Thánh Trí Năm Uẩn 4 - Định Nghĩa 5 uẩn 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 4
ĐỊNH NGHĨA NĂM UẨN 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành nhận diện năm uẩn. PAGEREF _Toc116345276 \h 1
II.Hành uẩn PAGEREF _Toc116345277 \h 2
III.Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc116345278 \h 5
IV.Thức uẩn PAGEREF _Toc116345279 \h 8
V.Tạng kinh Nikāya tối thượng PAGEREF _Toc116345280 \h 15
Thực hành nhận diện năm uẩn.
Huynh đệ nào xung phong nhận diện thọ, tưởng, hành ngay bây giờ? Cảm giác lúc ngồi như thế nào? Trong tâm có tưởng gì, suy nghĩ gì? Cảm giác, hình bóng nội tâm và những suy nghĩ trong vài phút ngồi thiền như thế nào? Nếu không nhìn ra được cái này thì sự học của mình chỉ ở bên ngoài.
Sư thầy 1: Kính bạch thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng. Lúc nãy con có lên lớp dự ngồi thiền năm phút, nhưng lúc đó con đang ngồi ăn ngoài căn tin thì con nghe thầy niệm Phật. Lúc đó cảm thọ của con là thấy mình trễ, sanh ra cảm thọ là khổ thọ, cái tưởng hiện ra hình bóng thầy giáo thọ đang đứng niệm Phật cùng với đại chúng, cái hành nói với con ăn lẹ đi. Lúc đó con ăn lẹ để con đi lên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy 2: Mô Phật, vừa qua con thấy trong người mình không được khỏe do con bị tai nạn, thì đó là cái khổ của con lúc đó. Con đã liên tưởng đến cảnh con bị tai nạn xe, con đã nghĩ lúc đó do mình không chịu tu nên nghiệp đến mình vượt qua không được. Con có khổ thọ. Liên tưởng đến cảnh con bị tai nạn. Con thấy do mình không chịu tu nên nghiệp đến mình vượt qua không được nên mình phải cố gắng tu tập hơn nữa, đó là hành. Cái thức là nó biết được cảm giác khổ đó, những cái tưởng, hình bóng mình bị tai nạn, nó biết được mình đang suy nghĩ như vậy, đó là cái thức, biết được ba cái đó.
Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu- ni Phật. Kính bạch trên thầy và đại chúng. Qua năm phút ngồi tịnh tọa, con nhận diện về năm uẩn như sau: Con có cảm nhận về sắc thì thấy con của con đang ngồi trên ghế, mông chạm ghế có cảm giác cứng, cảm thọ là khi được ngồi trong lớp nghe thầy truyền trao kiến thức, tưởng của con là tưởng hình bóng của đại chúng trong lớp ngồi tịnh tọa năm phút trang nghiêm, cái hành của con là thúc giục con cố gắng chú tâm để nghe thầy truyền trao kiến thức, cái thức của con là biết rõ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức trên. A-di-đà Phật.
Hành uẩn
Đức Phật có những định nghĩa về hành:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành?
Có 6 tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Đây gọi là hành.
(trích Tương Ưng Bộ III, kinh Thủ chuyển)
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì?
Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh
Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh
Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh
Làm cho hiện hành các hành với hành tánh
Làm cho hiện hành thức với thức tánh.
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, nên gọi là các hành.
(Tương Ưng Bộ Tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Những gì ăn được, bài kinh Đáng được ăn)
Những điều này hết sức sâu sắc, nếu chỉ đọc kinh, không có người hướng dẫn và không có sự hành trì nhận diện, không có thiền quán là không bao giờ mình hiểu được. Nếu huynh đệ nắm vững được Thánh trí Băm uẩn này thì sự tu tập sẽ có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai, chúng ta sẽ giúp ích được những người mình muốn giúp ích.
“Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh” là những suy nghĩ trong nội tâm của mình làm cho hiện hành ra sắc với sắc tánh, ví dụ, nhìn thấy đóa hoa thì trong đầu mình nói là hoa hồng, hoa lan… đó là làm hiện hành ra sắc; trong tâm nói “hoa này vài bữa nữa sẽ héo thì đó là hiện hành sắc tánh”, vì bản tánh của sắc là vô thường, là biến hoại, là tan rã, cho nên hành là sự tác động tâm ý. Trong kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”, Đức Phật có nói “tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Tác ý là sự tác động tâm ý, do sự tác động của tâm ý nên các pháp sanh khởi, nghĩa là làm cho hiện hành sắc với sắc tánh.
Khi nhìn một người, suy nghĩ trong đầu nói “người đó là người quen mình” thì đó là sự hiện hành ra sắc. Sau đó, mình nghĩ “người này tánh tốt lắm, hiền từ hay giúp người, người này hay đến hộ trì tam bảo nhưng mà người này bữa nay già rồi, yếu rồi” thì đó là hiện khởi sắc với sắc tánh. Tâm ý vận hành siêu nhanh và bộ máy vận hành của ngũ uẩn rất khủng khiếp. Tất cả những thiết bị tối tân của thế giới này chỉ bằng một phần tỷ của ngũ uẩn, không gì sánh nổi sự vận hành của ngũ uẩn.
