Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 10- Mạn và Ái

2026-03-03 00:53:58
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 10

Mạn và Ái

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ba mạn cần phải đoạn diệt PAGEREF _Toc141969749 \h 1

II. Bốn ái sanh khởi PAGEREF _Toc141969750 \h 4

III. Sự nguy hại của ái PAGEREF _Toc141969751 \h 7

I. Ba mạn cần phải đoạn diệt

Thế nào là ba mạn cần phải đoạn diệt? Ba mạn đó là: Mạn, tuỳ mạn và quá mạn. Thông thường ở trong kinh tạng Nikāya từ "mạn" có ba trường hợp có khi là mạn hay ty liệt mạn, quá mạn, tuỳ mạn. Từ "mạn" nghĩa là cho rằng có cái tôi. Ty liệt mạn là cho rằng mình thấp kém, thấp hơn người kia. Quá mạn là cho rằng mình hơn người kia.

Thành ra ba cái là bằng, thấp và cao hơn cho nên lâu lâu mình sẽ nghe từ ngã mạn, là mình thấy có một cái tôi và cái tôi ngang với cái tôi kia hoặc là thấp hơn cái tôi kia, hoặc là cao hơn cái tôi kia thì đó là mình hiểu cái ý nghĩa đó là như vậy. Trong đời sống sinh hoạt mà chúng ta thường thường quán chiếu, thường thường nhận diện nhìn lại thân tâm cảm giác của mình, nhìn lại năm uẩn thì mình thấy cái này thường xuất hiện lắm.

Ví dụ mình thấy có người đó rất là tự ti, lúc nào cũng nói là "em dở lắm, em không bằng ai, em xấu lắm". Thì mình tưởng người đó vậy là tốt nhưng đó ty liệt mạn. Là mình thiệt cho nên mình mới thấp, mình mới dở, mình mới thua, người đó không có thực tập nhận diện cái trí năm uẩn để quán chiếu, để thấy được cái tứ đại, ngũ uẩn. Nếu không có mình thiệt thì sao có mình thấp hơn, mình có thiệt mới có thấp hơn.

Có người thì thấy mình bằng "trong chùa này xét ra tôi ở dạng trung bình, không cao không thấp", "tôi ở dạng vừa vừa một mét bảy, một mét sáu xài đủ rồi", cái đó cũng là mạn. Mình tưởng vậy là mình ngon, nhiều người lúc nào cũng nhìn xuống "em dở lắm", "trong chùa này em dở nhất" thì mình tưởng đâu người này cũng bình thường, khiêm tốn nhưng lâu lâu cũng có khiêm tốn giả tạo. Có khi cũng khiêm tốn thiệt nhưng khiêm tốn thiệt hay khiêm tốn giả tạo đều nằm ở trong cái mạn. Tại mình thấy mình có thiệt, không thấy được tính chất vô ngã của năm uẩn, thâm sâu là chỗ này.

Vậy bây giờ quá mạn là lúc nào cũng thấy mình hơn người ta, dù cho mình bằng thì cũng thấy mình hơn người ta, cái đó là quá mạn. Cái này có rất nhiều. Chỉ có thánh nhân mới ra khỏi ba cái này mà mình tu là mình đi tới đó. Thánh quả là thành quả của người tu đúng chánh pháp và mình phải đi tới thành quả đó. Có nhiều người tu sung sướng không chịu mà đổi nghề bán than, cứ gặp là than đủ chuyện, hết chuyện này đến chuyện kia đến chuyện nọ là người này đang ở trong mạn vì không thành tựu trí huệ. Tại mình thấy thiệt, từ mình thấy thiệt rồi có của mình thiệt, rồi mình thua người ta, thấp kém hơn người ta, người đó không thực tập chánh quán trí tuệ. Cho nên người tu mà thực tập đúng chánh pháp theo tinh thần mình học ở đây thì an lạc, nhẹ nhàng lắm.

"Này các Tỳ kheo, được gọi là Tỳ kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử do chơn chánh hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau"

(Tăng Chi Bộ, Chương VI.Sáu Pháp, X.Phẩm Lợi Ích, X.Hữu)

Vị Tỳ kheo đã đoạn tận ba khát ái và ba cái mạn này thì vị đó coi như là đoạn tận tất cả khổ đau. Chặt đứt khát ái, sự khao khát tham ái ở trong dục, trong sắc không còn nữa. Cái tôi bằng, tôi hơn, tôi thua không còn nữa thì người này giải toả tất cả kiết sử. Tất cả những sự trói buộc sai khiến người này đều tháo gỡ ra hết, không còn cái gì trói buộc được nữa, không còn cái gì sai khiến được người này nữa.

Kiết sử là sự trói buộc sai khiến. Mà cái gì trói buộc, trói buộc cái gì? Chỗ này quan trọng. Thế nào gọi là kiết sử, thế nào gọi là bị kiết sử trói buộc, trong Tương Ưng Bộ Kinh, cái Thiên Uẩn, nói cái gì cứ quy về năm uẩn thì đúng hết. Tại vì tất cả căn cứ địa phiền não, kiết sử, trói buộc là trói buộc ở trên cái sắc thân này, ở nơi sắc pháp này, trói buộc ở nơi cảm giác, ở nơi nghĩ tưởng, ở trong nhận thức, ở trong năm thủ uẩn này, mình bị sai khiến, bị trói buộc ở trong đó.

