Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghiệp & Quả Báo 6

2026-03-03 00:53:59
Nghiệp & Quả Báo 6

10 Nghiệp Lành & Dữ 3

Thích Minh Thành

Ngày 16 tháng 09 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bố thí – cúng dường PAGEREF _Toc116396988 \h 1

II. Lòng tin PAGEREF _Toc116396989 \h 5

III. Trọn vẹn các công đức PAGEREF _Toc116396990 \h 9

I. Bố thí – cúng dường

Kính bạch chư tôn hiền đức và toàn thể quý nam nữ Phật tử hiền trí.

Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu về chuyên đề nghiệp và quả báo. Chúng ta đang tìm hiểu về mười nghiệp thiện, cũng như đối lập với mười nghiệp bất thiện. Trong mười nghiệp thiện và bất thiện này rất quan trọng, nền tảng quyết định của người tu học chúng ta. Chúng ta nhớ rằng thân là có ba, miệng có bốn, ý có ba. Hôm trước chúng ta đã tìm hiểu được chín nghiệp thiện và chín nghiệp bất thiện. Nghiệp thứ mười chúng ta chỉ vừa đọc qua. Giờ chúng ta sẽ nghe lại về tịnh hạnh, về phần có chánh kiến, không có tư tưởng điên đảo, không có suy nghĩ lệch lạc mà chúng ta phải có suy nghĩ chính chắn, là phải có bố thí, cúng thí, tế lễ, có các hành vi thiện ác, có các kết quả dị thục. Nói đầy đủ là dị thục của nghiệp có đời này đời sau, có mẹ có cha, có các loại hóa sanh trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu. Sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau.

Đây là phần nói về chánh kiến, phần này rất quan trọng, vì sự thấy của mình đúng thì mới đưa đến suy nghĩ đúng, lời nói đúng, hành động đúng, cách sống đúng, những sự siêng năng hay tập trung tâm ý của mình đúng. Một khi cái nhìn của mình bị lệch lạc, sai lầm, không đúng, không chính xác, không toàn diện thì suy nghĩ, ngôn ngữ, hành vi, đời sống sinh hoạt, những ước nguyện, mong muốn, những sự tập trung tâm ý của mình đều là không đưa đến một kết quả an lạc, hạnh phúc.

Nên tuy rằng phần tà kiến hay chánh kiến ở sau cùng nhưng đó là sự quyết định cho mười nghiệp thiện và mười nghiệp bất thiện. Vì phần này Minh Thành để dành để nói kĩ cho chúng ta, chúng ta đối chiếu giữa tà kiến và chánh kiến. Tà kiến là có người có những suy nghĩ sai lầm, cho rằng không có bố thí, cúng dường, tức là “Phước của ai người đó hưởng, nghiệp của ai người đó chịu. Người ta nghèo là vì người ta không biết tu, không biết bố thí ở đời trước nên giờ họ nghèo thì mình để cho họ tự chịu. Cái nghèo đó là họ gây ra, nên mình đừng cho.”

Chúng ta thấy nói như vậy nếu mà mình không có suy xét sâu sắc, thì người bình thường không biết tu thì người ta dễ chấp nhận không? Cũng sẽ có người chấp nhận? “Nghèo hay giàu là do người đó, tại sao mình phải đi cho họ làm chi?” Nhưng đó lại là tà kiến, Đức Phật gọi là có tư tưởng điên đảo.

Thứ nhất là không tin vào sự bố thí. Mình thấy suy nghĩ rất bình thường không? Nhưng đó lại là tư tưởng điên đảo, vì suy nghĩ như vậy đóng bít lại tâm san sẻ, sớt chia với bàn tay rộng mở, đóng bít lại tâm hoan hỷ, bố thí, vui thích, đem cho hạnh phúc trong sự chia sẻ đến cho mọi người. Suy nghĩ đó là điên đảo tưởng, là tà kiến, làm cho mình bủn xỉn, keo kiệt, rít rắm, không biết suy nghĩ cho người khác. Đức Phật gọi đó là tà kiến, là cái nhìn lệch lạc, sai lầm.

Trong chúng ta lâu lâu có suy nghĩ này không? Lúc mình chưa biết tu, chưa biết học pháp thì mình có suy nghĩ này không? Suy nghĩ đó là suy nghĩ lầm lạc, sai quấy.

Hoặc suy nghĩ không cúng dường: “Đi chùa cúng cho mấy ông mấy bà đó làm chi?” Chúng ta đã từng nghe qua câu nói đó không? Người ta chẳng những không cúng dường, bố thí mà người ta còn phỉ báng, đó là tư tưởng điên đảo, tà kiến. Nên tại sao Minh Thành để một phần này cho cả buổi hôm nay vì phần này rất quan trọng, tuy là để sau cùng nhưng dẫn đầu cho chín cái trước, nó quyết định.

