Làm Sao Chấm Dứt Luân Hồi
Làm Sao Chấm Dứt Luân Hồi
(Văn bản. Diệu Quang)
Đầu tiên mình nói về bảy trí về sắc chất, bảy trí về cảm giác, bảy trí về các tưởng, bảy trí về sự suy nghĩ, bảy trí về nhận thức (Mình lào thông bảy trí này)
Đi vào trong trại trẻ mồ côi những người tàn tật những em bé bị cha mẹ bỏ hoặc mồ côi, xúc động mạnh, cảm giác mạnh khóc sướt mướt ngay lúc đó Thầy kêu trả bày về bảy trí của thọ, chú trả bài trí sáng lên thọ lắng dịu xuống nên khi trong sự thực tế đời sống mình áp dụng một cái mình thấy cực sáng cực tỏa cực rõ chỉ còn mình thực hành hay không thực hành hay không. Rõ ràng có đường lối rất rõ. Thầy chim nghiệm ngày xưa mình ngồi thiền cái gì vọng khởi hay không khởi không dính dáng đụng đậy, bây giờ mình dùng một uẫn đánh bảy trí, năm uẫn đánh ba lăm trí không thể không thắng trận. Ngày xưa vọng tưởng biết vọng tưởng, không vọng tưởng biết không vọng, bây giờ mỗi một uẫn mình dùng bảy trí năm uẫn dùng ba lăm trí đồng thời tấn công vào nó, nó không chịu nổi giống như lông của bàn chải đánh răng có rất nhiều cọng, một cọng không sạch được cái răng nhưng bàn chải hàng trăm cọng chà mới sạch một răng, bây giờ mình dùng ba mươi lắm trí đánh vào năm uẫn, mỗi một uẫn ví như sắc chất mình thành tựu bảy trí huệ để mình phá cái nhìn sai về sắc chất về sắc thân về sắc pháp, cảm giác thôi phải dùng bảy trí soi thủng soi thấu cảm giác đó, soi tột cảm giác đó, soi cho nó vỡ cảm giác đó ra rất hay, tưởng các suy nghĩ dùng bảy loài trí huệ để tấn công nó nhìn ra các mặt của nó nên khi sáng Thầy ngồi thiền mới thấy không thể không ngồi thiền, mình không ngồi thiền mình không có rõ pháp, song song với học pháp thảo luận về pháp phải ngồi thiền, nhìn ra ,nhận diện ra sự thức nhận thức sự rõ biết.
Bảy trí đi vào sự suy nghĩ (bảy trí về hành)
Pháp Sơn:
Định nghĩa về hành:
Những tư duy suy nghĩ nói thầm trong tâm gọi là hành trong ngũ uẫn.
Ở đây chỉ cho ý hành. Trong kinh định nghĩ làm cho hiện hành hữu vi gọi và hành, làm cho hiện hành hữu vi gì, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành với hành tánh, làm cho hiện hành thất vế thất tánh.
Ở trong câu kinh này được hiểu như sau.
Tánh ở đây chỉ cho năm uẫn, bản tánh là vô thường là duyên sanh là chịu sự biến đổi.
Hữu vi là gì? hữu là có, vi là thấy nghĩa là các pháp này được chúng ta thấy rõ hiểu rõ về sự tập khởi về sự an trú và hoại diệt nên được gọi là các pháp hữu vi.
Hành sanh do xuất tập khởi nên hành tập khởi, hành diệt do xuất đoạn diệt nên hành đoạn diệt.
Vị ngọt của hành do duyên nơi hành mà lạc hỷ gì khởi lên, lạc hỷ đó gọi là vị ngọt của hành
Sự nguy hiểm của hành. Các hành chịu sự vô thường khổ biến hoại đó gọi là sự nguy hiểm của hành.
Sự xuất ly của hành, sự nhiếp phục dục và tham, sự điều phục dục và tham đối với các hành đó gọi là sự xuất ly các hành và con đường đưa đến sự xuất ly đó là con đường thực hành tám đạo nghành hay còn gọi là bát chánh đạo, phương pháp tám đúng.
Giải thích về sáu hành
Sáu hành đó là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư
Sắc tư là những suy nghĩ về những hình sắc cảnh sắc con người đồ vật
Thanh tư là những suy nghĩ về những âm thanh tiếng ồn
Hương tư là những suy nghĩ về mùi hương thơm thúi
Vị tư là những suy nghĩ về những vị ngọt chua cay đắng chát
Xúc tư là những suy nghĩ suy tư về sự xúc chạm giữa thân với người đồ vật
Pháp tư là những suy nghĩ về những cảm giác, thọ về các tưởng và các hành.
Thầy giảng tiếp:
Bảy trí về sự suy nghĩ về tư duy
Hành uẫn, uẫn là sự tập hợp nhóm hợp, sự tập hợp các suy nghĩ, sự tập hợp những tư duy những suy tư, trong phần quán pháp của Tứ niệm xứ phần quán về năm uẫn, năm uẫn là tự thân tự tâm và bao trùm luôn cả thế giới, phần sắc uẫn là sự nhóm hợp của các sắc chất sắc pháp toàn thể thế giới này là sắc uẫn, cảm giác các tưởng những sự suy nghĩ và nhận thức rõ biết thuộc về phần tâm pháp là tinh thần, sắc pháp là vật chất. Bảy trí này nó bao trùm cả con người sự vật thế giới và muôn triệu thế giới cũng không ra khỏi năm uẫn này, năm nhóm này năm sự tập hợp này năm sự tích tụ này giống như bàn tay của mình năm ngón bao trùm hết tất cả.
Hành tức là sự nhóm hợp các suy nghĩ những tư duy.
Trí đầu tiên mình phải biết những suy nghĩ không phải là mình, trí đó là phải tuệ tri biết rõ biết như thật, chúng nó là chúng nó, nó không phải mình, chữ trí này rất sâu, biết rõ hành là hành tức là những suy nghĩ chỉ là những suy nghĩ chỗ này đức Phật nói bài kinh cho một vị, sau khi nghe bài kinh này không bao lâu chứng A-la-hán, đức Phật nói trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong cái ngửi nếm xúc biết chỉ là cái ngửi nếm xúc biết mà người ta hiểu lầm lấy cái này cho đây là chân tâm hay bản tánh gì đó, không phải.
Chữ trí trong kinh Tạng Nikaya là biết đúng như thật nó không phải là mình, nó không phải là của mình nếu mình nói cho dễ hiểu nó là năm uẫn, nói đơn giản vật chất và tinh thần tâm và sắc, chữ trí này rất quan trọng. Những suy tư suy nghĩ nói thầm nghĩ nói thầm trong tâm, người thành tựu trí biết rằng nó là một pháp, cái này cực kỳ quan trọng nếu không thấy cái này thì chưa thành tựu trí, nó là nó không phải mình, sao mình ngồi thiền mấy thấy bao nhiêu suy nghĩ nó qua, hết nghĩ chuyện này đến chuyện kia hết nghĩ chuyện kia đến chuyện nọ, nghĩ đủ thứ mà nó là nó, thấy rõ trí rõ sáng đây là hành uẫn không phải mình, nhập cuộc vào nó là mình buồn vui với nó mình cười khóc với nó, mình chạy theo nó mình thích thú trong đó là mình bị nó cuốn, mình mất trí.
Nhận biết nó một cách chân thật chân chánh rõ biết như thật.
Những lời nói thầm những suy nghĩ trong tâm, nếu như mình chủ động mình suy nghĩ về thiện pháp suy nghĩ để phát huy những pháp lành những sự nỗ lực tinh tấn cần cầu tu học đó là chánh tư duy, chỗ này mình trạch pháp giác tri phải có con mắt trạch pháp, phải co con mắt trạch pháp nhãn tức là phải nhìn thấy được cái nào là pháp đen cái nào là pháp trắng, cái nào là pháp thiện cái nào là bất thiện, cái nào là bất thiện tẩy trừ nó chấm dứt nó không tiếp tục không cho nó sanh khởi, còn thiện pháp phát huy nó tăng trưởng nó phát triển, tại mình đang trong giai đoạn văn tư tu để thành tựu chánh chư kiến. Phải rõ được thế nào là hành? thế nào là chánh tư duy? thế nào là những tư duy liên hệ đế tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si đó là tà tư duy, liên hệ đến hại, liên hệ đến bản ngã, liên hệ đến sự ganh tỵ tật đố đúng sai hay dở phải quấy v.v... đó là tà tư duy đó là các hành còn những tư duy đưa mình đến chỗ hiểm ly nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt, giải thoát phát khởi những tư duy đó.
