Chân Thật Và Phản Tỉnh
CHÂN THẬT VÀ PHẢN TỈNH
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Giáo giới La-hầu-la PAGEREF _Toc69972600 \h 1
II. Phản tỉnh khi hành thân nghiệp PAGEREF _Toc69972601 \h 5
III. Phản tỉnh khi hành khẩu nghiệp PAGEREF _Toc69972602 \h 9
1.Cẩn thận khẩu nghiệp PAGEREF _Toc69972603 \h 9
2.Tu tập Chánh ngữ PAGEREF _Toc69972604 \h 11
IV. Phản tỉnh khi hành ý nghiệp PAGEREF _Toc69972605 \h 15
Giáo giới La-hầu-la
Xin thưa đại chúng, như Minh Thành đã có thưa, chúng ta đang biên tập bộ sách rất là quan trọng cho người xuất gia là “Xuất Gia Bảo Tạng” – kho báu người xuất gia. Hôm nay chúng ta học bài kinh hết sức đặc biệt. Bài kinh này Đức Thế Tôn dạy cho con cưng của Ngài là La-hầu-la, đây là bài kinh có nhiều hình ảnh rất ấn tượng, rất thực tế, rất sâu sắc và gần gũi trong cuộc sống tịnh hóa ba nghiệp. Bài kinh có tên là “Giáo giới La-hầu-la”.
Một thời, Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Bây giờ chỗ của chúng ta cũng giống giống, chỗ Minh Thành ở giờ toàn là trúc, có mấy cây sầu riêng bị sóc ăn hết. Có nhiều sóc, có nhiều trúc, có nhiều tre. Đọc những bài kinh này rồi, khi thấy những cảnh này mình nhớ Đức Thế Tôn. Biết đâu hồi đó mình cũng tu mà giờ vẫn còn lưu lạc đến 3000 năm. Các vị đã thành tựu hết rồi, mình còn lang thang ở đây.
Phật ở đời con còn sa đọa,
Nay được thân người Phật Niết-bàn.
Buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng,
Chẳng thấy thân vàng Đức Thế Tôn!
Lúc bấy giờ, Tôn giả Rahula (La-hầu-la) ở tại Ambalatthika (rừng Ambala). Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Ambalatthika, chỗ Tôn giả Rahula ở. Tôn giả Rahula thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Rahula đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Ở đây mình học được nhiều điều nhỏ là Đức Thế Tôn đi chân không. Lúc Minh Thành qua Thiền viện Trung tâm thiền quốc tế, Ngài Ajahn Chah cùng đi khất thực chung quý thầy, quý sư người Châu Âu, người phương Tây. Lúc đi về, trước khi chuẩn bị bước vào chánh điện để thọ thực, thì có một người già nhất trong tu viện, họ để một cái thau, một cái khăn, ngồi chèm bẹp ở dưới đất, xá lạy, rồi lấy cái khăn nhúng nước và người ta lau chân cho quý thầy. Hình ảnh đó xúc động lắm, đó là lòng tôn kính của người Phật tử đối với các vị Tăng. Người lớn tuổi, già như vậy mà khi các thầy đi về là vị này lau chân cho từng người, đó là giữ lại truyền thống ngày xưa của Đức Phật. Giờ mình hình dung lại đi, mình mang dép mà nhiều khi đi mình còn khó chịu. Mà Đức Thế Tôn là ai, là dạng nào ở trong xã hội, là thành phần nào? Qua đó thể hiện lên đời sống xả ly, đời sống cao thượng, thánh thượng của đấng Chánh Đẳng Giác. Mình đọc bài kinh này thì từng câu, từng chữ mình phải nghiền ngẫm, phải lễ lạy, phải chiêm nghiệm từ cái nhỏ nhất. Cho nên mình có lỡ mất một đôi dép thì không có gì hết, Đức Thế Tôn bỏ 1000 đôi dép nạm vàng, đính ngọc để đi chân không, còn mình nhiều khi mất một đôi dép là luýnh quýnh lên, chỗ đó là chỗ để mình Như lý tác ý. Chân đau một chút là mình khó chịu thì mình nhớ lại Đức Thế Tôn – người thầy lớn của mình. Cho nên trong sự tu học và làm việc phải xả thân, đó là những cơ hội để phá ngã, phá sắc uẩn, phá sự luyến ái, bám chấp đối với sắc thân này.
Rồi Thế Tôn, sau khi để một ít nước còn lại trong chậu nước, bảo Tôn giả Rahula:
- Này Rahula, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng ít vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại ấy rồi bảo Rahula:
- Này Rahula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng đổ đi vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula.
- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng lật úp vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula:
- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng trống không vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Như vậy trong chỗ rửa nước thôi mà Đức Phật dùng 4 hình ảnh để nói lên tật xấu, khuyết điểm của việc nói láo, không chân thật. Một là còn có một chút nước, hai là bị đổ đi, ba là trống rỗng, không có gì hết, bốn là bị lật úp xuống, cũng là trống rỗng, không có gì hết. Hạnh Sa-môn, hạnh tu của người nói láo cũng giống vậy, không có gì hết, đồ bỏ đi, trống rỗng nếu đó người không chân thật, nói láo. Hay là Chánh ngữ đó, lời nói mình phải chân chánh, mình kiểm tra lại mình bị cái này nhiều không. Chẳng hạn mình làm gì sai mà sư huynh hay thầy hay bất cứ người nào nói là mình nói “Đâu có, cái đó tại ông kia, tại huynh kia”, thì đó là nói láo. Một chút mình sẽ học tiếp phía dưới hay lắm, mình chưa có phản tỉnh là mình trả lời liền, mình chối cãi lại liền. Điều này hết sức sâu sắc, Đức Phật ví dụ nhiều lắm, xuống dưới mình sẽ thấy hay lắm, bài này tuyệt với lắm.
Này Rahula, ví như một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: “Con voi của vua này có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận con voi này thường dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Con voi của vua (như vậy) không quăng bỏ mạng sống (của mình)”.
Này Rahula, nhưng khi con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường, khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: “Con voi của vua này, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường, khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Con voi của vua (như vậy) đã quăng bỏ mạng sống (của mình), và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm”.