Vậy nên có những người nghĩ “Cúng dường làm chi?” hay có nhiều người nghĩ sai lầm là “Chùa giàu lắm!”. Những suy nghĩ như vậy là tà kiến, điên đảo kiến, hoặc suy nghĩ là “Thầy giàu lắm!” Chỉ người không biết gì về Phật pháp mới nghĩ như vậy. Thầy, cô, chùa làm gì mà giàu? Thầy sống là nhờ đâu? Là từ hạt gạo của người bố thí, người tín thí. Tín là có lòng tin, thí là đem cho, vì người ta tin tưởng Phật, Pháp, Tăng nên người ta mới đem cho đồng tiền đó, cúng dường đó.

Nên chúng ta nhớ trong mỗi buổi quý thầy, quý sư cô ở chùa dùng cơm có câu:

“Phật chế Tỳ-kheo thực tồn ngũ quán tán tâm tạp thoại tín thí nan tiêu”

Phật dạy một người tu khi ăn cơm phải nhớ năm điều: nhớ công của mình nhiều ít so với người đem cúng thí như vậy. Đức hạnh mình có đủ không? Mình ăn rồi mình có thấy tham lam, ham muốn trong này không? Đức hạnh của mình có đủ hay thiếu để nhận được sự cúng dường này? Phải đề phòng tâm tham trong khi ăn, mà mình ăn món này giống như dùng món thuốc để trị bệnh, trị bệnh ốm gầy, không đủ dinh dưỡng, suy yếu, nên ăn giống như uống thuốc, không phải ăn để vui thích, sung sướng, ăn để tẩm bổ, ăn để làm đẹp, để hưởng thụ hương vị của thức ăn mà là ăn để giữ gìn cho thân thể này được bảo trì, để cho nó còn, tồn tại để mình tu hành các đức hạnh của hiền thánh. Đó là Đức Phật dạy người tu.

“Tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu” là tâm phân tán, tạp thoại là nói chuyện lung tung, tín thí là nói tắt là những vật phẩm cúng dường của những người có niềm tin sẽ khó tiêu. Khó tiêu theo nghĩa bóng, không phải là ăn không tiêu, mà là không đủ đức hạnh để nhận sự cúng dường đó.

Đây là mình nói thông thường, còn chánh quán thọ thực thì càng bát đức. Như chúng ta vừa mới học buổi Thứ tự tu tập. Như vậy, tà kiến người này không tin có sự cúng dường, phía sau thì không tin có tế lễ, không tin có hành vi thiện ác, không tin có kết quả của nghiệp, không tin có nghiệp “Mình sống cứ hưởng thụ đi, chết là hết.” Chúng ta nhớ trong phim Trung Quốc hay có câu “Mười tám năm sau cũng trở thành trang hảo hán.” Tức là chết đi thì đời sau sanh ra thì người thành người, thú thành thú, vua thì đời sau là vua, quan đời sau thành quan, nghèo hay giàu thì đời sau cũng thành nghèo hay giàu. Đó là thường kiến, tà kiến của ngoại đạo.

Không phải bây giờ mình là gì thì mình chết đời sau cũng sanh ra y vậy thì đó là tà kiến, thường kiến, chấp thường, cho rằng như vậy hoài. Trong phim chúng ta thường hay nghe: chuẩn bị chết thì “Mười tám năm sau cũng thành trang hảo hán” thì đó là tà kiến, thường kiến, cái thấy cho rằng như vậy hoài. Nên người này một là thường kiến, hai là đoạn kiến, tức là một là chết rồi sẽ trở lại như vậy nữa, hai là chết rồi là hết, không còn gì nữa. Hai thấy đó là thấy sai lầm, lệch lạc, thấy lầm nhận, sai quấy, tà vại, không đúng.

Như vậy, có rất nhiều người không tin vào sự bố thí, không tin vào sự cúng dường, họ không tin là có những bậc tu hành của đời này đời sau.

Tại sao Đức Phật nói “không có mẹ, không có cha”? Đó là người này sống không biết có cha mẹ, không hề nghĩ đến cha mẹ, thậm chí là không nhìn cha nhìn mẹ. Đó là những người tà kiến, tức là tư tưởng điên đảo, ngu si, vô minh, điên cuồng, những tư tưởng này chắc chắn sẽ xuống địa ngục.

Người này nhiều khi còn oán hận cha mẹ hay từ cha bỏ mẹ, oán trách cha mẹ “Tại sao lại sanh ra tôi thân vầy mà không sanh ra tôi giống thân kia?” Những tư tưởng đó rất nguy hiểm, là ác kiến, tà kiến, điên đảo kiến, nhận thức của vô minh, của ngu si, của mê lầm, ác nghiệp. Từ nhận thức đó đẩy ra mình những suy nghĩ, tư duy, hành động, lối sống.