Có phải mình bị trói buộc trong các hình sắc không? Con người có phải sắc không? Đồng tiền có phải sắc không? Chiếc xe có phải sắc không? Căn nhà có phải sắc không? Hoa đẹp có phải sắc không? Tấm hình đẹp có phải sắc không? Đó là mình bị sắc trói buộc, bị thọ trói buộc, cảm thọ trói buộc sai khiến. Bị cái nghĩ tưởng trói buộc, bị cái nhận thức trói buộc sai khiến. Năm cái đó như là ngũ thủ uẩn, gỡ ra được cái sự trói buộc, sai khiến trong đó là thánh vị, thánh quả, thánh nhân, thánh trí. Cho nên thường ngày mình phải luôn luôn nhìn lại năm uẩn, nhìn lại cảm giác. Tháo gỡ những cái dính mắc trong đó, đó là mình đang thể nhập thánh trí, mình đang trên thánh đạo để mình đến thánh quả.

Chân chánh hiện quán kiêu mạng. Hiện quán là ngay tại chỗ ngồi, ngay đây, ngay bây giờ mình nhìn nó bằng trí huệ một cách chính xác thật sự. Cái bám chấp vô coi là tôi, cho là của tôi, cho là tôi bằng, cho là tôi hơn là không có. Đó là do sự vô minh không thấy được năm uẩn, sự vô minh ở trong cái tham ái, chấp thủ bám chặt cho nên nó mới sanh ra điều đó và mình chân chánh hiện quán kiêu mạn như vậy thì mình mới đoạn tận được khổ đau.

Ví dụ có một bức tranh rất đẹp của một vị hoạ sĩ danh tiếng trên thế giới. Bây giờ có nhóm người đang tranh luận về bức tranh. Người kia thì nói quá đẹp, đẹp không chỗ nói, đẹp không còn cái gì so sánh được nữa nhưng trong nhóm có một số người khác nói rằng bức tranh này xấu. Nhóm này với nhóm kia tranh cãi. Bây giờ có duy nhất một người làm ra bức tranh giả, họ biết bức tranh này là photocopy nhái lại thôi, thậm chí nếu mình biết bức tranh đó là giả thì lúc đó mình còn cãi cái nào đẹp, cái nào xấu nữa không? Mình không còn tranh đấu nữa, mình thấy cái này đâu là cái gì đâu mà tranh cãi.

Đối với chấp ngã, cái ngã mạn này thì cũng vậy. Tại mình thấy có một cái tôi có thật cho nên cái tôi đó đẹp xấu, cao thấp, sang hèn, giàu nghèo… đủ thứ sai biệt hết. Còn nếu như mình nhìn thấy đây là tứ đại năm uẩn kết hợp, không có cái tôi thật thì tất cả cái kia lắng dịu, dập tắt hết. Đó là lúc thánh trí vô ngã xuất hiện, thành tựu thánh trí là vậy đó. Thành tựu thánh trí là ngồi trong lớp nhìn thấy ba trăm mấy chục bộ xương, ba trăm mấy chục cái đầu lâu, ba trăm mấy chục bộ đồ lòng. Nếu vách tường sập xuống thì nó bầy nhầy một đống y chang như vậy, đống nào như đống nấy, cũng tim, gan, phèo, phổi.

Đó là thánh trí, đó là trí huệ, mà trí huệ đó nhìn thấu được là tất cả những cái kia tự nhiên lắng dịu, tan biến, chấm dứt hết. Chỗ đó là chỗ phá tung hết bản ngã, tham, sân, si. Cho nên tại sao chư vị Tỳ kheo khi Đức Phật còn tại thế là quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán thâm sâu phá tan hết tham, sân, si và chấp ngã. Còn mình một ngày có quán được một tiếng không? Có khi nữa tiếng cũng không có, mười lăm phút cũng chưa thấy, năm phút cũng chưa có. Đi học một thời gian mới bắt đầu quán mà "nói nghe sợ quá thầy ơi". Sợ cái sự thật, mê cái sự giả, yêu cái đồ dỏm, thích bị người ta gạt. Phũ phàng chưa? Quá phũ phàng.

II. Bốn ái sanh khởi

Có bốn ái sanh khởi này, này các Tỳ kheo, khi nào ái sanh, có thể sanh khởi nơi vị Tỳ kheo. Thế nào là bốn?

Do nhận y áo, này các Tỳ kheo, ái khi khởi lên, khởi lên nơi vị Tỳ kheo, hay do nhận đồ ăn khất thực ... hay do nhận sàng tọa ... hay do nhận đây là hữu, đây là phi hữu, ái khi khởi lên, khởi lên nơi vị Tỳ Kheo (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV.Bốn Pháp, IX.Khát Ái).

Nói thì cao siêu lắm, "con xuất gia vì con thấy cuộc đời vô thường, giả dối hết, không có cái gì hết, con đi tu". Con thấy nó giả, cuộc đời không có ý nghĩa gì hết mà vô chùa người ta cúng hai xấp vải mà xấp của người kia đẹp, xấp của mình xấu thì lúc đó mình làm sao? Thấy cái thực pháp chưa?

