Thiền Quán - Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 8! Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 1
Nikāya Thiền Quán
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 8!
Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chúng sanh ưa ái dục PAGEREF _Toc192791064 \h 1
II. Chấp ngã PAGEREF _Toc192791065 \h 3
III. Thực hành diệt ái PAGEREF _Toc192791066 \h 10
IV. Đức Thế Tôn Vipassì thuyết pháp PAGEREF _Toc192791067 \h 16
I. Chúng sanh ưa ái dục
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta tiếp tục nghe về cuộc đời, về đạo hạnh của Thế Tôn Vipassi – Tỳ-bà-thi, là Đức Phật đầu tiên trong bảy Đức Phật ở hiền kiếp. Sáng nay chúng ta đã nghe đến đoạn khi ngài mới vừa thành vô thượng giác, ngài suy nghĩ:
"Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: 'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý 'Y tánh duyên khởi pháp' (ida-paccayata paticca samuppàda); thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Một đoạn ngắn này thôi nhưng đó là cốt tủy của thánh điển Nikāya, pháp mà ngài chứng được rất là sâu kín khó thấy, Đức Phật lặp lại và nhấn mạnh ba lần, hai cái ba lần thành sáu lần, "quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý 'Y tánh duyên khởi pháp'. Chữ ái dục ở đây rất rộng, bao gồm sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái và pháp ái, quần chúng là số đông, phần nhiều chúng sanh yêu thích sắc, ưa thích cái thân hình của mình, ưa thích cảnh vật, những đồ đạc sở hữu gọi là của mình, ưa thích cảnh sắc bên ngoài, ưa thích những cái âm thanh, ưa thích nùi, ưa thích vị, đồ ngon, ưa thích ăn, thích được ngắm nhìn, nghe, xúc chạm, tiếp xúc, đụng chạm. Phần lớn chúng sanh ham thích cái đó, khoái cái đó, mê cái đó, chưa kể là pháp ái nữa, là ham thích, mê những hình ảnh ở trong tâm, những cảm giác ở bên trong và vẫn suy nghĩ là pháp ái.
Ham sáu cái yêu thích đó, khoái sáu kiểu thích đó, ưa sáu cái yêu thích đó thì người này rất là khó, Đức Phật dùng chữ khó mà thấy chứ không phải là không thấy, khó mà thấy được tính chất nương tựa, lắp ráp, duyên sanh, cái tính chất của bó lau dựa vào nhau, đứng một mình là đổ, cái này phải dựa vào cái kia, đó gọi là y tánh, tức là tính chất nương dựa. Trên thành hồ này, phiến đá này dính với phiến đá kia là nhờ xi măng, nếu không có xi măng thì chỉ là những phiến đá rời rạc thứ không thành mặt hồ, đó chính là y tánh, trong xi măng không cũng được nữa, phải có cát, mà cát là phải cát loại nào, phải có nước, đá là phải đá loại nào, lấy loại này với loại kia thì nó không dính, đó là y tánh, là cái tính chất lắp ráp, nương dựa, kết dính.
Đó là nói bên ngoài, còn bên trong mình chỉ cần thiếu ánh sáng thôi là con mắt không thấy được, như chúng ta vừa rồi bịt mắt đi khất thực quờ quạng giữa mặt trời. Chỉ thiếu một cái duyên thôi là nó không phát ra được nhãn thức, sự thấy nó không được thành lập, đó là tính chất nương tựa, dựa dẫm, vay mượn, lắp ráp, kết hợp, mắt xích, kết dính, nó dựa vào nhau rồi nó mới sanh khởi lên gọi là y tánh duyên khởi pháp. Lỗ tai này cũng vậy, có một người điếc ngồi đây thì họ không có nghe gì hết vì thiếu duyên, có nhiều người chỉ cần nghe một câu nói thôi là chết cả một cuộc đời, không rời được nhau, có người nghe một câu nói thôi có thể giết chết nhau tại chỗ.
Con nói vậy chúng ta dễ hiểu không? Chỉ một câu nói thôi là có thể suốt đời không xa nhau, cũng một câu nói thôi có thể giết chết nhau ngay lập tức, câu nói đó sở dĩ nó được nghe là do duyên có tai, có tiếng, có sự rõ biết cái tiếng rồi ba pháp này giao thoa với nhau, thành ra cái sự tiếp xúc của lỗ tai rồi sanh khởi ra cảm thọ. Cảm thọ đó tham hoặc là sân, nếu là tham ái thì yêu thương, trói cột nếu là sân hận thì thù hằn, đánh giết.
Đó là duyên sanh pháp nhưng nếu là người đam mê trong trần cảnh, trong cái dục, trong cái ái thì người này khó mà thấy được tánh chất duyên khởi, "rõ ràng là người kia chửi tôi mà, làm sao mà quán được lỗ tai, âm thanh, nhĩ thức, nhĩ xúc, thọ do nhĩ xúc sanh, làm sao mà quán được?". Thứ nhất là họ không được học chánh pháp, thứ hai là họ không được thực tập thiền quán thì rất khó chứ không phải không được cho nên Đức Phật nói là khó thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp. Bây giờ nghe câu nói bình thường thôi thì họ lại si, họ không thấy được cái thân này là do tứ đại kết thành, do cha mẹ sinh, cho cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, không thấy thân này là ung nhọt chín lỗ, không thấy đây là cái ổ virus, vi trùng, vi khuẩn. Đó gọi là khó thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp.
Đi sâu vào bên trong là thọ; tưởng; hành ở bên trong, những cái tham sân, chấp thủ, chấp ngã bên trong cũng là duyên sanh. Ví dụ ngoài đời mình tên ổi, tên xoài, tên mít gì đó, vô quy y mình có pháp danh là Diệu Ngộ hay gì đó, từ đó về sau ai mà nói Diệu Ngộ cái này cái kia là mệt rồi, thì cái tên đó cũng là duyên sanh. Cái đó giả danh nhưng mà mình ham cái tên đó, mình khoái cái tên đó, mình thích cái tên đó, mình yêu cái tên cho nên mình không thấy được cái pháp duyên sanh, duyên khởi. Bây giờ đặt cái tên Minh Thành mà nói Minh Thành ngu lắm là mệt rồi đó, nếu không thấy được pháp, mình nghe ai nói "cái thằng đó mà tu cái gì", mà không có pháp là đau khổ, sầu, bi, ưu, não. Đó là Đức Phật nói khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp tại vì mình ham cái tên Minh Thành đó, mình thích cái tên đó, mình khoái cái tên đó.
II. Chấp ngã
Hồi xưa con làm Tăng sinh, tới giờ học thì có hòa thượng tên trùng với con, hòa thượng kêu lên "ai đặt cái tên cho ông vậy? Sao dám đặt trùng cái tên vậy?" thì mình trả lời "dạ con đâu có biết, sư phụ con đặt", hòa thượng nói "không được kêu cái tên này nữa" thì mình "dạ". Mấy tháng trước con gặp chú Minh Thành, con nhớ lại mấy chục năm về trước, thành ra nhiều khi cái tên mà mình khổ lắm, đó nó chỉ là cái pháp duyên sanh mà mình chết ở trong cái danh, cái tướng, cái tên. Người ta khen cái tên là cái hỉnh lỗ mũi lên, người ta chê cái tên là buồn, kêu tên Hiền Thịnh mà vỗ tay ầm ầm là lên mây, còn nếu mà kêu cái tên mà chê trách thậm tệ chắc là cũng lọt hồ lọt hố cho nên là do mình yêu cái tên, mình thích cái tên, mình khoái cái tên thì đó là ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục đó.
Chữ dục này nghĩa rất rộng, không chỉ là chuyện nam nữ, ăn uống mà cái danh từ mình cũng ái nữa, mình cũng ham, cũng muốn, mình khoái, mình thích, mình thích cho nó là mình, là của mình rồi mình đau khổ cho nên nó rất là vi tế. Nhiều khi mình ngồi như vậy có bóng mình chiếu xuống đất mà có ai đi ngang đạp lên cái đầu của bóng thì lúc đó mình có ngồi im ru được không, đó là mình ham ái dục, mình thích ái dục, mình cho cái bóng đó là cái bóng của tôi, "tại sao đạp lên, chỗ này không đứng mà đứng đạp lên ngay cái bóng tôi vậy?". Chỉ là cái bóng thôi mà khủng khiếp vậy cho nên lúc con ở trong thất ngồi thiền thì cái cửa kính dạ ra cái bóng, ánh nắng phản chiếu xuống một cái bóng nữa và tấm thân này, như vậy con hỏi "cái nào là mày vậy? Trong ba cái này cái nào là mày?".
Tại vì nhìn thấy rồi ái "cái tướng mình ngồi thiền cũng ngay thẳng quá", lúc đó là dập liền, tác ý đánh phá cái suy nghĩ đó liền, không cho có một cái suy nghĩ là tôi, là của tôi. Nhập thất một tháng, hai tháng rồi mặt mày cũng hồng hào, ngồi dáng vẻ trang nghiêm, nhìn vô thấy thích thì lập tức mình phải tác ý phá liền cái suy nghĩ đó, cái cảm giác đó, lin cái hình bóng đó, "cái bóng ở phía dưới cái nền gạch không phải ngươi, cái bóng ở trong cái gương cũng không phải ngươi, ngay cả cái thân đang ngồi đây cũng là tứ đại, phèo, phổi, ruột, gan, phân và nước tiểu, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta trong đây hết "thấy chưa tâm ngu, nghe rõ chưa?", đó là mình như lý tác ý. Cái mà mình thích cái bóng của mình là mình ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, mình thích cái bóng đó, mình thích cái dáng đó, mình thích cái thân đó cho nên đời đời kiếp kiếp mình phải có thân nhưng không biết thân gì, nếu là nghiệp thiện là thân người, thân trời, nếu có nghiệp ác thì thân địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Mình không có ra khỏi cái có thân, mình phải trầm luân sinh tử, chìm đắm khổ sầu, lo lắng, sợ hãi, bất an vì cái sự có thân này. Tại sao có thân? Tại vì nó ưa thân, nó khoái thân, nó muốn thân cho nên nó có thân. Con nói ví dụ tại sao có cái món đồ đó ở trong nhà của quý vị vậy? Quý vị có ưa món đồ đó không? Có thích món đồ đó không? Có khoái món đồ đó không? Có muốn mang đồ đó không? Cho nên mới mua về, mình không muốn là nó ra sọt rác rồi, đem ra ngoài rồi, đi mất rồi, cho rồi, quăng rồi, tại sao có mặt món đồ đó trong nhà mình, vì mình ưa nó, mình thích nó, mình muốn nó, mình khoái nó, mình muốn giữ nó, đó là ý nghĩa của chữ hữu ái, chữ thủ đó.
Mình đi ra ngoài siêu thị, mình đi ra ngoài chợ nhìn thấy cái món đồ đó đẹp quá, thích quá, mình muốn có món đồ này đó là ái, là dục, mình muốn và mình thích thì mình phải mua nó, mình phải đem về, mình phải sở hữu nó, mình phải có nó, thì đó là ái và hữu. Khi đã có nó thì mình nắm giữ, đó là thủ, đó là mười hai nhân duyên đó, như vậy mình muốn cái thân này, mình thích cái thân này, mình khoái cái thân này, mình yêu cái thân này cho nên trong cái tâm mình phải sở hữu cho được cái thân này, đó là ái hữu, ái thủ là mình phải giữ cái thân này, yêu cái thân này, khoái cái thân này, thích cái thân này, muốn cái thân này, mình phải sở hữu cho được nó, khi có rồi mình phải giữ nó cho chặt, nắm chắc, đó là ái thủ hữu, hiện hữu trong thân tâm, trong cuộc đời này của mình, sau đó là sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, toàn bộ cái khổ uẩn này, cái đống khổ to lớn tập khởi, nhóm họp và sanh khởi ra.
Mình mua món đồ đó bằng kim cương, mình đem về cất kỹ, đi đâu cũng lo lắng, sợ bị người ta lấy mất, cho nên khi có thân này là có lo lắng, có sợ hãi, khi có thân này thì có mất thân, hễ có thân là có sự mất thân, đó là có sanh có diệt, có sanh có tử. Toàn bộ cái đống khổ to lớn được nhóm họp và sanh khởi, toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi. Đầu tiên là nó khoái, thích, mà tại sao nó có ý thích, tại vì cái tâm này nó hôn mê, đó là vô minh và khát ái, tâm hôn mê là nó không biết cái đó đem về là mình khổ, cái đó đem về là mình lo. Tại sao người ta dùng cái chữ si tình? Khi mình còn trẻ, lúc ở cái tuổi mười mấy hai mươi tuổi mà vô tình yêu là mình si mê, cái tâm mình hôn mê, cái tâm mình đam mê, cái tâm mình nó ngu mê. Lúc đó còn thông minh không? Khi tình cảm đôi lứa mới bắt đầu của tuổi trẻ lúc đó mình có tỉnh táo, sáng suốt không? Cha mẹ nói có nghe lời không? Lúc đó mình si tình, mình si mê, mình đam mê, ngu mê cộng với cái tâm ưa thích, khoái muốn thì đi đến kết hôn, đó là cái tâm hôn mê và cái tâm khao khát, thèm muốn, đó là vô minh và khát ái.