Nếu trong kinh mình đọc lướt qua “không có cha, không có mẹ” rồi mình cho đi qua luôn tức là người này không có tâm tư của một người con, không có một ý nghĩ, trách nhiệm, bổn phận, đạo đức của phụ tử, phụ mẫu, của ân đức sanh thành.

Vậy nên khi mình hiểu được những cái này thì chúng ta mới thấy được những buổi lễ Vu Lan hay những buổi chúng ta thiền báo ân thì rất quan trọng, là thắp lên ngọn đèn Chánh Kiến cho thế gian, không phải là chuyện đơn giản. Những lễ Vu Lan hay những buổi chúng ta thiền biết ơn ở tại Linh Quy Pháp Ấn là những buổi thắp lên ngọn đèn Chánh Kiến cho nhân sinh, cho thế gian, cho thế giới để khơi gợi, nhắc họ lại là mình còn có một người cha già, mình còn một người mẹ đau, nhắc lại mình có một cái ân, cái nghĩa, cái tình, trách nhiệm, bổn phận, đạo đức. Như vậy đối ngược lại là năm chánh kiến, là có mẹ có cha.

Nên kinh Nikāya khó hiểu là vậy, là nói tắt, hàm súc trong đó là cả một bầu trời đạo lý, đạo nghĩa, đạo hạnh, đạo đức, đạo lộ ở trong đó, chúng ta không chiêm nghiệm kĩ là chúng ta chỉ đọc lướt qua. Trong đây, Đức Phật nói người tà kiến thì họ nói “Các hành vi thiện ác không có kết quả, các hành vi thiện ác của quả dị thục, của nghiệp không có đời này đời sau. Không có mẹ không có cha. Không có các loại hóa sanh, trong đời không có các bậc Sa-môn, Bà-là-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu. Sau khi tự tri tự chứng lại tuyên bố cho đời này và đời sau.”

Giờ mình đối chiếu với bên chánh kiến thì mình thấy: Người chánh kiến là người tin bố thí, có lòng bố thí, có bố thí, có tế lễ, có hành vi thiện ác, có kết quả dị thục của nghiệp, có đời này đời sau, có mẹ có cha, có các loại hóa sanh.

II. Lòng tin

Minh Thành nhớ lúc còn nhỏ, lúc mười tuổi, vào chùa quê có vẽ mười tám tầng địa ngục. Chúng ta lâu lâu đi chùa có thấy hình ảnh này không? Giờ Suối Tiên có thể đã làm hoặc ở một số chùa có vẽ mười tám tầng địa ngục. Khi mình thấy như vậy thì mình có sợ không? Người ta vẽ hình này làm tội này nên bị như vầy, ví dụ bất hiếu với cha mẹ thì sẽ bị quả báo như vậy, ăn trộm ăn cắp sẽ bị chặt tay, chặt chân như vậy. Làm những ác nghiệp sẽ bị quả báo như vậy.

Nên chính những hình ảnh đó cho mình có một sự giáo dục, dạy dỗ, răn đe, nhân quả, tội phước, nghiệp báo. Điều này rất quan trọng cho chúng ta. Hiện tại giờ người ta làm bức tranh nhân quả, người ta đẻ ra rất nhiều, những chỗ quán cơm chay hay những chùa cũng có khi treo bảng Bức tranh nhân quả. Điều này rất quan trọng nên tin nhân quả, nghiệp báo, tội phước, thiện ác, là tuyệt đối quan trọng.

Nên trong Thánh quả thứ nhất – Dự lưu là bốn chi phần có tin Phật, tin Pháp. Tin Pháp là tin điều này, mình không tin được cái này thì mình không tin được cái cao sâu, mình có tin là mình sát sanh như vậy là có quả báo hay không? Nếu mình có tin như vậy thì mình đâu dám sát sanh hoặc là mình hạn chế sát sanh. Mình có tin là mình nói lời chua cay, ghim gút, ác độc như vậy, mình để cho người ta có một cảm thọ đau khổ, ray rứt, dằn vặt như vậy thì mình phải chịu lấy hậu quả như thế nào?

Nếu mình tin thì mình không nói lời đó, mình sẽ không có những hành động sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, đâm bị thóc thọc bị gạo, nói lời hung ác, nói lưỡi đôi chiều, nói lời phù phiếm. Nếu mình tin rằng mình ăn cắp đồ của người ta thì mai mốt mình sẽ bị phá sản, mình sẽ bị trộm cắp, tai họa, nếu mình tin như vậy thì mình không đi ăn cắp.