Cho nên ở trong tạng kinh Nikāya này dạy rất là xác thực, rất là thực tế để chỉ cho mình cái thực pháp. Thực pháp là mình càng thấy được tham sân si, càng thấy được cái kiêu mạn, càng thấy được cái gì ô nhiễm nhất trong tâm mình thì trí huệ của mình càng sáng tỏ rồi mới thấy được rõ. Trí sáng tỏ mới thấy được những phiền não, những tham dục, những ái dục, những khao khát ở trong nội tâm còn bình thường mình đâu có thấy, nhưng tu cái này mình sẽ thấy.

Khi mình nhìn lại cảm giác, những cái tưởng, những cái suy nghĩ là mình thấy được hết. Mà càng thấy rõ thì càng xấu hổ, càng hổ thẹn rồi tàm quý, rồi sợ hãi, rồi nỗ lực tinh tấn khắc phục, tẩy rửa cho sạch sẽ rồi đi đến chỗ thanh tịnh Niết-bàn, đó là con đường. Nói ra thì không có nhiều, trong tinh thần kinh Nikāya đó là thành tựu trí huệ, phá sạnh tham sân si là chứng thánh quả.

Tóm gọn của tạng kinh Nikāya có nhiêu đó thôi. Trí huệ là để thấy thân tâm này là năm uẩn, không phải tôi, không phải của tôi. Rồi từ thấy được năm uẩn, nhìn lại cảm giác, những cái tưởng, những cái suy nghĩ, mình thấy tham sân si trong đó rồi mình tìm cách nhiếp phục tẩy trừ, diệt trừ nó là xong, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong. Đặt gánh nặng xuống rồi, cội gốc của sự tu là bao nhiêu đó chứ không phải là tối ngày vô chùa cúng, quỳ lạy, van xin. Trong kinh Nikāya không dạy cái đó, bằng chứng là mình lạy hoài, mình tụng hoài mà tham sân si, bản ngã còn y nguyên nhiều khi còn lớn hơn. Đau đớn là khi sau khi đi xuất gia, thọ giới rồi thì cái tôi nó lớn hơn lúc còn cư sĩ, còn tập sự xuất gia. Đây là một sự cay đắng!

Tại sao lại vậy? Vì mình không thành tựu chánh tri kiến, không thấy rõ được năm uẩn, không nhiếp phục tham sân si, không phá bản ngã, chỉ làm hình thức, dụng công nơi sắc pháp ở bên ngoài. Quý huynh đệ nhìn đi, nói ít hiểu nhiều. Bây giờ lấy cái gì làm sự tu hành? Nhìn đi, thấy đi, thấu hiểu đi, tu tập đi, chứng ngộ đi. Bằng không mình đặt công phu là đặt tâm sai hướng không có đi đến thành quả của sự tu tập.

Này các Tỳ kheo chỉ ở trong Bát Chánh Đạo mới có Sa môn thánh quả thứ nhất. Sa môn thánh quả thứ hai, Sa-môn thánh quả thứ ba và Sa môn thánh quả thứ tư, ngoài Bát Chánh Đạo không có tứ quả Sa môn. (Trường Bộ Kinh)

Không đi qua con đường chánh tri kiến để nhìn thấy bản chất của thân tâm thì không thể đi đến chỗ diệt tận, giảm thiểu, trừ sạch dục, tham, sân hận, si mê và chấp ngã. Không khéo vô tu mà cũng ráng kiếm bằng cấp, ráng đi kiếm cái chùa, ráng đi kiếm cái này, cái nọ, cái kia thì mình không đi con đường của Đức Phật. Con đường của Đức Thế Tôn gọi là thánh đạo, mình đi trên con đường đó mới tới thánh quả. Mình đi trên con đường phàm đạo thì làm sao tới thánh quả?

Ái tăng trưởng thì khổ sẽ tăng trưởng. Cho nên đối với y áo, đồ ăn, gường chõng, phòng ốc thì tu làm sao mà giả như có người cần chỗ mình đang ngủ thì mình sẵn sàng nhường được trong một tuần, thậm chí nhường cả tháng luôn cũng được, mình có thể ngủ một xó nào đó, thì đó mới chỉ bắt đầu chút chút thôi, vì đây mới chỉ một phần sắc pháp thôi. Mình tu làm sao mà cái gường đẹp nằm bảy năm mà ai xin là mình cho, cần lấy cứ lấy không sao đâu, mình trải chiếu ngủ không sao. Cái này là cái nhỏ nhất chưa nói đến cái lớn.

Ví dụ mình thích cái món bún Huế, bây giờ mới vô chỗ đó có ngay cái món mình thích mà chỗ này lại nấu ngon nhất, rồi họ bưng ra cho mình mà có người nói "tôi đói bụng quá, cho tôi xin đi" là mình cho. Cái nhỏ xíu đó tu được chưa? Lúc đó là dục, là ái, là tham đang sanh khởi. Cái món đó để trước mặt là chắc chắn miệng nhỏ dãi ra liền mà ngay lúc đói bụng, cái mùi từ trong bếp bay ra thôi là hồn siêu phách lạc. Nói ra thì kì nhưng món ăn là không có đơn giản, mình chiến thắng được cái dục, cái ái, cái tham trong món ăn là cả một quá trình.

