Pháp Đàm Nikāya - 11 - 10 - 2022
Pháp Đàm Nikāya
Ngày 11 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hướng dẫn hành pháp PAGEREF _Toc150439451 \h 1
II. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc150439452 \h 4
III. Trình pháp PAGEREF _Toc150439453 \h 7
I. Hướng dẫn hành pháp
Thầy Thiện Huệ: Ba pháp cũng như nhận diện ngũ uẩn thân tâm chính mình vì đây là pháp hành căn bản, quyết định để chúng ta có thể đi sâu vào pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Nếu chúng ta không học cũng như không nắm vững những pháp hành căn bản thì pháp hành sẽ làm cho chúng ta khó thâm nhập sâu vào dòng pháp, vì vậy bất kì vị nào về núi tu học thì sư phụ luôn bằng tình thương, bằng tâm từ muốn cho đại chúng nắm được pháp hành trọng yếu, quan trọng để chúng ta có thể thực hành được.
Bước đầu tiên con xin chia sẻ về cách ngồi thiền theo như trong kinh tạng Nikāya, con mong rằng quý Ni sư cũng như quý Phật tử hãy để ý lắng nghe. Khi con nói tới đâu thì đại chúng thực tập theo đến đó, sau khi con hướng dẫn thực tập 3 pháp thì chúng ta chuyển sang học nhận diện ngũ uẩn tức là nhận diện thân tâm chính mình.
Thông thường pháp hành trên Linh Quy ngồi thiền phải thực tập được 3 pháp, tất nhiên trong lúc ngồi thiền thì chúng ta sẽ ngồi theo tư thế ngồi thiền, thân chúng ta ngồi lưng thẳng, cổ thẳng, hai vai đều, thân vai thả lỏng. Khi ngồi thiền đại chúng sẽ thực hành 3 pháp, pháp thứ nhất là chánh niệm ở trước mặt tức là mắt mình nhìn xuống về phía trước khoảng 1m, mở mắt vừa phải, không hí mắt cũng không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn của mắt hết mức ra hai bên mà mình không để ý tập trung một điểm nào ở trước mặt, đây gọi là chánh niệm ở trước mặt, đặt niệm trước mặt hay còn gọi là rõ biết ở trước mặt.
Đó là pháp thứ nhất, con xin nhắc lại khi chúng ta ngồi thiền mắt chúng ta mở vừa phải nhìn xuống về phía trước khoảng 1m, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên mà không trú vào một điểm cố định nào trước mặt, đây là chánh niệm trước mặt, đại chúng chú ý trong lúc ngồi thiền tuyệt đối không được nhắm mắt vì nếu nhắm mắt dễ rơi vào các trạng thái: Một là dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, tức là dễ rơi vào mờ tối, si ám, chìm vào chỗ tối tăm. Hai là chúng ta dễ bị ngủ gục hoặc là chúng ta rơi vào trạng thái của tưởng uẩn hoạt động, hiện lên hết hình bóng này đến hình bóng kia hoặc là chúng ta rơi vào hết suy nghĩ này đến suy nghĩ kia, lăng xăng bên trong, ngoài ra chúng ta còn rơi vào trạng thái dễ buông lung thả lỏng, tức là ngồi cho có rồi thả lỏng, mặc kệ tới đâu thì tới. Đó là những trạng thái dễ gặp và xảy ra trong lúc ngồi thiền.
Nếu mình nhắm mắt thì mình dễ rơi vào hôn trầm ngủ gục hoặc là vọng tưởng, hết nghĩ cái này tới nghĩ cái kia, hết hình bóng này đến hình bóng kia hiện ra. Thậm chí có người rơi vào trạng thái buông lung thả lỏng, ngồi cho hết giờ chờ tiếng chuông để nghỉ. Nếu mình tập trung vào một điểm nào ở trước mắt mình thì thứ nhất là dễ mỏi mắt, thứ hai là một lúc sau sẽ hiện lên hình bóng con này con kia hoặc hình bóng người này người kia, nhất là khi ngồi thiền có vân gỗ hoặc gạch bông trước mặt mà mình nhìn vào một điểm rất dễ hiện ra hình ảnh con này con kia, đó là lý do chúng ta khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt vì dễ rơi vào hôn trầm, ngủ gục. Giờ thiền của chúng ta đòi hỏi sự tỉnh táo, sáng suốt, sáng tỏ, minh mẫn để nhìn thấy cái pháp bên trong, còn lên Bồ-đoàn ngồi thiền mà nhắm mắt ngồi thở ra thở vô là đi vào trạng thái của mờ ám, hôn trầm, dã dượi.
Đó là con chia sẻ quá trình ngồi thiền không nhắm mắt, trong quá trình chia sẻ quý Ni sư và đại chúng có gì thắc mắc thì chúng ta xin sư phụ một buổi pháp đàm để sư phụ giải thích rõ hơn, kĩ hơn, sâu sắc hơn để mọi người rõ hơn. Đó là pháp đầu tiên, chánh niệm ở trước mặt, con xin nhắc lại chánh niệm ở trước mặt là mắt chúng ta nhìn xuống khoảng 1m, tầm nhìn mở rộng hết mức sang hai bên, tức là cứ ngồi trầm tĩnh nhìn xuống, con mắt không được nhìn phải nhìn trái mà mình phải có sự đặt niệm trước mặt. Mình không trú vào một điểm nào trước mặt thì Đức Phật gọi đó là đặt niệm trước mặt, chánh niệm ở trước mặt hay là rõ biết ở trước mặt. Đại chúng chú ý trong lúc ngồi thiền theo pháp hành kinh Nikāya là không được nhắm mắt.
Pháp thứ hai là cảm giác toàn thân, cái này tương đối quan trọng trong pháp hành của tất cả người tu chúng ta. Cảm giác toàn thân là sao? Sau khi mình đã ngồi yên ổn định hơi thở, mình có sự an trú chánh niệm trước mặt thì bắt đầu mình trở về hơi thở của mình, mình nhận biết hơi thở vào hơi thở ra dài hay ngắn giống như trong kinh Tứ Niệm Xứ. Sau đó chúng ta cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: Chóp mũi, lồng ngực, bụng. Từ ba chỗ động chuyển này chúng ta cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, chúng ta cảm nhận cảm giác ở đỉnh đầu, gương mặt, cảm nhận cảm giác ở hai lỗ tai, ở cổ, vai, hai cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, cảm nhận cảm giác ở nơi lồng ngực, ở bụng và chúng ta cảm nhận cảm giác ở mông, lưng, hai chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân. Chúng ta cảm nhận cảm giác ra toàn bộ cơ thể, từ đỉnh đầu ra tới gót chân, đây gọi là cảm giác toàn thân, tức là trên thân chúng ta có cảm giác gì thì chúng ta đều rõ biết.
Mình cảm giác trên đầu mình ra sao, hai bên vai mình cảm giác ra sao, lưng mình bây giờ ra sao, có đau nhức gì không, hai chân mình tê như thế nào, lồng ngực mình ra sao, gương mặt mình cảm giác thế nào. Chúng ta rõ biết cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân thì đó gọi là cảm giác toàn thân, ví dụ mình ngồi mà hai bên vai đang mỏi thì mình biết cảm giác khó chịu, mình ngồi mà nhức lưng thì mình cảm giác ở lưng khó chịu, ngồi lâu bị tê thì mình cảm nhận những cảm giác đó, rõ biết những cảm giác đó trên thân của mình.