Thế nào là “làm cho hiện hành thọ với thọ tánh”? Ví dụ, khi đang ăn nhưng sắp đến giờ đi học, mình có cảm giác khó chịu vì sợ trễ giờ; bên cạnh đó cũng có cảm giác hoan hỷ, muốn chạy nhanh vào lớp nghe thầy giảng. Nhưng tất cả cảm thọ đều vô thường, biến đổi, sanh diệt. Đó là làm hiện hành thọ với thọ tánh tức là sự tác ý, suy nghĩ của mình làm cho hiện khởi các pháp, nếu không suy nghĩ thì các pháp không hiện khởi. Cho nên, những suy nghĩ khủng khiếp lắm, nếu không tu tập đối với hành là mình chết dài dài.
Những sự tu thông thường là tu ở trên thân tướng sắc uẩn, còn giỏi hơn chút là tu trên tưởng và hành, tu trong suy nghĩ, tu ở trên bề mặt của suy nghĩ và các tưởn, chứ chưa vào tới cái thọ. Thật ra gốc rễ của các pháp đều quy tụ ở cảm thọ, cho nên, chúng ta tu sao cho phát sanh ra cảm giác thì sự tu đó mới tiến bộ, còn tu mà nghe pháp không có cảm xúc, không rung động thì sự nghe pháp đó chưa thâm sâu, trơ trơ ra, không làm phát sanh được cảm thọ. Thế nên, việc nghe pháp, ngồi thiền chỉ là những bước đầu, phải làm sao trong những lúc đó phát huy được thọ thì sự tu mới thâm sâu. Người ta bỏ tiền mua vé để xem xiếc bởi vì lúc đó cảm giác của người ta khiếp sợ, rúng động, gọi là đi tìm cảm giác mạnh. Cho nên, khi nghe pháp hay ngồi thiền mà mình trơ như khúc cây thì sự tu đó không đi tới đâu, phải làm cho cảm thọ xúc động, chấn động, trào dâng thì sự tu mới xem là đạt.
Mỗi khi quán bất tịnh là nước mắt phải trào ra, thân thể phải rung động, nổi da gà, cảm thấy sự ngao ngán, nhàm chán đối với thân thể thì sự quán chiếu đó mới sâu sắc, thành công. Còn quán mà ngồi trơ ra, không nhúc nhích, không sanh khởi thọ thì sự tu của mình không đạt hiệu quả. Trong tất cả mọi việc, huynh đệ phải để ý chú trọng vào cái thọ, đây là mấu chốt.
Thế nào là “làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh”? Chẳng hạn, những bậc làm cha mẹ có con cái, khi con đi đâu xa là tưởng tượng cảnh con mình bị tai nạn giao thông, đó là làm cho hiện hành tưởng. Nhưng những tưởng này là sanh diệt, vô thường, đang ngồi đây đâu có tai nạn, hoặc là tai nạn tháng trước đã xảy ra rồi, những hình bóng hiện ra chỉ là sắc tưởng của quá khứ. Tức là trong nội tâm có những hình bóng về sắc uẩn trước đó là sắc tưởng của quá khứ; những suy nghĩ làm hiện hành điều đó, khi mình nói ra thì người ta mới biết được. Nếu huynh đệ không đứng lên phát biểu hay Minh Thành không nói gì thì làm sao biết được chúng ta đang nghĩ về cái gì. Như vậy, cái làm hiện hành ra các pháp chính là suy nghĩ, nếu người ta để trong bụng không nói ra thì không ai biết được, chỉ có người đó biết, tại vì hành là cái làm hiện hữu ra các pháp.
“Làm cho hiện hành thức với thức tánh”, nghĩa là suy nghĩ làm hiện hành ra sự rõ biết và tính chất của sự rõ biết đó là vô thường. Hành làm cho hiện hành năm uẩn, mà năm uẩn hiện hành là thế giới hiện hành. Trong tạng kinh Nikāya, dùng từ “thế giới” tức là thế giới ngũ uẩn, thông thường mình hiểu thế giới là các màu sắc, là thành phố, là đất, là biển thì những cái đó mới chỉ là một sắc uẩn, còn những gì Đức Phật nói là trí huệ triệt để. Nếu nói thế giới là nhà cửa, cây cỏ, đất đai, rừng núi, ao hồ, loài vật, con người thì cũng chỉ mới là sắc uẩn. Còn Đức Phật nói thế giới bao gồm năm uẩn: vật chất và tinh thần, sắc và tâm. Hiện hành năm uẩn tức là hiện hành tâm tư của thế giới, đây là một trong những pháp nếu người nào suy nghĩ là sẽ đi đến cuồng loạn.
