vọng, ảo giác, không có thật và do pháp vô ngã. Tại sao mình lại phải đau khổ với nó, tại sao mình lại giận hoài với nó để được cái gì? Tại sao mình cứ dính mắc, chấp chước, tham ái để làm cái gì trong đống giả dối, ảo ảnh này, có ai ở đây đâu? Hỏi tâm giận của mình: “Mày muốn vào bệnh viện tâm thần hay sao mà ngồi một mình ở đó mà thương với giận?” Cứ tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm giác, nghĩ tưởng đó ra khỏi tâm để cho mình an tịnh, lắng dịu, chánh niệm, tỉnh giác, trở về với thực tại, thiện pháp lạc trú, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác trong an tịnh, lắng dịu, không chạy theo những ảo ảnh, ảo tưởng đó nữa, trở về giây phút hiện tại và cảm nhận. Đó là thiền, là tu tâm, là chánh tư duy, là hộ trì. Cho nên khi mắt tiếp xúc; tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc phải hết sức cẩn thận.
Ví dụ mình biết người đó hay gây sự lắm, thế nào nói một hồi cũng gây sự nên mình cứ tránh đi. Đức Phật ví dụ đi ra đường gặp chó điên hay gặp người điên thì nên tránh, đừng lại gần, lại sẽ “lãnh đủ”. Một người sân hận, sân si, kiếm chuyện, gây sự thì tốt nhất mình nên tránh, chạy là thượng sách. Đức Phật từng dạy mình pháp đoạn trừ phiền não là phương pháp tránh né để đoạn trừ, không phải lúc nào mình cũng “yếu mà ra gió”, giống đang bị cảm mà ra tắm mưa thì sẽ bệnh. Vậy nên phải tránh né để đoạn trừ, kham nhẫn để được đoạn trừ. Tùy theo trường hợp, tùy theo loại phiền não mà tu tập để đoạn trừ, trừ diệt chứ không phải cái nào cũng nhào vô hết, như vậy mình sẽ chết, cho nên phải tránh né và phải hộ trì. Thế nên xúc rất ghê, bây giờ không nhất thiết là đi gặp mà chỉ cần cầm điện thoại trong phòng và “quẹt” một mình thì đó là xúc và có thọ, tưởng, hành. Những đứa nhỏ bị bệnh nghiện game, ghiền rồi bỏ học, bỏ ăn, bỏ ngủ và chết trên các bàn game, hết sức ghê gớm. Đó là xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, rồi chết trên đó – tử thủ, mà đó là các game thủ. Cho nên, người tu phải là xạ thủ, tức là phải bắn được giặc phiền não chứ không phải là game thủ. Khi mình tu mình phải phòng thủ, chứ đừng để thành chấp thủ, tử thủ. Việc này có nhiều trường hợp chứ không chỉ có người chơi game thôi. Ví như tử thủ trong nhà bếp – tức là không cho người khác vào: “Nhà bếp này là của con!” nếu có người nào vào thì: “Không được! Một mình con làm thôi”, không người khác nào được vào hết, mà ai vào cũng chạy hết. Như vậy là thủ, là nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, là ác bất thiện pháp sanh khởi, là sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì vậy, tu là phải xả, không phải thủ. Dễ lắm, tâm này là một tâm chấp thủ, chấp bên trong và chấp bên ngoài, phải nhìn thấy được điều đó để phòng hộ, hộ trì còn nếu không thì mình tu hoài không tiến.
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể khởi lên ý kiến: ""Chúng ta đã thành tựu tàm quý, thân hành chúng ta thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sanh mạng thanh tịnh, và các căn đã được hộ trì, đến mức độ này, như vậy là vừa đủ; đến mức độ này, như vậy đã làm xong. Chúng ta đã đạt được mục đích Sa-môn hạnh. Chúng ta không có gì phải làm hơn nữa". Và cho đến mức độ ấy, các Ông có thể tự thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, Ta khuyến cáo các Ông. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố cho các ông: Khi các Ông hướng đến mục đích Sa-môn hạnh, chớ có từ bỏ mục đích này, khi đang còn công việc đáng phải làm hơn nữa. (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Đó là lời Đức Phật dạy, tu mà giữ luôn hộ trì sáu căn, giữ gìn kĩ lưỡng như vậy nhưng cũng không được tự mãn, không khen mình chê người. Đây là điều mình dễ mắc phải, khi tu được một chút thì mình nhìn người ta rồi nói người ta không tu, chúng ta dễ bị cái đó lắm. Thế nên mình chỉ quay về hướng nội, tự tu cho mình, còn chuyện của người ta là của người ta, nếu mình có trách nhiệm, bổn phận thì mình nhắc nhở, người ta nghe hay không là quyền của người ta, chứ mình đừng phiền não. Nhắc mà người ta không nghe thì mình buồn, như vậy để làm chi, sao không tự lo cho mình? Mình còn tham, sân, si, bản ngã mà không lo diệt, cứ nhắc người ta phải diệt, nếu người ta không diệt thì mình buồn, vậy tại sao mình không buồn cho chính mình?