Bước thứ ba là nội tâm tỉnh giác, sáng tỏ, rõ biết. Mình có sự rõ biết cảnh vật ở trước mặt, rõ biết được những cảm giác, những hình bóng trong tâm, mình rõ biết được hiện giờ trong tâm mình đang suy nghĩ cái gì, đang thì thầm cái gì. Đó là nội tâm tỉnh giác, tức là mình rõ biết những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, những lời nói thủ thỉ, thỏ thẻ, thì thầm, thở than trong tâm mình.
Đó là ba pháp, con xin nhắc lại, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, mình nắm được ba pháp này để ứng dụng trong quá trình ngồi thiền, ba pháp này có thể thực hành mọi lúc mọi nơi chứ không nhất thiết chỉ thực tập trong lúc ngồi thiền. Tại sao mình phải thực tập cảm gáic toàn thân? Khi mình có an trú trên cảm giác toàn thân thì khi có cảm giác gì thay đổi là chúng ta cảm nhận được liền, Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ trong bài kinh Cội rễ của sự vật, Tăng Chi Bộ, tập I. Khi chúng ta an trú cảm giác toàn thân, mình nhìn lại cảm giác của mình thì tất cả pháp đều hiện ra để mình phát giác, phát hiện ra tham, sân, si nằm trong cảm giác. Mình thường nói tu để diệt tận tham, sân, si nhưng giờ hỏi tham, sân, si ở đâu thì mình không biết, mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu thì làm sao giết giặc, vì vậy Đức Phật chỉ cho mình tham, sân, si trú trong cảm giác. Đó là lý do mình an trú cảm giác toàn thân, trên thân có gì là mình phát hiện được ngay, sau đó mình sẽ có cách nhiếp phục nó, đó là phần thứ nhất chúng ta thực tập ba pháp trong lúc ngồi thiền.
II. Nhận diện ngũ uẩn
Bước sang phần thứ hai khá quan trọng, tức là mình phải nhận diện được ngũ uẩn, tức là thân tâm của chính mình. Trong bài kinh Thủ chuyển trong Tương Ưng Bộ, tập III, Đức Phật nói:
"Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Đức Phật không tuyên bố giữa quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn hay chư thiên và loài người rằng ngài thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác khi ngài chưa thấu suốt trọn vẹn, viên mãn mọi góc độ, khía cạnh của thân tâm và thế giới. Khi ngài tuyên bố ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trước quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma, phạm thiên là khi ngài chứng được, thấu suốt được mọi góc độ, khía cạnh của thân tâm và thế giới. Qua đoạn kinh đó chúng ta thấy rằng do chứng ngộ trí về ngũ uẩn mà Đức Phật tuyên bố rằng ngài đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngũ uẩn chính là thân tâm của chính mình, bây giờ mình là đệ tử Phật mà không biết Phật chứng ngộ cái gì, thông thường mình chỉ biết chuyện bên ngoài, nước này nước kia nhưng khi hỏi về thân tâm mình là gì thì mình lại không biết.
Đức Phật chứng ngộ trí về ngũ uẩn, như vậy ngũ uẩn chính là thân tâm của mình. Thân tâm của mình là gì? Theo sự chứng ngộ của Đức Phật thì ngài chỉ cho mình thân tâm gồm có năm nhóm, năm thành phần, năm tổ hợp tạo thành. Nhóm thứ nhất là sắc, nhóm thứ hai là thọ, nhóm thứ ba là tưởng, nhóm thứ tư là hành, nhóm thứ năm là thức, tức là tổ hợp của những sắc chất, sắc uẩn, tổ hợp của những cảm giác, cảm thọ, tổ hợp của những hình bóng, tổ hợp của những suy nghĩ, tổ hợp của sự nhận thức bên trong, đó là thân tâm chính mình. Như vậy ngũ uẩn là gồm có sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Thân người là Sắc
Cảm giác là Thọ
Hình bóng là Tưởng
Suy nghĩ là Hành
Rõ biết là Thức
Thân tâm mình là năm nhóm đó, năm thành phần, năm tổ hợp. Trong năm nhóm đó thì sắc thuộc về thân, sắc là 50kg thịt đang ngồi đây, là cảnh vật, đồ vật bên ngoài cũng là sắc tứ đại. Thọ; tưởng; hành; thức là tâm. Nếu có ai hỏi tâm là gì? Thì mình trả lời tâm là thọ; tưởng; hành; thức, là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết, nhận thức bên trong.
Bây giờ con cho ví dụ để nhận diện thân tâm của mình, chúng ta nhắm mắt lại nhớ về người mẹ thân yêu của mình – người có ơn nghĩa như trời biển, có công ơn sanh thành dưỡng dục, lo lắng cho chúng ta khôn lớn cho đến ngày nay, tình nghĩa của mẹ cha rất thiêng liêng sâu đậm, lúc nào cũng chở che, bảo vệ, yêu thương con mình, dù cho cha mẹ có hi sinh cũng không quản miễn sao cho con mình được nên người, thành đạt trong cuộc sống.
Con mời đại chúng nhận diện ngũ uẩn, khi nghe con nói về người mẹ của mình thì mình có cảm giác ấm áp, thân thương thì đó là thọ, mình có hình bóng của mẹ hiện ra trong tâm thì đó là tưởng, mình có suy nghĩ về mẹ mình, thương mẹ mình, không biết hiện giờ mẹ ra sao, sức khỏe của mẹ ra sao, mình suy nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ, có những lời nói thì thầm bên trong thì đó là hành, mình có sự rõ biết mình đang có cảm thọ ấm áp thân thương, mình rõ biết đang có hình bóng của mẹ trong tâm, mình rõ biết mình đang suy nghĩ về mẹ, mình rõ biết thọ; tưởng; hành thì đó là thức. Đó là sự vận hành của tâm mình.
Trên đây là ví dụ về người mình thương, sau đây là ví dụ về người mình ghét. Người làm cho mình bực bội, khó chịu, đau khổ, người suốt ngày theo mình kiếm chuyện, hành hạ, nói móc méo mình đủ thứ. Khi nói về người mình ghét thì hiện ra hình bóng của người đó thì đó là tưởng, mình có cảm giác khó chịu về người mình ghét là thọ, mình có suy nghĩ về người mình ghét "kiếm chuyện với tôi hoài" thì đó là hành, mình có sự rõ biết hiện giờ mình đang có cảm giác khó chịu, mình đang có hình bóng người mình ghét hiện ra, mình rõ biết đang suy nghĩ về người mình không ưa, mình rõ biết được thọ; tưởng; hành thì đó là thức.
Còn sắc thân là mình đang ngồi đây, mình xem lại sắc thân mình ngồi có ngay ngắn, trang nghiêm không, mình xem vai mình có xệ xuống không, mình phải nhận diện được sắc thân tứ đại của mình hiện giờ đang như thế nào và mình nhận diện được những cái thọ; tưởng; hành; thức trong tâm của mình.
Chúng ta nhớ về ngôi chùa thân thương, là nơi mình đã tu học, là nơi mình đã xuất gia, vị thầy bổn sư đã xuống tóc cho mình tại đó, hằng ngày chúng ta đều gặp thầy tổ, huynh đệ cùng nhau tu học, cùng nhau chia sẻ những lúc khó khăn hay an lạc trong sự tu học, chúng ta hãy nhớ lại về ngôi chùa của mình. Sau khi đại chúng nghe con nói về ngôi chùa của mình thì hình bóng ngôi chùa đó hiện ra thì đó là tưởng, có cảm giác thân thương, quen thuộc là thọ, mình suy nghĩ về ngôi chùa là hành, mình có sự rõ biết mình đang suy nghĩ về ngôi chùa, mình rõ biết có hình bóng ngôi chùa mập mờ hiện ra, mình rõ biết có cảm giác gần gũi, ấm áp khi tu học ở ngôi chùa đó thì đó là thức.