Bốn điều không thể nào suy nghĩ được. Thứ nhất, cảnh giới của chư Phật, nếu ai suy nghĩ sẽ đưa đến điên loạn. Thứ hai, cảnh giới của thiền định, nếu suy nghĩ sẽ điên loạn. Thứ ba, quả dị thục của nghiệp là điều không thể suy nghĩ được, nếu suy nghĩ sẽ dẫn đến điên loạn. Thứ tư, tâm tư của thế giới là điều không thể suy nghĩ được, nếu suy nghĩ sẽ bị cuồng loạn, tâm tư của thế giới tức là tâm tư của ngũ uẩn.
Chúng ta thường ngạc nhiên “tại sao một người hiền lành như vậy mà lại ra những hành động khủng khiếp như vậy”, “nếu biết cô ấy như vậy tôi đâu có cưới làm vợ”, đó chính là tâm tư của thế giới, đây là bốn cảnh giới mà chúng ta suy nghĩ không thể đi tới cùng tận. Ngũ uẩn thâm sâu vô cùng, nếu nghiên cứu được ngũ uẩn thì tuyệt diệu lắm. Chúng ta sẽ biết được tâm tư, ngũ uẩn đang vận hành thế nào; còn các bậc chứng thánh quả thì các Ngài ấy thấy biết như thật, chứ không còn suy nghĩ nữa, đó gọi là người trí tự mình giác hiểu.
Như vậy, hành là những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong nội tâm, chính nó làm hiện hành ra tất cả mọi pháp.
Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn
“- Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
- Phật giới của các đức Phật, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
- Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỷkheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
- Quả dị thục của nghiệp, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
- Tâm tư thế giới, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập I, Chương Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không hý luận, bài kinh Không có thể nghĩ được)
Thứ nhất là cảnh giới của Phật, thứ hai là cảnh giới của thiền định, thứ ba là quả dị thục của nghiệp, thứ tư là tâm tư của thế giới. Bốn cảnh giới này không thể suy nghĩ được, nếu ai cố suy nghĩ thì người đó sẽ đi đến chỗ điên loạn.
Cho nên hỏi Phật đang ở đâu, Phật còn hay không là câu hỏi không trả lời được, vì chúng ta còn đang trong năm uẩn, mà Phật là bậc đã đi ra năm uẩn thì làm sao chúng ta có thể biết được. Chúng sanh cứ mãi lẩn quẩn trong năm uẩn, lấy năm uẩn làm nhà, làm tôi, làm của tôi, làm tự ngã của tôi, rồi mê đắm thích thú trong đó. Còn Đức Phật nhìn thấy bản chất của năm uẩn này là bất tịnh, là vô thường, là khổ, là gai độc, không đáng giá gì hết nên Phật vứt bỏ năm uẩn, đi ra khỏi năm uẩn. Cho nên, nếu nói Phật còn thì còn giống như năm uẩn, còn nghĩ Phật không còn thì không còn gì nữa. Tại vì ngoài năm uẩn ra chúng ta không biết thứ gì khác, chúng ta đam mê, thích thú, hoan hỷ, tham đắm và an trú trong năm uẩn, nhận năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và suốt cuộc đời của mình, của chúng sanh sanh trong tam giới là cuồng loạn, là quay cuồng xung quanh dục, tham, ái đối với năm uẩn.
Các bậc A-la-hán, Chư Phật, các bậc Thánh giả là các vị đã từ bỏ, nhàm chán, ly tham, chấm dứt ra khỏi năm uẩn nên các Ngài mới giải thoát sanh tử. Còn chúng ta nói mình đi tu để giải thoát sanh tử, nhưng cái tham lúc trước chỉ có chút ít, tu nhiều rồi thì cái tham to bằng bàn tay, thành ra, tu như vậy là đi ngược đường. Cho nên đi tu để chấm dứt khổ mà không thấy hết khổ, lại càng khổ thêm, chấm dứt tham, sân, si cũng không được. Tại vì tâm mình đặt lệch hướng, người bắt đầu Nhập lưu quả và hướng Dự lưu là người bắt đầu đi ra khỏi năm uẩn, còn chưa hướng Dự lưu, chưa vào dòng trí huệ thì vẫn ở trong năm uẩn, không có ý niệm đi ra. Đây là chỗ quyết định trong sự học Phật của mình.
Phàm Tăng và Thánh Tăng khác nhau ở chỗ, Thánh Tăng là vị đã đi ra khỏi năm uẩn, là bốn đôi tám bậc hiền thánh, còn người nào dù cho làm bất cứ điều gì đi nữa mà vẫn đam mê trong năm uẩn thì người đó còn bị mù lòa, còn bị thống khổ, sầu, bi, ưu, não. Sanh tử người này còn dài dài tiếp diễn đến vô tận cho đến khi nào người đó nhận thức thấu triệt được bản chất của năm uẩn là đáng chán, đáng bỏ thì lúc đó mới thể nhập thánh trí.