Có một bài báo người ta đưa lên một con voi bị cụt cái vòi, nó bị mất cái vòi, không còn cái vòi. Chú voi con buồn bã vì mất đi chiếc vòi, đây là hình ảnh đau lòng nhất chúng ta nhìn thấy. Thật khó để hình dung được cuộc sống sẽ diễn ra thế nào nếu một chú voi mất đi chiếc vòi quan trọng của mình. Chiếc vòi dài là một trong những đặc điểm giúp chúng ta nhận ra ngay đó là con voi, là loài voi. Nó có ý nghĩa rất là quan trọng trong cuộc sống bởi vì con voi nó thường sử dụng cái vòi để lấy thức ăn, để cầm nắm, để nhặt đồ vật cũng như uống nước và sinh hoạt hằng ngày. Nói một cách dễ hiểu hơn, đối với chúng vòi chính là cánh tay không thể thiếu. Nếu không có vòi là nó không làm gì được, sao nó uống, sao nó ăn, sao nó nhặt đồ, sao nó sinh hoạt hằng ngày. Cho nên cái vòi đó hết sức là quan trọng đối với nó. Cũng vậy, sự chân thật của người tu hết sức là quan trọng. Khi mình nhìn một con voi mà nó không có cái vòi thì mình nhìn không ra con voi, mà ra một con gì khác. Biểu tượng quan trọng nhất của nó là cái vòi để người ta nhìn vô cái vòi đó người ta biết nó là con voi. Tại vì con nào cũng có cái mình, cái đầu hết nhưng biểu tưởng là cái hết sức quan trọng. Mình thấy quảng cáo người ta để cái đầu voi và đưa cái vòi lên cao, thì mình biết là keo dán tượng, keo này dán voi nó cũng dính. Thành ra làm cái gì đó cũng phải có biểu tượng. Đó là đặc tính, đặc chất, biểu tượng, bộ phận hết sức quan trọng để phân biệt với loài khác, với con khác. Cũng vậy chân thật, chân thành, thành thật là đặc chất của người tu. Người chân thành, chân thật thì người này mới tiếp nhận được pháp chân chánh. Cho nên thấy nó đơn giản nhưng nó không giản đơn chút nào. Người mà gian dối, dối trá thì làm sao tiếp nhận được chân pháp.
Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi”, này Rahula, Ông phải học tập như vậy.
Phải học thuộc câu này “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi”.
Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?
- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.
- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
II. Phản tỉnh khi hành thân nghiệp
Hành thân nghiệp tức là hành động, làm gì đó ở nơi thân. Soi gương phản tỉnh nhiều lần tức là mình xét đi xét lại rồi lúc đó mình hãy làm, rồi lúc đó mình hãy nói, xét đi xét lại xét thiệt kỹ rồi sau đó mình hãy suy nghĩ, quyết định. Như vậy được gọi là hành thân nghiệp, hành ý nghiệp, hành khẩu nghiệp, nghĩa của nó là vậy.
Này Rahula, khi Ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Thân nghiệp này, ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nhất định chớ có làm.
Điều này là báu vật, là tấm gương, là pháp tín của Chánh pháp để cho mình soi. Mình muốn làm gì thì mình đừng làm liền, phải xét đi xét lại, nghĩ tới nghĩ lui, xem coi việc làm này có tự hại, có hại người, có hại cả hai không, cái này có bất thiện không? Mà bất thiện sẽ đưa đến đau khổ và quả báu của đau khổ nữa, chứ không phải đau khổ ở đây là xong. Mình làm điều bất thiện thì không phải khổ ngay chỗ đó là xong, mà nó còn quả báu nữa. Thí dụ mình đánh người ta thì ngay chỗ đó gọi là đưa đến đau khổ, rồi người ta có để yên cho mình không hay là đánh lại. Hoặc ngay lúc đó người ta không đánh lại được, người ta đợi khi khác người ta đánh lại thì đó là quả báu của đau khổ. Thành ra “Ông nhất định chớ có làm.”, đây là nói về thân nghiện – hành động của thân. Rồi sau đó phải phản phải tỉnh.
Này Rahula, nếu sau khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp này ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.
Cho nên trong suốt cuộc đời của mình, hai chữ thiện và ác, thiện và bất thiện, tội và phước không phải là đơn giản. Phải phản tỉnh nhiều lần, xét lại, coi lại, nhìn lại, kiểm tra lại, rà soát lại xem cái đó thiện hay là bất thiện. Nếu là bất thiện, là ác thì chớ có làm. Nếu là thiện sẽ đưa đến quả báo an lạc, an vui thì nên làm.
Đức Phật dạy kĩ lắm, đầu tiền là khi muốn làm một cái gì đó, còn bây giờ là đang làm:
Này Rahula, khi Ông đang làm một thân nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ; đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy.
Lúc nãy là muốn làm, còn bây giờ là đang làm, mà đang làm cũng phải từ bỏ, không làm nữa nếu nó là bất thiện. Trong ngay khi đang làm cũng cần phải phản tỉnh.
Nhưng nếu, này Rahula, trong khi phản tỉnh ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.
Sau khi làm, Đức Phật cũng dạy rất kĩ:
Sau khi Ông làm xong một thân nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: "Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ". Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.
Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
Nếu phản tỉnh nhiều lần mà vẫn thấy cái này là thiện, là tốt, có quả báu an lạc, an vui thì “phải an trú trong niềm hoan hỷ” – đây là chỗ rất hay. Nhiều khi mình làm thiện mà mình vẫn trơ trơ, không thấy vui, mình không phát được sự hỷ lạc trong tu học. Cho nên lúc nào Minh Thành thấy đại chúng có cảm giác trì trệ xuống, bắt đầu Minh Thành làm cho phát khởi hỷ tâm, hỷ lạc trong pháp. Nếu mình không tu hỷ tâm này là mình dễ bị chì xuống và có khi bị rơi rớt đối với đại đa số người tu ở trong chùa. Cho nên hôm trước mình học bài kinh Khó Làm thì trong giáo pháp này điều gì là khó làm? Một là xuất gia và hai là sau khi xuất gia hoan hỷ trong đời sống phạm hạnh. Đối với giờ ngồi thiền, đối với giờ nghe pháp, đối với giờ hành trì mình lên cho có chứ mình không hoan hỷ, tại vì mình không biết tác ý mà cái này lại hết sức quan trọng. Nhiều khi thầy kêu mỉm cười lên mà ngồi đó mỉm không có nổi, tại vì đâu có tu tập cái tâm này, đâu có biết tu tập tâm hỷ lạc là hết sức quan trọng. Khi mình chấp nhận học pháp, dễ nghe, tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng thì mình nghe theo lời người thầy, bậc thiện tri thức hướng dẫn thì lúc đó thọ của mình sẽ sanh. Khi cảm giác đó, cảm thọ đó sanh khởi thì hỷ lạc sẽ lan tỏa. Cho nên sơ thiền là sự hỷ lạc thấm đượm toàn cơ thể, từ đỉnh đầu cho tới gót chân không chỗ nào không có sự hỷ lạc của sơ thiền.
Hôm qua Minh Thành nghe Trường Bộ Kinh, tới đoạn nói về điều này thì rúng động hết từ đỉnh đầu tới gót chân, nổi da gà hết, mà chỉ là nghe thôi chứ chưa phải lúc đó ngồi thiền. Đó là pháp hỷ, mình phải làm cho nó phát sanh hỷ lạc. Nếu mình đã phản tỉnh nhiều lần, mình biết đây là thiện, đây là Chánh pháp, đây là tốt lành cho mình thì phải hân hoan, vui sướng, thích thú. Đó là cái phải nuôi dưỡng “Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp”.
Cho nên mình không biết tu cảm giác này thì uổng lắm, nhiều khi cứ trơ trơ vậy hoài, ù lì giống như một cục thịt ngồi đó vậy, không có cảm giác gì hết. Chúng ta phải ở trong là niệm, định, tuệ sáng rực, ba pháp thực hành, cảm giác toàn thân thì không nói, còn đằng này bên trong không có gì hết, chỉ có một cục si. Cho nên người hướng dẫn cho đại chúng tu học hết sức quan trọng, mà tự mình là quan trọng hơn nữa. Chính mình phải biết lúc nào cần phải tu hỷ, lúc nào cần phải tu xả trong Thất Giác Chi. Lúc nào cần tu niệm, lúc nào là trạch pháp, lúc nào là tinh tấn, lúc nào hỷ, lúc nào là khinh an, là định, là xả mình phải biết. Chúng ta phải khéo léo sử dụng nội tâm của mình và biết trạng thái tâm, đây là niệm quán tâm ở trên tâm, quán pháp trên pháp. Nếu không biết lúc đó trạng thái tâm của mình là gì, nó trì trệ xuống, nó dao động là phải quán chiếu, điều hòa liền.