Khi quý Ni sư mới đặt chân lên núi thì ngũ uẩn vận hành thế nào ạ? Lúc đó thọ; tưởng; hành của mình vận hành thế nào? Nhận diện ngũ uẩn khi mình lên núi.
III. Trình pháp
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy, kính thưa toàn thể đại chúng, con xin trình bày ngũ uẩn của con. Chiều hôm qua khi con đến núi thì sắc uẩn là con thấy sự có mặt của con cùng sự hiện hữu của cỏ, cây, hoa, lá, mây trời, trên đường đi trên núi cảm nhận những con đường gập ghềnh. Cảm thọ của con là sự nôn nao, vui mừng vì đã đến nơi kịp tham dự khóa tu với đại chúng. Cái hành của con là con suy nghĩ lên trên đây gặp thầy, gặp sư huynh đệ, gặp đại chúng để hòa chung niềm vui tu học, vừa có niềm vui vừa có nỗi lo vì không biết mình có dễ dàng hòa nhập vào chung sinh hoạt của khóa tu. Với những cái suy nghĩ như thế con nhận biết rất rõ thì thuộc về cái thức của con.
Thầy Thiện Huệ: Cái thức Ni sư nhận rõ được cái gì ạ?
Sư cô 1: Cái thức nhận rõ được về cảm xúc thì con thấy được sự bình yên, niềm vui, về cái tưởng thì con thấy sự có mặt của mình cùng thầy, quý huynh đệ và đại chúng, suy nghĩ của con là thời gian ở đây con sẽ cố gắng đi vào tu tập.
Sư cô 2: Thưa thầy khi con đến đây thì sắc tứ đại con đang đứng trên đây, cảm thọ con rất khoan khoái, dễ chịu, lên núi cao thì mát mẻ vì trên đường đi cũng hơi nhọc, trên đường đi con rất dễ chịu thì đó là cảm thọ của con. Cái tưởng của con là hình bóng thầy trụ trì, không biết thầy đang ở đâu, hình bóng thầy hiện ra trong tâm con. Con có suy nghĩ không biết bây giờ gặp thầy được không, phải làm sao, mình sẽ tu học như thế nào, không biết có hòa hợp để tu được không thì đó là hành. Con rõ biết cảm giác đó, những hình bóng và suy nghĩ của con thì đó là thức.
Phật tử 1: Con xin kính bạch thầy và xin chào các đạo hữu. Khi con đăng kí khóa tu này thì con của con chở con lên đây, con đi xe máy mang đồ theo thì đó là sắc, khi con lên đây nhìn xuống thì thấy mây bay thoải mái, dễ chịu trong người, con thấy rất hạnh phúc thì đó là thọ, còn tưởng là khi con vào nhà bếp ăn bún thì quá ngon, con cứ tưởng về tô bún đó và có suy nghĩ về tô bún đó. Suy nghĩ của con là làm thế nào cũng phải thường xuyên lên đây để tu tập, để học hỏi, để rõ biết. Cái rõ biết của con là con cảm thấy dễ chịu, con nhớ ăn tô bún và làm sao để lên đây mãi mãi.
Sư cô 3: Nam mô A-di-đà Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Khi con vừa đặt chân đến chân núi cũng như được lên trên đây thì cảm thọ rất an lạc, hoan hỉ, hình bóng là con nhớ lại thời Đức Phật và Tăng đoàn cũng tu trong núi rừng có cây trúc là cái tưởng. Con có suy nghĩ là mong có nhiều dịp để ghé về đây cùng tu là hành uẩn, con rõ biết mọi cảnh vật cũng như hoạt động ở nơi Linh Quy Pháp Ấn này thì đó là thức.
Thầy Thiện Huệ: Thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành trong tâm mình, thưa sư cô. Tức là mình rõ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm thì đó là thức.
Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Khi đặt chân lên núi con thấy tất cả khung cảnh trên núi, con gặp các cô ở bếp thì đó là sắc uẩn, cái thọ của con rất hoan hỉ, mình lên đây có không khí trong lành, thoáng mát, con thấy rất an lạc vì ở đây rất yên tĩnh, cái tưởng của con là tưởng về những buổi giảng của sư phụ trên Internet, ý hành con nói rằng mọi hôm chỉ xem trên Youtube, còn hôm nay được lên đây sẽ gặp trực tiếp thầy cùng các bạn đồng tu, ý hành nói rằng đã lên đây thì cố gắng tu, mới lên lần đầu thì chắc là sẽ còn kém cỏi lắm. Thức của con rõ biết thọ; tưởng; hành đang vận hành ạ.
Thầy Thiện Huệ: Quý Ni sư cùng quý sư cô mới học mà nhận diện được ngũ uẩn như vậy là tốt lắm rồi, mỗi ngày chúng ta cố gắng thực tập nhận diện thân tâm chính mình, nhận diện ngũ uẩn của chính mình. Con mời một vị Phật tử nhận diện ngũ uẩn của mình ngay trong lúc này.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên thầy, con kính trên quý Ni sư, con kính trên quý Phật tử. Hiện tại sắc thân con đang ngồi nghiêm chỉnh trên ghế, cảm thọ con rất hân hoan và an lạc khi con được nghe quý Ni nhận diện ngũ uẩn, cái tưởng của con là hình bóng của quý Ni sư và hình bóng của thầy, ý hành con nói rằng quý Ni sư nhận diện ngũ uẩn quá hay, quá giỏi và thức con rõ biết thọ; tưởng; hành.
Phật tử 3: Con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Sắc uẩn là cảnh vật và không gian hiện tại, bản thân con và mọi người đang ngồi ở đây, cảm giác của con đang xen giữa cảm giác vui và một chút lo lắng vì con chưa hiểu kĩ về ngũ uẩn thì đó là cảm thọ của con, hình bóng là tờ giấy trước mặt, quý thầy, quý Ni và các bạn, suy nghĩ của con về những câu từ trong ngũ uẩn này và cái thức của con nhận rõ đây là cảm giác, cái này là hình bóng, cái này là suy nghĩ.
Thầy Thiện Huệ: Quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng cần chú ý giữa cái tưởng và cái hành dễ bị nhầm, mình phải xác định tưởng là hình bóng, hành là suy nghĩ, nếu không khéo là mình dễ bị nhầm giữa tưởng và hành. Giống như mình xem Tivi vừa có hình ảnh vừa có tiếng thì tưởng và hành cũng như vậy, tưởng là hình bóng trong tâm, tưởng là những suy nghĩ thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than, làm cho mình lăng xăng suốt ngày, hết nói cái này đến nói cái kia thì đó là hành.
Ở trên Linh Quy có trồng sầu riêng nhưng trái không được to lắm, vừa phải thôi nhưng ăn rất ngon, thịt rất béo, bùi, thơm. Năm nay thất mùa nhưng năm ngoái có khi các chú đi nhặt cả một xe rùa nhỏ vì trái rụng vào ban đêm, sầu riêng trên đây hoàn toàn là thiên nhiên, không xịt thuốc gì cả, gọi là sầu riêng sạch. Khi mọi người nghe con nhắc về sầu riêng như vậy thì lúc này có hình bóng trái sầu riêng hiện ra thì đó là tưởng, mình có cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì đó là thọ, mình có suy nghĩ về trái sâu riêng "muốn ăn thử" thì đó là hành, mình có sự rõ biết hình bóng trái sầu riêng, mình rõ biết đang có cảm thọ dễ chịu, mình rõ biết mình đang suy nghĩ muốn ăn thử thì đó là thức, tức là mình rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Đó chính là nhận diện ngũ uẩn, mình phải nhớ nhận diện ngũ uẩn khi mình nghe, mình thấy, mình tiếp xúc với bất cứ cái gì để xem sắc thân mình lúc đó thế nào, có cảm giác gì, có hình bóng, suy nghĩ gì, có nhận thức rõ biết.