Hành sanh là do xuất tập khởi nên hành sanh tập khởi, mình nói đơn giản tại sao lại có sự suy nghĩ do tiếp xúc nên mới có suy nghĩ nên ngày hôm qua mình tiếp xúc với những đứa trẻ không có cha mẹ những em bị tật nguyền khi vào mắt mình tiếp xúc, thọ do nhãn xúc sanh, trước khi mình gặp những cảnh đó cảm thọ mình bình thường mình không khổ không vui nhưng khi gặp rồi cảm giác của mình xúc động, nước mắt mình tuôn trào ra, lúc đó thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, cảm giác đó rất nhanh cảm giác đó sanh do tiếp xúc, do mắt tiếp xúc, tay tiếp xúc thân nó tiếp xúc, thân ý nó tiếp xúc, ý xúc sanh ra thọ tưởng hành, có những cảm giác do tưởng trong suy nghĩ nó liên tưởng hồi tưởng ức tưởng nhớ tới mẹ thương mẹ tưởng liên tưởng hồi tưởng ức tưởng hồi tưởng tượng, đó là pháp vận hành mà mình có sự niệm định tuệ lúc đó là lúc quán pháp trong tứ niệm xứ, mình thấy rõ pháp nào mình nó vận hành sao, mình thấy nó y hệt như một cấu trúc một bộ máy một quy trình rất rõ phải thấy, mình thấy rõ được như vậy là mình có trí, mình không bị lờ mờ trong cái si mê vô minh còn không mình không có thấy pháp, không thấy pháp vận hành đang là, phải có trí để thấy pháp nào ra pháp nào nó vận hành rồi ra tham ái như vậy ra sầu khổ như vậy nó liên tưởng nó hồi tưởng như vậy nó ức tưởng tham hay sân si khởi lên đó mới là đang là. Quán chiếu sự sống trong giây phút hiện tại là chỗ đó. Không như mình hiểu, đi biết đi, đứng biết đứng, ăn biết ăn đó chỉ là bên ngoài phần sắc pháp bên ngoài, phần nhỏ, bên ngoài chỉ là phần vỏ, đó là robot ở ngoài, còn lập trình điều khiển bên trong, bên trong là thọ tưởng hành thức bên trong cho nên mình lại công ty thấy trưng bày như vậy nhân viên làm như vậy nhưng mình không biết chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, không biết trưởng phòng điều hành, mình không thấy được mình phải thấy luôn xuyên suốt cội gốc nguồn gốc chỗ đó mới là trí huệ năm uẫn trí huệ của đức Thế Tôn. Mình không khéo là trong vòng luẫn quẫn mà pháp là uyễn nhưng khi mình khóc mình khổ đau là thật, tưởng ra như vậy cảm giác giống y như thật giống như mình nằm chim bao thấy cảnh mình bị tai nạn bị lọt xuống vực sâu cảm giác hoảng sợ y hệt mình thức. Khi mình thành tựu cái trí giống như người tỉnh hết chin bao biết đó là giấc chim bao, mình đứng ngoài từ từ mình đứng ngoài mình nhìn lại năm uẫn chỗ đó là chỗ thâm sâu, hiện tại mình bị năm uẫn chia phối, mình sống trong năm uẫn mình chìm trong năm uẫn, mình bị một dòng xoáy trong năm uẫn cuốn trong đó và mình nhận năm uẫn là mình. Mình bắt đầu thành tựu trí bắt đầu mình tách mình ra năm uẫn để nhìn lại sự tập khởi các dòng suy nghĩ nên khi mình ngồi thiện là mình tập nhận diện ra, thành tựu trí để thấy được suy nghĩ nó biến động nó lưa chuyển nó sanh diệt đó là vô thường đó là tan hoại cho nên trong kinh Tăng chi bộ đức Phật nói thế nào là chánh niệm tỉnh giác đức Phật nói rất rõ
Chánh niệm là đi biết đi đứng biết đứng nằm biết nằm làm gì biết nấy
Tỉnh giác là cảm giác sanh khởi, cảm giác biến đổi, cảm giác chấm dứt biết rõ, biết rõ tưởng sanh khởi lên như thế nào, tưởng biến đổi như thế nào biết rõ tưởng chấm dứt như thế nào biết rõ.
Tỉnh giác là suy nghĩ sanh khởi ra như thế nào, suy nghĩ biến đổi như thế nào, suy nghĩ chấm dứt như thế nào, biết rõ đó là tỉnh giác. Thấy rõ được thức sanh khởi như thế nào, thức sanh khởi ra làm sao, thức chấm dứt như thế nào biết rõ thấy rõ đó gọi là Tỳ-kheo tỉnh giác, đó còn gọi là trí tế nhị trong Tăng chi bộ kinh.
Bài kinh trí tế nhị, trí này rất tế nhị rất nhỏ nhiệm rất sâu sắc, rất thâm thúy rất tinh vi gọi là trí tế nhị, thành tựu được trí đó là trí tế nhị, trí nhỏ nhiệm trí sâu sắc trí tinh vi tinh tường, tinh tường thân tâm của chính mình đó là tối thượng thừa
Do có sự tiếp xúc nên mới có những sự suy tư, suy nghĩ.
Xúc tập khởi nên hành tập khởi, xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt. Mình không có tiếp xúc thì không có suy nghĩ, tại sao mình thường hay nghĩ về người đó tại vì mình hay tiếp xúc với người đó, tại sao mình hay nghĩ đến món đồ đó, ví dụ mình nấu bếp khi mình ngồi thiền mình nhớ món này món kia, ngày mai mình phải đi chợ nấu món g,ì tại vì mình hay phải tiếp xúc với món đó thì mình sẽ nghĩ về món đó, ví dụ mình không có làm phi công mình không thể nghĩ lên máy bay bấm như thế nào mình không biết nên mình không thể nghĩ, những cái mình chưa từng làm chưa từng tiếp xúc nên mình không thể nghĩ
Xúc tập khởi nên hành tập khởi
Do tiếp xúc nên mới có phát sanh ra sự suy nghĩ cũng như ngày xưa Thầy ở quê quanh xóm có cô bác mình ở dưới đó nên mình suy nghĩ, giờ mình đi tu mình không còn tiếp xúc mấy chỗ đó nên nói lại mình không còn nhớ quên hết vì quá lâu, mình không tiếp xúc từ từ mình sẽ không còn suy nghĩ nên có tiếp xúc mới có suy nghĩ đó là nhân là duyên điều kiện của nó, giờ muốn không suy nghĩ với điều đó đừng tiếp xúc, đừng tiếp xúc chỉ một phần mình phải có hành diệt đạo mình có sự xuất ly của các hành, không có hành diệt đạo là con đường chấm dứt hay sự thoát ra mình cũng khó vì tham ái không gỡ ra được. Ở đây nói không tiếp xúc là mình không có tạo điều kiện cho trợ duyên nó tăng trưởng, mình tiếp xúc sẽ giống như mình để củi thêm vào bếp cho nó cháy mình lấy củi từ từ cho nó tắt còn than từ từ lạnh tro tàn không còn nóng bỏng.
Xúc tập khởi là hành tập khởi, thọ tập khởi, tưởng tập khởi.
Tiếp xúc là có cảm giác có tưởng có suy nghĩ, muốn cho đừng mình dừng tiếp xúc.
Hành diệt do xúc diệt do sự suy nghĩ
Hành diệt đạo là do tám đúng bát chánh đạo, con đường chấm dứt những suy nghĩ phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng định đúng. Đầu tiên phải thấy đúng tức là sự suy nghĩ chỉ là sự suy nghĩ, những sự cảm giác là những sự cảm giác, các tưởng chỉ là các tưởng, sự rõ biết chỉ là sự rõ biết, không có tôi không có ta trong đó, không có của tôi trong đó, không cái gì là của mình, sắc chất chỉ là sắc chất, không có tôi không có ta, mình, nị, ngộ trong đây, chỗ này là chỗ tuyệt vời thành tựu trí huệ tối thượng thừa, đây mới thật sự hạnh phúc cứu cánh.