Cho nên trong cái tu phải miên mật, sát sao, tỉ mỉ, nó sâu sắc giống như là thợ thêu từng đường chỉ vậy đó. Đi ra Đà Lạt có cái chỗ gọi là It We, chỗ đó người ta thêu rất là đẹp phải không? Mà sự tu tập còn vi tế hơn cái đó gấp trăm lần. Chứ nói bậc thánh đâu phải chuyện đơn giản, tại vì tâm của mình nhỏ nhiệm còn hơn đường chỉ đó nữa. Những cái dục, ái, sân, cố chấp, bản ngã, tật đố dày đặc trong đó, nó đan kết trong đó mà mình không thường thiền định, không thường phản tỉnh, không quán chiếu, không có chánh niệm tỉnh giác, không hộ trì căn là không có thấy được, mà mình vô chùa lo nhìn người ta không thôi.

Lại ngồi là mắng vốn từ trên xuống dưới, mắng vốn người này người kia người nọ trong chùa, như vậy thì mình biết người này tu ở mức độ nào, không có tu tập gì hết, người thật tu không có như vậy. Cho nên đặc tính của bậc chân nhân là gì? Chân nhân là người thực sự là người. Đức Phật nói đặc tính của người chân nhân trong Tăng Chi Bộ Kinh là dù cho có người hỏi cũng ngại ngùng khi nói lỗi xấu của người khác, huống hồ chi là không hỏi. Mà dù cho không có người hỏi thì người này cũng muốn nói lên điều tốt của người khác mà huống chi có người hỏi. Chân nhân là người thiệt, người chân chánh, người thật sự là người.

Trở lại vấn đề ở đây mình phải cẩn thận đối với quần áo, đồ ăn uống và chỗ nghỉ ngơi, nói chung là những vật chất. Phải cận thận, đừng để cái tâm mình tham đắm, dính mắc trong đó. Tại sao? Tại vì mình tu một cách phớt lờ, một cách qua loa, một cách hời hợt cho nên mình không kiểm soát được phiền não, qua mặt mình hết. Mình đã sống quen thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, quen rồi cho nên kêu ngồi thiền, phòng hộ oai nghi là khó chịu, hữu lậu hoạt động, nó không chịu. Nó bực, bắt nó ngồi im chỉ có mấy phút thôi mà nó khó chịu.

Vì cái buông lung phóng dật nó chống lại cái hộ trì căn, nó chống lại sự phòng hộ, sự thu nhiếp, sự oai nghi chánh hạnh. Tại sao nó chống lại? Tại vì nó muốn đưa mình vô luân hồi sanh tử, nó không muốn mình đi ra khỏi, ra khỏi buồn lắm ở trong này cho nó vui, nó thích mình ở trong này chơi với nó. Cho nên người bình thường không tu thành tựu để thấy biết chân chánh về thánh pháp thì người này không biết được phiền não của mình, không biết được chấp ngã là gì, càng không biết được cái vi tế của tham ái, tham dục và chấp thủ. Cho nên thành tựu thánh trí mới biết được thực sự phiền não vận hành như thế nào, mình phải nương nơi thánh trí, trí huệ của Phật. Cái sâu xa ở đây là nói đến cái hữu và phi hữu đó.

III. Sự nguy hại của ái

“Người có ái làm bạn

Sẽ luân chuyển dài dài

Khi hiện hữu chỗ này

Khi hiện hữu chỗ khác

Người ấy không dừng được

Sự luận chuyển tái sanh”

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV.Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana IX.Khát Ái)

Mình thích làm bạn với ái lắm. Trong lúc ăn mình ái với nó, trong lúc ngủ là mình ái với nó, ái với giấc ngủ, nghe điện thoại mình ái trong cái âm thanh của nhĩ xúc, con mắt tiếp xúc là ái trong nhãn xúc, tất cả mình đều không thấy. Chúng ta đã học tham ái rồi phải không? Còn nhớ không hay quên rồi? Sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tầm, sáu tứ, sáu tư đều đầy rẫy tham ái trong đó. Bậc A-la-hán đoạn tận tất cả những tham ái đó. Chỗ nào cũng có cho nên người làm bạn với ái là luân chuyển dài dài, luân chuyển là trôi nổi. Khi ở chỗ này, lúc ở chỗ kia không có dừng được.

Rõ biết nguy hại này

Chính ái sanh đau khổ

Tỳ Kheo từ bỏ ái

Không nắm giữ chấp thủ

An trú, không thất niệm

Vị ấy sống xuất gia.

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV.Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana IX.Khát Ái)

Rõ biết nguy hại là quan trọng, đây là cái trí nguy hại của dục, nguy hại của ái. Mình phải nhớ ba cái loại trí huệ: Vị ngọt của dục, sự nguy hại của dục và sự xuất ly của dục. Vị ngọt của ái, sự nguy hại của ái và sự xuất ly đi ra khỏi ái. Thế nào là vị ngọt của ái? Thế nào là vị ngọt của dục?