Minh Thành sẽ bật mí cho các huynh đệ thấy giữa Phàm Tăng và Thánh Tăng khác nhau chỗ nào; giữa một bậc giác ngộ và người còn đam mê khác nhau như thế nào? Một người dù tham, sân, si chưa phá hết nhưng người đó đang hướng ra khỏi năm uẩn là bắt đầu bước vào bốn đôi tám bậc của hiền thánh. Khi đã xác định hướng ra khỏi năm uẩn thì họ sẽ phá từ từ được tham, sân, si theo dòng chảy của Bát Chánh Đạo. Tức là khi thành tựu chánh tri kiến thì chánh tư duy sẽ sanh khởi, mà chánh tư duy sanh khởi thì chánh ngữ sanh khởi… Tất cả được chánh tri kiến dẫn đầu, dòng pháp đưa người về phía trước, nhất định phải như vậy, không thể khác.
Một khi chúng ta đã nhập vào dòng chảy của trí huệ thì nó sẽ đưa mình qua dòng bên kia, đó là chỗ đặc biệt thù thắng nhất của chánh tri kiến trong Bát Chánh Đạo, mà chánh tri kiến là đầu tiên phải thấy được năm uẩn, tức là thấy Phật. Người nào chưa thấy được năm uẩn thì người đó vẫn còn mù lòa trong giáo pháp, tại vì không thấy năm uẩn thì cái tôi vẫn còn đó, bản ngã vẫn còn, ngã và ngã sở đầy rẫy, đụng vào thì tham, sân, si trỗi dậy. Còn người thường lúc nào cũng thấy năm uẩn sẽ thấy một đống cảm giác khốn khổ, cứ thúc giục mình đi tìm kiếm hết thứ này để thứ khác. Khi là thanh niên thì chạy theo cảm giác, đến trung niên mà không biết chánh pháp cũng tiếp tục chạy tìm, bảy tám chục tuổi vẫn như vậy, trừ khi Nhập lưu vào dòng chảy trí huệ thì mới bắt đầu dừng lại.
Vì thế vấn đề nhận diện năm uẩn là cực kì quan trọng cho nên các huynh đệ không nhìn ra được thì tất cả sự tu hành đều không thành công. Ai có thời gian đọc kinh tạng Nikāya thì tràn ngập trong kinh đều nói về năm uẩn. Mà giáo lý của Như Lai giảng dạy thường xuyên nhiều nhất là trình bày về trí năm uẩn, chúng ta tu phải biết năm uẩn chính là mình, là thân tâm của chính mình, đó cũng chính là Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ là luôn luôn quán sát thân thể, cảm giác, nội tâm và sự vận hành trong nội tâm, đó chính là Tứ Niệm Xứ, là thân, thọ, tâm pháp. Mặc dù thường gọi là Tứ Niệm Xứ nhưng có một danh từ khác, đó chính là năm uẩn, là thân tâm của mình, là bao trùm cả thế giới.
Nếu tu học mà cứ nhìn bên ngoài, dụng công phu bên ngoài thì tới lúc nào điều chỉnh được thân tâm? Nội tâm mình có gì cũng không biết, trong thân đang có tưởng gì cũng không biết, đang có cảm giác như thế nào cũng không hay, đang có những suy nghĩ, bản ngã ra sao cũng không biết thì đó là kẻ mù lòa, làm sao tu chỉnh được, chỉ cần người ta nói một câu là sân hận, bực tức tại vì không nhìn ra được cảm giác, không nhìn ra được sự sanh khởi của các cảm giác. Đối với sự tập khởi của thọ, sự an trú của thọ, sự vận hành của thọ, sự chấm dứt của thọ, mình hoàn toàn không thấy không biết thì làm sao điều phục được cảm thọ. Chính vì vậy, Đức Phật tuyên bố:
“– Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
(Trung Bộ Kinh – 2. Kinh Tất Cả Lậu Hoặc)
Nếu không thấy, không biết thì làm sao mình đoạn tận được, mà thấy biết là thấy và biết được nội tâm của mình.
Thức uẩn
Nếu chỉ biết thức gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức thì đó là chỉ nói miệng. Chẳng hạn Minh Thành yêu cầu các huynh đệ chỉ ra các thân thức là các huynh đệ không biết, mà nói ra duyên sanh pháp của sáu thức này là càng mù tịt, rất là khó không phải dễ, mà nhận thức được rồi thì sẽ thấy rất dễ, bởi vì chúng ta thường dùng.
“Có sáu thức thân này, này các Tỳ-kheo, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Và này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức”.