Có một bài kinh đức Phật nói bát chánh đạo là tối thượng thừa đưa đến Niết bàn, nên ngoài đây không có Xa-môn, ngoài bát chánh đạo không có đệ nhất đệ tam đệ tứ thánh quả mình bám chặt vào bát chánh đạo, bát chánh đạo bao trùm hết những gì đức Phật dạy, mình thấy đúng mình thành tựu chánh chư kiến để mình thấy năm uẫn là năm uẫn, năm uẫn chỉ là năm uẫn
Bài kinh trong Tương ưng bộ đức Phật
Này các Tỳ-kheo cái gì không phải là ông là của ông các ông hãy từ bỏ chúng đi, từ bỏ chúng sẽ được an lạc, cái gì không phải của ông? Sắc không phải của ông, thọ cảm giác không phải là ông không phải là của ông, các tưởng không phải là ông không phải của ông, những suy nghĩ không phải là ông không phải là của ông, nhận thức không phải là ông không phải của ông, hãy từ bỏ chúng, từ bỏ chúng đưa đến an lạc đưa đến giải thoát
Mình học cái đó để mình tưới tẩm tô luyện dung bồi mình đắp chánh kiến nền tảng cho vững chắc, khi chánh kiến chó tự động chánh tư duy chánh ngữ chánh nghiệp đi theo tự động các pháp kia vận hành, tự động nó có sức đẩy có động lực, thành tựu chánh chi kiến trước. Muốn thành tựu chánh chi kiến phải thân cận bậc thiện tri thức bậc chân nhân, kế đó phải nghe lời dạy sau đó ghi nhớ phải tư duy nghiền ngẫm kế tới thực tập nỗ lực tinh tấn mình thành tựu đó là những nhân duyên thành tựu chánh chư kiến, nó có thức ăn có điều kiện có nhân có duyên chứ không tự nhiên được thành tựu chánh chi kiến. Khi có chánh chi kiến tư duy suy xét của mình nó đi theo cái thấy đúng cái nghĩ đúng.
Vị ngọt của các hành? Vị ngọt của những suy nghĩ.
Pháp Minh:
Theo con thấy vị ngọt của sự suy nghĩ tư duy, vị ngọt của hành, ví dụ khi suy nghĩ của mình khởi lên như suy nghĩ về một món đồ mình thích, trong những suy nghĩ đó nó có sự tham ái trong đó, nó có sự tham muốn sở hữu và tại sao mình có sự tham muốn sở hữu? tại vì mình có tâm tham khi món đồ đó thực sự về hình thức vật chất màu sắc công dụng và mình suy nghĩ đến được sử dụng thì có sự khởi lên một cái hỷ tham đến vị ngọt, mình đắm đuối mình say mê trong suy nghĩ tuy không có thật nhưng nó sẽ dẫn dắt mình đi, mình sẽ đắm chìm trong suy nghĩ suy tưởng về nó, ví dụ khi mình suy nghĩ đến đối tượng tham ai ví dụ như một cô gái khi một hình bóng của một cô gái đi qua, đi qua rồi nhưng do hình ảnh lưu lại trong tâm, suy nghĩ hình bóng đó, mình có sự khả ái sự yêu thích và bắt đầu mình nhìn thấy khuôn mặt ra làm sao, dáng vẻ ra làm sao, suy nghĩ của mình bắt đầu miên man và mình suy nghĩ, suy nghĩ đầu tiên nhất cái phần nào mình cảm thấy mình thích nhất trên hình bóng đó nó sẽ hiện đầu tiên, mình biết là tham ái của mình vị ngọt của mình, sở thích của mình cái đó mạnh nhất và dần dần nó lan ra trong suy nghĩ của mình và mình tưởng hình thành cái thọ tưởng hành thức nó vận hành, trong đó vị ngọt nó lan ra toàn thân trong cảm xúc cảm thọ của mình, khi mình có những suy nghĩ đối tượng mình yêu thích. Đối với những đối tượng mình không thích nó lại đối ngược với sự yêu thích, mình sinh ra cảm giác khổ sở chán ghét ruồng rẩy hay sân hận hay cảm giác không khả ái muốn từ bỏ đây là cảm giác sân, đối với sắc pháp hay đối với thân của người khác là đồ vật tứ đại, cũng vậy khi mình thấy không yêu thích không muốn sinh ra cảm giác sân hận muốn đẩy đi, ghét bỏ đối tượng đó nhưng đúng lúc đó mình phải có chánh tư duy và có như lý tác ý nó sẽ tác động đến suy nghĩ của mình đến hành của mình, mình thoát ra khỏi vị ngọt và cảm thọ tham hay cảm thọ sân hay cảm thọ lạc hỷ trong đó.
Phương pháp sự xuất ly của hành là sự đoạn tận dục và tham sự nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với hành đó là sự xuất ly của hành.
Sự nguy hại của hành là sự khổ chịu sự biến hoại của hành đó là sự nguy hại của hành, vì sự vô thường này mình phải quán chiếu rằng cái hành này suy nghĩ tư duy này mình xem lại nguyên nhân của nó ở đâu, nguyên nhân có sự tiếp xúc và sự vận hành nó làm sao, do sự tiếp xúc này sinh ra cảm thọ, mình xem đó là cảm thọ gì? lạc hay khổ hay không lạc không khổ, mình xem sự vận hành của nó và mình quán chiếu rằng thọ này do sự tiếp xúc chỉ là vô thường, mình quán chiếu nhìn xem sự vận hành nó như thế nào và sự chấm dứt của nó ra làm sao, khi mình quán chiếu nhìn như vậy thực hành khi có hành khởi lên, mình vẫn nhìn vẫn quán chiếu vẫn xem xét và đến mức độ mình thấy được sự vô thường và sự vô thường này, sự vận hành của các hành này tâm trạng của mình biến đổi như thế nào, tham-sân-si, vô minh, tâm của mình biến đổi liên tục mình lúc thì đang vui khi mình có đối tượng tham ái là mình khổ, ngay đối tượng sân là mình khổ, chính vì đó là cái khổ hành nó diễn ra trong thân tâm của mình, mình thấy rõ rằng đó là khổ vì khi mình đang bình thường mình đang có tâm trạng tốt khi gặp đối tượng mình thích hay nghe một câu gì đó không đúng ý của mình bắt đầu hành sinh khởi, lúc đó cảm xúc mình thay đổi rõ ràng hành đưa đến khổ não.
Chịu sự biến hoại khi thân mình đang như thế này, hành khởi lên biến hoại trong cả thân của mình, đất nước gió lửa vận hành, tại sao? tại vì khi thân hành, khẩu hành và ý hành khi ý hành khởi lên bắt đầu thân hành khẩu hành vận hành, lúc đó cái sắc caisn hành động ví dụ khi mình nghe phải câu trái ý, bắt đầu ý hành của mình khởi lên suy nghĩ là tại sao người ta lại nói như vậy, mình không như vậy nhưng tại sao lại nói như vậy, mình có ý nghĩ đó là hành và sự đối kháng với đối tượng, bắt đầu mình không có sự tu tập miệng mình sẽ phát ra sẽ chống cự lại những lời nói đó, đất nước gió lửa ở đây là sao? bắt đuầ tứ đại ở trong cơ thể mình miệng mình bắt đầu nói có sự chuyển động của gió của nước là máu trong cơ thể mình vận hành, mình cảm giác được sự vận hành của hơi thở, của máu huyết trong tâm khác hơn bình thường, nhiệt độ cơ thể nóng lên có thể ở ngực ở mặt ở đầu ở tai tay chân, có cái gì bứt rứt không yên nên khi đối như vậy bắt đầu cảm xúc dâng lên, cảm thọ lúc này mãnh liệt, mình cảm nhận được cái đó, đó là sự biến hoại. Mình quán chiếu sự biến hoại sự thay đổi của nó, tại sao lại có sự biến hoại này? chính là do hành suy nghĩ nên biến hoại biến đôi trong thân tâm của mình, từ thân đến tâm đều có sự biến hoại thay đổi.
+. Chim nghiệm trong sân giận ái dục có yêu thích sân trong đó hay không?
Pháp Sơn:
Vị ngọt theo chiều hướng của tham dục khi Thầy hỏi câu hỏi này con có tư duy, con cảm thấy pháp hiện lên rất rõ, khi mình khởi lên một cái suy tư tư duy những hạt giống của nóng giận, mình biết cái đó là sự nguy hại nhưng tại sao mình khởi lên một tư duy liên hệ tới lòng sận hân đó, trong sự sân hận đó có vị ngọt vì khi mình tư duy mình suy nghĩ một đối tượng nào đó mà sự sân hận của mình tăng trưởng mình không thoát ra được có nghĩa mình thỏa mãn trong sự suy nghĩ đó, thỏa mãn rằng là những tư duy như vậy như vậy, đối xử với mình như vậy, nói năng như vậy, bản ngã của mình được thỏa mãn, bản ngã của mình được thỏa mãn tham ái trong suy nghĩ đó, tham ái với tự ngã này chính bản ngã được thõa mãn, cảm giác được cái gì đó vuốt ve cho tự ngã này, sự vuốt ve tự ngã này là vị ngọt của lòng sân hận.