Chỗ quan trọng là “Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp”. Chúng ta phải nhớ các chữ quan trọng: “an trú trong niềm hoan hỷ”.
III. Phản tỉnh khi hành khẩu nghiệp
Cẩn thận khẩu nghiệp
Hành khẩu nghiệp cũng vậy, Đức Phật dạy có ba phần:
Này Rahula, khi Ông muốn làm một khẩu nghiệp gì, hãy phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai, khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta muốn làm. Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, nhất định chớ có làm.
Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta muốn làm. Khẩu nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.
Nếu cái này ai cũng biết và thực hiện được thì ở nhà không có gây gổ, trong gia đình không có xào xáo, trong đạo tràng bình an, an ổn. Phải phản tỉnh, xét đi xét lại, tới lui. Cho nên cái nói nhanh nguy hiểm, nói cái là trả lời liền là nguy hiểm, không có phản tỉnh. Những cái nhỏ bình thường mà mình không kiểm soát được thì đến mấy lúc bất thình lình, ồ ạt những chuyện lớn là lúc đó chết liền, chết ngay. Cho nên mình hướng dẫn, mình chỉ dẫn trong những lúc bình thường, những chuyện nhỏ nhặt trong chùa cho quen. Rồi những lúc nguy cấp bất thình lình, những lúc phải quyết định lập tức những chuyện quan trọng thì lúc đó phải làm sao? Nếu trong khi phản tỉnh mà mình biết lời nói đó, khẩu nghiệp đó là bất thiện, là ác thì không nên nói.
Hồi nãy muốn nói là phản tỉnh trước rồi, còn bây giờ là đang nói là Đức Phật lặp tới lặp lui hoài như sau:
Này Rahula, khi Ông đang làm một khẩu nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy.
Nhưng nếu, này Rahula, khi phản tỉnh, Ông biết như sau: "Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc". Khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.
Sau khi Ông làm xong một khẩu nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.
Muốn nói, đang nói và nói rồi trong ba thời luôn luôn phản tỉnh chứ không phải đang nói là cứ nói tới. Không phải nói xong là rồi, không cần suy nghĩ lời nói lúc nãy của mình sao hết. Cũng như hôm qua, một cô ở Tà Ngào cứ đi đến chùa mượn tiền, kêu mua đất hoài, Minh Thành rầy la như vậy nhưng sau khi về phản tỉnh lại mình thì thấy cái này là sai. Tuy là người ta làm sai, mình rầy, nhưng cái rầy không có nhẹ nhàng, nên về ở trong thất khó chịu, làm cho mình ray rứt.
Đức Phật có dạy thế này: Cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai. Đây là trong phần ý nghiệp. Cần lo âu, xấu hổ và sợ hãi, cần nhàm chán điều sai quấy đó, nhàm chán không cho nó tồn tại, diễn ra như vậy nữa. Hay lắm, cái này là nội soi, nội quán, tuyệt vời lắm. Chứ mình nghĩ mình đứng đầu, mình là trụ trì, mình là chủ thì cái gì cũng đúng hết hay sao? Chết đó, chết không có đất chôn. Nếu mình không căn cứ theo Thánh pháp, Thánh giáo, Chánh pháp.
Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
Tu tập Chánh ngữ
Sẵn đây, Minh Thành nhớ có hai bài kinh này rất hay, bài kinh này thích lắm, từ đó giờ Minh Thành để dành rất lâu, bây giờ phải đưa bài kinh vào chỗ này, chỗ này là Chánh ngữ.
Bài kinh đầu tiên là những đề tài nói chuyện, gồm mười đề tài nói chuyện để cho quý huynh đệ thấy là mình đang vận dụng Bát Chánh Đạo.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn của ông Anàthapindika (Cấp-cô-độc). Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây, nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang bàn giữa các Thầy bàn xong?
-Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm... các câu chuyện về hữu và phi hữu.
-Này các Tỷ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyện sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu.
Hôm qua buổi tối thầy đi kinh hành, thấy có cảm hứng soạn một cuốn sách cho Đức Thế tôn – Thế Tôn Cảnh Sách. Nào giờ người ta chỉ biết cuốn Quy Sơn Cảnh Sách ở bên Tàu, mà người ta không biết có một cuốn cảnh sách tối thượng trong tất cả cuốn cảnh sách, tối cao trong tất cả cuốn cảnh sách, tối diệu trong tất cả cuốn cảnh sách, đó là Thế Tôn Cảnh Sách. Mấy chú có thời gian đọc kinh, coi những lời răn nhắc của Đức Phật gom lại, mình sẽ soạn cuốn sách cho Đức Thế tôn. Rất là nhiều lời cảnh sách của Đức Thế tôn, tập hợp những lời đó thành một bộ “Thế Tôn Cảnh Sách”. Sau khi tập hợp lại rồi mình giảng giải ra.
Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Thế nào là mười?
Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.
Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này.
Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo.
(Kinh Tăng Chi Bộ, Chương X. Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, bài kinh Những đề tài câu chuyện)
Mười đề tài này đánh bạt hết tất cả những chủ thuyết của thế gian, vượt lên trên hết tất cả, tại vì đề tài này là chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu não, đưa đến chánh trí giác ngộ Niết-bàn. Những đề tài này hay lắm, mình phải học tới mấy buổi. Hãy nói mấy câu chuyện về ít muốn, hãy nói nhiều về những câu chuyện biết đủ, hãy nói nhiều về những câu chuyện xa lìa, không tụ hội, những câu chuyện về siêng năng, nổ lực, tinh tấn tu tập giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Nói những câu chuyện đó. Hãy nhớ, ngày nào chúng ta cũng nói những câu chuyện đó là mình tu tập Chánh ngữ.
Bài kinh thứ hai cũng nói về câu chuyện, rất là đặc biệt, đọc vô rúng động hết.
Nhân duyên ở Savatthi.
-Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: "Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được"
Ý của Phật nói đừng có tranh luận nói là tôi đúng, ông sai; nói là tôi phải, ông trái; ông nói lẫn lộn hết, tôi mới nói theo thứ tự; cho rằng mình đúng, cho người ta sai; tôi nói mới là Chánh pháp, ông nói là Tà pháp. Mọi người không nên tranh luận như vậy!
Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: "Ðây là Khổ" hãy nói: "Đây là Khổ Tập", hãy nói: "Đây là Khổ Diệt", hãy nói: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Vì sao?
Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
(Kinh Tương Ưng Bộ, Chương 12.Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Định, IX. Tranh luận)
Tuyệt diệu làm sao, hay không thể nói được, vậy mà không chịu học, chịu tu thì làm gì? Bây giờ lên trên pháp tòa nói cái gì, nói chuyện phải, chuyện quấy của người ta, thị phị làm cho Phật tử mất hết lòng tin, tín tâm đối với Tam bảo. Nếu mà nghe theo lời Đức Phật thì đâu có những chuyện đó xảy ra, nếu làm con ngoan trò giỏi thì đâu có chuyện gì, nhưng mà không nghe lời Đức Phật. Chỉ đơn giản là nghe lời thôi, có bao nhiêu đó thôi là Hiền Thánh Tăng. Lúc nào cũng ta đây, bản ngã, cho mình là giỏi, không chịu nghe lời, cuối cùng rồi trôi ra biển khổ. Nghe lời thôi, dễ nghe là nhập lưu rồi mà không chịu. Nghe lời thôi, chấp nhận học pháp thôi, Như lý tác ý, hành pháp, trì pháp là nhập lưu. Tuyệt vời như vậy, Đức Phật để lại một gia tài vĩ đại, Thánh trí tối thượng Chánh biến tri. Như vậy mà không giảng thuyết, không phổ biến, không trình bảy, không hiển thị thì uổng lắm. Cho nên Minh Thành mong muốn mấy chú xuất gia có khả năng học kinh, thuộc kinh và trình bày Chánh pháp. Trong vòng 5 năm có thể thuyết giảng, giải thích những bài kinh cho mọi người tu hành.
IV. Phản tỉnh khi hành ý nghiệp
Cuối cùng đến phần ý nghiệp, Đức Phật có dạy:
Này Rahula, khi Ông đang làm một ý nghiệp (tức là mình đang suy nghĩ), Ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem lại quả báo đau khổ”. Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một ý nghiệp như vậy.
Muốn hoặc đang suy nghĩ điều đó, phản tỉnh lại, coi suy nghĩ đó, ý hành đó, ý nghiệp đó, tư duy đó nếu mà nó bất thiện thì từ bỏ. “Nhưng nếu, này Rahula, khi phản tỉnh Ông biết như sau: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông phải tiếp tục làm.”, tiếp tục suy nghĩ, tiếp tục tư duy, đó là Chánh tư duy.
Sau khi Ông làm xong một ý nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: "Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem lại quả báo đau khổ, đem đến quả báo đau khổ". Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Một ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai”, không suy nghĩ nữa, không suy nghĩ về dục, không suy nghĩ về sân, không suy nghĩ về hại, không suy nghĩ về ác. Nếu mà có suy nghĩ, phản tỉnh lại thấy được suy nghĩ này là hại, bất thiện thì lo âu, hổ thẹn. Tại sao mình là người tu mình suy nghĩ như vậy, mình là người xuất gia mà tại sao lại nghĩ như vậy, mình đang ở chùa tại sao mình suy nghĩ như vậy? Nhàm chán cái suy nghĩ này, chán ngán cái suy nghĩ này quá rồi. “Cái ý hành này làm ơn yên tịnh đi, lắng dịu đi, làm ơn đi chỗ khác, chấm dứt đi, ta mệt mỏi lắm rồi những suy nghĩ bất thiện này”, nhàm chán nó và cần phòng hộ trong tương lai.
Còn nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.
Khi mà nghĩ thiện thì mình vui lên, hoan hỷ lên, phấn khởi lên. Cho nên mình đang nghe pháp là mình tác ý cái gì, mình đang ngồi thiền thì mình tác ý cái gì, mình đang là ai, mình đang làm công việc cho Tam bảo mình phải tác ý như thế nào, đó là thiện pháp. Mình thấy nó là thiện, mình đang làm cái này là thiện pháp, mình đang nói cái này là thiện pháp, mình đang nghĩ cái này là thiện pháp thì mình an trú trong niềm hoan hỷ.
Này Rahula, trong thời quá khứ, hiện tại, vị lai những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, đã tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa ý nghiệp. Do vậy, này Rahula: “Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp”. Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
Câu Đức Phật nói vừa rồi: quá khứ, hiện tại, vị lai có ý gì? Ý ở đây là này Rahula trong thuở quá khứ từ xưa đến giờ, những vị tu hành nào muốn làm cho thân, miệng, ý của mình được thanh tịnh thì đều phải phản tỉnh nhiều lần giống như nảy giờ ta nói, ngoài ra không có cách nào khác để làm cho nó thanh tịnh.Tất cả những vị tu hành ở trong hiện tại nay muốn làm cho thân, miệng, ý trong sạch, thanh tịnh cũng phải phản tỉnh, xét lại nhiều lần như nãy giờ Ta đã nói. Trong những vị tu hành vị lai sau này, muốn làm cho thân, miệng, ý, ba nghiệp tịnh hóa cũng phải phản tỉnh nhiều như nảy giờ ta nói, không có con đường khác. Mình phải hiểu ý như vậy chứ không phải làm cái một, nói cái rụp là thanh tịnh liền. Phải xét đi xét lại, dò tới dò lui, kiểm tra, tẩy, quét, dọn, rửa, lau, chùi lần lần thì nó mới tịnh, mới trong sạch.
Như vậy bữa nay chúng ta học được ba bài kinh: bài kinh “Giáo giới La-hầu-la” cùng với hai bài kinh bàn về những vấn đề mình cần nói và những vấn đề mình không nên nói, nó thuộc về phần Chánh ngữ trong Bát Chánh Đạo và nó cũng là phương pháp tịnh hóa ba nghiệp: thân, miệng, ý. Chúng ta có rất nhiều những hình ảnh: một chút nước bị đổ đi, cái chậu bị úp xuống và trống rỗng, trống không nếu mình thiếu chân thật, chân thành trong sự tu học; con voi không biết bảo vệ cái vòi và sự phản tỉnh là điều đặc biệt Đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Phản tỉnh hành vi, ngôn ngữ, suy nghĩ để lần lần mình làm cho nó trong sạch. Điều quan trọng chúng ta cần để ý là mình xét nó bất thiện thì mình từ bỏ, chấm dứt; xét thấy nó là thiện thì mình hân hoan, vui vẻ, hoan hỷ, ngày đêm tinh tấn tu học thì lần lần mình sẽ đi đến chỗ thanh tịnh, tròn đầy.
./.
-Thích Minh Thành-
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Giáo giới La-hầu-la PAGEREF _Toc69972600 \h 1
II. Phản tỉnh khi hành thân nghiệp PAGEREF _Toc69972601 \h 5
III. Phản tỉnh khi hành khẩu nghiệp PAGEREF _Toc69972602 \h 9
1.Cẩn thận khẩu nghiệp PAGEREF _Toc69972603 \h 9
2.Tu tập Chánh ngữ PAGEREF _Toc69972604 \h 11
IV. Phản tỉnh khi hành ý nghiệp PAGEREF _Toc69972605 \h 15
Giáo giới La-hầu-la
Xin thưa đại chúng, như Minh Thành đã có thưa, chúng ta đang biên tập bộ sách rất là quan trọng cho người xuất gia là “Xuất Gia Bảo Tạng” – kho báu người xuất gia. Hôm nay chúng ta học bài kinh hết sức đặc biệt. Bài kinh này Đức Thế Tôn dạy cho con cưng của Ngài là La-hầu-la, đây là bài kinh có nhiều hình ảnh rất ấn tượng, rất thực tế, rất sâu sắc và gần gũi trong cuộc sống tịnh hóa ba nghiệp. Bài kinh có tên là “Giáo giới La-hầu-la”.
Một thời, Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).