(Tương Ưng Bộ Tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Những gì ăn được, bài kinh Đáng được ăn)
Có một số người định nghĩa “thức là suy nghĩ, phân biệt”, định nghĩa như vậy không đúng. Thức chỉ là rõ biết, còn suy nghĩ là hành, cho nên, trước nay mình học sai, không đúng. Hãy nhớ cho kĩ, vì cái này rất quan trọng, một khi pháp bị lẫn lộn là loạn pháp, tu sẽ không có kết quả. Phi công máy bay chỉ cần bấm lộn nút thôi là có thể rơi xuống biển, xuống mồ. Giáo pháp cũng vậy, nếu nhận thức lầm lẫn, loạn pháp thì tu sẽ không đi đến kết quả như Đức Phật nói. Mà Đức Phật nói có bốn kết quả, đó là thánh quả thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, đó là bốn thành quả của người tu Chánh pháp.
Trồng cây mà có trái là chuyện bình thường, mà trồng cây ba, bốn chục năm, đến gần chết luôn mà cũng không có trái là bất bình thường. Vậy tại sao nghe nói tu chứng thánh quả thì lại sợ? Đó là sự đảo lộn, sự bất bình thường trong người tu, cho nên tu mà chứng quả là bình thường, tu mà không chứng quả mới bất bình thường, không chứng là do tu sai, tu lầm, tu trật cho nên mới không chứng quả, mà chứng quả chính là thành quả của sự tu tập đúng pháp.
Tại sao bây giờ nghe nói thành quả là sợ? Đừng nghĩ không có thánh quả, nếu tu đúng theo kinh Nikāya là sẽ có những bậc hiền thánh, đó là sự thật. Tại vì công thức như vậy, định lý như vậy, cách thức là như vậy mà làm đúng theo thì ra kết quả y như vậy, làm sai thì không thành đạo, chỉ vậy thôi. Mà giáo pháp Đức Phật Thích Ca chưa có diệt, tuy nhiên, trong thời kì tượng pháp, tức là mường tượng pháp giống như vậy nhưng thật chất không phải. Còn tu theo đúng theo những lời Đức Phật dạy trong Nikāya chính là thánh đạo, thánh quả, làm y như lời Phật thì sẽ có bốn kết quả, chắc chắn 100%.
Nhận diện sáu thức là pháp học rất khó nhưng lại rất hay. Khi học phải nói y như trong tạng kinh Nikāya mới là đúng, bằng không, nói theo suy nghĩ thì đó là suy nghĩ chứ không phải pháp. Đa số kiểu học bây giờ là mọi người suy nghĩ sao thì nói như vậy, như vậy thì học làm gì. Chúng ta tu phải nói đúng theo tạng kinh Nikāya, mà làm đúng theo như vậy 100% thì mới ra kết quả chứ không thể nói rằng “con xin trình bày cho giáo thọ suy nghĩ của con”, mạnh ai người đó suy nghĩ thì sẽ không còn chánh pháp nữa.
Nhiều vị lên giảng rồi cũng suy nghĩ tùm lum hết, mười ông giảng hết mười lăm kiểu thì chánh pháp không còn nữa. Cho nên tại sao bên Myanma người ta học thuộc tam tạng, mấy huynh đệ biết pháp sư là những bậc triền trì pháp tạng, đâu phải muốn nói sao là nói. Do duyên có con mắt, do duyên có các sắc khởi lên nhãn thức tức là sự rõ biết các sắc, chứ không được nói cái biết của con mắt mà là sự rõ biết các sắc, thì đó là nhãn thức. Phải dùng từ đúng như trong kinh Nikāya.
Có người nói rằng “cái biết của con mắt”, như vậy người chết hoặc người đang ngủ thì họ đâu biết được các sắc. Hơn nữa, người chết lúc đó có mở mắt thì cũng không có sự rõ biết; lúc nhắm mắt ngủ, lúc ngất xỉu cũng không có sự rõ biết của con mắt. Hay lúc lỗ tai bệnh không nghe được mà người ta nói ầm ầm thì cái biết của lỗ tai ở đâu? Cho nên, chúng ta phải trình bày cho đủ duyên sanh pháp: do có lỗ tai, có tiếng khởi lên nhĩ thức – tức là sự rõ biết các âm thanh; do có lỗ mũi, các mùi khởi lên tỷ thức – tức là sự rõ biết các mùi; do có lưỡi, có các vị, mình gắp thức ăn để vào miệng thì lúc đó khởi lên thiệt thức – tức là sự rõ biết các vị. Tất cả những sự rõ biết này do đủ duyên mới sanh lên, còn thiếu duyên thì không được. Ví dụ, khi lưỡi bị bệnh, bị đẹn thì cảm giác bị rát, nhứt chứ không cảm nhận được cái ngon của thức ăn. Cho nên, cái duyên phải đầy đủ thì duyên mới sanh khởi.
Thân thức là như thế nào? Do có thân, có quần áo, bàn ghế… do có sự tiếp xúc đụng chạm với các món đồ vật đó thì khởi lên thân thức – tức là sự rõ biết của thân khi tiếp xúc do dụng chạm các món đồ. Chỗ nào tiếp xúc thì biết ngay chỗ ấy, như vậy là sự rõ biết khi thân xúc chạm với bất cứ đồ vật nào. Khi biết được như vậy, chúng ta sẽ thấy được sự riêng lẽ của các thức, điều này hết sức quan trọng. Bình thường, vì không nhận diện ra các thức nên chúng ta thấy cái biết của mình là trọn vẹn, điều này là sai, bởi vì cái biết của mình là rời rạc, cho nên gọi là nhãn thức giới, tỷ thức giới, nhĩ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới.