Tiếp theo Đức Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải biết tiết độ trong ăn uống, với chánh tư duy, chúng ta thọ thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hổ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn". (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Phải học thuộc lòng cách ăn của Đức Phật để thực tập hằng ngày. Đây là tám công đức của Đức Phật và các vị Thánh tăng lúc xưa khi ngồi ăn cơm: “Không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để làm đẹp mà chỉ là để sống lâu, bảo dưỡng thân này để không bị thương hại, hỗ trợ phạm hạnh”. Mình ăn không phải để vui, không được vui thích trong cái ăn đó, tại vì nếu vui thích thì ngày sau chúng ta sẽ trở lại ăn nữa, không giải thoát. Đó là một trong tứ thực để nuôi ngũ uẩn, nếu mình ưa, mình thích tức là mình ái, nên đời sau mình sẽ kiếm để ăn nữa. Cho nên người tu để dứt sanh tử thì phải cắt đứt hết tất cả tứ thực, tức là diệt toàn bộ ái, không còn ái bất cứ thứ gì trên cuộc đời này thì người đó mới giải thoát; nếu còn ái với một cái gì thì đời sau sẽ đi kiếm cái đó, đây là chỗ thâm sâu, như vậy mới gọi là đoạn tận sanh tử. Một khi còn thích cái đó thì còn trở lại tìm cái đó, thế nên, không vui thích, đam mê thức ăn đó. Có thì ăn không có thì thôi, không đòi hỏi, không tìm kiếm, không có bị dính mắc trong thức ăn. Điều này phải tu tập nhiều lắm, phải tác ý trong đó chứ không đơn giản. Trong sự ăn có nhiều cái để tu, ăn không phải để trang sức, không phải để làm đẹp cho mình mà chỉ để thân này được sống, được bảo dưỡng, đừng bị tổn thương, bệnh hoạn hay suy yếu sức khỏe, hỗ trợ phạm hạnh, tức là thành tựu đời sống thanh tịnh cứu cánh, diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
“Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên cảm thọ mới”, câu này không phải dễ hiểu. Cảm thọ cũ là khi nhìn thấy tô bánh canh, tô hủ tíu hay tô bún huế, mình nhìn thấy thọ, tưởng, hành khởi ra vì mình từng ăn qua tô này rồi, món đó sẽ có sắc, hương, vị giống như vậy. Chúng ta nghĩ đến nghĩ tưởng lúc trước, đó gọi là cảm thọ cũ – cảm giác lúc xưa mình nhìn thấy món này. Cho nên ở đây mới nói là “diệt trừ các cảm thọ cũ” – tức là khi khởi lên thọ, tưởng, hành về các cảm giác lúc trước mình được không chấp nhận. Đừng tưởng tu là dễ, tu để mà thành tựu Thánh quả, để diệt tận tham ái là không đơn giản chút nào hết. Khi mình nhìn món ăn nào đó thì thọ, tưởng, hành sẽ vận hành theo cảm thọ cũ lúc trước mình từng ăn. Chúng ta tưởng ra vị của nó cũng như vậy, hương của nó cũng như vậy. Lúc đó tất cả hiện khởi ra nơi đó và mình phải dập tắt điều đó, không ưa thích, không đam mê và quán chiếu rằng món ăn này vô bụng rồi sẽ thành cái gì, khi ra có mùi gì? Lúc đó ưa thích không? Đam mê không? Khoan khoái không? “Ăn bao nhiêu chục lần rồi mà vẫn đam mê, tham ăn hoài vậy, làm như Trư Bát Giới hả?” Phải tác ý như vậy để đánh đuổi những cảm thọ ưa thích, tham ái, khoan khoái, thích thú, dính mắc chỗ đó. Đó gọi là diệt trừ cảm thọ cũ không cho phát sanh cảm thọ mới. Khi ăn vào, lúc đó phải cẩn thận xem mình đang ăn bằng dục, tham, ái hay là ăn bằng chánh niệm tỉnh giác, phải quán chiếu.