Vậy nên Thánh quả thứ nhất là tịnh tín bất động đối với pháp, nên mình nghĩ là “Sao con chưa tin hay sao ngày nào cũng nghe nói tin hết? Con chưa tin hay sao?” Nghe thì mình nói là mình tin, khi mình tỉnh táo, chánh niệm thì mình tin nhưng lúc mình bị tham, sân, si, bản ngã xâm chiếm, áp đảo thì mình quên mất.

Nên tịnh tín bất động là niềm tin không bao giờ bị mất trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Như vậy mới tham dự vào dòng Thánh trí huệ của Đức Phật. Vậy nên chúng ta thấy chữ tín trong đạo Phật rất sâu sắc. Tịnh tín bất động là lòng tin trong sáng, không dao động.

Những chữ này để mình hiểu, thực hành là cả một công trình tu học của chúng ta, riêng phần Chánh Kiến và tà kiến này. Giờ mình biết là mình lấy một món đồ của người ta thì sau này mình sẽ trả lại gấp một trăm lần món đồ mà mình lấy thì mình có còn dám lấy không? Nên khi mình tin thì mình không phạm giới, nên tín, giới đi chung với nhau.

Phước cũng đi ngược lại. Ví như hột xoài mình bỏ xuống thì khi lên trái thì được bao nhiêu trái? Được khoảng hàng trăm trái. Như vậy tại sao một mà được một trăm? Đó là mình nói quả ngọt của phước, thì tội, quả đắng cũng giống vậy, mình lấy một thì sẽ trả một ngàn. Mình đánh một nhưng mình nhận lại phải hàng trăm roi, ngàn roi. Mình chửi một nhưng nhận lại hàng vạn lời cay nghiệt. Đó gọi là quả dị thục của nghiệp, dị là biến đổi, thục là chín mùi. Khi mình gieo xuống là một hạt nhưng khi nó lớn lên thành cây, ra hoa kết trái, trái rất nhiều nhưng chín là bao nhiêu?

Thời gian từ hạt thành cây, ra hoa, ra trái thì gọi là thời kì biến dị nhi thục, tức là biến đổi để đi đến chỗ chín mùi. Vậy nên chúng ta mới thấy được trí tuệ của Đức Phật và tính nhân quả, thực tế, thực tiễn mà mình có thể nhìn thấy. Cây này khi mới đem về thì nó không phải vậy, nó nhỏ xíu. Cây trúc này cũng vậy, lúc mới thì nó không thể cao tới ba mét như bây giờ? Nó có một tấc nhưng giờ nó đã lên ba, bốn mét.

Như vậy, đây là điểm rất đặc sắc mà sau này chúng ta học những bài kinh thì chúng ta mới thấy Đức Phật nói: Ai cho rằng người đó chắc chắn phải đọa địa ngục, người đó chắc chắn sanh thiên giới thì Đức Phật nói như vậy cũng không đúng, cũng là tà kiến, Đức Phật nói nó sẽ biến dị, biến đổi, chính vì vậy người ta mới tu. Nếu không người này chắc chắn đọa địa ngục thì làm sao người này tu? Người này phải nỗ lực thay đổi mình, thay đổi theo chiều nào thì tự người đó quyết định. Vì có hai chiều đi lên, đi xuống, cũng là đi. Hay là chiều đi ngang, đi ngang là vô thường, trừ những bậc đạt được thiền định, tu nghiệp bất động của thiền thì nó đi ngang nên thời gian người ta ở trong thiền định, các kiếp cõi trời vô sắc thì rất lâu. Đó là trường hợp đi ngang, ở rất lâu trong nghiệp bất động.

Nên tâm thức của chúng sanh là tâm thức dao động ở trong ác và dao động trong cái thiện. Động loạn suốt ngày suốt đêm. Dao động đó là thiện hay bất thiện. Nếu dao động theo bất thiện thì người này đau khổ, nước mắt, mau, chua cay, đắng, chát, kinh hãi, khiếm đảm, khủng bố. Đó là dao động ở trong ác, bất thiện. Còn người dao động trong thiện, thì người này được niềm vui, hạnh phúc, phúc lạc, dao động trong thiện.

Hạng thứ ba là hạng tu hạnh bất động, tu nghiệp bất động, thiền định. Nghiệp bất động này rất hiếm, ngày xưa có nhưng giờ rất ít, những vị này chuyên thiền định thôi, người ta không muốn làm cái gì dao động bên ngoài, chuyên tâm thiền định để chứng đắc các tầng thiền, trú, sống trong đó. Người đó không ưa thích dục lạc ở thế gian, người ta chỉ ưa thích tâm an tịnh, yên tịnh, người ta tu được tâm thiền định bất động. Đó là nghiệp bất động, là ba dạng nghiệp.