Bây giờ chỗ của chúng ta cũng giống giống, chỗ Minh Thành ở giờ toàn là trúc, có mấy cây sầu riêng bị sóc ăn hết. Có nhiều sóc, có nhiều trúc, có nhiều tre. Đọc những bài kinh này rồi, khi thấy những cảnh này mình nhớ Đức Thế Tôn. Biết đâu hồi đó mình cũng tu mà giờ vẫn còn lưu lạc đến 3000 năm. Các vị đã thành tựu hết rồi, mình còn lang thang ở đây.
Phật ở đời con còn sa đọa,
Nay được thân người Phật Niết-bàn.
Buồn tủi phận mình nhiều nghiệp chướng,
Chẳng thấy thân vàng Đức Thế Tôn!
Lúc bấy giờ, Tôn giả Rahula (La-hầu-la) ở tại Ambalatthika (rừng Ambala). Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Ambalatthika, chỗ Tôn giả Rahula ở. Tôn giả Rahula thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, và sau khi ngồi, Ngài rửa chân. Tôn giả Rahula đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Ở đây mình học được nhiều điều nhỏ là Đức Thế Tôn đi chân không. Lúc Minh Thành qua Thiền viện Trung tâm thiền quốc tế, Ngài Ajahn Chah cùng đi khất thực chung quý thầy, quý sư người Châu Âu, người phương Tây. Lúc đi về, trước khi chuẩn bị bước vào chánh điện để thọ thực, thì có một người già nhất trong tu viện, họ để một cái thau, một cái khăn, ngồi chèm bẹp ở dưới đất, xá lạy, rồi lấy cái khăn nhúng nước và người ta lau chân cho quý thầy. Hình ảnh đó xúc động lắm, đó là lòng tôn kính của người Phật tử đối với các vị Tăng. Người lớn tuổi, già như vậy mà khi các thầy đi về là vị này lau chân cho từng người, đó là giữ lại truyền thống ngày xưa của Đức Phật. Giờ mình hình dung lại đi, mình mang dép mà nhiều khi đi mình còn khó chịu. Mà Đức Thế Tôn là ai, là dạng nào ở trong xã hội, là thành phần nào? Qua đó thể hiện lên đời sống xả ly, đời sống cao thượng, thánh thượng của đấng Chánh Đẳng Giác. Mình đọc bài kinh này thì từng câu, từng chữ mình phải nghiền ngẫm, phải lễ lạy, phải chiêm nghiệm từ cái nhỏ nhất. Cho nên mình có lỡ mất một đôi dép thì không có gì hết, Đức Thế Tôn bỏ 1000 đôi dép nạm vàng, đính ngọc để đi chân không, còn mình nhiều khi mất một đôi dép là luýnh quýnh lên, chỗ đó là chỗ để mình Như lý tác ý. Chân đau một chút là mình khó chịu thì mình nhớ lại Đức Thế Tôn – người thầy lớn của mình. Cho nên trong sự tu học và làm việc phải xả thân, đó là những cơ hội để phá ngã, phá sắc uẩn, phá sự luyến ái, bám chấp đối với sắc thân này.
Rồi Thế Tôn, sau khi để một ít nước còn lại trong chậu nước, bảo Tôn giả Rahula:
- Này Rahula, Ông có thấy một ít nước còn lại này trong chậu nước không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng ít vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn, sau khi đổ đi chút ít nước còn lại ấy rồi bảo Rahula:
- Này Rahula, Ông có thấy chút ít nước còn lại ấy bị đổ đi không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng đổ đi vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn lật úp chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula.
- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước bị lật úp ấy không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng lật úp vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Rồi Thế Tôn lật ngửa trở lại chậu nước ấy và bảo Tôn giả Rahula:
- Này Rahula, Ông có thấy chậu nước này trống không không?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Cũng trống không vậy, này Rahula, là Sa-môn hạnh của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quý.
Như vậy trong chỗ rửa nước thôi mà Đức Phật dùng 4 hình ảnh để nói lên tật xấu, khuyết điểm của việc nói láo, không chân thật. Một là còn có một chút nước, hai là bị đổ đi, ba là trống rỗng, không có gì hết, bốn là bị lật úp xuống, cũng là trống rỗng, không có gì hết. Hạnh Sa-môn, hạnh tu của người nói láo cũng giống vậy, không có gì hết, đồ bỏ đi, trống rỗng nếu đó người không chân thật, nói láo. Hay là Chánh ngữ đó, lời nói mình phải chân chánh, mình kiểm tra lại mình bị cái này nhiều không. Chẳng hạn mình làm gì sai mà sư huynh hay thầy hay bất cứ người nào nói là mình nói “Đâu có, cái đó tại ông kia, tại huynh kia”, thì đó là nói láo. Một chút mình sẽ học tiếp phía dưới hay lắm, mình chưa có phản tỉnh là mình trả lời liền, mình chối cãi lại liền. Điều này hết sức sâu sắc, Đức Phật ví dụ nhiều lắm, xuống dưới mình sẽ thấy hay lắm, bài này tuyệt với lắm.
Này Rahula, ví như một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: “Con voi của vua này có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận con voi này thường dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, nhưng bảo vệ cái vòi. Con voi của vua (như vậy) không quăng bỏ mạng sống (của mình)”.
Này Rahula, nhưng khi con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường, khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Ở đây, người nài nghĩ rằng: “Con voi của vua này, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường hay có mặt ở chiến trường, khi lâm trận, con voi này dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi, dùng vòi. Con voi của vua (như vậy) đã quăng bỏ mạng sống (của mình), và nay con voi của vua không có việc gì mà không làm”.
Có một bài báo người ta đưa lên một con voi bị cụt cái vòi, nó bị mất cái vòi, không còn cái vòi. Chú voi con buồn bã vì mất đi chiếc vòi, đây là hình ảnh đau lòng nhất chúng ta nhìn thấy. Thật khó để hình dung được cuộc sống sẽ diễn ra thế nào nếu một chú voi mất đi chiếc vòi quan trọng của mình. Chiếc vòi dài là một trong những đặc điểm giúp chúng ta nhận ra ngay đó là con voi, là loài voi. Nó có ý nghĩa rất là quan trọng trong cuộc sống bởi vì con voi nó thường sử dụng cái vòi để lấy thức ăn, để cầm nắm, để nhặt đồ vật cũng như uống nước và sinh hoạt hằng ngày. Nói một cách dễ hiểu hơn, đối với chúng vòi chính là cánh tay không thể thiếu. Nếu không có vòi là nó không làm gì được, sao nó uống, sao nó ăn, sao nó nhặt đồ, sao nó sinh hoạt hằng ngày. Cho nên cái vòi đó hết sức là quan trọng đối với nó. Cũng vậy, sự chân thật của người tu hết sức là quan trọng. Khi mình nhìn một con voi mà nó không có cái vòi thì mình nhìn không ra con voi, mà ra một con gì khác. Biểu tượng quan trọng nhất của nó là cái vòi để người ta nhìn vô cái vòi đó người ta biết nó là con voi. Tại vì con nào cũng có cái mình, cái đầu hết nhưng biểu tưởng là cái hết sức quan trọng. Mình thấy quảng cáo người ta để cái đầu voi và đưa cái vòi lên cao, thì mình biết là keo dán tượng, keo này dán voi nó cũng dính. Thành ra làm cái gì đó cũng phải có biểu tượng. Đó là đặc tính, đặc chất, biểu tượng, bộ phận hết sức quan trọng để phân biệt với loài khác, với con khác. Cũng vậy chân thật, chân thành, thành thật là đặc chất của người tu. Người chân thành, chân thật thì người này mới tiếp nhận được pháp chân chánh. Cho nên thấy nó đơn giản nhưng nó không giản đơn chút nào. Người mà gian dối, dối trá thì làm sao tiếp nhận được chân pháp.