Do duyên ở nơi ái và do duyên của nơi dục mà hình khởi lên hỉ lạc, sự ưa thích vị ngọt. Thế nào là sự nguy hại của ái? Chính là cái ái, dục này là vô thường, là khổ, là chịu sự biến hoại, vì thế mới có yêu thích rồi thù hận, rồi thương, ghét, rồi sân si, rồi nói cười, rồi sau đó là hiềm hận.

Cho nên cái ái này là vô thường, nó là biến hoại nó là khổ, đó là sự nguy hại của ái. Những đối tượng mình tham ái sẽ tan hoại, tan vỡ, tan tành, tan nát, nó không có như vậy hoài. Vậy thế nào là sự xuất ly khỏi ái. Nhiếp phục dục và tham. Đoạn tận dục và tham ở trong cái ái đó là mình đi ra khỏi ái. Cho nên chỗ này là chỗ mình phải nhớ, hai chữ ly tham tuyệt diệu lắm, hai chữ đó là kim chỉ nam. Bất cứ lúc nào mình tu cũng nhớ hai chữ đó là mình thành công.

Thấy rõ bản chất của nó, không còn tham muốn với nó nữa, đó là bí kiếp võ công, đó là túi gấm, đó là cẩm nang, đó là lá bùa hộ mệnh. Đó là ly tham, ái gì là thấy mà tham là nói "lìa nha, án xa ra…xa ra…xa ra, coi chừng xáp vô là chết nha con", mình nói với cảm giác mình vậy đó. Xáp vô là chết, nó giết mình chết, nó siết cổ mình, nó buộc mình vô. Hãy nhớ là cái pháp li tham là pháp tối thượng.

“Này các tỳ kheo trong các pháp hữu vi và vô vi, pháp li tham là tối thượng”.

"Quy Y pháp, ly dục tôn", mình trở về nương tựa với pháp. Chỗ tôn quý của pháp là sự xa lìa dục, ái và tham. Đối với bất cái gì ở trên cuộc này mà mình thấy phát sanh tham ái và dục với cái đó là bắt đầu mình tránh ra, từ bỏ đoạn tận nó. Như thế là mình sẽ chấm dứt khổ đau.

Cho nên quán nguy hại rất là hay. Có người vì một vài triệu đồng mà đâm nhau chết. Người ta không biết, người ta tưởng hai người này nóng giận, tức quá thì đâm nhau mà không phải. Sâu xa hơn đó là sự ưa thích số tiền đó. Lòng vòng trong đó là tham sân si, lòng vòng sâu xa trong đó là dục ái.

Mà đâu phải bạc triệu thôi, nhiều khi chỉ vì mấy chục ngàn, hai ông xe ôm dành khách thôi cũng có thể xảy ra án mạng. Hay là gây gỗ nói chuyện với nhau rồi tẩm xăng đốt cháy hết chín mươi phần trăm cơ thể của một em bé. Hôm trước trên đài truyền hình đưa tin chồng tưới xăng khiến người vợ bị phỏng 70% diện tích cơ thể, lên ti vi người ta che mờ cô đó lại, mà lâu lâu họ quay mặt nhìn ra thì không giống một con người. Chồng cô tạt xăng vào người cô rồi đốt và cô này nói rằng không thể tưởng tượng nổi tại sao lại như vậy, không biết tại sao đến mức độ như vậy. Cô nghĩ chỉ có trong phim thôi mà lại xảy ra với cô như vậy. Tất cả những cái đó là từ dục ái sanh ra, đó là nguy hại của dục ái, nguy hại của sắc. Bao nhiêu sự kiện xảy ra ở xung quanh, trên báo, trên trang tin tức thời sự toàn là nguy hại của tham sân si. Mình đọc rồi có thấy không hay mình chỉ thấy ông nọ bà kia như vậy thôi. Mình không có thành tựu trí huệ để quán chiếu xuất ly.

Dùng trí huệ để mà đọc, dùng cái trí huệ để mà xem, dùng cái trí huệ để mà nhìn, cái trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đó là tác hại của dục ái, tham sân si. Nhàm chán nó, xa lìa nó, từ bỏ nó, chấm dứt nó, đoạn tận nó không đi theo con đường đó nữa. Phải bỏ cha bỏ mẹ đi lên rừng, bỏ xóm làng, anh chị cô bác đi lên núi, phải từ bỏ tất cả những quyến thuộc bà con huynh đệ đi vào ven suối, bìa rừng độc cư thiền định. Thể nhập thánh trí chứng ngộ Niết-bàn. Đừng để cho một đời qua suông, đừng tu một cách lơ tơ mơ, hời hợt cho qua ngày. Phải thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia, học cho tới nơi, tu cho tới chốn, chứng cho tới thánh quả.

Tỳ kheo đó từ bỏ ái, không có nắm giữ chấp thủ, an trú không có thất niệm. An trú chánh niệm, không cho mất niệm như vậy mới gọi là đời sống của một người xuất gia. Đọc cái này mình xấu hổ, mình chưa xứng đáng với đời sống của một người xuất gia. Người xuất gia là danh từ thôi, tâm chưa xuất gia, còn đam mê, đắm nhiễm lắm, còn thích thú lắm, còn mơ ước, còn đợi chờ, còn hi vọng, còn khao khát lắm, nó chưa có từ bỏ, nó chưa có thấy là khổ đau, lâu lâu thấy một chút vậy thôi. Vào đám ma thấy cũng chảy nước mắt rồi về cũng y như cũ, giỏi lắm được hai ba ngày.