Bậc Đa văn Thánh đệ tử là đoạn tận tất cả nghiệp, sau này chúng ta sẽ học đoạn hết nghiệp, không còn những lý do, căn nguyên, dữ kiện, yếu tố gì để cho người ta ở lại trong thế giới này, đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử, đoạn tận tất cả các nghiệp, ngay cả nghiệp bất động cũng đoạn.

Đó là bốn dạng nghiệp, trước giờ chúng ta chỉ nghe thiện và ác, hôm nay mình nghe thêm được hai loại nữa, trong kinh Nikāya chỉ cho mình thấy.

Như vậy, tâm thức chúng sanh dao động trong bất thiện và dao động trong thiện. Dao động trong bất thiện là đau khổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nếu sanh làm người thì đui, điếc, câm, ngọng, què, chột, dị hình, dị tật, dị dạng. Dao động trong thiện thì người này giàu có, đẹp đẽ, sức khỏe, quyền uy, địa vị, phước báu, là dao động trong thiện, nhưng người này cũng tham, sân, si, sầu bi, ưu não, bản ngã nên người này cũng khổ đau nhưng được phước ở trong vật chất, tiền của, tài sản, danh vọng, địa vị, dung sắc, sức mạnh, thế lực. Nhưng người này cũng tham, sân, si, cũng vô minh, khát ái nên bản chất bên trong cũng khổ. Nghiệp bất động là người này trú trong thiền định, là nghiệp bất động.

Bậc Đa văn Thánh đệ tử là đoạn tận tất cả nghiệp, ra khỏi, chấm dứt tất cả nghiệp.

Qua đó, chúng ta thấy được Chánh Kiến và tà kiến là rất quan trọng trong sự tu của chúng ta. Nên mình phải tin tưởng việc bố thí, cúng thí, tế lễ thiện ác, kết quả của nghiệp ở đời này và đời sau. Mình phải hết sức tin tưởng, phải tin tưởng có chư thiên, cõi trời, địa ngục. Đức Phật đã nói về địa ngục qua hơn bốn mươi bài kinh: “Này các Tỳ-kheo, những điều mà ta nói cho các ông chỉ một mình ta nói, chỉ một mình ta biết mà thôi!” Chư thiên hằng ngày nghe Đức Phật giảng pháp, có cả Tương Ưng Chư Thiên, có bao nhiêu bài kinh trong đó, như vậy nhưng nhiều khi vẫn không tin vì “Không thấy ông trời hay chư thiên nào đâu?” Đó là tà kiến.

Những điều này mình tin tưởng tuyệt đối thì mình thấy rất đặc biệt, như chuyện rất đơn giản về cổng trời của mình, là Minh Thành căn cứ vào giờ Đức Phật nói pháp cho chư thiên để Minh Thành chia sẻ pháp ở chỗ đó thì người ta tự động đặt nó tên là cổng trời. Những gì mà mình làm tương ứng với hệ nhân quả, nhân duyên của nó thì tự động nó sẽ thành tựu những pháp tương ứng, tương thích, tương đồng. Nên tự người ta đặt nó là cổng trời, đó là chỗ giờ hừng sáng trùng tiên Thánh điển của Đức Phật. Có nhiều vị có khả năng đặc biệt người ta nhìn thấy rất nhiều những vị ở thế giới khác.

Nên mình thấy là mình phải tin, mình đừng học, mình học lý rồi bát sự, không có tụng kinh, gõ mõ, cúng thiết thực gì thì rất nguy hiểm, là tà kiến. Rất nhiều chúng sanh khổ chung quanh mình nên chúng ta cúng thí thực mỗi ngày ăn cơm là phải cúng. Đó là tâm từ thể hiện ra hành vi, chính cái đó là âm dương lưỡng loại, kẻ còn người mất đều tốt đẹp thì mình tưới tẩm tâm từ. Mình có tâm từ thì mình mới nghĩ tới được nỗi khổ của ngạ quỷ, mình không có tâm từ thì mình không nghĩ tới ai. Vậy nên cần phải nhớ, niệm chúng sanh khổ, niệm nỗi khổ của chúng sanh, làm cho mình tăng trưởng, lớn mạnh tâm thương, lòng thương, tâm từ của mình, lòng bi mẫn của mình đối với nhiều dạng thức chúng sanh đau khổ trên thế giới này.

III. Trọn vẹn các công đức

Nên phải tin tưởng, bố thí, cúng dường, tế lễ các hành vi thiện ác.

Nếu có ý “Suốt ngày cúng hoài, bỏ thời giờ nghe pháp không bao giờ tu tập, suốt ngày thích cúng?” Chỗ đó ảnh hưởng tới chánh sự của mình, việc trọng yếu của mình để chúng ta nhớ thêm chỗ đó. Vậy nên tâm thức chúng sanh cũng vậy, làm gì dính lấy, làm gì mắc đấy, làm gì chấp nấy, chỉ nghe “Thầy kêu cúng!” là suốt ngày cúng hoài.