-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
-Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
-Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
-Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
-Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Cái thân mấy chục kí thịt đang ngồi đây là sắc, đồ vật, cảnh vật bên ngoài cũng thuộc về sắc, là tứ đại. Khi nãy mình học cảm thọ là chung chung, bây giờ Đức Phật nói rộng ra có 3 loại cảm giác, cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Đại chúng ngồi đây đang có cảm giác dễ chịu, nhưng nếu ngồi đến 1h trưa mới ăn cơm thì đó là khó chịu, còn cảm giác không dễ chịu không khó chịu tức là cảm giác đều đều, trơ trơ, ví dụ mình hỏi tiếp xúc với người đó thấy sao thì trả lời thấy cũng bình thường, không thích cũng không ghét thì đó là cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Mình ngồi đây nghe giảng pháp thì thấy dễ chịu, một chút về phòng nhưng huynh đệ lỡ nói câu gì đụng chạm là mình khó chịu, còn cảm giác không dễ chịu không khó chịu là lờ đờ, trơ trơ, trì trệ, không nhận biết được hiện giờ thọ; tưởng; hành nó như thế nào.
Thân tâm mình gồm năm nhóm là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, trong đó sắc thuộc về thân, còn bốn nhóm còn lại thuộc về tâm. Mình phải an trú cảm giác toàn thân để mình giác phát, phát hiện ra những cảm giác nó sanh khởi, trên thân của mình có cảm giác khó chịu, cảm giác dễ chịu hay cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu mình đều biết. Ngồi lây tê chân hoặc mỏi chân thì đó là cảm giác khó chịu, sau đó con cho đứng lên đi vài vòng thì có cảm giác dễ chịu, còn ngồi nghe mà thấy cũng bình thường, trơ trơ thì đó là cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Tiến sâu thêm là con sẽ chỉ chỗ tham, sân, si cư trú trên thân của mình, Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ như vậy tham, sân, si cư trú trong cảm thọ, cảm giác của mình. Trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu thì có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu là có si, cái gốc của nó là trong tâm nhưng lại biểu hiệu trên thân.
Khi mình tiếp xúc, mình nghe hay nhìn một người nào đó mà họ chỉ trích, nói xấu mình thì ngay lồng ngực nóng lên, dâng lên, gương mặt nóng lên, hai tai đỏ lên, con mắt đỏ lên, gương mặt đỏ lên. Khi mình tức tối, sân hận thì ngay lồng ngực cứ dâng lên đốt cháy, con mắt đỏ lên, gương mặt nóng lên, lỗ tai lùng bùng, thậm chí có nhiều người chuyển sang tím tái gương mặt, đó là chỗ cư trú của cảm giác, của tâm sân ngay lồng ngực.
Lúc mình tiếp xúc với huynh đệ hay nghe những lời phê phán, chỉ trích thì mình nhìn ngay lồng ngực sẽ thấy nó động chuyện, đó là do mình có cảm giác toàn thân, có sự nhìn lại trên thân thể có sự thay đổi nên mình biết mình đang có một cảm giác khó chịu, bực bội. Trong cảm giác bực bội, khó chịu đó có sân tùy miên, tùy là đi theo, miên là miên man, sân đi theo miên man trong cảm giác khó chịu, bực bội, tức giận.
Si nằm ở ngay con mắt, khi ngồi thiền thấy cái đầu nặng nặng, hai con mắt nhướng lên, sụp mí thì đó là chỗ cư trú của tâm si mê, dã dượi. Cái đầu mình bị trì trệ, thậm chí ngồi mà hai vai sụp xuống, đó là si mê, là sự thụ động, lười biếng không muốn làm gì nữa. Cảm giác tham dục, tham muốn là biểu hiện ở chỗ phát dục của mình. Đó là ba chỗ trú ẩn của tham, sân, si biểu hiện trên thân.
Buổi chia sẻ sáng nay trong phạm vi cho phép con chia sẻ cho mọi người thực hành ba pháp là chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Mình biết được thân tâm mình là gì, đi sâu vào một chút Đức Phật chỉ cho mình có 3 loại cảm giác là dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu. Trong 3 loại cảm giác này có tham, sân, si trú ngụ trong đó, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si.
Khi rửa chén thì mình nhận diện ngũ uẩn thế nào, dù cho làm bất cứ công việc gì mình cũng phải xem lại thân tâm, có bị dao động không, có đúng oai nghi không, mình nhìn lại sắc thân của mình nếu ngồi không đúng oai nghi thì chỉnh lại, vai có đều không hay xệ xuống 1 bên, cổ mình có quẹo 1 bên không, có thì chỉnh lại, bất cứ lúc nào cũng nhận diện ngũ uẩn để xem lúc đó cảm giác trong người thuộc về cảm giác nào, trong cảm giác đó có tham, sân, si không rồi từ từ mình sẽ có phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa nó. Bình thường ngũ uẩn vận hành suốt ngày, một số vị có công phu sâu sắc thì khi họ ngồi thiền có thể thọ; tưởng; hành sẽ lắng.
Sư phụ kể chuyện có hai vị Phật tử bên nước ngoài ngồi thiền rất tốt, tưởng và hành lắng dịu đến nỗi họ không thấy gì cả thì họ tưởng mình đạt đến cảnh giới gì đó nhưng sau đó tình cờ nghe sư phụ giảng về ngũ uẩn thì mới biết không phải như vậy mà là cái tưởng và hành chỉ tạm lắng yên thôi. Họ cảm nhận sự nhẹ nhàng trong tâm họ nên họ tưởng là tu đạt được cảnh giới gì rồi thì họ tình cờ nghe bài giảng của sư phụ nên hai vợ chồng phải bay về đây hỏi pháp sư phụ, đảnh lễ sư phụ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể quý vị Phật tử, con pháp danh Thiện Huệ được sự chỉ dạy của sư phụ sáng nay con có buổi chia sẻ với pháp hành trong tạng kinh Nikāya cho quý Ni sư cùng đại chúng. Con cũng đang trong quá trình tu học để nhiếp phục thân tâm của mình, trong quá trình chia sẻ con cũng không tránh khỏi sơ sót, có thể hiện bản ngã thì mong rằng quý Ni sư và đại chúng hoan hỉ tha thứ cho con để cho con được thực tập hạnh khiêm cung và diệt ngã như sư phụ đã chỉ dạy.
Lạy người cho con được xả cái bản ngã này.
Lạy người cho con được xả cái bản ngã xấu xa, tồi tệ này.
Lạy người cho con được xả cái bản ngã hư ảo này vào lòng đất.
Mong tất cả tâm an
Mong tất cả thân lạc
Tâm an và thân lạc
Tâm chân thành cầu mong
Mong tất cả thấu hiểu
Vạn vật là vô thường
Từ bỏ con đường ác
Quay về với hiền lương.
./.