Cho nên, ăn trong sự tu học là cả một vấn đề, giống như chiến trận, lâm trận, khi ăn giống như đang xáp lá cà chứ không phải ăn là sung sướng. Người tu phải ăn như vậy, chứ không phải ăn mà húp “sột sột”, gắp lia gắp lịa, mặt mày tươi rói, đó là vô văn phàm phu. Thời Đức Phật ôm bình bát khất thực, người ta cho chè, cháo, bánh trái đổ chung hết, rồi về ăn, khó ăn vô cùng, không phải dễ. Có Hòa thượng rất lớn bên Nam Tông nói với Minh Thành là cái gì sư cũng ăn, dễ ăn lắm nhưng để chung vào bình bát như vậy thì tuyệt đối ăn không được. Nhưng chúng ta phải ăn như vậy là để phá cảm giác tham ái trong khi ăn. Đó là trí huệ của Đức Thế Tôn. Còn bây giờ toàn lựa nhà hàng ngon để ăn. Do không học nên mình không biết, tưởng đó là bình thường nhưng đó là sai nặng. Chúng ta phải phá tham ái đối với vị giác, cho nên ngày nào về tới chùa không còn gì ăn nữa là mình coi đây là bài tập kiểm tra tâm mình, đừng sân hận, đừng buồn phiền. Chúng ta không thể nào được như Đức Phật nhưng ít nhất phải đỡ hơn bây giờ, khi học cái này thì mình nói: “À, giờ khó quá làm không được nhưng mà mình thực tập từ từ, mình để ý thì sẽ đỡ hơn hiện trạng bây giờ, rồi từ từ mình mới bước lên.” Minh Thành có một món rất đặc biệt, không biết có ai muốn ăn không? Món này độc địa lắm, lâu lâu Minh Thành mới đãi. Đó là tất cả đồ ăn còn thừa lại trong mâm cơm đem trộn chung vô hết tất cả, rồi nấu cho nóng lên, để một ít tiêu, tương ớt và ăn. Nhưng trộn phải biết cách trộn, không đổ chè, cháo hay trộn coca cola vào chung mà nấu. Bây giờ thọ, tưởng, hành chúng ta đang vận hành đó, qua tới cơm trộn bên Hàn luôn rồi phải không?
Vì vậy, nếu chúng ta thấy được vấn đề, hiểu được ý nghĩa của Đức Phật dạy thì hay lắm. Đó là để mình bớt tâm chấp thủ, tham ái trong món ăn, để mình được nhẹ nhàng hơn vì có những người chấp nặng. Mặn chút không được, lạt chút cũng không được, ngọt cũng không được, không có ớt thì ăn cơm không được, cũng có người cay quá ăn không được, nóng quá hay nguội quá cũng không được, đủ thứ chuyện trên đời. Mỗi chuyện ăn này thôi mà tu cũng ngon lành lắm, nó là cả một vấn đề trong sự tu, chứ không phải chỉ trên Chánh Điện là tu, ngay chỗ ăn cũng vậy, tu rất nhiều. Cả một vấn đề tu trong sự ăn, kiểm soát dục, tham, ái trong khi ăn, hoặc là tâm dính mắc, chấp thủ trong khi ăn. Xem nó như thế nào để mình nhiếp phục cảm thọ trong khi ăn. Chúng ta phải nghe bài Cách ăn của Đức Phật, nghe ba chục lần, trăm lần, nghe hoài bài kinh đó, người nào nặng về cái ăn thì phải nghe một ngàn lần để kiểm soát trong sự tu. Và dầu cho giữ được mình như vậy, ăn uống có tiết độ, đến mức độ này nhưng không khen mình chê người, không được tự thỏa mãn, và có việc cần phải làm hơn nữa.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải tu tập. " (Trung Bộ Kinh, 39. Đại Kinh Xóm Ngựa)
Đây là cả một vấn đề phải chú tâm cảnh giác. Ban ngày mình đi kinh hành hay trong lúc ngồi phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ví dụ, đang đi thì bỗng nhiên sanh khởi lên ý thích, mến hay khoái, ham muốn cái gì đó thì phải tẩy sạch tâm ngay lúc đó. Nếu muốn được như vậy thì sự nội quán phải tinh chuyên, phải thường trực nhìn lại thọ, tưởng, hành, nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng mới biết được lúc đó đang nghĩ cái gì, nhìn bên ngoài thì không thể biết. Thế nên, phải thường trực nhìn lại nội tâm, nội quán, nội soi, nội chiếu, phản tỉnh. Khởi lên khó chịu là mình tẩy sạch liền ngay lập tức, ngay tại chỗ đó, không để cho nó thêm một chút nào nữa, tới ngày hôm sau hay tuần lễ sau mà còn giận thì đó không phải là người tu. Tại vì như vậy là mình chấp nhận, chấp chứa, nuôi dưỡng những cảm giác sân si, bản ngã, hơn thua, thị phi, ganh tị, đố kỵ, đó đâu phải là tâm của người tu. Chỉ khác cái đầu với cái áo thôi chứ ở trong thì không khác gì người thường hết. Người tu là người chú tâm cảnh giác, ban ngày khi đi kinh hành hay lúc ngồi, phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.