Cái ‘giới’ đó là phạm trù, là ranh giới tức là nhãn thức chỉ biết các sắc, ngoài sắc ra thì không nghe tiếng được. Nhãn thức chỉ rõ biết các sắc, mà cái biết cũng bị giới hạn, chỉ rõ biết được các sắc trước tầm mắt; còn sau tầm mắt thì không thể biết được, hoặc là do tưởng tượng ra, mà tưởng tượng, mà như vậy là qua tưởng. Nhĩ thức là sự rõ biết các âm thanh, nghĩa là chỉ biết tiếng còn ngoài ra không biết gì khác. Phạm vi hoạt động nhận thức của nhĩ thức chỉ trong âm thanh, cho nên gọi là nhĩ thức giới. Chính vì vậy, nếu nói cái biết của mình là một cái biết chung hết là không chính xác.
Sáu thức hoạt động riêng lẽ từng phạm vi, từng bộ phận, đó là cái biết rời rạc. Khi ngồi thiền yên tịnh, chúng ta có thể nhận ra điều này rất rõ. Tỷ thức giới là mũi chỉ nhận biết được các mùi, ngoài ra không biết cái khác, mà mùi thì cũng phải đủ duyên, phải tiếp xúc gần gần chứ mùi ở xa hàng cây số thì cũng không thể ngửi được, cho nên đó gọi là duyên sanh pháp, tức là sự kết hợp tạm bợ vô thường, trống rỗng không có bản chất. Thế nhưng sau khi ngửi mùi, đến tối ngồi thiền thì hương tưởng khởi lên lại, nhớ lại sáng nay ngửi cái mùi lạ lạ, đó là hương tưởng. Vậy mà chúng ta không biết cái mùi đó là vô thường, là vô ngã, là do duyên sanh, do tiếp xúc mới có. Duyên sanh pháp là trí tuệ vô cùng tuyệt vời, mỗi khi thấy, khi nghe, khi đụng, khi chạm, khi nếm, khi ngửi là chúng ta thấy được các pháp bằng trí tuệ, chứ không phải lộn xộn, lung tung. Trí huệ là phải biết rõ hết tất cả các pháp khi chúng hiện hành trong nội tâm, đó là quán pháp ở trên pháp.
Một nhà tâm lý học vĩ đại để có thể nghiên cứu hết tất cả các tập khởi của năm uẩn và sự chấm dứt của năm uẩn. Một nhà tâm linh thế giới bao trùm hết tất cả vũ trụ trời đất này, thấu biết hết tất cả liễu tri, thắng tri, tuệ tri đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử. Bậc Đa văn Thánh đệ tử mới được như thế còn mình đi tu lại thành vô văn phàm phu, nghe đủ thứ mà không nghe Chánh pháp, cứ nghe cái mê tín, hướng ngoại nên hiểu sai lầm về pháp. Tu mà chỉ thích những cái gì dễ, còn pháp nào khó quá thì trong tâm nói “cái này khó quá, sao tu được” thì đó là ma làm biếng, nhát lười. Muốn thành Thánh quả, muốn thành Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà chỉ thích làm những điều đơn giản thì đó là dục, là ái, là tham, là con ma dục, con ma ái, con ma tham, con ma làm biếng, chỉ muốn ngồi mát hưởng bát vàng, đó là ma nhập chứ không có thánh trí nào như vậy.
Các huynh đệ thử nghĩ một người học y học mà lên đến tiến sĩ, bác sĩ thì họ phải học bao nhiêu năm, rồi nghiên cứu rồi thực tập trong bao lâu mới trở thành một bác sĩ có địa vị, có tiếng tăm, có thực lực, thực tài? Bây giờ mình tu mà cứ nghĩ làm chi cho nhiều, học chi cho nhiều thì phải nhìn ra được đó là ái, là ưa thích sự lười nhát, lười biếng. Học trí năm uẩn này thì mắt mình giống như Dương Tiễn, nhìn thấu ra được hết, xuyên thấu hết tất cả qua những lớp da, qua ruột, gan, phèo, phổi, xuyên thấu hết những cảm giác, những nghĩ tưởng nhận thức, xuyên thủng qua khối đại vô minh uẩn. Đó là trí huệ tuyệt vời của thánh trí năm uẩn!
Mọi người phải nhớ “ý thức chỉ biết thọ, tưởng, hành”, cái này hết sức quan trọng. Cái ý thức chỉ biết cảm giác, những hình bóng và những suy nghĩ trong nội tâm, ý thức chỉ biết ba điều này thôi. Chứ ý thức không biết được các sắc ở ngoài, cũng không thể biết được âm thanh. Biết được các sắc và âm thanh chỉ có nhãn thức và nhĩ thức.