Sau khi lấy nhau về rồi thì sau đó tay bồng tay bế, tay xách nách mang thì khổ xuất hiện, tức là sự tập khởi của khổ uẩn bắt đầu có mặt, bà nội con ngày xưa có 14 người con. Lấy cái ví dụ đó là chúng ta sẽ dễ hiểu, đó là một cái tâm hôn mê cộng với một cái tâm thèm khát, ham thích, yêu thích, kết hợp lại với nhau sanh ra những cái khổ uẩn tiếp theo, cha là vô minh, mẹ là tham ái kết hợp với nhau sanh ra sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh là những đứa con của sầu, bi, khổ, ưu, não. Nó yêu thích cái hình bóng này, nó yêu thích cái tên gọi của nó, cái nét chữ của nó, những cái tác phẩm mà nó tạo ra, nó ngấm nghía, nó khoan khoái, nó thích thú, một người họa sĩ hay là một người kiến trúc sư vẽ ra được một tác phẩm, một họa phẩm hay là một tác phẩm kiến trúc của họ thì họ đứng ngắm nghía, họ thấy khoái quá, thích quá, sướng quá, yêu thích ở trong đó, nếu có một người chê thì lúc đó khổ, họ sân hận, đâu khổ mà nếu có người khen thì họ tham lam, họ tham dính. Họ không biết cái đó là pháp duyên sanh, duyên khởi, một cái tâm hôn mê cộng với một cái tâm thèm khát, yêu thích, hai cái tâm này kết hợp lại với nhau tức là cha là vô minh, mẹ là tham ái kết hợp là sinh ra những đứa con khổ đau, sầu, bi, ưu, não.
"Thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh", cái này sâu sắc lắm, khi nãy là duyên khởi pháp, còn cái này tất cả hành là tịch tịnh. Tất cả hành ở đây là vận hành của năm thủ uẩn, sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành, sự vận hành của sắc pháp, sự vận hành của các cảm thọ, sự vận hành của các tư tưởng, sự vận hành của những suy nghĩ, sự vận hành của các nhận thức, vận hành cả ngũ uẩn như vậy mà tất cả chỉ là tịch tịnh, là vô vi, là chứng được tính chất trống rỗng, vắng lặng của năm uẩn. Đứa con nít nó nhìn những cái bong bóng nước là nó vui, nó thích, nó khoan khoái lắm, nó chơi đùa, nổi lên bong bóng là nó mừng, nó vui, cái bong bóng nát là nó sẽ là không vui, nó buồn.
Do thấy có bong bóng nổi lên, có cái bong bóng nát, có những cái màu này màu kia, có cái chùm bong bóng này chùm bọt nước kia nhưng mà đối với con cái người lớn thì người ta thấy cái đó không là gì hết, là trống rỗng, người ta không có chạy theo những cái màu sắc ở trong cái bong bóng nước đó, người ta không chạy theo những cái chùm lớn chùm nhỏ, người ta không ngồi đó để đếm có bao nhiêu cái bong bóng nước, nó không có gì hết, chư thánh, Đức Thế Tôn và Thánh chúng nhìn ngũ uẩn là nhìn như vậy đó, tất cả đều là tịch tịnh, không có gì hết. Chúng sanh thì khóc rồi cười, tham rồi sân, khổ sầu rồi đau đớn quằn quại, rồi bứt tóc, đấm ngực, bất tỉnh, ngất xỉu, nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy sông, thắt cổ tự tử, khổ đau, họ đau khổ cùng cực nhưng mà đối với các bậc thánh là không có gì hết, các ngài thấy tất cả đều là bong bóng nước thôi, các ngài nhìn thấy tất cả đều vắng lặng. Bài Niệm Chúng Sanh là rất thâm sâu, đó là trí tuệ của bậc đạo sư.
"Tất cả đều là chúng sanh,
Không ai là người thân của mình,
Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả.
Hãy buông xả và mau tỉnh thức,
Sống đúng trách nhiệm,
Sống đẹp với đời,
Nhận diện ngũ uẩn,
Thể nhập Thánh Trí,
Diệt tham, sân, si
Thoát ly sanh tử"
(Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Người phàm thấy đây là chồng tôi, con tôi, cha tôi, mẹ tôi, anh tôi, em tôi, cháu tôi nhưng đối với các bậc giác ngộ chỉ có vô minh nghiệp và nhân quả. Đó là thấy được cái lý tất cả hành là tịch tịnh, vắng lặng, trống rỗng. Đức Phật không có nói không sanh không diệt, Đức Phật nói là:
"Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Những sách vở sau này nói là không sanh không diệt là ngược với Đức Phật, không sanh không diệt là không có vô thường luôn, không có khổ. Đức Phật khuyến khích mình thấy được sự sanh diệt của các pháp để mình nhàm chán, mình ly tham, mình từ bỏ, còn ở đây tất cả các sự vận hành ở trong nhân quả nghiệp báo khổ đau thôi, nó không có thật, nó chỉ là khổ thôi như bài kệ của một vị thánh Ni đã nói:
"Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, X. Vajirà)
Ngoài khổ không gì khác, cũng giống như ở đây, thấy nó vận hành đủ thứ hết, xanh, đỏ, trắng, vàng, cười rồi khóc, hát ca nhưng mà tất cả là khổ không à, thấy được cái khổ đó gọi là tịch tịnh. Tại vì thấy khổ rồi mình còn muốn không? Mình còn giành không? Mình còn hơn thua không? Mình còn muốn đấu đá với ai không? Đó gọi là tịch tịnh thành ra câu kinh này không phải dễ hiểu, không phải vắng lặng là cái mặt hồ này nó không gợn sóng thì gọi là vắng lặng, đó là vắng lặng bình thường của phàm phu, ở trong đây nói sự tịch tịnh, vắng lặng là bản chất của ngũ uẩn, nó là không có gì hết, giống như giấc chiêm bao, mình thấy đủ thứ nhưng mà tỉnh ra thì chỉ là giấc chiêm bao thôi, không có gì hết, muốn tu tới cái đó thì phải thấy được định ý y tánh duyên khởi pháp trước.
"Tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn", đây lõi của toàn bộ thánh điển Nikāya, sanh y là chỗ dựa của tái sanh, nói đơn giản ở đây một chữ thôi là chữ ái, đây gọi là ái được đoạn tận, sanh y tức là ái, là yêu thích sắc, yêu thích thọ, yêu thích tưởng, yêu thích thành, yêu thích thức. Vì mình yêu thích nó cho nên mình muốn mua nó đem về nhà, sau đó mình mới giữ gìn, nếu nó mất đi rồi mình rất là đau khổ, bây giờ mình không còn yêu thích nữa, mình từ bỏ nó thì nó đâu làm cho mình khổ được nữa, cho nên ái được đoạn tận, ly dục tức là không muốn nó nữa và không còn yêu thích nữa, gọi là ái diệt, chỗ đó là Niết-bàn.
Mình không có mua cái sắc, mình không có mua cái hình hài này nữa, mình không có mua các cảm thọ nữa, mình không có đi mua những cái hình ảnh, hình bóng trong tâm nữa, mình không có đi tìm nữa những cái suy nghĩ, mình không có đi mua những cái nhận thức nữa, mình không có ham sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa. Chỗ này mình chiêm nghiệm chữ ái này là cả cái tạng kinh Nikāya. Ái diệt tức là Niết-bàn, cái tâm yêu thích đến đó chấm dứt là hết sinh tử, không thể nào làm cho cái tâm yêu thích nó diệt tận hoàn toàn nếu cái tâm hôn mê kia chưa được phá sập. Vô mình và tham ái kết với nhau cho nên các chư tổ sau này ví dụ cha là vô minh, mẹ là tham ái, hai cái đó kết hợp, có cái này là có cái kia mà có cái kia là có cái này, ngoại đạo phàm phu ly dục nhưng mà họ không có việc ái cho nên họ có thể đạt được những cái định nhiều ngàn, nhiều triệu kiếp nhưng sau này cái định đó hết thì họ vẫn trở về vị trí của họ, cái ái ở trong ngũ uẩn không được giải thoát dù cho tu đạt tứ thiền bát định nhưng cái gốc ái sâu thẳm bên trong là vô minh không phá được, đó là lý do cửa thứ nhất trong Bát Thánh Đạo là thấy đúng của bậc Thánh, vừa bước vào là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất ngay lập tức.
Mỗi khi nghe đến cái này là con rúng động cả người, bàng hoàng, sửng sốt, thảng thốt vì tu ba mươi năm mà không biết cái này, cửa đầu tiên của Bát Thánh Đạo bước vào tức là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, thấy đúng về năm uẩn. Thành ra cái sự khác biệt giữa mình và Đức Phật là khác nhau cái sự tu, Đức Phật là do ly dục, ly tham trước rồi sau đó ngài mới chứng được bốn thánh trí về ngũ uẩn, bốn thánh trí về lậu hoặc, khi Đức Phật chứng được bốn thánh trí ngũ uẩn, Bát Thánh Đạo thì Đức Phật dạy chánh kiến trước tại vì lúc còn là Bồ-tát ngài mù mờ, không phải đi tìm, ngài không biết con đường Bát Thánh Đạo cho nên ngài không vào chánh kiến đầu tiên được. Từ cái ly dục, ly tham, ly ác bất thiện pháp lần lần ngài mò mẫm bên trong và bằng cái trí tuệ thâm sâu, thần diệu thì ngài mới tìm ra nguồn gốc mà hôm qua chúng ta học lý duyên khởi của Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, trong đây là nói có chín-mười chứ chưa có đủ mười hai cái nhân duyên, có những vị chỉ cần quán tới đó là đã Đại Giác rồi.
Có khi Đức Phật trình bày chín, có khi mười, có khi mười hai, đó là sự vắn tắt thôi, chúng ta khác với Đức Phật nhưng mình rất dễ tại vì Đức Phật chứng đạo lộ rồi chỉ mình đi theo là mình thành công giống y như Phật mà rất mau, rất nhanh, rất lẹ. Mình nói ví dụ một người phát minh ra chiếc máy bay thì họ phải trải qua rất nhiều thời gian, có khi là nhiều thế hệ, cả trăm năm mới được cái mô hình đó, mình bây giờ được chỉ lại cách thì có cần phải mất trăm năm không? Đó là chỗ tuyệt diệu của mình, gọi là Thánh đệ tử. Bây giờ có người tôi tự mò mẫm làm chiếc máy bay mới, không cần ai chỉ dẫn, tôi không muốn làm đệ tử của ai hết, tôi muốn làm nhà hay là phát minh sáng kiến thôi, trong khi vị chỉ cho mình là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chứ không phải là một người bình thường thì cái này là đại ngã mạn, "tôi muốn thành Phật chứ tôi không muốn thành đệ tử của Phật", cái này rất nguy hiểm.
Thành ra khi học mà không học tới nơi tới chốn là mình sẽ không có biết, mình được truyền trao cái đạo lộ của Đức Phật cho nên mình sẽ đi tắt, mình không có đi vòng giống như ngài, trong nhiều A-tăng kì kiếp ngài đã đi mò mẫm đạo lộ. Đến khi ngài phát hiện ra đạo lộ chỉ cho mình thì có vị chỉ trong một thời pháp hoặc trong một thời gian rất ngắn là chứng thánh quả, thậm chí một bài pháp của ngài nói ra là chứng hàng trăm vị, hàng mấy chục vị A-la-hán. Khi các vị đã chứng A-la-hán thì tâm của các vị đồng với tâm của chư Phật, cái tâm thanh tịnh của bậc A-la-hán với Đức Phật là y như nhau một trăm phần trăm không có khác, chỉ có khác là Đức Phật chỉ cho các ngài đó thành tựu, các ngài đó không thể tự thành tựu được cho nên tất cả các vị A-la-hán đều là thánh đệ tử hết, là đệ tử của Phật hết, để chúng ta hiểu tại sao kinh Nikāya nói với chúng ta biết tất cả là thánh đệ tử vì mình thọ cái ơn của bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
III. Thực hành diệt ái
Bây giờ tu giỏi lắm, đòi làm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thôi à, cái này rất nguy hiểm. Khi nào mà giáo pháp của Phật Thích-ca diệt tận, không còn ai biết danh từ Phật gì nữa, tự mình mò mẫm ra được Bát Thánh Đạo, chứng ngộ được nó thì lúc đó là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn khi còn giáo pháp Phật Thích-ca hiện tại, còn Tứ Thánh Đế, còn Bát Chánh Đạo, còn Tứ Niệm Xứ mà mình muốn tu thành Phật thì cái này mệt rồi cho nên mình thành tận cùng cái tâm thanh tịnh ngang với Phật mà mình là thánh đệ tử, đó mới gọi là Thích tử, cái đó nó rất là hợp tình hợp lý đạo nghĩa thầy trò, cung kính pháp. Nhưng mình lại không muốn vậy, muốn làm Phật mới chịu, làm đệ tử Phật không chịu, đây là chỗ sâu sắc.
Đức Phật dạy ái ở đâu là đoạn ở đó, thành ra chỗ thâm sâu của sự tu hành của mình là sự yêu thích ở trong cảm giác, trong suy nghĩ, trong hình bóng của tâm mình phải thấy, yêu thích đối với ngũ uẩn. Mình cứ gỡ nó ra từ từ, ngày đêm mình để tâm gỡ ra thì thấp nhất là hướng Dự Lưu, là đang từ từ tháo gỡ ngũ uẩn, tháo gỡ sắc, tháo gỡ thọ, tháo gỡ tưởng, tháo gỡ hành, tháo gỡ thức, không có cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Trong bài tác ý con có nói là không ưa, không thích, không muốn nữa, chấm dứt từ đây cuộc tái sanh, người ta có chửi cái thân mình thì "chửi đúng quá, cái này đồ đáng chửi mà, nó là cái thứ tồi bại mà, cái thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, cái thứ nghiệp chướng, cái thứ đầy rẫy tham, sân, si nên chửi là đúng rồi".