Chướng ngại pháp là ngũ cái: dục tham; sân; trạo cử, trạo hối; hôn trầm, thùy miên; hoài nghi – năm sự che đậy tâm. Thấy dục tham mình phải tẩy; thấy sân là mình phải diệt, phải dập tắt; thấy trạo hối, lăng xăng, lóc chóc là mình phải làm cho yên tịnh, khinh an; thùy miên, buồn ngủ thì phải đánh đuổi để làm cho mình tỉnh, ngồi thiền rồi đơ đơ, một lúc nằm dài xuống luôn, không có chống cự gì hết, làm kẻ chiến bại, binh tàn tướng bại, cho nên phải diệt nó. Như vậy mới là người tu, là thăng tấn, là sự tu tập của ta. Trong bài Đức Phật dạy phải đánh đuổi cảm giác si si, ngơ ngơ, đơ đơ. Lúc trì trệ xuống thì lúc đó mình phải cảm giác con mắt, cảm giác đầu, cảm giác tầm nhìn của mình. Vì mắt đơ đơ rồi đầu sẽ nặng xuống, vì đang cảm giác toàn thân nên mình nhận thức cao lắm, nó xuất hiện là mình biết liền, đánh đuổi nó.
Hồi xưa Minh Thành ngồi thiền trên Thiền Viện Trúc Lâm năm 1994, lúc đó Minh Thành còn nhỏ, 19 hay 20 tuổi, Minh Thành lấy dầu xanh xát vô hai mắt nhưng vẫn ngủ. Cho nên, chúng ta phải chống cự, phải chiến đấu, phải hùng dũng, mạnh mẽ làm dũng sĩ, chiến sĩ hay thậm chí là liệt sĩ cũng được chứ không thể ngồi đó rồi buồn ngủ cứ cho nó ngủ. Phải chiến đấu, thà sống huy hoàng, rực sáng trong một lúc thôi còn hơn le lói suốt ngàn năm. Phải làm cho bừng sáng, rực sáng, chiếu sáng trong Thánh trí huệ, chết cũng được.
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không tinh tấn,
Tốt hơn sống một ngày
Tinh tấn tận sức mình.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngàn)
Cho nên phải ứng dụng vào đời sống của mình, ứng dụng mọi lúc mọi nơi. Giờ học giờ tu, giờ hành trì là phải dùng hết sức, ngoài giờ đó cũng phải nỗ lực, tinh tấn chứ không phải nói ngoài giờ đó là mình không tu. Đức Phật nói những gì phải làm lúc “ban đêm canh một”, tức là đầu hôm, “ban đêm canh giữa”, “ban đêm canh đầu thức dậy”. Lúc xưa Đức Phật ngủ ít lắm, một đêm chỉ ngủ ba bốn tiếng đồng hồ để còn nhiều giờ ngồi thiền và đi kinh hành. Cho nên canh đầu, canh giữa, rồi lại ban đêm canh đầu thức dậy, lúc nào cũng vậy, thức dậy là đi kinh hành hay ngồi thiền, tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp. Các Ngài chỉ có một việc là suốt ngày tẩy sạch, gội rửa bên trong nên các Ngài đi đến Thánh quả mau. Còn mình bây giờ không biết “gội” gì, mua xà bông xịn, xà bông nhập về gội, xà bông xả không xài, xà bông cục nhiều khi chê. Tu là gội trong tâm nhưng mà suốt ngày lo gội cái thân thì không được. Cho nên ngày đêm, giờ phút nào các Ngài cũng quay trở vào để tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, có như vậy tu mới mau, mới thành tựu, thành công, đạt Thánh quả.