Cũng vậy, này Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm. Do vậy, này Rahula, “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi”, này Rahula, Ông phải học tập như vậy.
Phải học thuộc câu này “Ta quyết không nói láo, dầu nói để mà chơi”.
Này Rahula, Ông nghĩ thế nào? Mục đích của cái gương là gì?
- Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh.
- Cũng vậy, này Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
II. Phản tỉnh khi hành thân nghiệp
Hành thân nghiệp tức là hành động, làm gì đó ở nơi thân. Soi gương phản tỉnh nhiều lần tức là mình xét đi xét lại rồi lúc đó mình hãy làm, rồi lúc đó mình hãy nói, xét đi xét lại xét thiệt kỹ rồi sau đó mình hãy suy nghĩ, quyết định. Như vậy được gọi là hành thân nghiệp, hành ý nghiệp, hành khẩu nghiệp, nghĩa của nó là vậy.
Này Rahula, khi Ông muốn làm một thân nghiệp gì, hãy phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Thân nghiệp này, ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nhất định chớ có làm.
Điều này là báu vật, là tấm gương, là pháp tín của Chánh pháp để cho mình soi. Mình muốn làm gì thì mình đừng làm liền, phải xét đi xét lại, nghĩ tới nghĩ lui, xem coi việc làm này có tự hại, có hại người, có hại cả hai không, cái này có bất thiện không? Mà bất thiện sẽ đưa đến đau khổ và quả báu của đau khổ nữa, chứ không phải đau khổ ở đây là xong. Mình làm điều bất thiện thì không phải khổ ngay chỗ đó là xong, mà nó còn quả báu nữa. Thí dụ mình đánh người ta thì ngay chỗ đó gọi là đưa đến đau khổ, rồi người ta có để yên cho mình không hay là đánh lại. Hoặc ngay lúc đó người ta không đánh lại được, người ta đợi khi khác người ta đánh lại thì đó là quả báu của đau khổ. Thành ra “Ông nhất định chớ có làm.”, đây là nói về thân nghiện – hành động của thân. Rồi sau đó phải phản phải tỉnh.
Này Rahula, nếu sau khi phản tỉnh, ông biết: “Thân nghiệp này ta muốn làm. Thân nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.
Cho nên trong suốt cuộc đời của mình, hai chữ thiện và ác, thiện và bất thiện, tội và phước không phải là đơn giản. Phải phản tỉnh nhiều lần, xét lại, coi lại, nhìn lại, kiểm tra lại, rà soát lại xem cái đó thiện hay là bất thiện. Nếu là bất thiện, là ác thì chớ có làm. Nếu là thiện sẽ đưa đến quả báo an lạc, an vui thì nên làm.
Đức Phật dạy kĩ lắm, đầu tiền là khi muốn làm một cái gì đó, còn bây giờ là đang làm:
Này Rahula, khi Ông đang làm một thân nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ; đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, ông hãy từ bỏ một thân nghiệp như vậy.
Lúc nãy là muốn làm, còn bây giờ là đang làm, mà đang làm cũng phải từ bỏ, không làm nữa nếu nó là bất thiện. Trong ngay khi đang làm cũng cần phải phản tỉnh.
Nhưng nếu, này Rahula, trong khi phản tỉnh ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.
Sau khi làm, Đức Phật cũng dạy rất kĩ:
Sau khi Ông làm xong một thân nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy như sau: "Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ". Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này là bất thiện đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một thân nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.
Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Thân nghiệp này ta đã làm. Thân nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời thân nghiệp này thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
Nếu phản tỉnh nhiều lần mà vẫn thấy cái này là thiện, là tốt, có quả báu an lạc, an vui thì “phải an trú trong niềm hoan hỷ” – đây là chỗ rất hay. Nhiều khi mình làm thiện mà mình vẫn trơ trơ, không thấy vui, mình không phát được sự hỷ lạc trong tu học. Cho nên lúc nào Minh Thành thấy đại chúng có cảm giác trì trệ xuống, bắt đầu Minh Thành làm cho phát khởi hỷ tâm, hỷ lạc trong pháp. Nếu mình không tu hỷ tâm này là mình dễ bị chì xuống và có khi bị rơi rớt đối với đại đa số người tu ở trong chùa. Cho nên hôm trước mình học bài kinh Khó Làm thì trong giáo pháp này điều gì là khó làm? Một là xuất gia và hai là sau khi xuất gia hoan hỷ trong đời sống phạm hạnh. Đối với giờ ngồi thiền, đối với giờ nghe pháp, đối với giờ hành trì mình lên cho có chứ mình không hoan hỷ, tại vì mình không biết tác ý mà cái này lại hết sức quan trọng. Nhiều khi thầy kêu mỉm cười lên mà ngồi đó mỉm không có nổi, tại vì đâu có tu tập cái tâm này, đâu có biết tu tập tâm hỷ lạc là hết sức quan trọng. Khi mình chấp nhận học pháp, dễ nghe, tâm nhu nhuyến, dễ sử dụng thì mình nghe theo lời người thầy, bậc thiện tri thức hướng dẫn thì lúc đó thọ của mình sẽ sanh. Khi cảm giác đó, cảm thọ đó sanh khởi thì hỷ lạc sẽ lan tỏa. Cho nên sơ thiền là sự hỷ lạc thấm đượm toàn cơ thể, từ đỉnh đầu cho tới gót chân không chỗ nào không có sự hỷ lạc của sơ thiền.
Hôm qua Minh Thành nghe Trường Bộ Kinh, tới đoạn nói về điều này thì rúng động hết từ đỉnh đầu tới gót chân, nổi da gà hết, mà chỉ là nghe thôi chứ chưa phải lúc đó ngồi thiền. Đó là pháp hỷ, mình phải làm cho nó phát sanh hỷ lạc. Nếu mình đã phản tỉnh nhiều lần, mình biết đây là thiện, đây là Chánh pháp, đây là tốt lành cho mình thì phải hân hoan, vui sướng, thích thú. Đó là cái phải nuôi dưỡng “Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp”.
Cho nên mình không biết tu cảm giác này thì uổng lắm, nhiều khi cứ trơ trơ vậy hoài, ù lì giống như một cục thịt ngồi đó vậy, không có cảm giác gì hết. Chúng ta phải ở trong là niệm, định, tuệ sáng rực, ba pháp thực hành, cảm giác toàn thân thì không nói, còn đằng này bên trong không có gì hết, chỉ có một cục si. Cho nên người hướng dẫn cho đại chúng tu học hết sức quan trọng, mà tự mình là quan trọng hơn nữa. Chính mình phải biết lúc nào cần phải tu hỷ, lúc nào cần phải tu xả trong Thất Giác Chi. Lúc nào cần tu niệm, lúc nào là trạch pháp, lúc nào là tinh tấn, lúc nào hỷ, lúc nào là khinh an, là định, là xả mình phải biết. Chúng ta phải khéo léo sử dụng nội tâm của mình và biết trạng thái tâm, đây là niệm quán tâm ở trên tâm, quán pháp trên pháp. Nếu không biết lúc đó trạng thái tâm của mình là gì, nó trì trệ xuống, nó dao động là phải quán chiếu, điều hòa liền.