Luyến ái, sanh ra từ luyến ái, Đức Phật nói rằng: Có một người này rất là đáng yêu, rồi những người khác đối xử với người này cũng đáng yêu cũng là thích người này. Người kia nghĩ o người này là người đáng yêu đối với ta lại được những người khác đối xử rất là đáng yêu do đó người ấy khởi lên luyến ái đối với những người ấy. Ví dụ mình thường, mình quý người đó nhưng có nhiều người cũng quý, cũng thương người đó cho nên mình thương mình quý những người mà quý người đó. Mình chơi với một người bạn mà người bạn đó được nhiều người quý cho nên mình quý luôn bạn của người bạn mình chơi.

Đó gọi luyến ái sanh ra từ luyến ái. Mình cũng thích người đó rồi những người kia cũng thích, cũng mến những người đó cho nên mình thích những người đó, cùng sở thích với nhau. Chẳng hạn như bóng đá, ông này thích bóng đá, ông kia cũng thích bóng đá nên ngồi lại làm bạn với nhau gọi là bạn bóng đá, cùng một sở thích. Người này thích người kia, người kia cùng người này bao nhiêu người thích, thấy người kia dễ thương lắm sống đàng hoàng, tốt lành lắm là cũng thích với nhau cho nên làm bạn vì cùng cái gu với nhau.

Bây giờ sân sanh ra từ luyến ái.Có một người đáng yêu lắm đối với một người khác, rồi các người khác đối xử với người đó không có đáng yêu, ghét. Thì người đó mới suy nghĩ, người này là người đáng yêu đối với ta nhưng không được các người khác đối xử đáng yêu do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người kia. Đây là được dịch từ lời văn cổ cho nên mình đọc sẽ hơi khó hiểu, phải suy nghĩ một chút mới hiểu. Ở đây nói những người không thích người mình thích thì mình sẽ ghét, mình thích người này mà những người kia không thích người này, cho nên mình không thích những người đó, dễ hiểu không?

Cái này dễ hiểu nhưng đọc cái văn trong đây không phải dể hiểu, phải giải thích mình sẽ hiểu. Những người đồng chung cùng thích thì mình thích mà những người không đồng sở thích với mình là mình không ưa, cho nên mới có phe, có nhóm. Thậm chí trong chùa tu cũng có mấy nhóm. Hợp mới chơi, không hợp không thèm chơi thì đó đâu phải người tu. Người tu là đời sống lục hòa thì làm gì có phe có nhóm, có hợp với không hợp. Mình không ứng dụng tinh thần lục hoà cho nên mình phiền não hoài.

Luyến ái được sanh khởi từ sân: Có người này không có đáng yêu, không có đáng ưa đối với một người rồi các người khác đối với người ấy cũng không có ưa rồi người kia suy nghĩ người này không có đáng yêu đối với ta. Các người khác đối với người ấy cũng không đáng ưa do đó cho nên người này khởi lên luyến ái đối với những người ấy. Tức là người này không thích một người và những người kia cũng không thích người đó, cho nên người này chơi với những người kia. Ví dụ người A không ưa người B, có một số người C không ưa người B cho nên người A ưa người C. Hiểu không? Văn hồi xưa dịch sẽ hơi khó hiểu, không cùng ưa thích người đó với nhau cho nên chơi với nhau.

Lòng sân được sanh khởi từ lòng sân: Có người kia không có đáng ưa đối với một người rồi các người khác đối với người ấy là ưa thích, rồi những người kia suy nghĩ người này không có đáng yêu với ta mà những kia đối sử với người ấy đáng ưa. Do đó người ấy khởi lên lòng sân đối với những người kia. Lòng sân được sanh khởi từ lòng sân, là một người không có đáng ưa với một người này, mà những người khác đối với người ấy là ưa thích thì người này mới suy nghĩ người đó không đáng ưa, tại sao những người này lại ưa người đó nên người này không ưa những người đó. Hiểu chưa?

Cho nên cái này để mình hiểu tham, sân, si là những cái mặt của một vấn đề, nó lật qua lật lại thôi chứ không phải là nó riêng, nó lật qua lật lại vậy thôi. Nó tham rồi nó sân rồi nó lật qua lật lại như vậy. Người mình ghét đi chơi với người mình ghét là mình ghét luôn 2 người đó, "chị đi chơi với người đó là tôi không thèm nói chuyện với chị nữa". Rồi "người đó dễ thương quá, tôi cũng thấy người đó dễ thương thôi mình nói chuyện chơi, người đó dễ thương lắm". "Người đó dễ ghét lắm, đúng rồi người đó dễ ghét lắm" rồi "thôi ghét luôn người này", đúng là mình kết bạn luôn. Lật qua lật lại cũng là vô minh, tham ái, sân si không. Vô văn phàm phu mới có cái đó.

Ái duyên chấp thủ trong Tương Ưng Bộ Kinh (tập 2). Bài kinh Nhân. Ví dụ về cây lớn.

“Lúc đó ngài Ananda đảnh lễ với Đức Phật rồi mới thưa:

Hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy, và giáo pháp này đối với con hết sức minh bạch rõ ràng.