Như vậy đối với sự sân hận khởi lên cũng có vị ngọt vì có liên hệ đến tham ái tự thân của mình, khi nào mình thấy được sự nguy hại của lòng sân hận vì mình thấy được nếu như mình nhìn nhận bằng bảy trí về các tư duy suy nghĩ này, mình mới thấy được sự nguy hại của nó chính là đưa đến lợi ích gì, con nói rất thực tế, khi mình sân hận lên mình đang bị thiêu đốt bởi sự sân đó, thân tâm mình bị thiêu đốt rất khổ não, mình chim nghiệm sân sinh khởi cũng là pháp duyên sanh có thể là thọ này sanh khởi, tho do nhãn xúc sanh hay thọ do nhĩ xúc sanh, chính do sự tiếp xúc này nó dẫn đên những cảm giác khó chịu, những thanh tưởng có nghĩa là mình suy nghĩ những âm thanh đó, những tư duy của mình cứ nhai tới nhai lui những âm thanh đó nên nung nấu cảm thọ sân hận lên, khi nung nấu cảm thọ lên mình cảm thấy được thõa mãn cái đó, chính như vậy mình bị suy tư các thọ nhấn chìm mình, mình không dùng trí đây là những suy nghĩ đây là những cảm xúc nhất thời, mình không quán chiếu được nghiệp đưa đến trong sự suy nghĩ mà hướng đến sự sân hận này nó đưa đến tai hại nó làm cho mình hông tương xứng với thánh hạnh, đức Phật dạy trong kinh cho dù một người đó tên trộm cướp họ dùng cái cưa để cưa chặt tay chân của các ông, các ông cũng phải thực hành cái hạnh an ...(phút 1:17:00 không nghe rõ), mình phải tư duy để mình vượt thoát ra khỏi lòng sân hận, trước mình thấy được sự nguy hại bị thiêu đốt, quán chiếu về nghiệp, quán chiếu cái này đưa đến quả xấu và nó sẽ đưa đến nếu như mình nuôi dưỡng những tư duy này nó dẫn đến thân hành và khẩu hành những cái lời nói của mình được phát ra từ nơi của ý hành, sự sân hận của mình chắc chắn người nghe những chuyện khổ đau, giống như mình đã từng bị khổ đau giống như người đó đau đưa đến sự tình nghĩa đạo nghĩa và bổn phận thứ tự trước sau bị đảo lộn không có sự tôn kính, không có sự kính trọng với người đó khi phát ra lời nói về sân hận, mình quán chiếu sự nguy hại đó mình mới bắt đầu hướng tới xuất ly nhưng mình phải điều phục dục và tham trong đó, để sân có dục dục trong đó, nó muốn suy nghĩ về điều đó chính cái sân này nuôi dưỡng đến hướng đến tư duy hại, hiện tại từ bỏ đi cái muốn suy nghĩ hướng đến sân hận đó là hình bóng của tư duy về hại, mình có được tính tư duy chánh kiến biết được suy nghĩ là suy nghĩ, cảm giác là cảm giác đó là mình biết được chánh chư kiến, mình như lý tác ý quán chiếu về nghiệp, là mình thực hành con đường đưa đến những suy tư thực hành theo con đường bát chánh đạo, chánh kiến, chánh tư duy, mình phải có chánh kiến chánh tinh tấn phải có nỗ lực sự đoạn trừ những tư duy mà liên hệ đến lòng sân hận, mình an trú trong đề mục mình tu tập, trong sự quán chiếu về thân hành niệm, quán chiếu thân này chỉ là bộ xương chỉ là đống thịt hôi thối là pháp vô thường là tứ đại là sự trống không, mình quán như vậy mình sẽ có được định, thành tựu được chánh định là mình sẽ giữ được sự thân tâm bình ổn, mình đào bới được gốc rể của cơn sân đó con chim nghiệm vị ngọt tư duy sân hận về sự nguy hại về sự xuất ly và con đường đưa đến sự chấm dứt những tư duy liên hệ đến sân hận và hại.
+.
Sân hận có tham ái vì sân hận cũng là một thọ nhưng một khổ thọ, ví dụ do một người nói xúc não tai do ta có tai có âm thanh của người nói xúc não tai nên nhĩ thức sanh, sự hội tụ của tai, âm thanh và nhĩ thức sanh khởi ra nhĩ xúc lúc đó thọ do nhĩ xúc sanh, từ đây cái tôi của ta hiện khởi lên, quyền lợi của ta hiện khởi lên, người ta lại nói xấu mình, quyền lợi của mình bị đặt vào đó, thấy mất đi một cái gì đó, từ đó mình sân hận lên mình la mắng hoặc nói nặng người ta đó là sân hận trong đó có tham ái.
Thầy giảng tiếp:
Vị ngọt của các hành, sự nguy hại của hành, sự xuất ly của các hành.
Sự nguy hại sự vướt thoát của các suy nghĩ.
Trong cái mình suy nghĩ có cái ưa thích cái vui trong đó, tham ái trong sự suy nghĩ trong đó.
Tại sao mình yêu thích trong đó?
Trong bài kinh đức Phật dạy bốn sự tinh cần
Tinh cần thứ nhất là sự tinh cần chế ngự
Khi mắt thấy sắc không phân biệt tướng chung không phân biệt tướng riêng, những gì làm cho sanh khởi lên cái lạc cái hỷ gì mình phải chế ngự cho nên hộ trì căn, chế ngự các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, sự tu tập căn, bài kinh căn tu tập có một ông ngoại đạo ông đến nói với đức Phật sự tu tập các căn, đức Phật mới nói Thầy ông dạy các căn như thế nào? ông mới trả lời Thầy của tôi dạy con mắt không nên thấy sắc không nên nhìn sắc, lỗ tai không nghe mấy tiếng, mũi lưỡi thân cũng vậy, đức Phật mới nói người mù đang tu tập về căn, người điếc đang tu tập về căn, trong giáo pháp của bậc thánh có pháp môn vô thượng căn tu tập, đức Phật nói khi mắt tiếp xúc với sắc trong tâm mình có khởi lên vừa ý hay không vừa ý, hay vừa vừa ý hay không vừa vừa ý, vừa ý hoặc không vừa ý hoặc không vừa ý hay không không vừa ý vừa khởi lên, người tu tập liền buông xả lập tức liền nhanh giống như giọt sướng rơi xuống lá sen hoặc cái nồi cái chảo bắt trên lò lửa nóng bị rơi xuống hai ba giọt nước xèo xèo rồi tan liền, vật rơi xuống lâu nhưng vừa chạm xuống là tan liền, vị thánh đệ tử trú trong cái xả, tu tập cái xả trong các cảm thọ nó nhanh giống như vậy nên chỗ mình thấy vị ngọt của các suy nghĩ này mình phải có tu tập, mình không khéo bị mấy vị ngọt của các suy nghĩ này làm cho mình đắm đuối say mê và mình đang sống trong ảo tưởng của những suy nghĩ, ngồi lại mình nghĩ chuyện này chuyện kia chuyện nọ, mình thích thú mình vui mình buồn trong đó mình giận trong đó tất cả trong đó là mình bị đắm trong vị ngọt, ngay cả sân hận trong đó cũng có vị ngọt đó là xuất phát từ ái dục từ tham ái nên mới có sân, nhưng mình ái không được nên sân nên ái dục gồm tham, sân, si. Mình thấy rõ vị ngọt của nó và thấy rõ sự nguy hại của các suy nghĩ này, các suy nghĩ này là vô thường là khổ là sự biến hoại, các suy nghĩ này không phải như vậy hoài nó biến đổi nó sẽ hoại diệt nên mình đắm đuối mình ưa thích trong cái này là mình ưa thích sự khổ, ưa thích sự hoại diệt.
Làm sao mình ra khỏi sự suy nghĩ đó là mình nhiếp phục dục và và tham sự đoạn dục và tham đối với các suy nghĩ đó, chấm dứt ưa muốn yêu thích ở trong các suy nghĩ đó, chấm dứt nó không suy nghĩ đó nữa, không ưa thích những suy nghĩ đó, không có tiếp nối không chấp chứa nó, không dung túng nó nữa, mình nhiếp phục được nó sự tham muốn suy nghĩ đó chấm dứt đoạn tận, như vậy mình ra khỏi các sự suy nghĩ.
Chính suy nghĩ này làm cho mình biết bao nhiêu đau khổ dẫn mình đi nhận mình chìm lôi mình vào trong vũng lầy của tham muốn của sân hận của si mê, mình phải thấy rõ các pháp trong thân trong tâm mình là một vấn đề rất quan trọng và rất lớn lao không đơn giản. Để thấy rõ cái này phải thiền định phải độc cư phải có những giây phút tĩnh lặng để nhìn kỹ lại nó, ở riêng một mình để nhìn lại rất thâm sâu.