Chỗ quan trọng là “Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp”. Chúng ta phải nhớ các chữ quan trọng: “an trú trong niềm hoan hỷ”.
III. Phản tỉnh khi hành khẩu nghiệp
Cẩn thận khẩu nghiệp
Hành khẩu nghiệp cũng vậy, Đức Phật dạy có ba phần:
Này Rahula, khi Ông muốn làm một khẩu nghiệp gì, hãy phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai, khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta muốn làm. Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến tự hại, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, nhất định chớ có làm.
Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta muốn làm. Khẩu nghiệp này của ta không có thể đưa đến tự hại, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông nên làm.
Nếu cái này ai cũng biết và thực hiện được thì ở nhà không có gây gổ, trong gia đình không có xào xáo, trong đạo tràng bình an, an ổn. Phải phản tỉnh, xét đi xét lại, tới lui. Cho nên cái nói nhanh nguy hiểm, nói cái là trả lời liền là nguy hiểm, không có phản tỉnh. Những cái nhỏ bình thường mà mình không kiểm soát được thì đến mấy lúc bất thình lình, ồ ạt những chuyện lớn là lúc đó chết liền, chết ngay. Cho nên mình hướng dẫn, mình chỉ dẫn trong những lúc bình thường, những chuyện nhỏ nhặt trong chùa cho quen. Rồi những lúc nguy cấp bất thình lình, những lúc phải quyết định lập tức những chuyện quan trọng thì lúc đó phải làm sao? Nếu trong khi phản tỉnh mà mình biết lời nói đó, khẩu nghiệp đó là bất thiện, là ác thì không nên nói.
Hồi nãy muốn nói là phản tỉnh trước rồi, còn bây giờ là đang nói là Đức Phật lặp tới lặp lui hoài như sau:
Này Rahula, khi Ông đang làm một khẩu nghiệp, Ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một khẩu nghiệp như vậy.
Nhưng nếu, này Rahula, khi phản tỉnh, Ông biết như sau: "Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc". Khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải tiếp tục làm.
Sau khi Ông làm xong một khẩu nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp ấy như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ”. Một khẩu nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trước vị Ðạo sư, hay trước các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.
Muốn nói, đang nói và nói rồi trong ba thời luôn luôn phản tỉnh chứ không phải đang nói là cứ nói tới. Không phải nói xong là rồi, không cần suy nghĩ lời nói lúc nãy của mình sao hết. Cũng như hôm qua, một cô ở Tà Ngào cứ đi đến chùa mượn tiền, kêu mua đất hoài, Minh Thành rầy la như vậy nhưng sau khi về phản tỉnh lại mình thì thấy cái này là sai. Tuy là người ta làm sai, mình rầy, nhưng cái rầy không có nhẹ nhàng, nên về ở trong thất khó chịu, làm cho mình ray rứt.
Đức Phật có dạy thế này: Cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai. Đây là trong phần ý nghiệp. Cần lo âu, xấu hổ và sợ hãi, cần nhàm chán điều sai quấy đó, nhàm chán không cho nó tồn tại, diễn ra như vậy nữa. Hay lắm, cái này là nội soi, nội quán, tuyệt vời lắm. Chứ mình nghĩ mình đứng đầu, mình là trụ trì, mình là chủ thì cái gì cũng đúng hết hay sao? Chết đó, chết không có đất chôn. Nếu mình không căn cứ theo Thánh pháp, Thánh giáo, Chánh pháp.
Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Khẩu nghiệp này ta đã làm. Khẩu nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
Tu tập Chánh ngữ
Sẵn đây, Minh Thành nhớ có hai bài kinh này rất hay, bài kinh này thích lắm, từ đó giờ Minh Thành để dành rất lâu, bây giờ phải đưa bài kinh vào chỗ này, chỗ này là Chánh ngữ.
Bài kinh đầu tiên là những đề tài nói chuyện, gồm mười đề tài nói chuyện để cho quý huynh đệ thấy là mình đang vận dụng Bát Chánh Đạo.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn của ông Anàthapindika (Cấp-cô-độc). Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hãi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây, nói chuyện về vấn đề gì? Câu chuyện gì đang bàn giữa các Thầy bàn xong?
-Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây: Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm... các câu chuyện về hữu và phi hữu.
-Này các Tỷ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, lại có thể sống chú tâm trong nhiều câu chuyện sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu.
Hôm qua buổi tối thầy đi kinh hành, thấy có cảm hứng soạn một cuốn sách cho Đức Thế tôn – Thế Tôn Cảnh Sách. Nào giờ người ta chỉ biết cuốn Quy Sơn Cảnh Sách ở bên Tàu, mà người ta không biết có một cuốn cảnh sách tối thượng trong tất cả cuốn cảnh sách, tối cao trong tất cả cuốn cảnh sách, tối diệu trong tất cả cuốn cảnh sách, đó là Thế Tôn Cảnh Sách. Mấy chú có thời gian đọc kinh, coi những lời răn nhắc của Đức Phật gom lại, mình sẽ soạn cuốn sách cho Đức Thế tôn. Rất là nhiều lời cảnh sách của Đức Thế tôn, tập hợp những lời đó thành một bộ “Thế Tôn Cảnh Sách”. Sau khi tập hợp lại rồi mình giảng giải ra.
Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này. Thế nào là mười?
Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.
Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này.
Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của mình) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, còn nói gì của các du sĩ ngoại đạo.
(Kinh Tăng Chi Bộ, Chương X. Mười Pháp, VII. Phẩm Song Ðôi, bài kinh Những đề tài câu chuyện)
Mười đề tài này đánh bạt hết tất cả những chủ thuyết của thế gian, vượt lên trên hết tất cả, tại vì đề tài này là chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu não, đưa đến chánh trí giác ngộ Niết-bàn. Những đề tài này hay lắm, mình phải học tới mấy buổi. Hãy nói mấy câu chuyện về ít muốn, hãy nói nhiều về những câu chuyện biết đủ, hãy nói nhiều về những câu chuyện xa lìa, không tụ hội, những câu chuyện về siêng năng, nổ lực, tinh tấn tu tập giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Nói những câu chuyện đó. Hãy nhớ, ngày nào chúng ta cũng nói những câu chuyện đó là mình tu tập Chánh ngữ.
Bài kinh thứ hai cũng nói về câu chuyện, rất là đặc biệt, đọc vô rúng động hết.
Nhân duyên ở Savatthi.
-Này các Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: "Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh. Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau, Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được"
Ý của Phật nói đừng có tranh luận nói là tôi đúng, ông sai; nói là tôi phải, ông trái; ông nói lẫn lộn hết, tôi mới nói theo thứ tự; cho rằng mình đúng, cho người ta sai; tôi nói mới là Chánh pháp, ông nói là Tà pháp. Mọi người không nên tranh luận như vậy!
Những câu chuyện ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Và này các Tỷ-kheo, nếu có nói, thời hãy nói: "Ðây là Khổ" hãy nói: "Đây là Khổ Tập", hãy nói: "Đây là Khổ Diệt", hãy nói: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Vì sao?