Chúng ta không để tâm nhiều vào sự tu, giờ ra chơi nghe tiếng chuông thì đã nghĩ tới không biết chiều nay ăn gì, chứ không phải nói: “À, sao mà bây giờ mình thấy tu lâu quá rồi mà sao cái sân của mình cũng còn? Sao mình tu lâu quá rồi mà sao bản ngã của mình cũng khởi lên vậy? Mình tu lâu quá mà cái tham của mình cũng còn mà nó không chịu giảm? Thấy lo quá, buồn quá, giờ mình tu làm sao, phải làm cách nào để cho nó có hiệu quả mới được.” Như vậy mới có sự để tâm, có Tứ Như Ý Túc Túc, Tứ Chánh Cần. Còn nếu mình: “Thôi kệ, quan trọng là ăn gì, đi đâu, làm gì”, nhưng sự tu mình không quan trọng thì làm sao thành tựu? Cần để tâm rất nhiều vào sự tu học. Ban ngày đi kinh hành, trong lúc ngồi có cái gì sanh khởi lên chướng ngại pháp là tẩy liền, rửa liền, diệt trừ, đoạn tận liền.
Ví dụ như mình đang ngồi đây, bỗng nhiên có một lớp ra chơi, mình nghe tiếng ào ra thì trong này thọ, tưởng, hành nôn nôn, phải để ý kĩ mình mới thấy. Mình nghe lớp kế bên ra chơi, trong này đã thấy nôn nôn, cảm giác dâng dâng lên, hai chân rung rung, giật giật muốn đứng lên. Chúng ta phải nhìn thấy cảm thọ đó để nhiếp phục, bắt nó ngồi yên, không được nhúc nhích. Chừng nào chuông reo, hoặc thậm chí chuông reo mà ông thầy chưa ra thì nghĩ rằng hôm nay mình học được thêm, học được như vậy là ngon lanh. Hoặc là mình chỉ bắt chân ngồi yên đến khi chuông reo, như vậy là mình đã có chiến tích, chiến đấu.
Minh Thành khi đi hầu pháp với các Thầy, các Ngài, các Hòa thượng ở nước ngoài thì đến mười tiếng đồng hồ, bằng tiếng Hoa, khách đến thăm mà Hòa thượng không tiếp. Hồi xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, thường thường thuyết pháp suốt đêm, đọc kinh Nikāya mình sẽ thấy, Ngài rất thường thuyết pháp và ngồi thiền suốt đêm không ngủ. Khi đó Đức Thế Tôn giảng xong rồi Ngài nói với Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên: “Ta đau lưng, hãy trải y tăng-già-lê giùm ta”, lúc đó Ngài đã già, khoảng hơn 70 tuổi, Ngài xích qua một bên, nằm rồi Ngài kêu Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên “Các Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ rồi, hãy tiếp tục thuyết pháp, khích lệ, hướng dẫn cho chư tăng chúng.”, cứ như vậy suốt sáng đêm.
Như vậy, khi các Ngài đi vào pháp là quên thân, hỷ lạc trong pháp, trong sơ thiền nên hạnh phúc lắm. Còn chúng ta ngồi yên nghe pháp hoặc ngồi thiền khoảng chừng một tiếng hay một tiếng hơn là cảm thấy khó chịu, đó là tại vì mình không hỷ lạc trong pháp, còn các Ngài trú trong trạng thái sơ thiền, hỷ lạc của pháp. Thậm chí Đức Phật nói vua Ba-tư-nặc: “Các nhà vua có thể ngồi bất động nguyên một ngày đêm mà được hỷ lạc không?” Điều này đương nhiên là không được, Đức Phật mới nói: “Ta có thể ngồi suốt bảy ngày bảy đêm không cử động, trú trong hỷ lạc”. Đó là các vị tu tập và có được thiền lạc, pháp lạc, tịnh lạc. Còn chúng ta ở trong dục lạc, cứ đòi ăn, đòi ngủ, được buông lung, được thả ra thì mới thấy thoải mái, ngồi tu là thấy khổ, ngồi thiền thì đau chân, buồn ngủ, nghe pháp một hồi là chán. Tất cả những điều này là tại vì mình chưa nếm được hương vị của bất tử./.