Như vậy, năm thức trước là biết ở bên ngoài, còn ý thức mới biết bên trong nội trần, cho nên khi hỏi đang có suy nghĩ gì thì phải quay lại coi kĩ nội tâm, khi nhìn trở lại bên trong thì mới thấy. Nếu được hỏi đang có suy nghĩ gì gì mà mình lại nhìn ra bên ngoài rồi nói chuyện này kia thì làm sao biết được bản thân đang có suy nghĩ gì, cho nên, chúng ta tu là phải nhìn trở lại bên trong. Vì vậy, tu tập thiền định rất là cần thiết, có như vậy chúng ta mới nhận diện được các pháp ở bên trong. Không ngồi yên tịnh mà nội soi, nội quán thì chúng ta không thể nào thấy được các pháp bên trong tâm
Khi đi khám, nội soi, chụp X-Quang là người ta phải đưa đồ vô bên trong người mình để soi trong đó có gì, bệnh ra sao; cũng vậy, ý thức của mình là ý thức có tu tập sẽ khác với ý thức không có tu tập. Ý thức không có tu tập sẽ ở trong vô minh, trong si ái, không biết không thấy gì; còn ý thức có tu tập sẽ thường nhìn lại thọ, tưởng, hành xem trong đó nó như thế nào. Khi để ý rằng mình đang có cảm giác gì, đang suy nghĩ gì, có hình bóng gì trong nội tâm thì lúc đó mới bắt đầu nhìn lại; còn chỉ lo nhìn bên ngoài cái này đẹp, cái kia xấu, cái nọ đúng, cái kia sai thì gọi là hướng ngoại, không có thời gian ngồi lại nhìn tâm mình. Sáng con mắt nhìn những thứ bên ngoài, tối về lại nhìn điện thoại, ngủ thì nhìn trong giấc chiêm bao; còn nội tâm mình thì lại không có thời gian nhìn lại. Cay đắng thay! Đó là tiếng gầm của sư tử, những tiếng chuông mạnh mẽ được đánh lên để những tên vô minh thức tỉnh vì vẫn còn đang ngập chìm trong bóng đêm.
Đức Phật dạy phải liên tục nhìn lại thọ, tưởng, hành, thức của mình đang hoạt động liên tục để mình chấm dứt, cho nên mình phải nhận diện được sáu cái thức này. Phòng học kế bên la lên là quý huynh đệ bên đây nhìn qua liền, có thấy tâm mình hướng ngoại mạnh mẽ không? Đó là thọ do nhĩ xúc sanh, mình phải quán được pháp này, đây chính là Tứ Niệm Xứ. Do duyên có tai, có âm thanh của lớp kế bên la lên thì nhĩ thức khởi lên sự rõ biết âm thanh, khi rõ biết âm thanh thì sẽ sanh ra cảm thọ, cảm giác, và đây là cảm giác sanh khởi do không phòng hộ các căn, thả lỏng các căn, không chú tâm tỉnh giác và không có niệm thân, tức là không biết mình đang làm gì và không biết cái tiếng đó là ở đâu, cũng không biết giờ này đang là giờ gì, mình đang ngồi với ai… Quán pháp như vậy giúp chúng ta có sự chánh niệm, tỉnh giác trong giây phút hiện tại, biết mình đang ngồi ở đâu, đang làm cái gì, đang tiếp xúc ai và chỗ đó phải ứng xử như thế nào. Đây là những học pháp được kết hợp từ sự chánh niệm và tỉnh thức. Bằng không, chúng ta sẽ bị ngoại cảnh, ngoại trần tác động, lôi kéo và chúng ta mất sự tự chủ khi nghe thấy âm thanh.
Chỗ này Minh Thành phân tích kỹ để các huynh đệ thấy. Chỉ có một tiếng la đơn giản nhưng đã có thể lôi kéo được mình thì một tiếng chửi sẽ ra sao? Mình sẽ hoàn toàn mất mình, còn nếu là một tiếng khen ngợi, ca tụng thì cũng đánh mất mình luôn, còn một tiếng thương mến, tình cảm tình ái thì mình cũng chết luôn. Vì thế, chỉ có một tiếng bình thường như vậy nhưng cách mình đối mặt sẽ thể hiệ sức tu tập, công phu của mình như thế nào. Người dễ bị ngoại cảnh tác động là một người suy nhược, ốm yếu trong pháp và luật.
Minh Thành không nói riêng cá nhân một ai trong phòng này, mà đây chính là những bài học sống để mình thực tập nhìn lại tâm mình, tức là người này hoàn toàn không có sức niệm định tuệ thì người này nhất định khi đối diện xúc cảnh sẽ bị nghiêng ngã và sụp đổ. Điều này hết sức hay và quan trọng, các huynh đệ thực tập sẽ thấy được sự màu nhiệm trong pháp. Ví dụ mình đang ngồi thì vách tường đằng sau đổ sụp xuống là mình sẽ rối loạn, nhảy lên rồi chạy cho nên mình tu tập càng ngày sức niệm định huệ càng vững chắc.