Nên tuy mình không có điều kiện hay nhân duyên cúng thì mình thấy người ta cúng mình cũng phải tùy hỷ, hoan hỷ. Không phải là mình chê, vì mình học lý, học trí mà mình chê thí, cúng là bố thí, thí thực. Chúng sanh ở trong ba đường ác mà giờ có cô hồn sống, mới cúng chưa xong nhưng đã có người đến giật. Như hôm trước Minh Thành nói là người không muốn làm mà muốn làm cô hồn, mình không có thiếu ăn, thiếu mặc thì tại sao mình lại canh đi giành, giựt, đánh nhau? Nếu mình không có đầy đủ, dư dả, mình không thiếu thốn mà cứ canh đi giật như vậy thì tâm thức đó tương ưng với tâm thức của ngạ quỷ.

Tâm thức tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, giành giựt, tâm thức đó tương ưng với quỷ đói, ngạ quỷ. Nên chúng ta là những người Phật tử, là mình phải nhắc nhở con cháu mình không nên đi giật những cái đó. “Làm người không muốn làm mà muốn làm đói thiếu, khốn cùng như vậy à? Cái đó dành cho những người đói thiếu, cùng khổ, họ không có.” Bày ra những thứ đó là gieo rắc những sai lầm, tà kiến cho chúng sanh.

Nên hơn ai hết, các thầy, cô, Phật tử được tu, được học Chánh pháp phải biết và cha mẹ, ông bà trong gia đình hướng dẫn con cháu, anh chị em của mình không cho đi giật những cái đó. Mình đem những cái đó cho những người nghèo khổ, thiếu đói, phổ tế, khốn cùng, cứu giúp những người đau khổ, khốn cùng trong xã hội.

Ý nghĩa của cúng thiết thực là vậy, là mình khơi gợi tâm xót thương của mình. Mình ngồi quán tâm từ chỉ là lý thuyết trong cảm thọ, tưởng, hành của mình. Còn mình đi thiết thực, đi làm từ thiện, bố thí là thể hiện bằng hành động. Không phải là mình chỉ ngồi tưởng ra mà mình phải đi làm nữa. Mình đi làm mà mình không hiểu ý nghĩa, không biết tròn vẹn pháp đó thì việc làm đó không được quả viên mãn, công đức tròn đầy.

Vậy nên chúng ta học trong này có rất nhiều pháp ý, bố thí, cúng dường, tế lễ là phải cho trang nghiêm, không phải cúng trên hình thức, chưng hoa thật nhiều giống như một cái giường, mình gom đồ ăn bày ra mấy chục món, dưới bếp thì cự lộn, sân si, phiền não với nhau, lăn xăn, lộn xộn. Như vậy là không có phước báo nhiều, không có công đức nhiều.

Nên hình thức quan trọng nhưng quan trọng hơn hình thức nữa là tâm thanh tịnh, làm sao mà mọi người làm ở trong đạo tràng trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính thì buổi lễ đó mới có công đức lớn. Sau này mình sẽ được học nhiều bài kinh tế lễ Đức Phật giảng cho các vị Bà-la-môn, những tế đàn Đức Phật đến để thuyết pháp. Đức Phật dạy cho mình cách tế lễ của bậc chân nhân, của bậc hiền thánh và tâm cung kính, sự trang nghiêm thanh tịnh, sự biết ơn. Đó là tế đàn của bậc hiền trí.

Không phải là hình thức phô diễn, phô trương. Nếu hình thức làm được thì tốt, nhưng chất lượng, nội dung, tâm thành kính mới là lễ, nên thường gọi là lễ kính, lễ là phải có kính, không có kính thì không thành lễ. Nên bên nhà Nho có cả một cuốn kinh gọi là lễ kinh.

Tâm cung kính trong kinh Nikāya mình học rất hay, từ gốc đến ngọn, từ cạn đến sâu, từ phàm tới Thánh, đều không lìa tâm cung kính. Vậy nên tế lễ và các hành vi thiện ác đều phải có kết quả dị thục chín mùi của nó, có đời này có đời sau. Mình phải tin tưởng là có đời sau, những ý nghĩ, ngôn ngữ, hành vi của mình, những cái mình đã gieo rắc cho mọi người thì mình phải nhận lấy hậu quả của nó, làm việc gì cũng phải nghĩ đến hậu quả của nó.

Hãy nghĩ kĩ đến hậu quả của nó, là mình nghĩ đến đời sau của mình, không phải là nghĩ trong đời này. Xem kiếp sau còn mặt con người không hay là mặt lông lá, hay là đầu có hai sừng, hay có một sừng? Hay là nhiều sừng, nhiều chân, hay không đi bằng chân mà lăn lóc, đi bằng bụng?