Có người nói "sao chị sân hận quá vậy?" thì mình "dạ, cảm ơn cô, đúng rồi, em thấy em sân quá". Có người nói "tôi thấy bà tham quá chừng nha" thì mình "dạ, em thấy xấu hổ quá, gội rửa mãi mà sao vẫn còn nhiều quá, em cám ơn chị". Có người nói "cô tu cái gì mà sao bản ngã cao lớn quá vậy?" thì mình "dạ, ngày nào cũng sám hối diệt ngã mà vẫn chưa hết, em xin lỗi. Em xấu hổ nhục nhã quá, nhục hôm rày một cục to lớn bằng cả cái bầu trời rồi, nhục bằng cái địa cầu này rồi. Bây giờ cô nói vậy là đúng một trăm phần trăm luôn, cô nói là đúng lời Phật luôn đó đúng là bậc thánh luôn đó. Con cảm ơn cô". Ngược lại tu mà mới bị góp ý đã sân hận lên, chống trả, đó là cái tâm chưa hiền, chưa thấy nhục, còn ái dữ lắm, còn bảo vệ mình dữ lắm, còn bao biện lắm, bao che lắm, bao bọc lắm, còn thương mình lắm, còn chiều mình lắm, còn thương cái xác thân vô thường này lắm, còn thương cái hình dáng bại hoại này lắm, còn yêu những cái hình bóng trong tâm, những cái tư tưởng, những cái suy tư, nhận thức, còn tham, còn thích, còn chấp, còn giữ, còn nắm giữ lắm, thành ra còn khổ dài dài, còn khổ hoài hoài.
Người ta có nói thậm tệ cỡ nào mình cũng thấy đúng, "quá xá đúng rồi, cái này là Phật nói, cái này thánh nói, cô này chắc cũng là bậc thượng nhân". Người ta nói đúng mà mình vẫn thấy trật thì đó là mình đang bao che, bao biện, bao bọc nuông chiều cho nên cái ái còn nhiều lắm. Ngày hôm qua trời mưa con muốn để xem cái ái của mọi người tới đâu nhưng sợ bệnh nên cho vào, mình tu là phải thấy tất cả đều là cơ hội, bất cứ cái gì đến với mình mà trái ngang, nghịch cảnh, trăn trở, nó làm cho mình giày vò, ray dứt, đau khổ thì đây là cơ hội ngàn vàng để cho mình rèn luyện cái kham nhẫn, tất cả những gì đến với mình thì mình phải thấy đó là cơ hội.
Mình sống vậy đó, mình bị chửi cũng là cơ hội, dễ gì được chửi, ít có ai được chửi lắm, làm gì có người tự động lại chửi mình cho nên mình được chửi là cái nghiệp mau rớt lắm, mau rụng lắm, nó mau rơi xuống lắm cho nên đây là cơ hội cơ hội để tháo nghiệp, cơ hội để gỡ nghiệp, cơ hội để hết nghiệp, cơ hội để sạch nghiệp, cơ hội để diệt nghiệp. Chúng ta tu có muốn diệt nghiệp không hay là muốn nó tăng? Con có nhiều cái suy nghĩ ngược đời, không biết là có ai chịu không, con mà gặp tai nạn, trắc trở là con mừng lắm, coi cái tâm kham nhẫn của người tu tới đâu, đã thành tựu kham nhẫn ba la mật, đã thành tựu vô sanh pháp nhẫn chưa, có thấy tất cả trên cuộc đời này đều là bọt, là bóng, là hư không không.
Con có nhiều suy nghĩ ngược đời cho nên lên núi ở, mà sao cũng có nhiều người ngược giống con nên ngồi đây. Nhiều cái ngược không diễn tả nổi, mình giúp người ta, mình đem hết tấm lòng rồi mình đi chửi, người ta còn đòi chặt đầu, đốt chùa nữa, con thấy cái đó là cơ hội cho mình rèn luyện kham nhẫn, nhẫn lực, rèn luyện tâm từ, nhờ vậy mà tất cả những cái dữ hóa lành, cái lớn quá thành nhỏ, cái nhỏ quá thành không, cái không hóa thành hương thành hoa, thành những cái gọi là mỹ phẩm, trang sức, công đức, tràng hoa. Khi Thế Tôn ngồi dưới bồ đề đạo tràng thì lúc đó thiên ma, ma quân tới rồi bắn cung tên, giáo mác, phóng kiếm vào ngài thì tất cả đều biến thành hương hoa, thành hoa sen, biến thành bao nhiêu những loài hoa mạn đà la, hoa Ma-ha mạn thù sa, tất cả đều biến thành hoa rơi xuống mà trước mặt Đức Thế Tôn hết tại vì đối với ngài không có gì là chướng ngại. Cho nên chúng ta phải nhớ điều này, khi giáo mác, gươm đao tới mình là phải biến thành hoa hết nha, cái đó gọi là bách độc bất xâm, gươm dao không hại được, người mà thực tập từ vô lương tâm sẽ có mười một công đức, không có cái gì làm hại được người tu thành tựu từ vô lượng tâm.
Cho nên các vị về đây tu cứ yên tâm đi, đừng có ngại, đừng sợ con này con kia, chỉ sợ mình không có tâm từ thôi. Con ở đây mười tám năm đâu có cái gì đâu, tất cả mọi người ở đây mười tám năm mình thấy cái này kia, con này con nọ nhưng mà an lành hết, quy y hết, trải tâm từ hết cho nên đừng sợ, chỉ sợ mình không có đủ tâm từ thôi. Không sợ bất cứ cái gì trong cuộc đời này, chỉ sợ mình không đủ từ vô lượng tâm mà thôi, không sợ tất cả cái gì trong cuộc đời này chỉ sợ tình thương mình chưa đủ lớn, chư thiên còn đồng ý. Chết mà có gì đâu sợ, mình đã chết vô lượng lần chứ đâu phải là chưa từng chết lần nào mà sợ, chỉ sợ chết lúc đó cái tâm mình sân hận, tham, sân, si, dục ái, bản ngã thành ra cái chỗ này cái chỗ trọng yếu là ái diệt là Niết-bàn.
Ngày xưa Đức Phật các bậc thánh nói pháp sáng đêm là bình thường, thường xuyên, vì các ngài trú trong pháp là các ngài hỷ lạc, không thấy mệt mà cảm thấy an lạc. Mình phải tập nhận diện những cái tham ái, ái dục và phải viết nhật ký, có một số vị trình pháp rất là tốt trong khóa tu vừa rồi, mình nhận diện nó không phải chỉ đơn thuần là cái cảm thọ bề nổi mà phải nhận được những cái cảm thọ chìm ở phía dưới, phải nhận diện được những cái thầm ý vì nó rất ghê gớm, nó chống đối với pháp. Ví dụ trong kinh Đức Phật nói như vậy nhưng trong tâm lại không chịu, biết cái đó là thật, là đúng như vậy nhưng sâu thẳm trong bụng lại không chịu, bên ngoài cũng vỗ tay vậy đó. Ví dụ mình nói về quán bất tịnh, mình phanh phui, lột trần tim, gan, ruột non, ruột già, máu mủ, đàm giải, phân và nước tiểu nhưng sâu thẳm bên trong cái ái không chịu, đó là ái dục đối với sắc uẩn.
Mình sân là do mình ái, người ta làm không đúng cái ái của mình thì mình sân, mình để ý tất cả cái giận của mình có phải là làm vừa lòng mình không? Mà cái vừa lòng của mình là ái cho nên chữ ái trong Nikāya bao trùm vũ trụ này, trời đất này, tam giới luôn chứ không phải chỉ là thế giới của loài người không, vô sắc giới cũng vì cái ái đó mà không nhìn thấy được để ra khỏi ngũ uẩn. Nếu mình không nhận diện được cái ái này là mình tu không có tiến bộ, mình không thay đổi được tập khí của mình vì mình không muốn bỏ, mình biết là sai nhưng mình không muốn bỏ vì cái vị ngọt trong đó. Mấy người nghiền thuốc, nghiền rượu, nghiện xì ke, người ta biết cái đó là tai họa, bệnh tật, người ta biết chứ không phải không biết nhưng bỏ không được vì người ta thích vị ngọt của cảm giác đó. Vị ngọt đó là ái, phàm dục gì, hỷ gì, tham gì đối với cái thọ đó sanh khởi lên những cái khoan khoái, thích thú, dễ chịu thì cái đó là vị ngọt, nó giết chết hết tất cả, ngọt mật chết ruồi, chết hết chúng sanh ở trong tam giới, không xuất ly, không giải thoát được là gì vị ngọt của dục, của ái.
Những vị lên đây tu luôn không về nhà, chiến đấu với cái ái này cũng trường kỳ kháng chiến lắm, phải chiến đấu trong từng suy nghĩ, tư tưởng. Bên trong tâm là một sự nội chiến, bà cụ bảy mươi mấy tuổi cũng phải chiến đấu dữ dằn lắm chứ không phải giỡn đâu, hay là cạo đầu cũng là cả một sự chiến đấu chứ đâu phải dễ. Tất cả đều phải chiến đấu vì cái ái này bao trùm hết, chẳng hạn mấy sư cô trẻ bây giờ bỏ chùa, bỏ sư phụ, bỏ trường, bỏ bằng cấp, bỏ học vị, bỏ những cái danh lợi cung kính, đảnh lễ, cúng dường, ở chùa cao to, phòng sướng, ở dưới phố, dưới thành thị để lên đây nằm dưới đất ngủ, điều này đáng tuyên dương. Chúng ta phải nhiếp phục dục ái, đoạn tận dục ái, đó là gốc của Nikāya, tóm gọn lại chỉ bao nhiêu đó nhưng phải biết đúng phương pháp,
Bây giờ về được sư phụ thương, Phật tử quý quá, có phòng riêng đàng hoàng ngon lành, còn lên đây bị rầy quá trời quá trời, bắt trình pháp liên tục, ngồi đau chân tê cẳng, ngủ gục, mệt mỏi cho nên tất cả chúng ta ở đây là những chiến sĩ, những dũng sĩ chiến đấu ngày đêm với tham ái, ái dục, những sự yêu thích của mình. Các Phật tử ngồi sau lưng thấy vậy đó chứ cũng chiến đấu dữ lắm mới ở đây được lâu dài, thậm chí ở ba ngày cũng chiến đấu vô cùng chứ không phải dễ đâu, không chiến đấu là ở bữa trước rồi chút chiều là đi về chứ không ở được đêm nữa. Mình phải thấy chiến đấu là vinh quang, vinh hạnh, vinh dự trong cuộc chiến đấu này, nhiều khi tu mà không biết gì hết, cứ trơ trơ ra, tu trong vô minh là không thấy được gì hết. Phải nhìn cho ra được tên giặc thầm kín ở bên trong, nó rình rập mình, nó là du kích bắn tỉa, nó chờ thời để ra tay, nó núp ở trong kẹt, trong hốc, trong các mỏm đá chờ mình sơ hở là nó nhảy ra bắn cho mình trúng tên, trúng đạn.
Nếu mà mình chịu khó là từ sáng cho tới mình nhắm mắt, thậm chí mình nằm chiêm bao cũng không có rời ra được ái nữa. Chẳng hạn bây giờ có con kiến, con muỗi trên mặt là mình phủi mạnh tức khắc, cái đó có ái không? Có sân, có si, có bản ngã trong đó, thành ra một cái nhỏ như vậy mà nếu mình chịu nhìn sâu vô, soi cái trí năm uẩn vô là nó hiện ra tất cả các pháp, nó không có đơn giản chút nào hết. Chính vì vậy tu cái này mà không có chi ly, không có chi tiết, không có đào sâu, không có khít khao, sát sao, miên mật, cặn kẽ thì tu không có tiến bộ thâm sâu. Con nói ví dụ hết sức đơn giản là trà của mình cứ việc đổ nước sôi vào uống, ly trà đá ở ngoài chỉ có hai ngàn ngàn, uống trà bên Nhật Bản là phải quỳ xuống bò qua cánh cửa tròn, phải chầu trực một tiếng mấy đồng hồ mới uống được một chén trà như vậy, người ta mời chứ con làm sao dám uống chén trà tám trăm ngàn ngàn. Muốn uống là phải đặt trước bao nhiêu ngày, rồi đi tới chờ, rồi bò lết, cái đó gọi là trà đạo, cái tu cũng giống y như vậy, cũng một bước chân đi bình thường và một bước chân đi thiền hành cách xa nhau vậy, giữa hai ngàn ngàn với tám trăm ngàn ngàn là cách xa bốn trăm lần.