Ngày 11 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hướng dẫn hành pháp PAGEREF _Toc150439451 \h 1
II. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc150439452 \h 4
III. Trình pháp PAGEREF _Toc150439453 \h 7
I. Hướng dẫn hành pháp
Thầy Thiện Huệ: Ba pháp cũng như nhận diện ngũ uẩn thân tâm chính mình vì đây là pháp hành căn bản, quyết định để chúng ta có thể đi sâu vào pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Nếu chúng ta không học cũng như không nắm vững những pháp hành căn bản thì pháp hành sẽ làm cho chúng ta khó thâm nhập sâu vào dòng pháp, vì vậy bất kì vị nào về núi tu học thì sư phụ luôn bằng tình thương, bằng tâm từ muốn cho đại chúng nắm được pháp hành trọng yếu, quan trọng để chúng ta có thể thực hành được.
Bước đầu tiên con xin chia sẻ về cách ngồi thiền theo như trong kinh tạng Nikāya, con mong rằng quý Ni sư cũng như quý Phật tử hãy để ý lắng nghe. Khi con nói tới đâu thì đại chúng thực tập theo đến đó, sau khi con hướng dẫn thực tập 3 pháp thì chúng ta chuyển sang học nhận diện ngũ uẩn tức là nhận diện thân tâm chính mình.
Thông thường pháp hành trên Linh Quy ngồi thiền phải thực tập được 3 pháp, tất nhiên trong lúc ngồi thiền thì chúng ta sẽ ngồi theo tư thế ngồi thiền, thân chúng ta ngồi lưng thẳng, cổ thẳng, hai vai đều, thân vai thả lỏng. Khi ngồi thiền đại chúng sẽ thực hành 3 pháp, pháp thứ nhất là chánh niệm ở trước mặt tức là mắt mình nhìn xuống về phía trước khoảng 1m, mở mắt vừa phải, không hí mắt cũng không nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn của mắt hết mức ra hai bên mà mình không để ý tập trung một điểm nào ở trước mặt, đây gọi là chánh niệm ở trước mặt, đặt niệm trước mặt hay còn gọi là rõ biết ở trước mặt.
Đó là pháp thứ nhất, con xin nhắc lại khi chúng ta ngồi thiền mắt chúng ta mở vừa phải nhìn xuống về phía trước khoảng 1m, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên mà không trú vào một điểm cố định nào trước mặt, đây là chánh niệm trước mặt, đại chúng chú ý trong lúc ngồi thiền tuyệt đối không được nhắm mắt vì nếu nhắm mắt dễ rơi vào các trạng thái: Một là dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, tức là dễ rơi vào mờ tối, si ám, chìm vào chỗ tối tăm. Hai là chúng ta dễ bị ngủ gục hoặc là chúng ta rơi vào trạng thái của tưởng uẩn hoạt động, hiện lên hết hình bóng này đến hình bóng kia hoặc là chúng ta rơi vào hết suy nghĩ này đến suy nghĩ kia, lăng xăng bên trong, ngoài ra chúng ta còn rơi vào trạng thái dễ buông lung thả lỏng, tức là ngồi cho có rồi thả lỏng, mặc kệ tới đâu thì tới. Đó là những trạng thái dễ gặp và xảy ra trong lúc ngồi thiền.
Nếu mình nhắm mắt thì mình dễ rơi vào hôn trầm ngủ gục hoặc là vọng tưởng, hết nghĩ cái này tới nghĩ cái kia, hết hình bóng này đến hình bóng kia hiện ra. Thậm chí có người rơi vào trạng thái buông lung thả lỏng, ngồi cho hết giờ chờ tiếng chuông để nghỉ. Nếu mình tập trung vào một điểm nào ở trước mắt mình thì thứ nhất là dễ mỏi mắt, thứ hai là một lúc sau sẽ hiện lên hình bóng con này con kia hoặc hình bóng người này người kia, nhất là khi ngồi thiền có vân gỗ hoặc gạch bông trước mặt mà mình nhìn vào một điểm rất dễ hiện ra hình ảnh con này con kia, đó là lý do chúng ta khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt vì dễ rơi vào hôn trầm, ngủ gục. Giờ thiền của chúng ta đòi hỏi sự tỉnh táo, sáng suốt, sáng tỏ, minh mẫn để nhìn thấy cái pháp bên trong, còn lên Bồ-đoàn ngồi thiền mà nhắm mắt ngồi thở ra thở vô là đi vào trạng thái của mờ ám, hôn trầm, dã dượi.
Đó là con chia sẻ quá trình ngồi thiền không nhắm mắt, trong quá trình chia sẻ quý Ni sư và đại chúng có gì thắc mắc thì chúng ta xin sư phụ một buổi pháp đàm để sư phụ giải thích rõ hơn, kĩ hơn, sâu sắc hơn để mọi người rõ hơn. Đó là pháp đầu tiên, chánh niệm ở trước mặt, con xin nhắc lại chánh niệm ở trước mặt là mắt chúng ta nhìn xuống khoảng 1m, tầm nhìn mở rộng hết mức sang hai bên, tức là cứ ngồi trầm tĩnh nhìn xuống, con mắt không được nhìn phải nhìn trái mà mình phải có sự đặt niệm trước mặt. Mình không trú vào một điểm nào trước mặt thì Đức Phật gọi đó là đặt niệm trước mặt, chánh niệm ở trước mặt hay là rõ biết ở trước mặt. Đại chúng chú ý trong lúc ngồi thiền theo pháp hành kinh Nikāya là không được nhắm mắt.
Pháp thứ hai là cảm giác toàn thân, cái này tương đối quan trọng trong pháp hành của tất cả người tu chúng ta. Cảm giác toàn thân là sao? Sau khi mình đã ngồi yên ổn định hơi thở, mình có sự an trú chánh niệm trước mặt thì bắt đầu mình trở về hơi thở của mình, mình nhận biết hơi thở vào hơi thở ra dài hay ngắn giống như trong kinh Tứ Niệm Xứ. Sau đó chúng ta cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: Chóp mũi, lồng ngực, bụng. Từ ba chỗ động chuyển này chúng ta cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, chúng ta cảm nhận cảm giác ở đỉnh đầu, gương mặt, cảm nhận cảm giác ở hai lỗ tai, ở cổ, vai, hai cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, cảm nhận cảm giác ở nơi lồng ngực, ở bụng và chúng ta cảm nhận cảm giác ở mông, lưng, hai chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân. Chúng ta cảm nhận cảm giác ra toàn bộ cơ thể, từ đỉnh đầu ra tới gót chân, đây gọi là cảm giác toàn thân, tức là trên thân chúng ta có cảm giác gì thì chúng ta đều rõ biết.
Mình cảm giác trên đầu mình ra sao, hai bên vai mình cảm giác ra sao, lưng mình bây giờ ra sao, có đau nhức gì không, hai chân mình tê như thế nào, lồng ngực mình ra sao, gương mặt mình cảm giác thế nào. Chúng ta rõ biết cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân thì đó gọi là cảm giác toàn thân, ví dụ mình ngồi mà hai bên vai đang mỏi thì mình biết cảm giác khó chịu, mình ngồi mà nhức lưng thì mình cảm giác ở lưng khó chịu, ngồi lâu bị tê thì mình cảm nhận những cảm giác đó, rõ biết những cảm giác đó trên thân của mình.
Bước thứ ba là nội tâm tỉnh giác, sáng tỏ, rõ biết. Mình có sự rõ biết cảnh vật ở trước mặt, rõ biết được những cảm giác, những hình bóng trong tâm, mình rõ biết được hiện giờ trong tâm mình đang suy nghĩ cái gì, đang thì thầm cái gì. Đó là nội tâm tỉnh giác, tức là mình rõ biết những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, những lời nói thủ thỉ, thỏ thẻ, thì thầm, thở than trong tâm mình.