- Này Ananda, chớ có nói vậy! Này Ananda chớ có nói vậy! Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử”

(Trường Bộ Kinh, Đại Duyên).

Ngài Ananda khen ngợi định nghĩa duyên khởi sâu sắc nhưng mà đối với con, con thấy rất là rõ ràng minh bạch. Đức Phật nói chớ có nói vậy, vì lúc này ngài Ananda mới có sơ quả Tu-đà-hoàn. Chính vì không hiểu pháp này, không có giác ngộ không có chứng nhập cho nên chúng sanh bị rối ren như một cuộn chỉ. Mình thấy cuộn chỉ bị rối là không biết đường đâu gỡ. Chúng sanh bị phủ đầy bởi những bệnh cằn cỗi, các thứ bệnh. Giống như cỏ lau không thoát khỏi luân hồi, không ra khỏi được địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cõi giữ ác thú và đoạ sứ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên cái lý duyên khởi này là mình học cả một bài luận văn chứ không phải đơn giản đâu.

“ Này Ananda ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.”

(Chương 12. Tương Ưng Nhân Duyên, VI. Phẩm Cây).

Đức Phật ví dụ giống như một cây lớn, các cái rễ cây đâm sâu xuống rồi đâm ngang qua. Tất cả các cái rễ đều hút lên cái nhựa sống cho cái cây, thì cây ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy cho nên đứng vững ở trong thời gian lâu dài.

Ai sống mà thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ thì ái được tăng trưởng, nghĩa là thấy vị ngọt ở trong các cái pháp mà được chấp thủ. Chấp thủ sắc, chấp thủ cảm thọ, tưởng, thành, thức, chấp thủ năm uẩn. Bây giờ nếu như mình thấy vị ngọt ở trong cái sắc này ái sẽ tăng trưởng, vị ngọt là sự yêu thích. Mình yêu thích ở trong cảm giác này, mình yêu thích trong nghĩ tưởng này, thân thể này, ở trong cảm giác này, ở trong nhận thức này thì ái tăng trưởng. Mình thấy vị ngọt rồi mình hướng theo vị ngọt.

Có phải cả thiên hạ chạy theo vị ngọt không? Mà chạy theo vị ngọt là ái tăng trưởng, tất cả chúng sanh chỉ lo nhìn vị ngọt mà không có thấy sự nguy hại là ái tăng tưởng. Mình quán sự nguy hại thì lúc đó mới sanh ra sự nhàm chán, mình mới không tham muốn nữa mình mới ly tham, rồi mới từ bỏ. Còn cái này mình thấy vị ngọt là mình đi theo là ái nó tăng trưởng. Mình xem trong sinh hoạt hằng ngày của mình đi.

Cái này quan trọng lắm, cái này là pháp tu, pháp hành, cái này là rất là quan trọng, thành tựu thánh trí là chỗ này. Các pháp được tuân thủ mà thân tâm này mình thấy vị ngọt trong đây nhiều không? Mình nghe cái gì thôi thì mình có đi theo vị ngọt không? Tiếp xúc với cái gì mình có đi theo vị ngọt không? Mình được cho đi ra Hà Nội hay ra Bái Đính hay ra Đà Lạt hay đi đâu đó, mới bước vô là khen đẹp quá, quá đẹp. Trong đó không những cái miệng, cái ý rồi còn cái thân thì sao? Rồi tạo hình tạo dáng rồi té.

Có người lên Đà Lạt đứng tạo dáng trên đồi, chắc cũng là đồi thông hai mộ hay thung lũng tình yêu, đứng tạo dáng chụp mà đứng ngay chỗ bờ vực rồi trượt chân xuống, té chết luôn. Tại ở đó xứ sở cao nguyên mà, thành ra có những chỗ cao lắm, có những chỗ cao hàng trăm mét, trợt té xuống chết. Mình thấy những chuyện đó vô lí nhưng nó xảy ra hằng ngày. Mình nói "Ủa? Sao chuyện này khó tin quá" mà đây là sự thật, báo đăng có thể tìm đọc.

Mình nói "Cái đẹp này cũng là sắc uẩn thôi, sắc pháp thôi, nó là vô thường", vẫn biết đẹp nhưng không bị vị ngọt trong đó hấp dẫn, nó lôi kéo, nó nhận chìm mình chứ không phải là mình không biết, biết nhưng mình không có tham đắm thì cái đó là trí huệ, cái đó là hiền thánh, là đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

Người nào sống với trí huệ là người đó đáng chắp tay, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, người đó đáng để hàng Phật tử vác nhiều bao lương thực đi một con đường thiệt dài để đem đến đảnh lễ, cúng dường. Còn vô thấy cái tham mê, dục ái là không xứng đáng cúng dường. Đam mê, đam nhiễm, ưa thích, chẳng những vậy còn lấy cái mẫu này về làm theo, "chùa mình nhỏ quá tủi thân, ước gì nhà mình bằng cái nhà bếp ở đây cũng được".