(Văn bản. Diệu Quang)
Đầu tiên mình nói về bảy trí về sắc chất, bảy trí về cảm giác, bảy trí về các tưởng, bảy trí về sự suy nghĩ, bảy trí về nhận thức (Mình lào thông bảy trí này)
Đi vào trong trại trẻ mồ côi những người tàn tật những em bé bị cha mẹ bỏ hoặc mồ côi, xúc động mạnh, cảm giác mạnh khóc sướt mướt ngay lúc đó Thầy kêu trả bày về bảy trí của thọ, chú trả bài trí sáng lên thọ lắng dịu xuống nên khi trong sự thực tế đời sống mình áp dụng một cái mình thấy cực sáng cực tỏa cực rõ chỉ còn mình thực hành hay không thực hành hay không. Rõ ràng có đường lối rất rõ. Thầy chim nghiệm ngày xưa mình ngồi thiền cái gì vọng khởi hay không khởi không dính dáng đụng đậy, bây giờ mình dùng một uẫn đánh bảy trí, năm uẫn đánh ba lăm trí không thể không thắng trận. Ngày xưa vọng tưởng biết vọng tưởng, không vọng tưởng biết không vọng, bây giờ mỗi một uẫn mình dùng bảy trí năm uẫn dùng ba lăm trí đồng thời tấn công vào nó, nó không chịu nổi giống như lông của bàn chải đánh răng có rất nhiều cọng, một cọng không sạch được cái răng nhưng bàn chải hàng trăm cọng chà mới sạch một răng, bây giờ mình dùng ba mươi lắm trí đánh vào năm uẫn, mỗi một uẫn ví như sắc chất mình thành tựu bảy trí huệ để mình phá cái nhìn sai về sắc chất về sắc thân về sắc pháp, cảm giác thôi phải dùng bảy trí soi thủng soi thấu cảm giác đó, soi tột cảm giác đó, soi cho nó vỡ cảm giác đó ra rất hay, tưởng các suy nghĩ dùng bảy loài trí huệ để tấn công nó nhìn ra các mặt của nó nên khi sáng Thầy ngồi thiền mới thấy không thể không ngồi thiền, mình không ngồi thiền mình không có rõ pháp, song song với học pháp thảo luận về pháp phải ngồi thiền, nhìn ra ,nhận diện ra sự thức nhận thức sự rõ biết.
Bảy trí đi vào sự suy nghĩ (bảy trí về hành)
Pháp Sơn:
Định nghĩa về hành:
Những tư duy suy nghĩ nói thầm trong tâm gọi là hành trong ngũ uẫn.
Ở đây chỉ cho ý hành. Trong kinh định nghĩ làm cho hiện hành hữu vi gọi và hành, làm cho hiện hành hữu vi gì, làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành với hành tánh, làm cho hiện hành thất vế thất tánh.
Ở trong câu kinh này được hiểu như sau.
Tánh ở đây chỉ cho năm uẫn, bản tánh là vô thường là duyên sanh là chịu sự biến đổi.
Hữu vi là gì? hữu là có, vi là thấy nghĩa là các pháp này được chúng ta thấy rõ hiểu rõ về sự tập khởi về sự an trú và hoại diệt nên được gọi là các pháp hữu vi.
Hành sanh do xuất tập khởi nên hành tập khởi, hành diệt do xuất đoạn diệt nên hành đoạn diệt.
Vị ngọt của hành do duyên nơi hành mà lạc hỷ gì khởi lên, lạc hỷ đó gọi là vị ngọt của hành
Sự nguy hiểm của hành. Các hành chịu sự vô thường khổ biến hoại đó gọi là sự nguy hiểm của hành.
Sự xuất ly của hành, sự nhiếp phục dục và tham, sự điều phục dục và tham đối với các hành đó gọi là sự xuất ly các hành và con đường đưa đến sự xuất ly đó là con đường thực hành tám đạo nghành hay còn gọi là bát chánh đạo, phương pháp tám đúng.
Giải thích về sáu hành
Sáu hành đó là sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư
Sắc tư là những suy nghĩ về những hình sắc cảnh sắc con người đồ vật
Thanh tư là những suy nghĩ về những âm thanh tiếng ồn
Hương tư là những suy nghĩ về mùi hương thơm thúi
Vị tư là những suy nghĩ về những vị ngọt chua cay đắng chát
Xúc tư là những suy nghĩ suy tư về sự xúc chạm giữa thân với người đồ vật
Pháp tư là những suy nghĩ về những cảm giác, thọ về các tưởng và các hành.
Thầy giảng tiếp:
Bảy trí về sự suy nghĩ về tư duy
Hành uẫn, uẫn là sự tập hợp nhóm hợp, sự tập hợp các suy nghĩ, sự tập hợp những tư duy những suy tư, trong phần quán pháp của Tứ niệm xứ phần quán về năm uẫn, năm uẫn là tự thân tự tâm và bao trùm luôn cả thế giới, phần sắc uẫn là sự nhóm hợp của các sắc chất sắc pháp toàn thể thế giới này là sắc uẫn, cảm giác các tưởng những sự suy nghĩ và nhận thức rõ biết thuộc về phần tâm pháp là tinh thần, sắc pháp là vật chất. Bảy trí này nó bao trùm cả con người sự vật thế giới và muôn triệu thế giới cũng không ra khỏi năm uẫn này, năm nhóm này năm sự tập hợp này năm sự tích tụ này giống như bàn tay của mình năm ngón bao trùm hết tất cả.
Hành tức là sự nhóm hợp các suy nghĩ những tư duy.
Trí đầu tiên mình phải biết những suy nghĩ không phải là mình, trí đó là phải tuệ tri biết rõ biết như thật, chúng nó là chúng nó, nó không phải mình, chữ trí này rất sâu, biết rõ hành là hành tức là những suy nghĩ chỉ là những suy nghĩ chỗ này đức Phật nói bài kinh cho một vị, sau khi nghe bài kinh này không bao lâu chứng A-la-hán, đức Phật nói trong cái thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là cái nghe, trong cái ngửi nếm xúc biết chỉ là cái ngửi nếm xúc biết mà người ta hiểu lầm lấy cái này cho đây là chân tâm hay bản tánh gì đó, không phải.
Chữ trí trong kinh Tạng Nikaya là biết đúng như thật nó không phải là mình, nó không phải là của mình nếu mình nói cho dễ hiểu nó là năm uẫn, nói đơn giản vật chất và tinh thần tâm và sắc, chữ trí này rất quan trọng. Những suy tư suy nghĩ nói thầm nghĩ nói thầm trong tâm, người thành tựu trí biết rằng nó là một pháp, cái này cực kỳ quan trọng nếu không thấy cái này thì chưa thành tựu trí, nó là nó không phải mình, sao mình ngồi thiền mấy thấy bao nhiêu suy nghĩ nó qua, hết nghĩ chuyện này đến chuyện kia hết nghĩ chuyện kia đến chuyện nọ, nghĩ đủ thứ mà nó là nó, thấy rõ trí rõ sáng đây là hành uẫn không phải mình, nhập cuộc vào nó là mình buồn vui với nó mình cười khóc với nó, mình chạy theo nó mình thích thú trong đó là mình bị nó cuốn, mình mất trí.
Nhận biết nó một cách chân thật chân chánh rõ biết như thật.
Những lời nói thầm những suy nghĩ trong tâm, nếu như mình chủ động mình suy nghĩ về thiện pháp suy nghĩ để phát huy những pháp lành những sự nỗ lực tinh tấn cần cầu tu học đó là chánh tư duy, chỗ này mình trạch pháp giác tri phải có con mắt trạch pháp, phải co con mắt trạch pháp nhãn tức là phải nhìn thấy được cái nào là pháp đen cái nào là pháp trắng, cái nào là pháp thiện cái nào là bất thiện, cái nào là bất thiện tẩy trừ nó chấm dứt nó không tiếp tục không cho nó sanh khởi, còn thiện pháp phát huy nó tăng trưởng nó phát triển, tại mình đang trong giai đoạn văn tư tu để thành tựu chánh chư kiến. Phải rõ được thế nào là hành? thế nào là chánh tư duy? thế nào là những tư duy liên hệ đế tham, liên hệ đến sân, liên hệ đến si đó là tà tư duy, liên hệ đến hại, liên hệ đến bản ngã, liên hệ đến sự ganh tỵ tật đố đúng sai hay dở phải quấy v.v... đó là tà tư duy đó là các hành còn những tư duy đưa mình đến chỗ hiểm ly nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, chấm dứt, giải thoát phát khởi những tư duy đó.