Giữa các bước chân đi bình thường với bước chân thiện hành cách xa nhau bốn trăm lần. Bây giờ mình chịu cái nào, chịu hai ngàn hay chịu tám trăm ngàn? Do không tu nên không biết được công phu, mình không biết sự thâm sâu, để tâm cả một trái tim, tấm lòng trong đó, cả một sự nhiệt huyết, một linh hồn trong đó cho nên người tôn trọng pháp là người biết được giá trị tột cùng của pháp, còn người không tôn trọng pháp là do họ không cần những cái đó, người tôn trọng pháp thì trí tuệ họ đã lớn mạnh. Các bậc A-la-hán, thánh Tăng tôn kính Đức Thế Tôn tuyệt đối, dùng từ tịnh tín bất động đối với Thế Tôn cho nên người tu sơ sài giống như hai ngàn ngàn trà đá, người tu thâm sâu, để tâm vào tất cả tấm lòng thì giống như trà đạo, một cái là trà đá và một cái là trà đạo. Kẻ phàm phu cũng ăn cơm, các bậc A-la-hán cũng ăn cơm, Đức Thế Tôn cũng ăn cơm nhưng cái chánh quán thọ thực của ngài so với cái ăn cơm bình thường của chúng sanh thì gấp biết bao nhiêu lần. Cho nên tu trong ăn cơm, uống nước là như vậy đó, đó gọi là thiền.
Trong bài chánh quán thọ thực, chúng ta kiểm soát dục ái tham trong khi ăn cơm, cổ họng uống nước như thế nào, nhai như thế nào, múc thức ăn như thế nào, ngài dạy mình từng chút một, nhận diện dục, tham, ái trước khi ăn, trong khi ăn, sau khi ăn. Từ cái ăn chúng ta phải hiểu ra tất cả cái khác, từ cái đó rồi mình nhân rộng ra, mình ứng dụng ra nhiều phía cạnh, phương diện khác cũng y vậy. Trong cái đi có dục, có ái, có tham không? Trong cái nói có không? Trong cái làm có không? Đổ bể, rơi rớt đồ ầm ầm dưới bếp, làm sao những cái này dưới bếp không còn nữa thì mới được, người nào như vậy là nhắc, mỗi lần như vậy phải thấy xấu hổ, tập cho đến nào cái bếp cũng an tịnh giống như trên đạo tràng, cái bếp mà thành công là ở ngoài tuyệt vời, cái bếp chưa thành thì chưa được. Cái chỗ khó tu nhất mà mình tu được thì cái chỗ dễ tu chắc chắn là mình sẽ tu thành cho nên phải tập nhận diện các tham ái, dục ái.
IV. Đức Thế Tôn Vipassì thuyết pháp
"Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!", Thế Tôn Tỳ-bà-thi suy nghĩ cái pháp thâm sâu, vi diệu như vậy, tịch tịnh như vậy, chúng sanh lại thích ái dục, khoái ái dục, tham ái dục mà bây giờ ta nói cái pháp ly tham, ly dục thì những người không hiểu làm ta thật là mệt mỏi, thật là khổ não. Tiếp theo là những bài kệ này khởi lên trong tâm của ngài:
"Này các Tỳ-kheo, với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên:
Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó thấy pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.
Này các Tỳ-kheo, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Cái tâm hôn mê và thèm khát bao phủ thì rất khó thấy được pháp này, lúc đó tâm Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp. Khi ngài mới thành Chánh Giác ngài nghĩ cái pháp thâm sâu như vậy, chúng sanh lại tham dục mà bây giờ mình nói cái pháp ly tham, ly dục như vậy thì họ không hiểu, như vậy rất là mệt nhọc, mệt mỏi cho ta, cho nên ngài hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp.
"Khi bấy giờ, một trong các vị Ðại Phạm thiên, khi biết được tư tưởng của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhờ tư tưởng của mình, liền suy nghĩ: 'Than ôi, thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong, nếu tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp!'" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Chúng ta thấy thế giới mình ngày nay thế nào? Giáo pháp của Phật Thích-ca mới có phân nửa thời kỳ thôi mà thế giới bây giờ là sắp hoại vong, băng hoại đạo đức. Nếu không có pháp của Phật xuất hiện thì càng diệt sớm hơn, có thể bây giờ không có cái cảnh như vậy, nếu mà Phật Thích-ca không xuất hiện, đạo Phật không có mặt trong cuộc đời này, tam quy ngũ giới, thập thiện, bát quan trai giới không có, giới luật của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni không có, pháp và luật của bậc Chánh Đẳng Giác không xuất hiện, tồn tại thì thế giới này không có được như vậy đâu. Cho nên nếu bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không thuyết pháp thì thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong ở trong cái ác và bất thiện pháp.
"Này các Tỳ-kheo, vị Ðại Phạm thiên ấy, như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, cũng vậy vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỳ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch rằng: 'Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp. Nếu được nghe, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp'.
Này các Tỳ-kheo, được nghe nói vậy, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói với vị Ðại Phạm thiên: 'Này Phạm thiên, Ta đã suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật mệt mỏi cho Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta'. Này Phạm thiên, khi ấy những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng nghe khởi lên nơi Ta:
Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó mà thấy được pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.
Này Phạm thiên, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
Này các Tỳ-kheo, lần thứ hai vị Ðại Phạm thiên ấy... (như trên) ...
Này các Tỳ-kheo, lần thứ ba, vị Ðại Phạm thiên ấy bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiên Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp!'
Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết được lời khuyên thỉnh của vị Phạm Thiên, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn. Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhìn quanh thế giới với Phật nhãn. Ngài thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Đức Phật ví dụ hình ảnh ba cái dạng của hoa sen trong hồ sen, sen xanh, sen hồng, sen trắng. Một số những bông sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước mà không vượt ra khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ở dưới nước và một số thì vươn lên tới mặt nước thôi, một số thì vươn ra khỏi nước, đó là ba dạng hạ, trung, thượng, là dạng thấp, dạng vừa, dạng cao, dạng ở dưới nước, dạng vừa ngoi lên tới mặt nước và cái dạng là vươn ra khỏi nước.
"Rồi vị Ðại Phạm thiên, với tâm mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, liền nói với Ngài, bài kệ sau đây:
Như con người đứng trên đỉnh núi nhìn quanh dân chúng phía dưới.
Cũng vậy Ngài Sumedha lên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn, thoát ly sầu muộn.
Nhìn xuống quần chúng, âu lo sầu muộn bị sanh già áp bức.
Hãy đứng lên, bậc anh hùng, bậc chiến thắng ở chiến trường!
Vị trưởng đoàn lữ khách, đấng thoát ly mọi nợ nần!
Thế Tôn hãy đi khắp thế giới hoằng dương chánh pháp.
Có người nhờ được nghe, sẽ thâm hiểu diệu nghĩa!" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Vị Đại Phạm Thiên này dùng hình ảnh giống như người đứng ở trên đỉnh núi nhìn xuống phía dưới, giống chúng ta đang ở đây chúng ta nhìn xuống dưới. Cũng vậy, Thế Tôn ở trên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn là bậc có cái nhìn cùng khắp, gọi là chánh biến tri đó, cái thấy của Đức Phật là một cái thấy phổ quát, rộng lớn, phổ biến cùng khắp, gọi là bậc biến nhãn, không có chỗ nào mà ngài không thấy không biết gọi là bậc biến nhãn hay còn gọi là chánh biến tri, thấy biết cùng khắp. Bậc đã thoát ly khỏi sầu muộn tức là không còn bất cứ một sự buồn lo nào nữa, nhìn xuống quần chúng lo âu, sầu muộn bị sanh, già, áp bức, ngài nhìn xuống chúng sanh đang lo lắng, đang khổ sầu về cái sanh, già, chết áp bức, nó đè nặng, nó bức bách, nó xô đẩy.
Xin Đức Thế Tôn, xin bật đại anh hùng, bậc đại chiến thắng ở trên chiến trường nội tâm, bậc đại thắng, bậc toàn thắng, bậc chiến thắng, xin ngài hãy đứng lên, xin ngài hãy vì lòng đại từ bi hãy làm một vị trưởng đoàn lữ khách, hãy làm một vị đạo sư cho tam giới. Xin Thế Tôn hãy làm bậc dẫn đường, bậc đại đạo sư để dẫn dắt chúng sanh, những kẻ đang âu lo, sầu muộn, bị sanh, già áp bức, xin ngài hãy làm vị trưởng đoàn lữ khách, hãy làm bậc đại đạo sư dẫn đường chúng sanh, xin đấng thoát ly tất cả mọi nợ nần. Ngài là bậc không còn một chút nợ nào nữa, Thế Tôn phải đi khắp thế giới hoàng dương chánh pháp, có người nhờ được nghe sẽ thâm hiểu diệu nghĩa.
Vị đại tam thiên này tha thiết lắm, quỳ lạy, thưa thỉnh ân cần, cung kính, khát ngưỡng, thay mặt cho chúng sanh đãi lao, thay cái nhọc cho tất cả chư thiên để thưa thỉnh, lễ thỉnh, bái thỉnh, cung thỉnh Thế Tôn chuyển đại pháp luân, thánh pháp luân.
"Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trả lời vị Ðại Phạm thiên với bài kệ sau đây:
Cửa bất diệt đã được mở rộng,
Hỡi những ai được nghe, hãy từ bỏ tà kiến của mình.
Vì nghĩ đến mệt mỏi hoài công, này Phạm Thiên.
Ta không muốn giảng Chánh pháp vi diệu cho loài người!
Này các Tỳ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên với ý nghĩ: 'Ta đã là người mở đường cho Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp', rồi đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Đức Thế Tôn đã đồng ý chuyển thánh pháp luân, nếu Thế Tôn không thuật lại thì đâu có ai biết cái này, loài người sao nhìn thấy được, đây là cảnh giới của trời – Phật, Phạm Thiên là vua trời.
"Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: 'Ta thuyết pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ mau hiểu chánh pháp này?'
Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: 'Nay vương tử Khanda (Kiển-trà) và con vương sư Tissa (Ðề-xá) trú ở kinh đô Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề) là bậc trí thức đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm ô bởi bụi đời. Nay ta hãy thuyết pháp cho vương tử Khanda và con vương sư Tissa trước tiên, hai vị này sẽ sớm thâm hiểu chánh pháp này". (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Thời đại này con người sống nhiều vạn năm lắm, thời đại này Đức Thế Tôn dùng thần thông nhiều, những người nhân hậu, phúc đức, trí tuệ, thần thông, ái tuổi thọ là nhiều vạn năm.
"Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, biến mất từ cây Bồ đề, hiện ra tại vườn Lộc Uyển Khenma, kinh đô Bhadhumatì.
Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi người giữ vườn: 'Này bạn, hãy vào kinh đô Bandhumatì, nhắn với vương tử Khanda và con vương sư Tissa rằng Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì, hiện trú ở Lộc Uyển Khema và muốn gặp hai vị!' – 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'.
Này các Tỳ-kheo, người giữ vườn vâng theo lời dạy của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào kinh đô Bandhumatì và thưa với vương tử Khanda và con vương sư Tissa: 'Thưa quý vị, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì và hiện ở Lộc Uyển Khema. Ngài muốn gặp quý vị!'
Này các Tỳ-kheo, Vương tử Khanda và con vương sư Tissa cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng rồi cùng với các cỗ xe thù thắng khác, cho xe ra khỏi kinh thành Bandhumati, đi đến Lộc Uyển Khema, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến trước Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Khi đến nơi, hai vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khanda và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: 'Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Thuận thứ là theo thứ tự tuần tự để thuyết pháp, tất cả chư Phật thuyết pháp đều có một trình tự chứ không phải muốn nói gì nói, giống như giáo trình vậy đó, có tuần tự, thứ tự các thứ, thứ bậc. Đầu tiên là ngài thuyết về bố thí, sau đó nói về trì giới, sau đó ngài thuyết về các cõi trời, ngài trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và lợi ích của xuất ly. Tất cả cái gì sanh ra rồi cũng phải diệt tận, hai vị vương tử này Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, mở mắt pháp.
"Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Thật di diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, chúng con xin quy y chánh Pháp, chúng con xin quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
./.
Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 8!
Trình Tự Thuyết Pháp Của Chư Phật 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chúng sanh ưa ái dục PAGEREF _Toc192791064 \h 1
II. Chấp ngã PAGEREF _Toc192791065 \h 3
III. Thực hành diệt ái PAGEREF _Toc192791066 \h 10
IV. Đức Thế Tôn Vipassì thuyết pháp PAGEREF _Toc192791067 \h 16
I. Chúng sanh ưa ái dục
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, chiều nay chúng ta tiếp tục nghe về cuộc đời, về đạo hạnh của Thế Tôn Vipassi – Tỳ-bà-thi, là Đức Phật đầu tiên trong bảy Đức Phật ở hiền kiếp. Sáng nay chúng ta đã nghe đến đoạn khi ngài mới vừa thành vô thượng giác, ngài suy nghĩ:
"Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: 'Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý 'Y tánh duyên khởi pháp' (ida-paccayata paticca samuppàda); thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Một đoạn ngắn này thôi nhưng đó là cốt tủy của thánh điển Nikāya, pháp mà ngài chứng được rất là sâu kín khó thấy, Đức Phật lặp lại và nhấn mạnh ba lần, hai cái ba lần thành sáu lần, "quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý 'Y tánh duyên khởi pháp'. Chữ ái dục ở đây rất rộng, bao gồm sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái và pháp ái, quần chúng là số đông, phần nhiều chúng sanh yêu thích sắc, ưa thích cái thân hình của mình, ưa thích cảnh vật, những đồ đạc sở hữu gọi là của mình, ưa thích cảnh sắc bên ngoài, ưa thích những cái âm thanh, ưa thích nùi, ưa thích vị, đồ ngon, ưa thích ăn, thích được ngắm nhìn, nghe, xúc chạm, tiếp xúc, đụng chạm. Phần lớn chúng sanh ham thích cái đó, khoái cái đó, mê cái đó, chưa kể là pháp ái nữa, là ham thích, mê những hình ảnh ở trong tâm, những cảm giác ở bên trong và vẫn suy nghĩ là pháp ái.