Các lời nói ấy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, làm căn bản cho Phạm hạnh, chúng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
(Kinh Tương Ưng Bộ, Chương 12.Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Định, IX. Tranh luận)
Tuyệt diệu làm sao, hay không thể nói được, vậy mà không chịu học, chịu tu thì làm gì? Bây giờ lên trên pháp tòa nói cái gì, nói chuyện phải, chuyện quấy của người ta, thị phị làm cho Phật tử mất hết lòng tin, tín tâm đối với Tam bảo. Nếu mà nghe theo lời Đức Phật thì đâu có những chuyện đó xảy ra, nếu làm con ngoan trò giỏi thì đâu có chuyện gì, nhưng mà không nghe lời Đức Phật. Chỉ đơn giản là nghe lời thôi, có bao nhiêu đó thôi là Hiền Thánh Tăng. Lúc nào cũng ta đây, bản ngã, cho mình là giỏi, không chịu nghe lời, cuối cùng rồi trôi ra biển khổ. Nghe lời thôi, dễ nghe là nhập lưu rồi mà không chịu. Nghe lời thôi, chấp nhận học pháp thôi, Như lý tác ý, hành pháp, trì pháp là nhập lưu. Tuyệt vời như vậy, Đức Phật để lại một gia tài vĩ đại, Thánh trí tối thượng Chánh biến tri. Như vậy mà không giảng thuyết, không phổ biến, không trình bảy, không hiển thị thì uổng lắm. Cho nên Minh Thành mong muốn mấy chú xuất gia có khả năng học kinh, thuộc kinh và trình bày Chánh pháp. Trong vòng 5 năm có thể thuyết giảng, giải thích những bài kinh cho mọi người tu hành.
IV. Phản tỉnh khi hành ý nghiệp
Cuối cùng đến phần ý nghiệp, Đức Phật có dạy:
Này Rahula, khi Ông đang làm một ý nghiệp (tức là mình đang suy nghĩ), Ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Này Rahula, nếu trong khi phản tỉnh, Ông biết: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem lại quả báo đau khổ”. Này Rahula, Ông hãy từ bỏ một ý nghiệp như vậy.
Muốn hoặc đang suy nghĩ điều đó, phản tỉnh lại, coi suy nghĩ đó, ý hành đó, ý nghiệp đó, tư duy đó nếu mà nó bất thiện thì từ bỏ. “Nhưng nếu, này Rahula, khi phản tỉnh Ông biết như sau: “Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông phải tiếp tục làm.”, tiếp tục suy nghĩ, tiếp tục tư duy, đó là Chánh tư duy.
Sau khi Ông làm xong một ý nghiệp, này Rahula, Ông cần phải phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: "Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem lại quả báo đau khổ, đem đến quả báo đau khổ". Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết như sau: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai; ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đưa đến quả báo đau khổ”. Một ý nghiệp như vậy, này Rahula, Ông cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán, cần phải phòng hộ trong tương lai”, không suy nghĩ nữa, không suy nghĩ về dục, không suy nghĩ về sân, không suy nghĩ về hại, không suy nghĩ về ác. Nếu mà có suy nghĩ, phản tỉnh lại thấy được suy nghĩ này là hại, bất thiện thì lo âu, hổ thẹn. Tại sao mình là người tu mình suy nghĩ như vậy, mình là người xuất gia mà tại sao lại nghĩ như vậy, mình đang ở chùa tại sao mình suy nghĩ như vậy? Nhàm chán cái suy nghĩ này, chán ngán cái suy nghĩ này quá rồi. “Cái ý hành này làm ơn yên tịnh đi, lắng dịu đi, làm ơn đi chỗ khác, chấm dứt đi, ta mệt mỏi lắm rồi những suy nghĩ bất thiện này”, nhàm chán nó và cần phòng hộ trong tương lai.
Còn nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, Ông biết: “Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai, ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc”. Do vậy, này Rahula, Ông phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm trong các thiện pháp.
Khi mà nghĩ thiện thì mình vui lên, hoan hỷ lên, phấn khởi lên. Cho nên mình đang nghe pháp là mình tác ý cái gì, mình đang ngồi thiền thì mình tác ý cái gì, mình đang là ai, mình đang làm công việc cho Tam bảo mình phải tác ý như thế nào, đó là thiện pháp. Mình thấy nó là thiện, mình đang làm cái này là thiện pháp, mình đang nói cái này là thiện pháp, mình đang nghĩ cái này là thiện pháp thì mình an trú trong niềm hoan hỷ.
Này Rahula, trong thời quá khứ, hiện tại, vị lai những Sa-môn hay Bà-la-môn nào đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, đã tịnh hóa ý nghiệp, tất cả những vị ấy, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh như vậy nhiều lần, đã tịnh hóa ý nghiệp. Do vậy, này Rahula: “Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp”. Như vậy, này Rahula, Ông cần phải tu học. (Trung Bộ Kinh, 61. Kinh Giáo Giới La Hầu La Ở Rừng Ambàla)
Câu Đức Phật nói vừa rồi: quá khứ, hiện tại, vị lai có ý gì? Ý ở đây là này Rahula trong thuở quá khứ từ xưa đến giờ, những vị tu hành nào muốn làm cho thân, miệng, ý của mình được thanh tịnh thì đều phải phản tỉnh nhiều lần giống như nảy giờ ta nói, ngoài ra không có cách nào khác để làm cho nó thanh tịnh.Tất cả những vị tu hành ở trong hiện tại nay muốn làm cho thân, miệng, ý trong sạch, thanh tịnh cũng phải phản tỉnh, xét lại nhiều lần như nãy giờ Ta đã nói. Trong những vị tu hành vị lai sau này, muốn làm cho thân, miệng, ý, ba nghiệp tịnh hóa cũng phải phản tỉnh nhiều như nảy giờ ta nói, không có con đường khác. Mình phải hiểu ý như vậy chứ không phải làm cái một, nói cái rụp là thanh tịnh liền. Phải xét đi xét lại, dò tới dò lui, kiểm tra, tẩy, quét, dọn, rửa, lau, chùi lần lần thì nó mới tịnh, mới trong sạch.
Như vậy bữa nay chúng ta học được ba bài kinh: bài kinh “Giáo giới La-hầu-la” cùng với hai bài kinh bàn về những vấn đề mình cần nói và những vấn đề mình không nên nói, nó thuộc về phần Chánh ngữ trong Bát Chánh Đạo và nó cũng là phương pháp tịnh hóa ba nghiệp: thân, miệng, ý. Chúng ta có rất nhiều những hình ảnh: một chút nước bị đổ đi, cái chậu bị úp xuống và trống rỗng, trống không nếu mình thiếu chân thật, chân thành trong sự tu học; con voi không biết bảo vệ cái vòi và sự phản tỉnh là điều đặc biệt Đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Phản tỉnh hành vi, ngôn ngữ, suy nghĩ để lần lần mình làm cho nó trong sạch. Điều quan trọng chúng ta cần để ý là mình xét nó bất thiện thì mình từ bỏ, chấm dứt; xét thấy nó là thiện thì mình hân hoan, vui vẻ, hoan hỷ, ngày đêm tinh tấn tu học thì lần lần mình sẽ đi đến chỗ thanh tịnh, tròn đầy.
./.