Đó là ba pháp, con xin nhắc lại, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, mình nắm được ba pháp này để ứng dụng trong quá trình ngồi thiền, ba pháp này có thể thực hành mọi lúc mọi nơi chứ không nhất thiết chỉ thực tập trong lúc ngồi thiền. Tại sao mình phải thực tập cảm gáic toàn thân? Khi mình có an trú trên cảm giác toàn thân thì khi có cảm giác gì thay đổi là chúng ta cảm nhận được liền, Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ trong bài kinh Cội rễ của sự vật, Tăng Chi Bộ, tập I. Khi chúng ta an trú cảm giác toàn thân, mình nhìn lại cảm giác của mình thì tất cả pháp đều hiện ra để mình phát giác, phát hiện ra tham, sân, si nằm trong cảm giác. Mình thường nói tu để diệt tận tham, sân, si nhưng giờ hỏi tham, sân, si ở đâu thì mình không biết, mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu thì làm sao giết giặc, vì vậy Đức Phật chỉ cho mình tham, sân, si trú trong cảm giác. Đó là lý do mình an trú cảm giác toàn thân, trên thân có gì là mình phát hiện được ngay, sau đó mình sẽ có cách nhiếp phục nó, đó là phần thứ nhất chúng ta thực tập ba pháp trong lúc ngồi thiền.
II. Nhận diện ngũ uẩn
Bước sang phần thứ hai khá quan trọng, tức là mình phải nhận diện được ngũ uẩn, tức là thân tâm của chính mình. Trong bài kinh Thủ chuyển trong Tương Ưng Bộ, tập III, Đức Phật nói:
"Này các Tỳ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Đức Phật không tuyên bố giữa quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn hay chư thiên và loài người rằng ngài thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác khi ngài chưa thấu suốt trọn vẹn, viên mãn mọi góc độ, khía cạnh của thân tâm và thế giới. Khi ngài tuyên bố ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trước quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, ma, phạm thiên là khi ngài chứng được, thấu suốt được mọi góc độ, khía cạnh của thân tâm và thế giới. Qua đoạn kinh đó chúng ta thấy rằng do chứng ngộ trí về ngũ uẩn mà Đức Phật tuyên bố rằng ngài đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngũ uẩn chính là thân tâm của chính mình, bây giờ mình là đệ tử Phật mà không biết Phật chứng ngộ cái gì, thông thường mình chỉ biết chuyện bên ngoài, nước này nước kia nhưng khi hỏi về thân tâm mình là gì thì mình lại không biết.
Đức Phật chứng ngộ trí về ngũ uẩn, như vậy ngũ uẩn chính là thân tâm của mình. Thân tâm của mình là gì? Theo sự chứng ngộ của Đức Phật thì ngài chỉ cho mình thân tâm gồm có năm nhóm, năm thành phần, năm tổ hợp tạo thành. Nhóm thứ nhất là sắc, nhóm thứ hai là thọ, nhóm thứ ba là tưởng, nhóm thứ tư là hành, nhóm thứ năm là thức, tức là tổ hợp của những sắc chất, sắc uẩn, tổ hợp của những cảm giác, cảm thọ, tổ hợp của những hình bóng, tổ hợp của những suy nghĩ, tổ hợp của sự nhận thức bên trong, đó là thân tâm chính mình. Như vậy ngũ uẩn là gồm có sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Thân người là Sắc
Cảm giác là Thọ
Hình bóng là Tưởng
Suy nghĩ là Hành
Rõ biết là Thức
Thân tâm mình là năm nhóm đó, năm thành phần, năm tổ hợp. Trong năm nhóm đó thì sắc thuộc về thân, sắc là 50kg thịt đang ngồi đây, là cảnh vật, đồ vật bên ngoài cũng là sắc tứ đại. Thọ; tưởng; hành; thức là tâm. Nếu có ai hỏi tâm là gì? Thì mình trả lời tâm là thọ; tưởng; hành; thức, là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết, nhận thức bên trong.
Bây giờ con cho ví dụ để nhận diện thân tâm của mình, chúng ta nhắm mắt lại nhớ về người mẹ thân yêu của mình – người có ơn nghĩa như trời biển, có công ơn sanh thành dưỡng dục, lo lắng cho chúng ta khôn lớn cho đến ngày nay, tình nghĩa của mẹ cha rất thiêng liêng sâu đậm, lúc nào cũng chở che, bảo vệ, yêu thương con mình, dù cho cha mẹ có hi sinh cũng không quản miễn sao cho con mình được nên người, thành đạt trong cuộc sống.
Con mời đại chúng nhận diện ngũ uẩn, khi nghe con nói về người mẹ của mình thì mình có cảm giác ấm áp, thân thương thì đó là thọ, mình có hình bóng của mẹ hiện ra trong tâm thì đó là tưởng, mình có suy nghĩ về mẹ mình, thương mẹ mình, không biết hiện giờ mẹ ra sao, sức khỏe của mẹ ra sao, mình suy nghĩ về công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ, có những lời nói thì thầm bên trong thì đó là hành, mình có sự rõ biết mình đang có cảm thọ ấm áp thân thương, mình rõ biết đang có hình bóng của mẹ trong tâm, mình rõ biết mình đang suy nghĩ về mẹ, mình rõ biết thọ; tưởng; hành thì đó là thức. Đó là sự vận hành của tâm mình.
Trên đây là ví dụ về người mình thương, sau đây là ví dụ về người mình ghét. Người làm cho mình bực bội, khó chịu, đau khổ, người suốt ngày theo mình kiếm chuyện, hành hạ, nói móc méo mình đủ thứ. Khi nói về người mình ghét thì hiện ra hình bóng của người đó thì đó là tưởng, mình có cảm giác khó chịu về người mình ghét là thọ, mình có suy nghĩ về người mình ghét "kiếm chuyện với tôi hoài" thì đó là hành, mình có sự rõ biết hiện giờ mình đang có cảm giác khó chịu, mình đang có hình bóng người mình ghét hiện ra, mình rõ biết đang suy nghĩ về người mình không ưa, mình rõ biết được thọ; tưởng; hành thì đó là thức.
Còn sắc thân là mình đang ngồi đây, mình xem lại sắc thân mình ngồi có ngay ngắn, trang nghiêm không, mình xem vai mình có xệ xuống không, mình phải nhận diện được sắc thân tứ đại của mình hiện giờ đang như thế nào và mình nhận diện được những cái thọ; tưởng; hành; thức trong tâm của mình.
Chúng ta nhớ về ngôi chùa thân thương, là nơi mình đã tu học, là nơi mình đã xuất gia, vị thầy bổn sư đã xuống tóc cho mình tại đó, hằng ngày chúng ta đều gặp thầy tổ, huynh đệ cùng nhau tu học, cùng nhau chia sẻ những lúc khó khăn hay an lạc trong sự tu học, chúng ta hãy nhớ lại về ngôi chùa của mình. Sau khi đại chúng nghe con nói về ngôi chùa của mình thì hình bóng ngôi chùa đó hiện ra thì đó là tưởng, có cảm giác thân thương, quen thuộc là thọ, mình suy nghĩ về ngôi chùa là hành, mình có sự rõ biết mình đang suy nghĩ về ngôi chùa, mình rõ biết có hình bóng ngôi chùa mập mờ hiện ra, mình rõ biết có cảm giác gần gũi, ấm áp khi tu học ở ngôi chùa đó thì đó là thức.