Ham sáu cái yêu thích đó, khoái sáu kiểu thích đó, ưa sáu cái yêu thích đó thì người này rất là khó, Đức Phật dùng chữ khó mà thấy chứ không phải là không thấy, khó mà thấy được tính chất nương tựa, lắp ráp, duyên sanh, cái tính chất của bó lau dựa vào nhau, đứng một mình là đổ, cái này phải dựa vào cái kia, đó gọi là y tánh, tức là tính chất nương dựa. Trên thành hồ này, phiến đá này dính với phiến đá kia là nhờ xi măng, nếu không có xi măng thì chỉ là những phiến đá rời rạc thứ không thành mặt hồ, đó chính là y tánh, trong xi măng không cũng được nữa, phải có cát, mà cát là phải cát loại nào, phải có nước, đá là phải đá loại nào, lấy loại này với loại kia thì nó không dính, đó là y tánh, là cái tính chất lắp ráp, nương dựa, kết dính.
Đó là nói bên ngoài, còn bên trong mình chỉ cần thiếu ánh sáng thôi là con mắt không thấy được, như chúng ta vừa rồi bịt mắt đi khất thực quờ quạng giữa mặt trời. Chỉ thiếu một cái duyên thôi là nó không phát ra được nhãn thức, sự thấy nó không được thành lập, đó là tính chất nương tựa, dựa dẫm, vay mượn, lắp ráp, kết hợp, mắt xích, kết dính, nó dựa vào nhau rồi nó mới sanh khởi lên gọi là y tánh duyên khởi pháp. Lỗ tai này cũng vậy, có một người điếc ngồi đây thì họ không có nghe gì hết vì thiếu duyên, có nhiều người chỉ cần nghe một câu nói thôi là chết cả một cuộc đời, không rời được nhau, có người nghe một câu nói thôi có thể giết chết nhau tại chỗ.
Con nói vậy chúng ta dễ hiểu không? Chỉ một câu nói thôi là có thể suốt đời không xa nhau, cũng một câu nói thôi có thể giết chết nhau ngay lập tức, câu nói đó sở dĩ nó được nghe là do duyên có tai, có tiếng, có sự rõ biết cái tiếng rồi ba pháp này giao thoa với nhau, thành ra cái sự tiếp xúc của lỗ tai rồi sanh khởi ra cảm thọ. Cảm thọ đó tham hoặc là sân, nếu là tham ái thì yêu thương, trói cột nếu là sân hận thì thù hằn, đánh giết.
Đó là duyên sanh pháp nhưng nếu là người đam mê trong trần cảnh, trong cái dục, trong cái ái thì người này khó mà thấy được tánh chất duyên khởi, "rõ ràng là người kia chửi tôi mà, làm sao mà quán được lỗ tai, âm thanh, nhĩ thức, nhĩ xúc, thọ do nhĩ xúc sanh, làm sao mà quán được?". Thứ nhất là họ không được học chánh pháp, thứ hai là họ không được thực tập thiền quán thì rất khó chứ không phải không được cho nên Đức Phật nói là khó thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp. Bây giờ nghe câu nói bình thường thôi thì họ lại si, họ không thấy được cái thân này là do tứ đại kết thành, do cha mẹ sinh, cho cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt, không thấy thân này là ung nhọt chín lỗ, không thấy đây là cái ổ virus, vi trùng, vi khuẩn. Đó gọi là khó thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp.
Đi sâu vào bên trong là thọ; tưởng; hành ở bên trong, những cái tham sân, chấp thủ, chấp ngã bên trong cũng là duyên sanh. Ví dụ ngoài đời mình tên ổi, tên xoài, tên mít gì đó, vô quy y mình có pháp danh là Diệu Ngộ hay gì đó, từ đó về sau ai mà nói Diệu Ngộ cái này cái kia là mệt rồi, thì cái tên đó cũng là duyên sanh. Cái đó giả danh nhưng mà mình ham cái tên đó, mình khoái cái tên đó, mình thích cái tên đó, mình yêu cái tên cho nên mình không thấy được cái pháp duyên sanh, duyên khởi. Bây giờ đặt cái tên Minh Thành mà nói Minh Thành ngu lắm là mệt rồi đó, nếu không thấy được pháp, mình nghe ai nói "cái thằng đó mà tu cái gì", mà không có pháp là đau khổ, sầu, bi, ưu, não. Đó là Đức Phật nói khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp tại vì mình ham cái tên Minh Thành đó, mình thích cái tên đó, mình khoái cái tên đó.
II. Chấp ngã
Hồi xưa con làm Tăng sinh, tới giờ học thì có hòa thượng tên trùng với con, hòa thượng kêu lên "ai đặt cái tên cho ông vậy? Sao dám đặt trùng cái tên vậy?" thì mình trả lời "dạ con đâu có biết, sư phụ con đặt", hòa thượng nói "không được kêu cái tên này nữa" thì mình "dạ". Mấy tháng trước con gặp chú Minh Thành, con nhớ lại mấy chục năm về trước, thành ra nhiều khi cái tên mà mình khổ lắm, đó nó chỉ là cái pháp duyên sanh mà mình chết ở trong cái danh, cái tướng, cái tên. Người ta khen cái tên là cái hỉnh lỗ mũi lên, người ta chê cái tên là buồn, kêu tên Hiền Thịnh mà vỗ tay ầm ầm là lên mây, còn nếu mà kêu cái tên mà chê trách thậm tệ chắc là cũng lọt hồ lọt hố cho nên là do mình yêu cái tên, mình thích cái tên, mình khoái cái tên thì đó là ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục đó.
Chữ dục này nghĩa rất rộng, không chỉ là chuyện nam nữ, ăn uống mà cái danh từ mình cũng ái nữa, mình cũng ham, cũng muốn, mình khoái, mình thích, mình thích cho nó là mình, là của mình rồi mình đau khổ cho nên nó rất là vi tế. Nhiều khi mình ngồi như vậy có bóng mình chiếu xuống đất mà có ai đi ngang đạp lên cái đầu của bóng thì lúc đó mình có ngồi im ru được không, đó là mình ham ái dục, mình thích ái dục, mình cho cái bóng đó là cái bóng của tôi, "tại sao đạp lên, chỗ này không đứng mà đứng đạp lên ngay cái bóng tôi vậy?". Chỉ là cái bóng thôi mà khủng khiếp vậy cho nên lúc con ở trong thất ngồi thiền thì cái cửa kính dạ ra cái bóng, ánh nắng phản chiếu xuống một cái bóng nữa và tấm thân này, như vậy con hỏi "cái nào là mày vậy? Trong ba cái này cái nào là mày?".
Tại vì nhìn thấy rồi ái "cái tướng mình ngồi thiền cũng ngay thẳng quá", lúc đó là dập liền, tác ý đánh phá cái suy nghĩ đó liền, không cho có một cái suy nghĩ là tôi, là của tôi. Nhập thất một tháng, hai tháng rồi mặt mày cũng hồng hào, ngồi dáng vẻ trang nghiêm, nhìn vô thấy thích thì lập tức mình phải tác ý phá liền cái suy nghĩ đó, cái cảm giác đó, lin cái hình bóng đó, "cái bóng ở phía dưới cái nền gạch không phải ngươi, cái bóng ở trong cái gương cũng không phải ngươi, ngay cả cái thân đang ngồi đây cũng là tứ đại, phèo, phổi, ruột, gan, phân và nước tiểu, không có gì là ta, là của ta, là tự ngã của ta trong đây hết "thấy chưa tâm ngu, nghe rõ chưa?", đó là mình như lý tác ý. Cái mà mình thích cái bóng của mình là mình ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, mình thích cái bóng đó, mình thích cái dáng đó, mình thích cái thân đó cho nên đời đời kiếp kiếp mình phải có thân nhưng không biết thân gì, nếu là nghiệp thiện là thân người, thân trời, nếu có nghiệp ác thì thân địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Mình không có ra khỏi cái có thân, mình phải trầm luân sinh tử, chìm đắm khổ sầu, lo lắng, sợ hãi, bất an vì cái sự có thân này. Tại sao có thân? Tại vì nó ưa thân, nó khoái thân, nó muốn thân cho nên nó có thân. Con nói ví dụ tại sao có cái món đồ đó ở trong nhà của quý vị vậy? Quý vị có ưa món đồ đó không? Có thích món đồ đó không? Có khoái món đồ đó không? Có muốn mang đồ đó không? Cho nên mới mua về, mình không muốn là nó ra sọt rác rồi, đem ra ngoài rồi, đi mất rồi, cho rồi, quăng rồi, tại sao có mặt món đồ đó trong nhà mình, vì mình ưa nó, mình thích nó, mình muốn nó, mình khoái nó, mình muốn giữ nó, đó là ý nghĩa của chữ hữu ái, chữ thủ đó.
Mình đi ra ngoài siêu thị, mình đi ra ngoài chợ nhìn thấy cái món đồ đó đẹp quá, thích quá, mình muốn có món đồ này đó là ái, là dục, mình muốn và mình thích thì mình phải mua nó, mình phải đem về, mình phải sở hữu nó, mình phải có nó, thì đó là ái và hữu. Khi đã có nó thì mình nắm giữ, đó là thủ, đó là mười hai nhân duyên đó, như vậy mình muốn cái thân này, mình thích cái thân này, mình khoái cái thân này, mình yêu cái thân này cho nên trong cái tâm mình phải sở hữu cho được cái thân này, đó là ái hữu, ái thủ là mình phải giữ cái thân này, yêu cái thân này, khoái cái thân này, thích cái thân này, muốn cái thân này, mình phải sở hữu cho được nó, khi có rồi mình phải giữ nó cho chặt, nắm chắc, đó là ái thủ hữu, hiện hữu trong thân tâm, trong cuộc đời này của mình, sau đó là sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, toàn bộ cái khổ uẩn này, cái đống khổ to lớn tập khởi, nhóm họp và sanh khởi ra.
Mình mua món đồ đó bằng kim cương, mình đem về cất kỹ, đi đâu cũng lo lắng, sợ bị người ta lấy mất, cho nên khi có thân này là có lo lắng, có sợ hãi, khi có thân này thì có mất thân, hễ có thân là có sự mất thân, đó là có sanh có diệt, có sanh có tử. Toàn bộ cái đống khổ to lớn được nhóm họp và sanh khởi, toàn bộ khổ uẩn này được tập khởi. Đầu tiên là nó khoái, thích, mà tại sao nó có ý thích, tại vì cái tâm này nó hôn mê, đó là vô minh và khát ái, tâm hôn mê là nó không biết cái đó đem về là mình khổ, cái đó đem về là mình lo. Tại sao người ta dùng cái chữ si tình? Khi mình còn trẻ, lúc ở cái tuổi mười mấy hai mươi tuổi mà vô tình yêu là mình si mê, cái tâm mình hôn mê, cái tâm mình đam mê, cái tâm mình nó ngu mê. Lúc đó còn thông minh không? Khi tình cảm đôi lứa mới bắt đầu của tuổi trẻ lúc đó mình có tỉnh táo, sáng suốt không? Cha mẹ nói có nghe lời không? Lúc đó mình si tình, mình si mê, mình đam mê, ngu mê cộng với cái tâm ưa thích, khoái muốn thì đi đến kết hôn, đó là cái tâm hôn mê và cái tâm khao khát, thèm muốn, đó là vô minh và khát ái.
Sau khi lấy nhau về rồi thì sau đó tay bồng tay bế, tay xách nách mang thì khổ xuất hiện, tức là sự tập khởi của khổ uẩn bắt đầu có mặt, bà nội con ngày xưa có 14 người con. Lấy cái ví dụ đó là chúng ta sẽ dễ hiểu, đó là một cái tâm hôn mê cộng với một cái tâm thèm khát, ham thích, yêu thích, kết hợp lại với nhau sanh ra những cái khổ uẩn tiếp theo, cha là vô minh, mẹ là tham ái kết hợp với nhau sanh ra sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh là những đứa con của sầu, bi, khổ, ưu, não. Nó yêu thích cái hình bóng này, nó yêu thích cái tên gọi của nó, cái nét chữ của nó, những cái tác phẩm mà nó tạo ra, nó ngấm nghía, nó khoan khoái, nó thích thú, một người họa sĩ hay là một người kiến trúc sư vẽ ra được một tác phẩm, một họa phẩm hay là một tác phẩm kiến trúc của họ thì họ đứng ngắm nghía, họ thấy khoái quá, thích quá, sướng quá, yêu thích ở trong đó, nếu có một người chê thì lúc đó khổ, họ sân hận, đâu khổ mà nếu có người khen thì họ tham lam, họ tham dính. Họ không biết cái đó là pháp duyên sanh, duyên khởi, một cái tâm hôn mê cộng với một cái tâm thèm khát, yêu thích, hai cái tâm này kết hợp lại với nhau tức là cha là vô minh, mẹ là tham ái kết hợp là sinh ra những đứa con khổ đau, sầu, bi, ưu, não.
"Thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh", cái này sâu sắc lắm, khi nãy là duyên khởi pháp, còn cái này tất cả hành là tịch tịnh. Tất cả hành ở đây là vận hành của năm thủ uẩn, sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành, sự vận hành của sắc pháp, sự vận hành của các cảm thọ, sự vận hành của các tư tưởng, sự vận hành của những suy nghĩ, sự vận hành của các nhận thức, vận hành cả ngũ uẩn như vậy mà tất cả chỉ là tịch tịnh, là vô vi, là chứng được tính chất trống rỗng, vắng lặng của năm uẩn. Đứa con nít nó nhìn những cái bong bóng nước là nó vui, nó thích, nó khoan khoái lắm, nó chơi đùa, nổi lên bong bóng là nó mừng, nó vui, cái bong bóng nát là nó sẽ là không vui, nó buồn.
Do thấy có bong bóng nổi lên, có cái bong bóng nát, có những cái màu này màu kia, có cái chùm bong bóng này chùm bọt nước kia nhưng mà đối với con cái người lớn thì người ta thấy cái đó không là gì hết, là trống rỗng, người ta không có chạy theo những cái màu sắc ở trong cái bong bóng nước đó, người ta không chạy theo những cái chùm lớn chùm nhỏ, người ta không ngồi đó để đếm có bao nhiêu cái bong bóng nước, nó không có gì hết, chư thánh, Đức Thế Tôn và Thánh chúng nhìn ngũ uẩn là nhìn như vậy đó, tất cả đều là tịch tịnh, không có gì hết. Chúng sanh thì khóc rồi cười, tham rồi sân, khổ sầu rồi đau đớn quằn quại, rồi bứt tóc, đấm ngực, bất tỉnh, ngất xỉu, nhảy lầu, nhảy cầu, nhảy sông, thắt cổ tự tử, khổ đau, họ đau khổ cùng cực nhưng mà đối với các bậc thánh là không có gì hết, các ngài thấy tất cả đều là bong bóng nước thôi, các ngài nhìn thấy tất cả đều vắng lặng. Bài Niệm Chúng Sanh là rất thâm sâu, đó là trí tuệ của bậc đạo sư.
"Tất cả đều là chúng sanh,
Không ai là người thân của mình,
Chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả.
Hãy buông xả và mau tỉnh thức,
Sống đúng trách nhiệm,
Sống đẹp với đời,
Nhận diện ngũ uẩn,
Thể nhập Thánh Trí,
Diệt tham, sân, si
Thoát ly sanh tử"
(Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Người phàm thấy đây là chồng tôi, con tôi, cha tôi, mẹ tôi, anh tôi, em tôi, cháu tôi nhưng đối với các bậc giác ngộ chỉ có vô minh nghiệp và nhân quả. Đó là thấy được cái lý tất cả hành là tịch tịnh, vắng lặng, trống rỗng. Đức Phật không có nói không sanh không diệt, Đức Phật nói là:
"Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt"
(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 113)
Những sách vở sau này nói là không sanh không diệt là ngược với Đức Phật, không sanh không diệt là không có vô thường luôn, không có khổ. Đức Phật khuyến khích mình thấy được sự sanh diệt của các pháp để mình nhàm chán, mình ly tham, mình từ bỏ, còn ở đây tất cả các sự vận hành ở trong nhân quả nghiệp báo khổ đau thôi, nó không có thật, nó chỉ là khổ thôi như bài kệ của một vị thánh Ni đã nói:
"Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương V. Tương Ưng Tỷ Kheo Ni, X. Vajirà)
Ngoài khổ không gì khác, cũng giống như ở đây, thấy nó vận hành đủ thứ hết, xanh, đỏ, trắng, vàng, cười rồi khóc, hát ca nhưng mà tất cả là khổ không à, thấy được cái khổ đó gọi là tịch tịnh. Tại vì thấy khổ rồi mình còn muốn không? Mình còn giành không? Mình còn hơn thua không? Mình còn muốn đấu đá với ai không? Đó gọi là tịch tịnh thành ra câu kinh này không phải dễ hiểu, không phải vắng lặng là cái mặt hồ này nó không gợn sóng thì gọi là vắng lặng, đó là vắng lặng bình thường của phàm phu, ở trong đây nói sự tịch tịnh, vắng lặng là bản chất của ngũ uẩn, nó là không có gì hết, giống như giấc chiêm bao, mình thấy đủ thứ nhưng mà tỉnh ra thì chỉ là giấc chiêm bao thôi, không có gì hết, muốn tu tới cái đó thì phải thấy được định ý y tánh duyên khởi pháp trước.
"Tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn", đây lõi của toàn bộ thánh điển Nikāya, sanh y là chỗ dựa của tái sanh, nói đơn giản ở đây một chữ thôi là chữ ái, đây gọi là ái được đoạn tận, sanh y tức là ái, là yêu thích sắc, yêu thích thọ, yêu thích tưởng, yêu thích thành, yêu thích thức. Vì mình yêu thích nó cho nên mình muốn mua nó đem về nhà, sau đó mình mới giữ gìn, nếu nó mất đi rồi mình rất là đau khổ, bây giờ mình không còn yêu thích nữa, mình từ bỏ nó thì nó đâu làm cho mình khổ được nữa, cho nên ái được đoạn tận, ly dục tức là không muốn nó nữa và không còn yêu thích nữa, gọi là ái diệt, chỗ đó là Niết-bàn.
Mình không có mua cái sắc, mình không có mua cái hình hài này nữa, mình không có mua các cảm thọ nữa, mình không có đi mua những cái hình ảnh, hình bóng trong tâm nữa, mình không có đi tìm nữa những cái suy nghĩ, mình không có đi mua những cái nhận thức nữa, mình không có ham sắc; thọ; tưởng; hành; thức nữa. Chỗ này mình chiêm nghiệm chữ ái này là cả cái tạng kinh Nikāya. Ái diệt tức là Niết-bàn, cái tâm yêu thích đến đó chấm dứt là hết sinh tử, không thể nào làm cho cái tâm yêu thích nó diệt tận hoàn toàn nếu cái tâm hôn mê kia chưa được phá sập. Vô mình và tham ái kết với nhau cho nên các chư tổ sau này ví dụ cha là vô minh, mẹ là tham ái, hai cái đó kết hợp, có cái này là có cái kia mà có cái kia là có cái này, ngoại đạo phàm phu ly dục nhưng mà họ không có việc ái cho nên họ có thể đạt được những cái định nhiều ngàn, nhiều triệu kiếp nhưng sau này cái định đó hết thì họ vẫn trở về vị trí của họ, cái ái ở trong ngũ uẩn không được giải thoát dù cho tu đạt tứ thiền bát định nhưng cái gốc ái sâu thẳm bên trong là vô minh không phá được, đó là lý do cửa thứ nhất trong Bát Thánh Đạo là thấy đúng của bậc Thánh, vừa bước vào là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất ngay lập tức.
Mỗi khi nghe đến cái này là con rúng động cả người, bàng hoàng, sửng sốt, thảng thốt vì tu ba mươi năm mà không biết cái này, cửa đầu tiên của Bát Thánh Đạo bước vào tức là Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, thấy đúng về năm uẩn. Thành ra cái sự khác biệt giữa mình và Đức Phật là khác nhau cái sự tu, Đức Phật là do ly dục, ly tham trước rồi sau đó ngài mới chứng được bốn thánh trí về ngũ uẩn, bốn thánh trí về lậu hoặc, khi Đức Phật chứng được bốn thánh trí ngũ uẩn, Bát Thánh Đạo thì Đức Phật dạy chánh kiến trước tại vì lúc còn là Bồ-tát ngài mù mờ, không phải đi tìm, ngài không biết con đường Bát Thánh Đạo cho nên ngài không vào chánh kiến đầu tiên được. Từ cái ly dục, ly tham, ly ác bất thiện pháp lần lần ngài mò mẫm bên trong và bằng cái trí tuệ thâm sâu, thần diệu thì ngài mới tìm ra nguồn gốc mà hôm qua chúng ta học lý duyên khởi của Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi, trong đây là nói có chín-mười chứ chưa có đủ mười hai cái nhân duyên, có những vị chỉ cần quán tới đó là đã Đại Giác rồi.
Có khi Đức Phật trình bày chín, có khi mười, có khi mười hai, đó là sự vắn tắt thôi, chúng ta khác với Đức Phật nhưng mình rất dễ tại vì Đức Phật chứng đạo lộ rồi chỉ mình đi theo là mình thành công giống y như Phật mà rất mau, rất nhanh, rất lẹ. Mình nói ví dụ một người phát minh ra chiếc máy bay thì họ phải trải qua rất nhiều thời gian, có khi là nhiều thế hệ, cả trăm năm mới được cái mô hình đó, mình bây giờ được chỉ lại cách thì có cần phải mất trăm năm không? Đó là chỗ tuyệt diệu của mình, gọi là Thánh đệ tử. Bây giờ có người tôi tự mò mẫm làm chiếc máy bay mới, không cần ai chỉ dẫn, tôi không muốn làm đệ tử của ai hết, tôi muốn làm nhà hay là phát minh sáng kiến thôi, trong khi vị chỉ cho mình là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chứ không phải là một người bình thường thì cái này là đại ngã mạn, "tôi muốn thành Phật chứ tôi không muốn thành đệ tử của Phật", cái này rất nguy hiểm.
Thành ra khi học mà không học tới nơi tới chốn là mình sẽ không có biết, mình được truyền trao cái đạo lộ của Đức Phật cho nên mình sẽ đi tắt, mình không có đi vòng giống như ngài, trong nhiều A-tăng kì kiếp ngài đã đi mò mẫm đạo lộ. Đến khi ngài phát hiện ra đạo lộ chỉ cho mình thì có vị chỉ trong một thời pháp hoặc trong một thời gian rất ngắn là chứng thánh quả, thậm chí một bài pháp của ngài nói ra là chứng hàng trăm vị, hàng mấy chục vị A-la-hán. Khi các vị đã chứng A-la-hán thì tâm của các vị đồng với tâm của chư Phật, cái tâm thanh tịnh của bậc A-la-hán với Đức Phật là y như nhau một trăm phần trăm không có khác, chỉ có khác là Đức Phật chỉ cho các ngài đó thành tựu, các ngài đó không thể tự thành tựu được cho nên tất cả các vị A-la-hán đều là thánh đệ tử hết, là đệ tử của Phật hết, để chúng ta hiểu tại sao kinh Nikāya nói với chúng ta biết tất cả là thánh đệ tử vì mình thọ cái ơn của bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
III. Thực hành diệt ái
Bây giờ tu giỏi lắm, đòi làm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thôi à, cái này rất nguy hiểm. Khi nào mà giáo pháp của Phật Thích-ca diệt tận, không còn ai biết danh từ Phật gì nữa, tự mình mò mẫm ra được Bát Thánh Đạo, chứng ngộ được nó thì lúc đó là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn khi còn giáo pháp Phật Thích-ca hiện tại, còn Tứ Thánh Đế, còn Bát Chánh Đạo, còn Tứ Niệm Xứ mà mình muốn tu thành Phật thì cái này mệt rồi cho nên mình thành tận cùng cái tâm thanh tịnh ngang với Phật mà mình là thánh đệ tử, đó mới gọi là Thích tử, cái đó nó rất là hợp tình hợp lý đạo nghĩa thầy trò, cung kính pháp. Nhưng mình lại không muốn vậy, muốn làm Phật mới chịu, làm đệ tử Phật không chịu, đây là chỗ sâu sắc.
Đức Phật dạy ái ở đâu là đoạn ở đó, thành ra chỗ thâm sâu của sự tu hành của mình là sự yêu thích ở trong cảm giác, trong suy nghĩ, trong hình bóng của tâm mình phải thấy, yêu thích đối với ngũ uẩn. Mình cứ gỡ nó ra từ từ, ngày đêm mình để tâm gỡ ra thì thấp nhất là hướng Dự Lưu, là đang từ từ tháo gỡ ngũ uẩn, tháo gỡ sắc, tháo gỡ thọ, tháo gỡ tưởng, tháo gỡ hành, tháo gỡ thức, không có cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Trong bài tác ý con có nói là không ưa, không thích, không muốn nữa, chấm dứt từ đây cuộc tái sanh, người ta có chửi cái thân mình thì "chửi đúng quá, cái này đồ đáng chửi mà, nó là cái thứ tồi bại mà, cái thứ nhơ nhớp, bẩn thỉu, cái thứ nghiệp chướng, cái thứ đầy rẫy tham, sân, si nên chửi là đúng rồi".