Hành sanh là do xuất tập khởi nên hành sanh tập khởi, mình nói đơn giản tại sao lại có sự suy nghĩ do tiếp xúc nên mới có suy nghĩ nên ngày hôm qua mình tiếp xúc với những đứa trẻ không có cha mẹ những em bị tật nguyền khi vào mắt mình tiếp xúc, thọ do nhãn xúc sanh, trước khi mình gặp những cảnh đó cảm thọ mình bình thường mình không khổ không vui nhưng khi gặp rồi cảm giác của mình xúc động, nước mắt mình tuôn trào ra, lúc đó thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, cảm giác đó rất nhanh cảm giác đó sanh do tiếp xúc, do mắt tiếp xúc, tay tiếp xúc thân nó tiếp xúc, thân ý nó tiếp xúc, ý xúc sanh ra thọ tưởng hành, có những cảm giác do tưởng trong suy nghĩ nó liên tưởng hồi tưởng ức tưởng nhớ tới mẹ thương mẹ tưởng liên tưởng hồi tưởng ức tưởng hồi tưởng tượng, đó là pháp vận hành mà mình có sự niệm định tuệ lúc đó là lúc quán pháp trong tứ niệm xứ, mình thấy rõ pháp nào mình nó vận hành sao, mình thấy nó y hệt như một cấu trúc một bộ máy một quy trình rất rõ phải thấy, mình thấy rõ được như vậy là mình có trí, mình không bị lờ mờ trong cái si mê vô minh còn không mình không có thấy pháp, không thấy pháp vận hành đang là, phải có trí để thấy pháp nào ra pháp nào nó vận hành rồi ra tham ái như vậy ra sầu khổ như vậy nó liên tưởng nó hồi tưởng như vậy nó ức tưởng tham hay sân si khởi lên đó mới là đang là. Quán chiếu sự sống trong giây phút hiện tại là chỗ đó. Không như mình hiểu, đi biết đi, đứng biết đứng, ăn biết ăn đó chỉ là bên ngoài phần sắc pháp bên ngoài, phần nhỏ, bên ngoài chỉ là phần vỏ, đó là robot ở ngoài, còn lập trình điều khiển bên trong, bên trong là thọ tưởng hành thức bên trong cho nên mình lại công ty thấy trưng bày như vậy nhân viên làm như vậy nhưng mình không biết chủ tịch hội đồng quản trị, tổng giám đốc, không biết trưởng phòng điều hành, mình không thấy được mình phải thấy luôn xuyên suốt cội gốc nguồn gốc chỗ đó mới là trí huệ năm uẫn trí huệ của đức Thế Tôn. Mình không khéo là trong vòng luẫn quẫn mà pháp là uyễn nhưng khi mình khóc mình khổ đau là thật, tưởng ra như vậy cảm giác giống y như thật giống như mình nằm chim bao thấy cảnh mình bị tai nạn bị lọt xuống vực sâu cảm giác hoảng sợ y hệt mình thức. Khi mình thành tựu cái trí giống như người tỉnh hết chin bao biết đó là giấc chim bao, mình đứng ngoài từ từ mình đứng ngoài mình nhìn lại năm uẫn chỗ đó là chỗ thâm sâu, hiện tại mình bị năm uẫn chia phối, mình sống trong năm uẫn mình chìm trong năm uẫn, mình bị một dòng xoáy trong năm uẫn cuốn trong đó và mình nhận năm uẫn là mình. Mình bắt đầu thành tựu trí bắt đầu mình tách mình ra năm uẫn để nhìn lại sự tập khởi các dòng suy nghĩ nên khi mình ngồi thiện là mình tập nhận diện ra, thành tựu trí để thấy được suy nghĩ nó biến động nó lưa chuyển nó sanh diệt đó là vô thường đó là tan hoại cho nên trong kinh Tăng chi bộ đức Phật nói thế nào là chánh niệm tỉnh giác đức Phật nói rất rõ
Chánh niệm là đi biết đi đứng biết đứng nằm biết nằm làm gì biết nấy
Tỉnh giác là cảm giác sanh khởi, cảm giác biến đổi, cảm giác chấm dứt biết rõ, biết rõ tưởng sanh khởi lên như thế nào, tưởng biến đổi như thế nào biết rõ tưởng chấm dứt như thế nào biết rõ.
Tỉnh giác là suy nghĩ sanh khởi ra như thế nào, suy nghĩ biến đổi như thế nào, suy nghĩ chấm dứt như thế nào, biết rõ đó là tỉnh giác. Thấy rõ được thức sanh khởi như thế nào, thức sanh khởi ra làm sao, thức chấm dứt như thế nào biết rõ thấy rõ đó gọi là Tỳ-kheo tỉnh giác, đó còn gọi là trí tế nhị trong Tăng chi bộ kinh.
Bài kinh trí tế nhị, trí này rất tế nhị rất nhỏ nhiệm rất sâu sắc, rất thâm thúy rất tinh vi gọi là trí tế nhị, thành tựu được trí đó là trí tế nhị, trí nhỏ nhiệm trí sâu sắc trí tinh vi tinh tường, tinh tường thân tâm của chính mình đó là tối thượng thừa
Do có sự tiếp xúc nên mới có những sự suy tư, suy nghĩ.
Xúc tập khởi nên hành tập khởi, xúc đoạn diệt nên hành đoạn diệt. Mình không có tiếp xúc thì không có suy nghĩ, tại sao mình thường hay nghĩ về người đó tại vì mình hay tiếp xúc với người đó, tại sao mình hay nghĩ đến món đồ đó, ví dụ mình nấu bếp khi mình ngồi thiền mình nhớ món này món kia, ngày mai mình phải đi chợ nấu món g,ì tại vì mình hay phải tiếp xúc với món đó thì mình sẽ nghĩ về món đó, ví dụ mình không có làm phi công mình không thể nghĩ lên máy bay bấm như thế nào mình không biết nên mình không thể nghĩ, những cái mình chưa từng làm chưa từng tiếp xúc nên mình không thể nghĩ
Xúc tập khởi nên hành tập khởi
Do tiếp xúc nên mới có phát sanh ra sự suy nghĩ cũng như ngày xưa Thầy ở quê quanh xóm có cô bác mình ở dưới đó nên mình suy nghĩ, giờ mình đi tu mình không còn tiếp xúc mấy chỗ đó nên nói lại mình không còn nhớ quên hết vì quá lâu, mình không tiếp xúc từ từ mình sẽ không còn suy nghĩ nên có tiếp xúc mới có suy nghĩ đó là nhân là duyên điều kiện của nó, giờ muốn không suy nghĩ với điều đó đừng tiếp xúc, đừng tiếp xúc chỉ một phần mình phải có hành diệt đạo mình có sự xuất ly của các hành, không có hành diệt đạo là con đường chấm dứt hay sự thoát ra mình cũng khó vì tham ái không gỡ ra được. Ở đây nói không tiếp xúc là mình không có tạo điều kiện cho trợ duyên nó tăng trưởng, mình tiếp xúc sẽ giống như mình để củi thêm vào bếp cho nó cháy mình lấy củi từ từ cho nó tắt còn than từ từ lạnh tro tàn không còn nóng bỏng.
Xúc tập khởi là hành tập khởi, thọ tập khởi, tưởng tập khởi.
Tiếp xúc là có cảm giác có tưởng có suy nghĩ, muốn cho đừng mình dừng tiếp xúc.
Hành diệt do xúc diệt do sự suy nghĩ
Hành diệt đạo là do tám đúng bát chánh đạo, con đường chấm dứt những suy nghĩ phải thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng định đúng. Đầu tiên phải thấy đúng tức là sự suy nghĩ chỉ là sự suy nghĩ, những sự cảm giác là những sự cảm giác, các tưởng chỉ là các tưởng, sự rõ biết chỉ là sự rõ biết, không có tôi không có ta trong đó, không có của tôi trong đó, không cái gì là của mình, sắc chất chỉ là sắc chất, không có tôi không có ta, mình, nị, ngộ trong đây, chỗ này là chỗ tuyệt vời thành tựu trí huệ tối thượng thừa, đây mới thật sự hạnh phúc cứu cánh.