Khi quý Ni sư mới đặt chân lên núi thì ngũ uẩn vận hành thế nào ạ? Lúc đó thọ; tưởng; hành của mình vận hành thế nào? Nhận diện ngũ uẩn khi mình lên núi.
III. Trình pháp
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy, kính thưa toàn thể đại chúng, con xin trình bày ngũ uẩn của con. Chiều hôm qua khi con đến núi thì sắc uẩn là con thấy sự có mặt của con cùng sự hiện hữu của cỏ, cây, hoa, lá, mây trời, trên đường đi trên núi cảm nhận những con đường gập ghềnh. Cảm thọ của con là sự nôn nao, vui mừng vì đã đến nơi kịp tham dự khóa tu với đại chúng. Cái hành của con là con suy nghĩ lên trên đây gặp thầy, gặp sư huynh đệ, gặp đại chúng để hòa chung niềm vui tu học, vừa có niềm vui vừa có nỗi lo vì không biết mình có dễ dàng hòa nhập vào chung sinh hoạt của khóa tu. Với những cái suy nghĩ như thế con nhận biết rất rõ thì thuộc về cái thức của con.
Thầy Thiện Huệ: Cái thức Ni sư nhận rõ được cái gì ạ?
Sư cô 1: Cái thức nhận rõ được về cảm xúc thì con thấy được sự bình yên, niềm vui, về cái tưởng thì con thấy sự có mặt của mình cùng thầy, quý huynh đệ và đại chúng, suy nghĩ của con là thời gian ở đây con sẽ cố gắng đi vào tu tập.
Sư cô 2: Thưa thầy khi con đến đây thì sắc tứ đại con đang đứng trên đây, cảm thọ con rất khoan khoái, dễ chịu, lên núi cao thì mát mẻ vì trên đường đi cũng hơi nhọc, trên đường đi con rất dễ chịu thì đó là cảm thọ của con. Cái tưởng của con là hình bóng thầy trụ trì, không biết thầy đang ở đâu, hình bóng thầy hiện ra trong tâm con. Con có suy nghĩ không biết bây giờ gặp thầy được không, phải làm sao, mình sẽ tu học như thế nào, không biết có hòa hợp để tu được không thì đó là hành. Con rõ biết cảm giác đó, những hình bóng và suy nghĩ của con thì đó là thức.
Phật tử 1: Con xin kính bạch thầy và xin chào các đạo hữu. Khi con đăng kí khóa tu này thì con của con chở con lên đây, con đi xe máy mang đồ theo thì đó là sắc, khi con lên đây nhìn xuống thì thấy mây bay thoải mái, dễ chịu trong người, con thấy rất hạnh phúc thì đó là thọ, còn tưởng là khi con vào nhà bếp ăn bún thì quá ngon, con cứ tưởng về tô bún đó và có suy nghĩ về tô bún đó. Suy nghĩ của con là làm thế nào cũng phải thường xuyên lên đây để tu tập, để học hỏi, để rõ biết. Cái rõ biết của con là con cảm thấy dễ chịu, con nhớ ăn tô bún và làm sao để lên đây mãi mãi.
Sư cô 3: Nam mô A-di-đà Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Khi con vừa đặt chân đến chân núi cũng như được lên trên đây thì cảm thọ rất an lạc, hoan hỉ, hình bóng là con nhớ lại thời Đức Phật và Tăng đoàn cũng tu trong núi rừng có cây trúc là cái tưởng. Con có suy nghĩ là mong có nhiều dịp để ghé về đây cùng tu là hành uẩn, con rõ biết mọi cảnh vật cũng như hoạt động ở nơi Linh Quy Pháp Ấn này thì đó là thức.
Thầy Thiện Huệ: Thức là rõ biết được thọ; tưởng; hành trong tâm mình, thưa sư cô. Tức là mình rõ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm thì đó là thức.
Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Khi đặt chân lên núi con thấy tất cả khung cảnh trên núi, con gặp các cô ở bếp thì đó là sắc uẩn, cái thọ của con rất hoan hỉ, mình lên đây có không khí trong lành, thoáng mát, con thấy rất an lạc vì ở đây rất yên tĩnh, cái tưởng của con là tưởng về những buổi giảng của sư phụ trên Internet, ý hành con nói rằng mọi hôm chỉ xem trên Youtube, còn hôm nay được lên đây sẽ gặp trực tiếp thầy cùng các bạn đồng tu, ý hành nói rằng đã lên đây thì cố gắng tu, mới lên lần đầu thì chắc là sẽ còn kém cỏi lắm. Thức của con rõ biết thọ; tưởng; hành đang vận hành ạ.
Thầy Thiện Huệ: Quý Ni sư cùng quý sư cô mới học mà nhận diện được ngũ uẩn như vậy là tốt lắm rồi, mỗi ngày chúng ta cố gắng thực tập nhận diện thân tâm chính mình, nhận diện ngũ uẩn của chính mình. Con mời một vị Phật tử nhận diện ngũ uẩn của mình ngay trong lúc này.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên thầy, con kính trên quý Ni sư, con kính trên quý Phật tử. Hiện tại sắc thân con đang ngồi nghiêm chỉnh trên ghế, cảm thọ con rất hân hoan và an lạc khi con được nghe quý Ni nhận diện ngũ uẩn, cái tưởng của con là hình bóng của quý Ni sư và hình bóng của thầy, ý hành con nói rằng quý Ni sư nhận diện ngũ uẩn quá hay, quá giỏi và thức con rõ biết thọ; tưởng; hành.
Phật tử 3: Con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể đại chúng. Sắc uẩn là cảnh vật và không gian hiện tại, bản thân con và mọi người đang ngồi ở đây, cảm giác của con đang xen giữa cảm giác vui và một chút lo lắng vì con chưa hiểu kĩ về ngũ uẩn thì đó là cảm thọ của con, hình bóng là tờ giấy trước mặt, quý thầy, quý Ni và các bạn, suy nghĩ của con về những câu từ trong ngũ uẩn này và cái thức của con nhận rõ đây là cảm giác, cái này là hình bóng, cái này là suy nghĩ.
Thầy Thiện Huệ: Quý Ni sư, quý sư cô và đại chúng cần chú ý giữa cái tưởng và cái hành dễ bị nhầm, mình phải xác định tưởng là hình bóng, hành là suy nghĩ, nếu không khéo là mình dễ bị nhầm giữa tưởng và hành. Giống như mình xem Tivi vừa có hình ảnh vừa có tiếng thì tưởng và hành cũng như vậy, tưởng là hình bóng trong tâm, tưởng là những suy nghĩ thì thầm, thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than, làm cho mình lăng xăng suốt ngày, hết nói cái này đến nói cái kia thì đó là hành.
Ở trên Linh Quy có trồng sầu riêng nhưng trái không được to lắm, vừa phải thôi nhưng ăn rất ngon, thịt rất béo, bùi, thơm. Năm nay thất mùa nhưng năm ngoái có khi các chú đi nhặt cả một xe rùa nhỏ vì trái rụng vào ban đêm, sầu riêng trên đây hoàn toàn là thiên nhiên, không xịt thuốc gì cả, gọi là sầu riêng sạch. Khi mọi người nghe con nhắc về sầu riêng như vậy thì lúc này có hình bóng trái sầu riêng hiện ra thì đó là tưởng, mình có cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú thì đó là thọ, mình có suy nghĩ về trái sâu riêng "muốn ăn thử" thì đó là hành, mình có sự rõ biết hình bóng trái sầu riêng, mình rõ biết đang có cảm thọ dễ chịu, mình rõ biết mình đang suy nghĩ muốn ăn thử thì đó là thức, tức là mình rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Đó chính là nhận diện ngũ uẩn, mình phải nhớ nhận diện ngũ uẩn khi mình nghe, mình thấy, mình tiếp xúc với bất cứ cái gì để xem sắc thân mình lúc đó thế nào, có cảm giác gì, có hình bóng, suy nghĩ gì, có nhận thức rõ biết.
-Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.
-Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.
-Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.
-Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.
-Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.
Cái thân mấy chục kí thịt đang ngồi đây là sắc, đồ vật, cảnh vật bên ngoài cũng thuộc về sắc, là tứ đại. Khi nãy mình học cảm thọ là chung chung, bây giờ Đức Phật nói rộng ra có 3 loại cảm giác, cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Đại chúng ngồi đây đang có cảm giác dễ chịu, nhưng nếu ngồi đến 1h trưa mới ăn cơm thì đó là khó chịu, còn cảm giác không dễ chịu không khó chịu tức là cảm giác đều đều, trơ trơ, ví dụ mình hỏi tiếp xúc với người đó thấy sao thì trả lời thấy cũng bình thường, không thích cũng không ghét thì đó là cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Mình ngồi đây nghe giảng pháp thì thấy dễ chịu, một chút về phòng nhưng huynh đệ lỡ nói câu gì đụng chạm là mình khó chịu, còn cảm giác không dễ chịu không khó chịu là lờ đờ, trơ trơ, trì trệ, không nhận biết được hiện giờ thọ; tưởng; hành nó như thế nào.
Thân tâm mình gồm năm nhóm là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, trong đó sắc thuộc về thân, còn bốn nhóm còn lại thuộc về tâm. Mình phải an trú cảm giác toàn thân để mình giác phát, phát hiện ra những cảm giác nó sanh khởi, trên thân của mình có cảm giác khó chịu, cảm giác dễ chịu hay cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu mình đều biết. Ngồi lây tê chân hoặc mỏi chân thì đó là cảm giác khó chịu, sau đó con cho đứng lên đi vài vòng thì có cảm giác dễ chịu, còn ngồi nghe mà thấy cũng bình thường, trơ trơ thì đó là cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu. Tiến sâu thêm là con sẽ chỉ chỗ tham, sân, si cư trú trên thân của mình, Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ ở nơi cảm thọ như vậy tham, sân, si cư trú trong cảm thọ, cảm giác của mình. Trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác khó chịu thì có sân, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu là có si, cái gốc của nó là trong tâm nhưng lại biểu hiệu trên thân.
Khi mình tiếp xúc, mình nghe hay nhìn một người nào đó mà họ chỉ trích, nói xấu mình thì ngay lồng ngực nóng lên, dâng lên, gương mặt nóng lên, hai tai đỏ lên, con mắt đỏ lên, gương mặt đỏ lên. Khi mình tức tối, sân hận thì ngay lồng ngực cứ dâng lên đốt cháy, con mắt đỏ lên, gương mặt nóng lên, lỗ tai lùng bùng, thậm chí có nhiều người chuyển sang tím tái gương mặt, đó là chỗ cư trú của cảm giác, của tâm sân ngay lồng ngực.
Lúc mình tiếp xúc với huynh đệ hay nghe những lời phê phán, chỉ trích thì mình nhìn ngay lồng ngực sẽ thấy nó động chuyện, đó là do mình có cảm giác toàn thân, có sự nhìn lại trên thân thể có sự thay đổi nên mình biết mình đang có một cảm giác khó chịu, bực bội. Trong cảm giác bực bội, khó chịu đó có sân tùy miên, tùy là đi theo, miên là miên man, sân đi theo miên man trong cảm giác khó chịu, bực bội, tức giận.
Si nằm ở ngay con mắt, khi ngồi thiền thấy cái đầu nặng nặng, hai con mắt nhướng lên, sụp mí thì đó là chỗ cư trú của tâm si mê, dã dượi. Cái đầu mình bị trì trệ, thậm chí ngồi mà hai vai sụp xuống, đó là si mê, là sự thụ động, lười biếng không muốn làm gì nữa. Cảm giác tham dục, tham muốn là biểu hiện ở chỗ phát dục của mình. Đó là ba chỗ trú ẩn của tham, sân, si biểu hiện trên thân.
Buổi chia sẻ sáng nay trong phạm vi cho phép con chia sẻ cho mọi người thực hành ba pháp là chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Mình biết được thân tâm mình là gì, đi sâu vào một chút Đức Phật chỉ cho mình có 3 loại cảm giác là dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu. Trong 3 loại cảm giác này có tham, sân, si trú ngụ trong đó, trong cảm giác khó chịu có sân, trong cảm giác dễ chịu có tham, trong cảm giác không dễ chịu không khó chịu có si.
Khi rửa chén thì mình nhận diện ngũ uẩn thế nào, dù cho làm bất cứ công việc gì mình cũng phải xem lại thân tâm, có bị dao động không, có đúng oai nghi không, mình nhìn lại sắc thân của mình nếu ngồi không đúng oai nghi thì chỉnh lại, vai có đều không hay xệ xuống 1 bên, cổ mình có quẹo 1 bên không, có thì chỉnh lại, bất cứ lúc nào cũng nhận diện ngũ uẩn để xem lúc đó cảm giác trong người thuộc về cảm giác nào, trong cảm giác đó có tham, sân, si không rồi từ từ mình sẽ có phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa nó. Bình thường ngũ uẩn vận hành suốt ngày, một số vị có công phu sâu sắc thì khi họ ngồi thiền có thể thọ; tưởng; hành sẽ lắng.
Sư phụ kể chuyện có hai vị Phật tử bên nước ngoài ngồi thiền rất tốt, tưởng và hành lắng dịu đến nỗi họ không thấy gì cả thì họ tưởng mình đạt đến cảnh giới gì đó nhưng sau đó tình cờ nghe sư phụ giảng về ngũ uẩn thì mới biết không phải như vậy mà là cái tưởng và hành chỉ tạm lắng yên thôi. Họ cảm nhận sự nhẹ nhàng trong tâm họ nên họ tưởng là tu đạt được cảnh giới gì rồi thì họ tình cờ nghe bài giảng của sư phụ nên hai vợ chồng phải bay về đây hỏi pháp sư phụ, đảnh lễ sư phụ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên quý Ni sư cùng toàn thể quý vị Phật tử, con pháp danh Thiện Huệ được sự chỉ dạy của sư phụ sáng nay con có buổi chia sẻ với pháp hành trong tạng kinh Nikāya cho quý Ni sư cùng đại chúng. Con cũng đang trong quá trình tu học để nhiếp phục thân tâm của mình, trong quá trình chia sẻ con cũng không tránh khỏi sơ sót, có thể hiện bản ngã thì mong rằng quý Ni sư và đại chúng hoan hỉ tha thứ cho con để cho con được thực tập hạnh khiêm cung và diệt ngã như sư phụ đã chỉ dạy.
Lạy người cho con được xả cái bản ngã này.
Lạy người cho con được xả cái bản ngã xấu xa, tồi tệ này.
Lạy người cho con được xả cái bản ngã hư ảo này vào lòng đất.
Mong tất cả tâm an
Mong tất cả thân lạc
Tâm an và thân lạc
Tâm chân thành cầu mong
Mong tất cả thấu hiểu
Vạn vật là vô thường
Từ bỏ con đường ác
Quay về với hiền lương.
./.