Có người nói "sao chị sân hận quá vậy?" thì mình "dạ, cảm ơn cô, đúng rồi, em thấy em sân quá". Có người nói "tôi thấy bà tham quá chừng nha" thì mình "dạ, em thấy xấu hổ quá, gội rửa mãi mà sao vẫn còn nhiều quá, em cám ơn chị". Có người nói "cô tu cái gì mà sao bản ngã cao lớn quá vậy?" thì mình "dạ, ngày nào cũng sám hối diệt ngã mà vẫn chưa hết, em xin lỗi. Em xấu hổ nhục nhã quá, nhục hôm rày một cục to lớn bằng cả cái bầu trời rồi, nhục bằng cái địa cầu này rồi. Bây giờ cô nói vậy là đúng một trăm phần trăm luôn, cô nói là đúng lời Phật luôn đó đúng là bậc thánh luôn đó. Con cảm ơn cô". Ngược lại tu mà mới bị góp ý đã sân hận lên, chống trả, đó là cái tâm chưa hiền, chưa thấy nhục, còn ái dữ lắm, còn bảo vệ mình dữ lắm, còn bao biện lắm, bao che lắm, bao bọc lắm, còn thương mình lắm, còn chiều mình lắm, còn thương cái xác thân vô thường này lắm, còn thương cái hình dáng bại hoại này lắm, còn yêu những cái hình bóng trong tâm, những cái tư tưởng, những cái suy tư, nhận thức, còn tham, còn thích, còn chấp, còn giữ, còn nắm giữ lắm, thành ra còn khổ dài dài, còn khổ hoài hoài.
Người ta có nói thậm tệ cỡ nào mình cũng thấy đúng, "quá xá đúng rồi, cái này là Phật nói, cái này thánh nói, cô này chắc cũng là bậc thượng nhân". Người ta nói đúng mà mình vẫn thấy trật thì đó là mình đang bao che, bao biện, bao bọc nuông chiều cho nên cái ái còn nhiều lắm. Ngày hôm qua trời mưa con muốn để xem cái ái của mọi người tới đâu nhưng sợ bệnh nên cho vào, mình tu là phải thấy tất cả đều là cơ hội, bất cứ cái gì đến với mình mà trái ngang, nghịch cảnh, trăn trở, nó làm cho mình giày vò, ray dứt, đau khổ thì đây là cơ hội ngàn vàng để cho mình rèn luyện cái kham nhẫn, tất cả những gì đến với mình thì mình phải thấy đó là cơ hội.
Mình sống vậy đó, mình bị chửi cũng là cơ hội, dễ gì được chửi, ít có ai được chửi lắm, làm gì có người tự động lại chửi mình cho nên mình được chửi là cái nghiệp mau rớt lắm, mau rụng lắm, nó mau rơi xuống lắm cho nên đây là cơ hội cơ hội để tháo nghiệp, cơ hội để gỡ nghiệp, cơ hội để hết nghiệp, cơ hội để sạch nghiệp, cơ hội để diệt nghiệp. Chúng ta tu có muốn diệt nghiệp không hay là muốn nó tăng? Con có nhiều cái suy nghĩ ngược đời, không biết là có ai chịu không, con mà gặp tai nạn, trắc trở là con mừng lắm, coi cái tâm kham nhẫn của người tu tới đâu, đã thành tựu kham nhẫn ba la mật, đã thành tựu vô sanh pháp nhẫn chưa, có thấy tất cả trên cuộc đời này đều là bọt, là bóng, là hư không không.
Con có nhiều suy nghĩ ngược đời cho nên lên núi ở, mà sao cũng có nhiều người ngược giống con nên ngồi đây. Nhiều cái ngược không diễn tả nổi, mình giúp người ta, mình đem hết tấm lòng rồi mình đi chửi, người ta còn đòi chặt đầu, đốt chùa nữa, con thấy cái đó là cơ hội cho mình rèn luyện kham nhẫn, nhẫn lực, rèn luyện tâm từ, nhờ vậy mà tất cả những cái dữ hóa lành, cái lớn quá thành nhỏ, cái nhỏ quá thành không, cái không hóa thành hương thành hoa, thành những cái gọi là mỹ phẩm, trang sức, công đức, tràng hoa. Khi Thế Tôn ngồi dưới bồ đề đạo tràng thì lúc đó thiên ma, ma quân tới rồi bắn cung tên, giáo mác, phóng kiếm vào ngài thì tất cả đều biến thành hương hoa, thành hoa sen, biến thành bao nhiêu những loài hoa mạn đà la, hoa Ma-ha mạn thù sa, tất cả đều biến thành hoa rơi xuống mà trước mặt Đức Thế Tôn hết tại vì đối với ngài không có gì là chướng ngại. Cho nên chúng ta phải nhớ điều này, khi giáo mác, gươm đao tới mình là phải biến thành hoa hết nha, cái đó gọi là bách độc bất xâm, gươm dao không hại được, người mà thực tập từ vô lương tâm sẽ có mười một công đức, không có cái gì làm hại được người tu thành tựu từ vô lượng tâm.
Cho nên các vị về đây tu cứ yên tâm đi, đừng có ngại, đừng sợ con này con kia, chỉ sợ mình không có tâm từ thôi. Con ở đây mười tám năm đâu có cái gì đâu, tất cả mọi người ở đây mười tám năm mình thấy cái này kia, con này con nọ nhưng mà an lành hết, quy y hết, trải tâm từ hết cho nên đừng sợ, chỉ sợ mình không có đủ tâm từ thôi. Không sợ bất cứ cái gì trong cuộc đời này, chỉ sợ mình không đủ từ vô lượng tâm mà thôi, không sợ tất cả cái gì trong cuộc đời này chỉ sợ tình thương mình chưa đủ lớn, chư thiên còn đồng ý. Chết mà có gì đâu sợ, mình đã chết vô lượng lần chứ đâu phải là chưa từng chết lần nào mà sợ, chỉ sợ chết lúc đó cái tâm mình sân hận, tham, sân, si, dục ái, bản ngã thành ra cái chỗ này cái chỗ trọng yếu là ái diệt là Niết-bàn.
Ngày xưa Đức Phật các bậc thánh nói pháp sáng đêm là bình thường, thường xuyên, vì các ngài trú trong pháp là các ngài hỷ lạc, không thấy mệt mà cảm thấy an lạc. Mình phải tập nhận diện những cái tham ái, ái dục và phải viết nhật ký, có một số vị trình pháp rất là tốt trong khóa tu vừa rồi, mình nhận diện nó không phải chỉ đơn thuần là cái cảm thọ bề nổi mà phải nhận được những cái cảm thọ chìm ở phía dưới, phải nhận diện được những cái thầm ý vì nó rất ghê gớm, nó chống đối với pháp. Ví dụ trong kinh Đức Phật nói như vậy nhưng trong tâm lại không chịu, biết cái đó là thật, là đúng như vậy nhưng sâu thẳm trong bụng lại không chịu, bên ngoài cũng vỗ tay vậy đó. Ví dụ mình nói về quán bất tịnh, mình phanh phui, lột trần tim, gan, ruột non, ruột già, máu mủ, đàm giải, phân và nước tiểu nhưng sâu thẳm bên trong cái ái không chịu, đó là ái dục đối với sắc uẩn.
Mình sân là do mình ái, người ta làm không đúng cái ái của mình thì mình sân, mình để ý tất cả cái giận của mình có phải là làm vừa lòng mình không? Mà cái vừa lòng của mình là ái cho nên chữ ái trong Nikāya bao trùm vũ trụ này, trời đất này, tam giới luôn chứ không phải chỉ là thế giới của loài người không, vô sắc giới cũng vì cái ái đó mà không nhìn thấy được để ra khỏi ngũ uẩn. Nếu mình không nhận diện được cái ái này là mình tu không có tiến bộ, mình không thay đổi được tập khí của mình vì mình không muốn bỏ, mình biết là sai nhưng mình không muốn bỏ vì cái vị ngọt trong đó. Mấy người nghiền thuốc, nghiền rượu, nghiện xì ke, người ta biết cái đó là tai họa, bệnh tật, người ta biết chứ không phải không biết nhưng bỏ không được vì người ta thích vị ngọt của cảm giác đó. Vị ngọt đó là ái, phàm dục gì, hỷ gì, tham gì đối với cái thọ đó sanh khởi lên những cái khoan khoái, thích thú, dễ chịu thì cái đó là vị ngọt, nó giết chết hết tất cả, ngọt mật chết ruồi, chết hết chúng sanh ở trong tam giới, không xuất ly, không giải thoát được là gì vị ngọt của dục, của ái.
Những vị lên đây tu luôn không về nhà, chiến đấu với cái ái này cũng trường kỳ kháng chiến lắm, phải chiến đấu trong từng suy nghĩ, tư tưởng. Bên trong tâm là một sự nội chiến, bà cụ bảy mươi mấy tuổi cũng phải chiến đấu dữ dằn lắm chứ không phải giỡn đâu, hay là cạo đầu cũng là cả một sự chiến đấu chứ đâu phải dễ. Tất cả đều phải chiến đấu vì cái ái này bao trùm hết, chẳng hạn mấy sư cô trẻ bây giờ bỏ chùa, bỏ sư phụ, bỏ trường, bỏ bằng cấp, bỏ học vị, bỏ những cái danh lợi cung kính, đảnh lễ, cúng dường, ở chùa cao to, phòng sướng, ở dưới phố, dưới thành thị để lên đây nằm dưới đất ngủ, điều này đáng tuyên dương. Chúng ta phải nhiếp phục dục ái, đoạn tận dục ái, đó là gốc của Nikāya, tóm gọn lại chỉ bao nhiêu đó nhưng phải biết đúng phương pháp,
Bây giờ về được sư phụ thương, Phật tử quý quá, có phòng riêng đàng hoàng ngon lành, còn lên đây bị rầy quá trời quá trời, bắt trình pháp liên tục, ngồi đau chân tê cẳng, ngủ gục, mệt mỏi cho nên tất cả chúng ta ở đây là những chiến sĩ, những dũng sĩ chiến đấu ngày đêm với tham ái, ái dục, những sự yêu thích của mình. Các Phật tử ngồi sau lưng thấy vậy đó chứ cũng chiến đấu dữ lắm mới ở đây được lâu dài, thậm chí ở ba ngày cũng chiến đấu vô cùng chứ không phải dễ đâu, không chiến đấu là ở bữa trước rồi chút chiều là đi về chứ không ở được đêm nữa. Mình phải thấy chiến đấu là vinh quang, vinh hạnh, vinh dự trong cuộc chiến đấu này, nhiều khi tu mà không biết gì hết, cứ trơ trơ ra, tu trong vô minh là không thấy được gì hết. Phải nhìn cho ra được tên giặc thầm kín ở bên trong, nó rình rập mình, nó là du kích bắn tỉa, nó chờ thời để ra tay, nó núp ở trong kẹt, trong hốc, trong các mỏm đá chờ mình sơ hở là nó nhảy ra bắn cho mình trúng tên, trúng đạn.
Nếu mà mình chịu khó là từ sáng cho tới mình nhắm mắt, thậm chí mình nằm chiêm bao cũng không có rời ra được ái nữa. Chẳng hạn bây giờ có con kiến, con muỗi trên mặt là mình phủi mạnh tức khắc, cái đó có ái không? Có sân, có si, có bản ngã trong đó, thành ra một cái nhỏ như vậy mà nếu mình chịu nhìn sâu vô, soi cái trí năm uẩn vô là nó hiện ra tất cả các pháp, nó không có đơn giản chút nào hết. Chính vì vậy tu cái này mà không có chi ly, không có chi tiết, không có đào sâu, không có khít khao, sát sao, miên mật, cặn kẽ thì tu không có tiến bộ thâm sâu. Con nói ví dụ hết sức đơn giản là trà của mình cứ việc đổ nước sôi vào uống, ly trà đá ở ngoài chỉ có hai ngàn ngàn, uống trà bên Nhật Bản là phải quỳ xuống bò qua cánh cửa tròn, phải chầu trực một tiếng mấy đồng hồ mới uống được một chén trà như vậy, người ta mời chứ con làm sao dám uống chén trà tám trăm ngàn ngàn. Muốn uống là phải đặt trước bao nhiêu ngày, rồi đi tới chờ, rồi bò lết, cái đó gọi là trà đạo, cái tu cũng giống y như vậy, cũng một bước chân đi bình thường và một bước chân đi thiền hành cách xa nhau vậy, giữa hai ngàn ngàn với tám trăm ngàn ngàn là cách xa bốn trăm lần.
Giữa các bước chân đi bình thường với bước chân thiện hành cách xa nhau bốn trăm lần. Bây giờ mình chịu cái nào, chịu hai ngàn hay chịu tám trăm ngàn? Do không tu nên không biết được công phu, mình không biết sự thâm sâu, để tâm cả một trái tim, tấm lòng trong đó, cả một sự nhiệt huyết, một linh hồn trong đó cho nên người tôn trọng pháp là người biết được giá trị tột cùng của pháp, còn người không tôn trọng pháp là do họ không cần những cái đó, người tôn trọng pháp thì trí tuệ họ đã lớn mạnh. Các bậc A-la-hán, thánh Tăng tôn kính Đức Thế Tôn tuyệt đối, dùng từ tịnh tín bất động đối với Thế Tôn cho nên người tu sơ sài giống như hai ngàn ngàn trà đá, người tu thâm sâu, để tâm vào tất cả tấm lòng thì giống như trà đạo, một cái là trà đá và một cái là trà đạo. Kẻ phàm phu cũng ăn cơm, các bậc A-la-hán cũng ăn cơm, Đức Thế Tôn cũng ăn cơm nhưng cái chánh quán thọ thực của ngài so với cái ăn cơm bình thường của chúng sanh thì gấp biết bao nhiêu lần. Cho nên tu trong ăn cơm, uống nước là như vậy đó, đó gọi là thiền.