Vậy nên mình phải nhìn được đời sau, thận trọng trong từng suy nghĩ, lời nói, hành động, tư tưởng, cảm xúc, tư duy của mình để mình phân biệt được cái nào là thiện, cái nào là ác. Tất cả đều có kết quả biến đổi chín mùi để đưa đến hoa trái, kết quả của nó.

Chữ có mẹ có cha sâu sắc ra sao? Người Chánh kiến là người có bổn phận, hiếu tâm, hiếu hạnh, hiếu đạo, hiếu lễ, hiếu nghĩa. Làm gì cũng phải nhớ đến cha mẹ. Đó là Đức Phật định nghĩa thế nào có Chánh kiến, là chỉ nói tổng quát, đại cương, bao nhiêu pháp trong này nói về người Chánh kiến chứ không nói một.

Chúng ta thấy bố thí, cúng dường, tế lễ, những hành vi thiện ác, kết quả của nghiệp dị thục, có đời này đời sau, có mẹ có cha, có các loài hóa sanh, tức là có trời, có địa ngục.

Như vậy thì mình mới sợ tội, mới quý phước. Nếu mình nghĩ không có trời, không có địa ngục thì mình không muốn làm phước, không sợ tội gì. Nên nếu sau này đủ duyên thì ở chùa này sẽ căn cứ trong kinh Nikāya vẽ ra mười tám tầng địa ngục, để trước đường vào chùa để cho người đời xem, để biết sợ, điều này rất quan trọng. Đó là mình thắp ngọn đuốc Chánh kiến cho người, cho đời, cho thế gian, cho thế giới.

Nên “có các loại hóa sanh” là ý nghĩa như vậy, là chỉ cho các vị trời và địa ngục, những loài ngạ quỷ, cô hồn, những vị thần, chư thiên, chư thần. Chúng ta học sau này sẽ thấy rất nhiều thần cây, thần mưa, thần sấm sét, thần núi, thần đất, thần hương… Trong các cây gỗ lớn đều có chư thần, chư thiên trong đó. Nên có những cây đốt không được, đốt thì người đó chết, đốt là người đó xảy ra tai nạn, vì là có chư thần trú ẩn trong đó.

Những điều đó Đức Phật nói rất ít, vì Ngài không muốn vì mình thời gian không nhiều, tuổi thọ, tâm thức không có bao nhiêu nên Đức Phật chú trọng vào các pháp hành, những cái đó Đức Phật nói rất ít, sợ mình phân tâm, nhưng có duyên mình được học, được nghe nhiều thì mình cũng nên hiểu để biết.

Trong đời có các bậc Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, có những vị chân tu, có những vị thành tựu chứng đắc đạo quả, có các bậc Thánh hiền, các bậc Thánh nhân. Sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và đời sau.

“Trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí đời này và đời sau, rồi tuyên bố".”

(Bài kinh Cunda Người Thợ Rèn, Phẩm XVII. Phẩm Jànussoni, Chương Mười Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4)

Đó là những người Chánh kiến, người tin là có những vị chân tu, những vị tu hành đắc đạo Thánh quả, đó là những vị có Chánh kiến. Người có tà kiến thì người đó không tin, “tu gì mà tu”, người ta nghĩ theo chiều tiêu cực, chiều xấu vì ở ngoài không biết làm ăn, đi tu vì thất tình, giống như Lan và Điệp nên tuồng Lan và Điệp này rất nguy hiểm, làm cho mọi người nhìn lầm lạc về người xuất gia. Nên ngày trước có bài kinh, mình không khéo gieo vào tư tưởng của chúng sanh một cái nhìn lệch lạc, phiến diện, sai lầm về Chánh đạo của Thế Tôn. Nếu đi tu thì bị hỏi là “Sao còn trẻ mà đi tu uổng vậy? Có thất tình giống Lan và Điệp không?” Đó là tà kiến điên đảo.

Nên khi làm các tác phẩm nghệ thuật, đạo diễn thì người có học, có nghiên cứu thì khác, học không tới, không hiểu thì đừng làm về lĩnh vực đó, hoặc là phải giải thích cho người ta hiểu đó là một khía cạnh đó, không phải đạo Phật là giống Lan và Điệp hết, không phải gặp ai tu cũng hỏi là “Có thất tình không? Sao thầy còn trẻ mà thầy đi tu uổng quá vậy?” Đó là tà kiến, hiểu sai về người tu.