Có một bài kinh đức Phật nói bát chánh đạo là tối thượng thừa đưa đến Niết bàn, nên ngoài đây không có Xa-môn, ngoài bát chánh đạo không có đệ nhất đệ tam đệ tứ thánh quả mình bám chặt vào bát chánh đạo, bát chánh đạo bao trùm hết những gì đức Phật dạy, mình thấy đúng mình thành tựu chánh chư kiến để mình thấy năm uẫn là năm uẫn, năm uẫn chỉ là năm uẫn
Bài kinh trong Tương ưng bộ đức Phật
Này các Tỳ-kheo cái gì không phải là ông là của ông các ông hãy từ bỏ chúng đi, từ bỏ chúng sẽ được an lạc, cái gì không phải của ông? Sắc không phải của ông, thọ cảm giác không phải là ông không phải là của ông, các tưởng không phải là ông không phải của ông, những suy nghĩ không phải là ông không phải là của ông, nhận thức không phải là ông không phải của ông, hãy từ bỏ chúng, từ bỏ chúng đưa đến an lạc đưa đến giải thoát
Mình học cái đó để mình tưới tẩm tô luyện dung bồi mình đắp chánh kiến nền tảng cho vững chắc, khi chánh kiến chó tự động chánh tư duy chánh ngữ chánh nghiệp đi theo tự động các pháp kia vận hành, tự động nó có sức đẩy có động lực, thành tựu chánh chi kiến trước. Muốn thành tựu chánh chi kiến phải thân cận bậc thiện tri thức bậc chân nhân, kế đó phải nghe lời dạy sau đó ghi nhớ phải tư duy nghiền ngẫm kế tới thực tập nỗ lực tinh tấn mình thành tựu đó là những nhân duyên thành tựu chánh chư kiến, nó có thức ăn có điều kiện có nhân có duyên chứ không tự nhiên được thành tựu chánh chi kiến. Khi có chánh chi kiến tư duy suy xét của mình nó đi theo cái thấy đúng cái nghĩ đúng.
Vị ngọt của các hành? Vị ngọt của những suy nghĩ.
Pháp Minh:
Theo con thấy vị ngọt của sự suy nghĩ tư duy, vị ngọt của hành, ví dụ khi suy nghĩ của mình khởi lên như suy nghĩ về một món đồ mình thích, trong những suy nghĩ đó nó có sự tham ái trong đó, nó có sự tham muốn sở hữu và tại sao mình có sự tham muốn sở hữu? tại vì mình có tâm tham khi món đồ đó thực sự về hình thức vật chất màu sắc công dụng và mình suy nghĩ đến được sử dụng thì có sự khởi lên một cái hỷ tham đến vị ngọt, mình đắm đuối mình say mê trong suy nghĩ tuy không có thật nhưng nó sẽ dẫn dắt mình đi, mình sẽ đắm chìm trong suy nghĩ suy tưởng về nó, ví dụ khi mình suy nghĩ đến đối tượng tham ai ví dụ như một cô gái khi một hình bóng của một cô gái đi qua, đi qua rồi nhưng do hình ảnh lưu lại trong tâm, suy nghĩ hình bóng đó, mình có sự khả ái sự yêu thích và bắt đầu mình nhìn thấy khuôn mặt ra làm sao, dáng vẻ ra làm sao, suy nghĩ của mình bắt đầu miên man và mình suy nghĩ, suy nghĩ đầu tiên nhất cái phần nào mình cảm thấy mình thích nhất trên hình bóng đó nó sẽ hiện đầu tiên, mình biết là tham ái của mình vị ngọt của mình, sở thích của mình cái đó mạnh nhất và dần dần nó lan ra trong suy nghĩ của mình và mình tưởng hình thành cái thọ tưởng hành thức nó vận hành, trong đó vị ngọt nó lan ra toàn thân trong cảm xúc cảm thọ của mình, khi mình có những suy nghĩ đối tượng mình yêu thích. Đối với những đối tượng mình không thích nó lại đối ngược với sự yêu thích, mình sinh ra cảm giác khổ sở chán ghét ruồng rẩy hay sân hận hay cảm giác không khả ái muốn từ bỏ đây là cảm giác sân, đối với sắc pháp hay đối với thân của người khác là đồ vật tứ đại, cũng vậy khi mình thấy không yêu thích không muốn sinh ra cảm giác sân hận muốn đẩy đi, ghét bỏ đối tượng đó nhưng đúng lúc đó mình phải có chánh tư duy và có như lý tác ý nó sẽ tác động đến suy nghĩ của mình đến hành của mình, mình thoát ra khỏi vị ngọt và cảm thọ tham hay cảm thọ sân hay cảm thọ lạc hỷ trong đó.
Phương pháp sự xuất ly của hành là sự đoạn tận dục và tham sự nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với hành đó là sự xuất ly của hành.
Sự nguy hại của hành là sự khổ chịu sự biến hoại của hành đó là sự nguy hại của hành, vì sự vô thường này mình phải quán chiếu rằng cái hành này suy nghĩ tư duy này mình xem lại nguyên nhân của nó ở đâu, nguyên nhân có sự tiếp xúc và sự vận hành nó làm sao, do sự tiếp xúc này sinh ra cảm thọ, mình xem đó là cảm thọ gì? lạc hay khổ hay không lạc không khổ, mình xem sự vận hành của nó và mình quán chiếu rằng thọ này do sự tiếp xúc chỉ là vô thường, mình quán chiếu nhìn xem sự vận hành nó như thế nào và sự chấm dứt của nó ra làm sao, khi mình quán chiếu nhìn như vậy thực hành khi có hành khởi lên, mình vẫn nhìn vẫn quán chiếu vẫn xem xét và đến mức độ mình thấy được sự vô thường và sự vô thường này, sự vận hành của các hành này tâm trạng của mình biến đổi như thế nào, tham-sân-si, vô minh, tâm của mình biến đổi liên tục mình lúc thì đang vui khi mình có đối tượng tham ái là mình khổ, ngay đối tượng sân là mình khổ, chính vì đó là cái khổ hành nó diễn ra trong thân tâm của mình, mình thấy rõ rằng đó là khổ vì khi mình đang bình thường mình đang có tâm trạng tốt khi gặp đối tượng mình thích hay nghe một câu gì đó không đúng ý của mình bắt đầu hành sinh khởi, lúc đó cảm xúc mình thay đổi rõ ràng hành đưa đến khổ não.
Chịu sự biến hoại khi thân mình đang như thế này, hành khởi lên biến hoại trong cả thân của mình, đất nước gió lửa vận hành, tại sao? tại vì khi thân hành, khẩu hành và ý hành khi ý hành khởi lên bắt đầu thân hành khẩu hành vận hành, lúc đó cái sắc caisn hành động ví dụ khi mình nghe phải câu trái ý, bắt đầu ý hành của mình khởi lên suy nghĩ là tại sao người ta lại nói như vậy, mình không như vậy nhưng tại sao lại nói như vậy, mình có ý nghĩ đó là hành và sự đối kháng với đối tượng, bắt đầu mình không có sự tu tập miệng mình sẽ phát ra sẽ chống cự lại những lời nói đó, đất nước gió lửa ở đây là sao? bắt đuầ tứ đại ở trong cơ thể mình miệng mình bắt đầu nói có sự chuyển động của gió của nước là máu trong cơ thể mình vận hành, mình cảm giác được sự vận hành của hơi thở, của máu huyết trong tâm khác hơn bình thường, nhiệt độ cơ thể nóng lên có thể ở ngực ở mặt ở đầu ở tai tay chân, có cái gì bứt rứt không yên nên khi đối như vậy bắt đầu cảm xúc dâng lên, cảm thọ lúc này mãnh liệt, mình cảm nhận được cái đó, đó là sự biến hoại. Mình quán chiếu sự biến hoại sự thay đổi của nó, tại sao lại có sự biến hoại này? chính là do hành suy nghĩ nên biến hoại biến đôi trong thân tâm của mình, từ thân đến tâm đều có sự biến hoại thay đổi.
+. Chim nghiệm trong sân giận ái dục có yêu thích sân trong đó hay không?
Pháp Sơn:
Vị ngọt theo chiều hướng của tham dục khi Thầy hỏi câu hỏi này con có tư duy, con cảm thấy pháp hiện lên rất rõ, khi mình khởi lên một cái suy tư tư duy những hạt giống của nóng giận, mình biết cái đó là sự nguy hại nhưng tại sao mình khởi lên một tư duy liên hệ tới lòng sận hân đó, trong sự sân hận đó có vị ngọt vì khi mình tư duy mình suy nghĩ một đối tượng nào đó mà sự sân hận của mình tăng trưởng mình không thoát ra được có nghĩa mình thỏa mãn trong sự suy nghĩ đó, thỏa mãn rằng là những tư duy như vậy như vậy, đối xử với mình như vậy, nói năng như vậy, bản ngã của mình được thỏa mãn, bản ngã của mình được thỏa mãn tham ái trong suy nghĩ đó, tham ái với tự ngã này chính bản ngã được thõa mãn, cảm giác được cái gì đó vuốt ve cho tự ngã này, sự vuốt ve tự ngã này là vị ngọt của lòng sân hận.