Trong bài chánh quán thọ thực, chúng ta kiểm soát dục ái tham trong khi ăn cơm, cổ họng uống nước như thế nào, nhai như thế nào, múc thức ăn như thế nào, ngài dạy mình từng chút một, nhận diện dục, tham, ái trước khi ăn, trong khi ăn, sau khi ăn. Từ cái ăn chúng ta phải hiểu ra tất cả cái khác, từ cái đó rồi mình nhân rộng ra, mình ứng dụng ra nhiều phía cạnh, phương diện khác cũng y vậy. Trong cái đi có dục, có ái, có tham không? Trong cái nói có không? Trong cái làm có không? Đổ bể, rơi rớt đồ ầm ầm dưới bếp, làm sao những cái này dưới bếp không còn nữa thì mới được, người nào như vậy là nhắc, mỗi lần như vậy phải thấy xấu hổ, tập cho đến nào cái bếp cũng an tịnh giống như trên đạo tràng, cái bếp mà thành công là ở ngoài tuyệt vời, cái bếp chưa thành thì chưa được. Cái chỗ khó tu nhất mà mình tu được thì cái chỗ dễ tu chắc chắn là mình sẽ tu thành cho nên phải tập nhận diện các tham ái, dục ái.
IV. Đức Thế Tôn Vipassì thuyết pháp
"Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!", Thế Tôn Tỳ-bà-thi suy nghĩ cái pháp thâm sâu, vi diệu như vậy, tịch tịnh như vậy, chúng sanh lại thích ái dục, khoái ái dục, tham ái dục mà bây giờ ta nói cái pháp ly tham, ly dục thì những người không hiểu làm ta thật là mệt mỏi, thật là khổ não. Tiếp theo là những bài kệ này khởi lên trong tâm của ngài:
"Này các Tỳ-kheo, với Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên:
Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó thấy pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.
Này các Tỳ-kheo, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Cái tâm hôn mê và thèm khát bao phủ thì rất khó thấy được pháp này, lúc đó tâm Đức Thế Tôn Tỳ-bà-thi hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp. Khi ngài mới thành Chánh Giác ngài nghĩ cái pháp thâm sâu như vậy, chúng sanh lại tham dục mà bây giờ mình nói cái pháp ly tham, ly dục như vậy thì họ không hiểu, như vậy rất là mệt nhọc, mệt mỏi cho ta, cho nên ngài hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp.
"Khi bấy giờ, một trong các vị Ðại Phạm thiên, khi biết được tư tưởng của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhờ tư tưởng của mình, liền suy nghĩ: 'Than ôi, thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong, nếu tâm của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hướng về vô vi, thụ động, không muốn thuyết pháp!'" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Chúng ta thấy thế giới mình ngày nay thế nào? Giáo pháp của Phật Thích-ca mới có phân nửa thời kỳ thôi mà thế giới bây giờ là sắp hoại vong, băng hoại đạo đức. Nếu không có pháp của Phật xuất hiện thì càng diệt sớm hơn, có thể bây giờ không có cái cảnh như vậy, nếu mà Phật Thích-ca không xuất hiện, đạo Phật không có mặt trong cuộc đời này, tam quy ngũ giới, thập thiện, bát quan trai giới không có, giới luật của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Ni không có, pháp và luật của bậc Chánh Đẳng Giác không xuất hiện, tồn tại thì thế giới này không có được như vậy đâu. Cho nên nếu bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không thuyết pháp thì thế giới sẽ bị tiêu diệt, thế giới sẽ bị hoại vong ở trong cái ác và bất thiện pháp.
"Này các Tỳ-kheo, vị Ðại Phạm thiên ấy, như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, cũng vậy vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này các Tỳ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên đắp thượng y trên một bên vai, quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bạch rằng: 'Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp. Nếu được nghe, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp'.
Này các Tỳ-kheo, được nghe nói vậy, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nói với vị Ðại Phạm thiên: 'Này Phạm thiên, Ta đã suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật mệt mỏi cho Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta'. Này Phạm thiên, khi ấy những bài kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng nghe khởi lên nơi Ta:
Sao nay Ta lại nói lên chánh pháp mà Ta đã chứng ngộ rất khó khăn?
Pháp này khó mà chứng ngộ với những ai bị tham sân chi phối.
Những ai bị ái nhiễm và vô minh bao phủ rất khó mà thấy được pháp này.
Một pháp đi ngược dòng, vi diệu, thâm sâu, khó thấy, vi tế.
Này Phạm thiên, với những lời như vậy, suy tư trên vấn đề, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
Này các Tỳ-kheo, lần thứ hai vị Ðại Phạm thiên ấy... (như trên) ...
Này các Tỳ-kheo, lần thứ ba, vị Ðại Phạm thiên ấy bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiên Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít bị bụi trần che phủ sẽ bị nguy hại nếu không được nghe chánh pháp, những vị này có thể thâm hiểu chánh pháp!'
Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác biết được lời khuyên thỉnh của vị Phạm Thiên, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật nhãn. Này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước, có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước lớn lên dưới nước vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng vậy này các Tỳ-kheo, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, nhìn quanh thế giới với Phật nhãn. Ngài thấy có hạng chúng sanh nhiễm ít bụi đời, nhiễm nhiều bụi đời, có hạng lợi căn độn căn, có hạng tánh thuận tánh nghịch, có hạng dễ dạy khó dạy, một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động lỗi lầm" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Đức Phật ví dụ hình ảnh ba cái dạng của hoa sen trong hồ sen, sen xanh, sen hồng, sen trắng. Một số những bông sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước mà không vượt ra khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng ở dưới nước và một số thì vươn lên tới mặt nước thôi, một số thì vươn ra khỏi nước, đó là ba dạng hạ, trung, thượng, là dạng thấp, dạng vừa, dạng cao, dạng ở dưới nước, dạng vừa ngoi lên tới mặt nước và cái dạng là vươn ra khỏi nước.
"Rồi vị Ðại Phạm thiên, với tâm mình biết được tâm tư của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, liền nói với Ngài, bài kệ sau đây:
Như con người đứng trên đỉnh núi nhìn quanh dân chúng phía dưới.
Cũng vậy Ngài Sumedha lên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn, thoát ly sầu muộn.
Nhìn xuống quần chúng, âu lo sầu muộn bị sanh già áp bức.
Hãy đứng lên, bậc anh hùng, bậc chiến thắng ở chiến trường!
Vị trưởng đoàn lữ khách, đấng thoát ly mọi nợ nần!
Thế Tôn hãy đi khắp thế giới hoằng dương chánh pháp.
Có người nhờ được nghe, sẽ thâm hiểu diệu nghĩa!" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Vị Đại Phạm Thiên này dùng hình ảnh giống như người đứng ở trên đỉnh núi nhìn xuống phía dưới, giống chúng ta đang ở đây chúng ta nhìn xuống dưới. Cũng vậy, Thế Tôn ở trên lầu chánh pháp, bậc biến nhãn là bậc có cái nhìn cùng khắp, gọi là chánh biến tri đó, cái thấy của Đức Phật là một cái thấy phổ quát, rộng lớn, phổ biến cùng khắp, gọi là bậc biến nhãn, không có chỗ nào mà ngài không thấy không biết gọi là bậc biến nhãn hay còn gọi là chánh biến tri, thấy biết cùng khắp. Bậc đã thoát ly khỏi sầu muộn tức là không còn bất cứ một sự buồn lo nào nữa, nhìn xuống quần chúng lo âu, sầu muộn bị sanh, già, áp bức, ngài nhìn xuống chúng sanh đang lo lắng, đang khổ sầu về cái sanh, già, chết áp bức, nó đè nặng, nó bức bách, nó xô đẩy.
Xin Đức Thế Tôn, xin bật đại anh hùng, bậc đại chiến thắng ở trên chiến trường nội tâm, bậc đại thắng, bậc toàn thắng, bậc chiến thắng, xin ngài hãy đứng lên, xin ngài hãy vì lòng đại từ bi hãy làm một vị trưởng đoàn lữ khách, hãy làm một vị đạo sư cho tam giới. Xin Thế Tôn hãy làm bậc dẫn đường, bậc đại đạo sư để dẫn dắt chúng sanh, những kẻ đang âu lo, sầu muộn, bị sanh, già áp bức, xin ngài hãy làm vị trưởng đoàn lữ khách, hãy làm bậc đại đạo sư dẫn đường chúng sanh, xin đấng thoát ly tất cả mọi nợ nần. Ngài là bậc không còn một chút nợ nào nữa, Thế Tôn phải đi khắp thế giới hoàng dương chánh pháp, có người nhờ được nghe sẽ thâm hiểu diệu nghĩa.
Vị đại tam thiên này tha thiết lắm, quỳ lạy, thưa thỉnh ân cần, cung kính, khát ngưỡng, thay mặt cho chúng sanh đãi lao, thay cái nhọc cho tất cả chư thiên để thưa thỉnh, lễ thỉnh, bái thỉnh, cung thỉnh Thế Tôn chuyển đại pháp luân, thánh pháp luân.
"Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trả lời vị Ðại Phạm thiên với bài kệ sau đây:
Cửa bất diệt đã được mở rộng,
Hỡi những ai được nghe, hãy từ bỏ tà kiến của mình.
Vì nghĩ đến mệt mỏi hoài công, này Phạm Thiên.
Ta không muốn giảng Chánh pháp vi diệu cho loài người!
Này các Tỳ-kheo, rồi vị Ðại Phạm thiên với ý nghĩ: 'Ta đã là người mở đường cho Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết pháp', rồi đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài và biến mất tại chỗ" (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Đức Thế Tôn đã đồng ý chuyển thánh pháp luân, nếu Thế Tôn không thuật lại thì đâu có ai biết cái này, loài người sao nhìn thấy được, đây là cảnh giới của trời – Phật, Phạm Thiên là vua trời.
"Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: 'Ta thuyết pháp cho ai trước tiên? Ai sẽ mau hiểu chánh pháp này?'
Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác suy nghĩ: 'Nay vương tử Khanda (Kiển-trà) và con vương sư Tissa (Ðề-xá) trú ở kinh đô Bandhumatì (Bàn-đầu-bà-đề) là bậc trí thức đa văn, sáng suốt, đã từ lâu sống ít nhiễm ô bởi bụi đời. Nay ta hãy thuyết pháp cho vương tử Khanda và con vương sư Tissa trước tiên, hai vị này sẽ sớm thâm hiểu chánh pháp này". (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Thời đại này con người sống nhiều vạn năm lắm, thời đại này Đức Thế Tôn dùng thần thông nhiều, những người nhân hậu, phúc đức, trí tuệ, thần thông, ái tuổi thọ là nhiều vạn năm.
"Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác như một nhà lực sĩ duỗi thẳng cánh tay đã co lại, hay co lại cánh tay duỗi thẳng, biến mất từ cây Bồ đề, hiện ra tại vườn Lộc Uyển Khenma, kinh đô Bhadhumatì.
Này các Tỳ-kheo, rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi người giữ vườn: 'Này bạn, hãy vào kinh đô Bandhumatì, nhắn với vương tử Khanda và con vương sư Tissa rằng Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì, hiện trú ở Lộc Uyển Khema và muốn gặp hai vị!' – 'Thưa vâng, bạch Thế Tôn'.
Này các Tỳ-kheo, người giữ vườn vâng theo lời dạy của Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vào kinh đô Bandhumatì và thưa với vương tử Khanda và con vương sư Tissa: 'Thưa quý vị, Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến kinh đô Bandhumatì và hiện ở Lộc Uyển Khema. Ngài muốn gặp quý vị!'
Này các Tỳ-kheo, Vương tử Khanda và con vương sư Tissa cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng rồi cùng với các cỗ xe thù thắng khác, cho xe ra khỏi kinh thành Bandhumati, đi đến Lộc Uyển Khema, đi xe cho đến chỗ còn đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến trước Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Khi đến nơi, hai vị này đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuận thứ thuyết pháp, thuyết về bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng, và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết được tâm trí của hai vị này đã thuần thục, nhu thuận, thoát ly triền cái, cao thượng và an tịnh, Ngài bèn thuyết pháp thoại mà được chư Phật đề cao, tức là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Cũng như tấm vải thuần tịnh không có tỳ vết, rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, vương tử Khanda và con vương sư Tissa, chính tại chỗ ngồi này chứng được Pháp nhãn xa trần ly cấu: 'Phàm pháp gì đã sanh rồi cũng phải diệt'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Thuận thứ là theo thứ tự tuần tự để thuyết pháp, tất cả chư Phật thuyết pháp đều có một trình tự chứ không phải muốn nói gì nói, giống như giáo trình vậy đó, có tuần tự, thứ tự các thứ, thứ bậc. Đầu tiên là ngài thuyết về bố thí, sau đó nói về trì giới, sau đó ngài thuyết về các cõi trời, ngài trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục vọng và lợi ích của xuất ly. Tất cả cái gì sanh ra rồi cũng phải diệt tận, hai vị vương tử này Nhập Lưu Thánh quả thứ nhất, mở mắt pháp.
"Hai vị này đã thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự, diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ người khác đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch Thế Tôn Vipassì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác: 'Thật di diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, nay chúng con quy y Thế Tôn và quy y Pháp. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được xuất gia với Thế Tôn, mong Thế Tôn cho chúng con được thọ đại giới'." (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Ðại bổn)
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, chúng con xin quy y chánh Pháp, chúng con xin quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử. Từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.
./.