Nên Đức Phật đã phân tích rất rõ cho chúng ta, người có Chánh kiến là mình phải có niềm tin đối với nhân quả, đối với thiện ác, tội phước, với sự bố thí, cúng dường, tế lễ, cúng kiến, phải có niềm tin đối với nhân quả nghiệp báo. Và biết rằng những gì mà mình đã gây ra khi mình biết thọ lãnh không phải chỉ có vậy mà gấp trăm, ngàn lần. Khi mình gây ra tội thì mình phải lãnh trăm ngàn lần mà mình tạo ra phước thì mình cũng hưởng trăm ngàn lần. Nếu tâm mình dao động theo tội lỗi, tội ác đó, sa đọa đó thì mình đau khổ, quằn quại, khủng khiếp, nếu mình cũng động mà động trong thiện, trong phước, lành, trong công đức thì phước, công đức đó cũng là muôn ngàn vạn ức.

Song song đó thì chúng ta cũng phải biết tu tâm thanh tịnh, tâm chánh niệm, thì mình mới giữ được phước báo, công đức đó dài lâu. Còn không, làm công đức đó thì các vị cao tăng nói rằng người tu phước thì đời thứ ba là tai họa, tức là đời này mình làm phước rất nhiều, đời sau sanh ra hưởng, hưởng nhưng không biết tu lại thì là đọa, đó là tai họa của đời thứ ba.

Còn nếu mình có tu trí huệ thì phước đó mình giữ được dài lâu hơn, bền vững, rộng lớn hơn và phước đó biến phước đó hướng tới Niết-bàn, đó trở thành phước vô lậu, trở thành vô lậu, trở thành phương tiện đưa mình đến cảnh giới của bất tử, của cứu cánh.

Vậy nên, phải có hiếu thảo đối với mẹ cha và có niềm tin đối với cõi trời, chư thiên các tầng trời và địa ngục thống khổ, ngạ quỷ, súc sanh, phải có lòng tin răn la các bậc tu hành có những vị thành tựu, chứng đắc trong thời kì Chánh pháp, tượng pháp, thậm chí trong thời kì mạt pháp, nếu những vị thật sự tu đúng Thánh đạo thì vẫn có Thánh quả.

Chúng ta có tâm chân thành, cung kính, tha thiết, khát ngưỡng, một lòng tu học thì chúng ta sẽ gặp được các bậc Chánh kiến, chánh trí, đó là phúc duyên của mỗi người, bằng tâm chân thành của mình, mình sẽ có được thầy lành, bạn tốt, gặp được Chánh đạo, Chánh pháp.

Như vậy, Đức Thế Tôn nói về mười nghiệp bất thiện và mười nghiệp thiện.

“Này Cunda, có mười thiện nghiệp đạo này. Này Cunda, ai thành tựu mười bất thiện nghiệp đạo này, có thể dậy sớm và từ giường chạm đất, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm xuống đất, vị ấy vẫn trong sạch.”

(Bài kinh Cunda Người Thợ Rèn, Phẩm XVII. Phẩm Jànussoni, Chương Mười Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4)

Vì ở các đạo khác có những ý nghĩ tà kiến, mê tín là chạm đất là dơ, nhưng Đức Phật nói nếu người có đầy đủ mười nghiệp thiện này thì vị ấy có chạm đất hay không chạm đất thì vị ấy vẫn trong sạch.

“Nếu vị ấy chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm phân bò ướt, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chạm cỏ xanh, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy thờ lửa, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không thờ lửa, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy chắp tay đảnh lễ mặt trời, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy không chắp tay đảnh lễ mặt, vị ấy vẫn trong sạch. Nếu vị ấy vào buổi chiều xuống nước lần thứ ba, vị ấy vẫn trong sạch, nếu vào buổi chiều, vị ấy không xuống nước lần thứ ba, vị ấy vẫn trong sạch. Vì sao? Này Cunda, mười thiện nghiệp đạo này là trong sạch, tác thành trong sạch.”

(Bài kinh Cunda Người Thợ Rèn, Phẩm XVII. Phẩm Jànussoni, Chương Mười Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4)

Bên trên là những giới cấm thủ, quan niệm sai lầm của những đạo khác mà Đức Phật dùng mười nghiệp thiện này để nói lên lỗi của thiện pháp, nói lên đức hạnh trong sạch thật sự của một người tu. Đức Phật mới kết thúc:

“Do nhân thành tựu mười thiện nghiệp đạo này, chư Thiên được tuyên bố loài Người được tuyên bố, hay bất cứ thiện thú nào khác.

Được nói vậy, Cunda, con người thợ rèn thưa với Thế Tôn:

- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc! Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.”

(Bài kinh Cunda Người Thợ Rèn, Phẩm XVII. Phẩm Jànussoni, Chương Mười Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4)

Đó là câu chúng ta làm lễ Quy Y chúng ta đọc. “Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng Phật Pháp Tăng.”

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.