Như vậy đối với sự sân hận khởi lên cũng có vị ngọt vì có liên hệ đến tham ái tự thân của mình, khi nào mình thấy được sự nguy hại của lòng sân hận vì mình thấy được nếu như mình nhìn nhận bằng bảy trí về các tư duy suy nghĩ này, mình mới thấy được sự nguy hại của nó chính là đưa đến lợi ích gì, con nói rất thực tế, khi mình sân hận lên mình đang bị thiêu đốt bởi sự sân đó, thân tâm mình bị thiêu đốt rất khổ não, mình chim nghiệm sân sinh khởi cũng là pháp duyên sanh có thể là thọ này sanh khởi, tho do nhãn xúc sanh hay thọ do nhĩ xúc sanh, chính do sự tiếp xúc này nó dẫn đên những cảm giác khó chịu, những thanh tưởng có nghĩa là mình suy nghĩ những âm thanh đó, những tư duy của mình cứ nhai tới nhai lui những âm thanh đó nên nung nấu cảm thọ sân hận lên, khi nung nấu cảm thọ lên mình cảm thấy được thõa mãn cái đó, chính như vậy mình bị suy tư các thọ nhấn chìm mình, mình không dùng trí đây là những suy nghĩ đây là những cảm xúc nhất thời, mình không quán chiếu được nghiệp đưa đến trong sự suy nghĩ mà hướng đến sự sân hận này nó đưa đến tai hại nó làm cho mình hông tương xứng với thánh hạnh, đức Phật dạy trong kinh cho dù một người đó tên trộm cướp họ dùng cái cưa để cưa chặt tay chân của các ông, các ông cũng phải thực hành cái hạnh an ...(phút 1:17:00 không nghe rõ), mình phải tư duy để mình vượt thoát ra khỏi lòng sân hận, trước mình thấy được sự nguy hại bị thiêu đốt, quán chiếu về nghiệp, quán chiếu cái này đưa đến quả xấu và nó sẽ đưa đến nếu như mình nuôi dưỡng những tư duy này nó dẫn đến thân hành và khẩu hành những cái lời nói của mình được phát ra từ nơi của ý hành, sự sân hận của mình chắc chắn người nghe những chuyện khổ đau, giống như mình đã từng bị khổ đau giống như người đó đau đưa đến sự tình nghĩa đạo nghĩa và bổn phận thứ tự trước sau bị đảo lộn không có sự tôn kính, không có sự kính trọng với người đó khi phát ra lời nói về sân hận, mình quán chiếu sự nguy hại đó mình mới bắt đầu hướng tới xuất ly nhưng mình phải điều phục dục và tham trong đó, để sân có dục dục trong đó, nó muốn suy nghĩ về điều đó chính cái sân này nuôi dưỡng đến hướng đến tư duy hại, hiện tại từ bỏ đi cái muốn suy nghĩ hướng đến sân hận đó là hình bóng của tư duy về hại, mình có được tính tư duy chánh kiến biết được suy nghĩ là suy nghĩ, cảm giác là cảm giác đó là mình biết được chánh chư kiến, mình như lý tác ý quán chiếu về nghiệp, là mình thực hành con đường đưa đến những suy tư thực hành theo con đường bát chánh đạo, chánh kiến, chánh tư duy, mình phải có chánh kiến chánh tinh tấn phải có nỗ lực sự đoạn trừ những tư duy mà liên hệ đến lòng sân hận, mình an trú trong đề mục mình tu tập, trong sự quán chiếu về thân hành niệm, quán chiếu thân này chỉ là bộ xương chỉ là đống thịt hôi thối là pháp vô thường là tứ đại là sự trống không, mình quán như vậy mình sẽ có được định, thành tựu được chánh định là mình sẽ giữ được sự thân tâm bình ổn, mình đào bới được gốc rể của cơn sân đó con chim nghiệm vị ngọt tư duy sân hận về sự nguy hại về sự xuất ly và con đường đưa đến sự chấm dứt những tư duy liên hệ đến sân hận và hại.
+.
Sân hận có tham ái vì sân hận cũng là một thọ nhưng một khổ thọ, ví dụ do một người nói xúc não tai do ta có tai có âm thanh của người nói xúc não tai nên nhĩ thức sanh, sự hội tụ của tai, âm thanh và nhĩ thức sanh khởi ra nhĩ xúc lúc đó thọ do nhĩ xúc sanh, từ đây cái tôi của ta hiện khởi lên, quyền lợi của ta hiện khởi lên, người ta lại nói xấu mình, quyền lợi của mình bị đặt vào đó, thấy mất đi một cái gì đó, từ đó mình sân hận lên mình la mắng hoặc nói nặng người ta đó là sân hận trong đó có tham ái.
Thầy giảng tiếp:
Vị ngọt của các hành, sự nguy hại của hành, sự xuất ly của các hành.
Sự nguy hại sự vướt thoát của các suy nghĩ.
Trong cái mình suy nghĩ có cái ưa thích cái vui trong đó, tham ái trong sự suy nghĩ trong đó.
Tại sao mình yêu thích trong đó?
Trong bài kinh đức Phật dạy bốn sự tinh cần
Tinh cần thứ nhất là sự tinh cần chế ngự
Khi mắt thấy sắc không phân biệt tướng chung không phân biệt tướng riêng, những gì làm cho sanh khởi lên cái lạc cái hỷ gì mình phải chế ngự cho nên hộ trì căn, chế ngự các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, sự tu tập căn, bài kinh căn tu tập có một ông ngoại đạo ông đến nói với đức Phật sự tu tập các căn, đức Phật mới nói Thầy ông dạy các căn như thế nào? ông mới trả lời Thầy của tôi dạy con mắt không nên thấy sắc không nên nhìn sắc, lỗ tai không nghe mấy tiếng, mũi lưỡi thân cũng vậy, đức Phật mới nói người mù đang tu tập về căn, người điếc đang tu tập về căn, trong giáo pháp của bậc thánh có pháp môn vô thượng căn tu tập, đức Phật nói khi mắt tiếp xúc với sắc trong tâm mình có khởi lên vừa ý hay không vừa ý, hay vừa vừa ý hay không vừa vừa ý, vừa ý hoặc không vừa ý hoặc không vừa ý hay không không vừa ý vừa khởi lên, người tu tập liền buông xả lập tức liền nhanh giống như giọt sướng rơi xuống lá sen hoặc cái nồi cái chảo bắt trên lò lửa nóng bị rơi xuống hai ba giọt nước xèo xèo rồi tan liền, vật rơi xuống lâu nhưng vừa chạm xuống là tan liền, vị thánh đệ tử trú trong cái xả, tu tập cái xả trong các cảm thọ nó nhanh giống như vậy nên chỗ mình thấy vị ngọt của các suy nghĩ này mình phải có tu tập, mình không khéo bị mấy vị ngọt của các suy nghĩ này làm cho mình đắm đuối say mê và mình đang sống trong ảo tưởng của những suy nghĩ, ngồi lại mình nghĩ chuyện này chuyện kia chuyện nọ, mình thích thú mình vui mình buồn trong đó mình giận trong đó tất cả trong đó là mình bị đắm trong vị ngọt, ngay cả sân hận trong đó cũng có vị ngọt đó là xuất phát từ ái dục từ tham ái nên mới có sân, nhưng mình ái không được nên sân nên ái dục gồm tham, sân, si. Mình thấy rõ vị ngọt của nó và thấy rõ sự nguy hại của các suy nghĩ này, các suy nghĩ này là vô thường là khổ là sự biến hoại, các suy nghĩ này không phải như vậy hoài nó biến đổi nó sẽ hoại diệt nên mình đắm đuối mình ưa thích trong cái này là mình ưa thích sự khổ, ưa thích sự hoại diệt.
Làm sao mình ra khỏi sự suy nghĩ đó là mình nhiếp phục dục và và tham sự đoạn dục và tham đối với các suy nghĩ đó, chấm dứt ưa muốn yêu thích ở trong các suy nghĩ đó, chấm dứt nó không suy nghĩ đó nữa, không ưa thích những suy nghĩ đó, không có tiếp nối không chấp chứa nó, không dung túng nó nữa, mình nhiếp phục được nó sự tham muốn suy nghĩ đó chấm dứt đoạn tận, như vậy mình ra khỏi các sự suy nghĩ.
Chính suy nghĩ này làm cho mình biết bao nhiêu đau khổ dẫn mình đi nhận mình chìm lôi mình vào trong vũng lầy của tham muốn của sân hận của si mê, mình phải thấy rõ các pháp trong thân trong tâm mình là một vấn đề rất quan trọng và rất lớn lao không đơn giản. Để thấy rõ cái này phải thiền định phải độc cư phải có những giây phút tĩnh lặng để nhìn kỹ lại nó, ở riêng một mình để nhìn lại rất thâm sâu.