Phải không? Nhiều khi mấy người đi du lịch qua những chùa lớn bên Trung Quốc, thấy nhà bếp rồi "ước gì chánh điện của mình bằng cái nhà bếp ở đây cũng đỡ ta". Mình nghe mình thấy cũng hợp lý, cũng rõ ràng, cũng chính đáng nhưng đó là dục ái tham đối sắc uẩn. Sâu sắc không? Cho nên thành tựu trí huệ trong đây thâm sâu lắm chứ không phải đơn giản, mình còn ưa thích sắc là còn ưa thích khổ. Mà cái chùa đó là sắc chứ có cái gì đâu, thân này cũng vậy. Thành ra cái này mới cứu mình, cái này mới đoạn tận tất cả khổ đau chứ không có cái nào cứu mình được hết. Mình vô lạy hoài, mình niệm hoài tới 100 tuổi cũng vậy tại cái trí mình không khai mở, nó không thấy sự thật, nó mê mẫn ở trong sắc, nó thấy vị ngọt mà không thấy nguy hại.

Rồi cái cảm giác, như vậy có chết không. Chỉ cần nó tung chưởng một cái vô cái cảm giác là chết liền, biết bao nhiêu người xuất gia mà bị chết, chết là pháp thân huệ mạng đó. Chết với sắc đẹp, chết với cảm giác, chết với những tài sản, chết với những lời đường mật. Rồi phá vỡ sự nghiệp tu hành, đạo hạnh, giới, luật của mình là cái cảm giác chứ có gì đâu, vô cái cảm giác đó là chết. Tại vì thường ngày mình cứ nghĩ về vị ngọt đó, mình cứ tưởng về vị ngọt đó, mình hành ở trong vị ngọt đó, mình suy nghĩ về vị ngọt đó mà mình không quán chiếu về cái nguy hại, tác hại, nguy hiểm, sự vô thường, sự tan hoại, sự tan nát, sự đổ vỡ của nó.

Cho nên đụng chuyện là mình chết liền. Ngọt mật chết ruồi, chết cả đống ruồi, để cái thau mật ong là chết cả đống ruồi. Cho nên ai thấy vị ngọt trong các pháp được chấp thủ thì ái trong người đó sẽ tăng tưởng. Sự yêu thích đối với sắc thân này, sự yêu thích đối với cảm giác này, sự yêu thích đối với nghĩ tưởng này, sự yêu thích đối với cái nhận thức này lớn mạnh. Mà nó lớn mạnh thì hữu sẽ có mặt, sự hiện hữu ở trong năm uẩn, ở trong tứ đại, ở trong pháp vô thường này sẽ có mặt, nó còn hiện hữu chứ nó chưa hết.

Còn tiếp tục nữa, còn tiếp tục dài dài mà đời sau nó ra cái gì thì chưa biết. Hữu có mặt thì sanh có mặt, còn có những tiếng khóc lúc chào đời, còn có những tiếng đau khổ nữa. Sanh có mặt thì có già chết, sầu bi, khổ ưu não sanh khởi. Sanh thì phải có già, phải có bệnh, trong đó ưu não, sầu bi, khổ não đầy đủ trong đó thì gọi là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

Cho nên cái sự quán về nguy hại quan trọng lắm. Mỗi ngày tu thiền quán phải quán về sự nguy hại của dục, của tham, của ái, nguy hại của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Mình ăn món mình thích thì tham, khoái chí trong này phải không? Mình ngưng lại, từ từ gắp. Mình tham cái này là mình bị cái này ràng buộc, từ từ ăn. Có một vị cao Tăng bên Tây Tạng đi trai Tăng. Vị này thấy tâm của mình thích sữa tươi, vị này thấy nó khởi lên cái thích, nó thúc giục "lẹ lẹ đi, sao không chịu chế bên đây trước mà chế bên kia trước. Nhanh nhanh đặng tới mình khát nước". Khi sữa được đưa đến chỗ ngài thì ngài nhìn thấy được tâm tham ở trong thực phẩm này, khi đó ngài đậy bát lại, trị cái tâm tham của ngài, đó là sự chân tu.

Còn mình bị dục chi phối, thúc giục "lẹ lẹ mau mau" là mình với cái dục đó nhập làm một. Mình không thấy được nó tham, không thấy được dục, mình đâu có thành tựu trí huệ là mình nhập vô luôn cho nên nó dẫn mình đi. Cái sân cũng vậy, nó nhập vô luôn, cái nào mình cũng nhập hết trơn. Như vậy gọi là nhập thế đó, cái nào mình cũng nhập, cái nào mình cũng vô hết. Cái nào đông người là mình vô, chỗ nào có lễ hội là mình tới, hội chợ này kia mà mình cũng sách giỏ đi ra, cái đó gọi là nhập thế đó, nhập vô dòng thế tục.

Tu là phải đi ra, thành tựu cái trí đi ra, không có đi vô đó. Chỗ đó không phải chỗ của mình. Chỗ của mình là Bát Chánh Đạo. Chỗ của mình là Tứ Niệm Xứ. Chỗ của mình là Tứ Thánh Đế, Ngũ Uẩn. Chỗ của mình là chỗ ly tham, từ bỏ. Chỗ của mình là dưới gốc cây, bên bờ suối ven đường, bên căn nhà trống. Đó là chỗ của người xuất gia chứ không phải nơi phố thị phồn hoa, náo nhiệt.

./.