Chữ ‘niệm’ đó bao gồm cả Tứ Niệm Xứ chứ không phải niệm chỉ là đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, đó chỉ là một phần nhỏ của niệm thân thôi, riêng niệm thân là phải có sáu phần: niệm oai nghi, niệm hơi thở, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi, đó gọi là Thân Hành Niệm, Đức Phật gọi người nào thực hành được điều này sẽ nếm được hương vị của bất tử. Hơn thế nữa, chỉ cần niệm oai nghi, hành động thì người này đã là một người tuyệt vời. Người nào chỉ cần chú ý để tâm mình vào hành động, cử chỉ để điều chỉnh thì người này đã là người có vỏ ngoài của phạm hạnh, còn mình bây giờ tu càng nhiều thì càng đánh mất những điều cơ bản đó. Chứng kiến những việc như vậy, Minh Thành vô cùng ngao ngán, nhiều lúc Minh Thành thấy người như vậy thì cúi mặt nhìn xuống, không dám nhìn; hoặc cũng có những người nhìn mình với ánh mắt khiến mình hơi sợ, cho nên phải luôn luôn nhận diện lại sắc, gọi là:
Đệ tử Gotama
Luôn luôn tự tỉnh giác
Vô luận ngày hay đêm
Quán sắc thân thường niệm.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Tạp lục)
Tạng kinh Nikāya tối thượng
Khi học kinh Nikāya, chúng ta sẽ thấy hạnh vô cùng, tại vì những lời Phật dạy luôn nhất quán, học đến đâu thì pháp liên kết rõ ràng vào một đường lối, một đạo lộ tu tập. Còn chúng ta học lung tung, không biết cái nào ra cái nào thì sẽ rối như một đống xà bần. Kinh Nikāya cái nào ra cái đó, có một hệ thống rất rõ ràng và chúng ta thấy được đạo lộ, thánh đạo rất rõ và thánh quả đi theo đó. Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các huynh đệ phải để tâm vào bốn bộ kinh Nikāya: Tương Ưng Bộ là quan trọng nhất, lõi của tất cả lõi cây ở trong Tương Ưng Bộ, tất cả những vấn đề mà ngày Ấn Thuận đạo sư gọi là vô biên thậm thâm pháp nghĩa đều nằm trong Tương Ưng Bộ kinh.
Tiếp theo là Trung Bộ, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, còn Tiểu Bộ là sau này chỉ sử dụng một vài phần, vì sau này có những điều bị thêm vào, người sâu sắc mới biết được cái nào là người sau thêm vào. Ngay cả trong tạng kinh nguyên thủy mà còn phải chắt lọc như vậy thì huống hồ gì những bộ kinh sau 500 năm Phật nhập diệt mới xuất hiện. Ngay cả bộ đầu còn như vậy thì mấy bộ sau để qua một bên, xếp lại.
Các huynh đệ đi vào trong kinh Nikāya rồi sẽ thấy những lời Đức Phật dạy là tuyệt diệu, dù cho mình chưa lên thánh quả nhưng ít nhất mình cũng là hiền nhân trong Phật giáo, là những bậc hiền thiện hướng đến trí huệ. Đừng nghe lung tung, tông phái này nọ, ai có thể so sánh ngang hàng với bậc không có người ngang hàng, không có người so sánh, không có người xứng đối, là bậc duy nhất trên đời này?
“Này các Tỳ-kheo, có một người xuất hiện trên đời này, người đó sẽ đem lại lợi ích cho đa số, lợi lộc cho đa số, đem lại phúc báo an lạc dài lâu cho hiện tại và tương lai, người đó là Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”
(Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, bài kinh Như Lai)
Ai có thể so sánh được với bậc đó mà tại sao không học theo Ngài mà lại học lung tung, chạy loạn qua Phổ Đà Sơn để chứng pháp, qua bên Ngũ Đài để tìm Văn Thù, lại tới Nga Mi để kiếm Phổ Hiền. Phật sờ sờ trước mắt, lời dạy của Đức Thế Tôn đây mà không chịu để tâm vào những bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Cứ chạy tìm cái khác mà không biết rằng cái chạy đó là từ cái dục, nó thúc giục ở bên trong để đi chơi, để đi hướng ra ngoài, để tìm những cảnh vật thôi rồi ra xá lợi, bột bán tùm lum. Cứ chạy qua Tàu, qua Tạng, qua Miên, qua Thái, trong khi tạng kinh Nikāya đã được phiên dịch bởi đại tôn đức trưởng lão Thượng Minh Hạ Châu, một bậc đại đạo sư của Phật giáo Việt Nam, một công lao không tiền tuyệt hậu của Phật giáo Việt Nam, là người xứng đáng cho tất cả Tăng Ni của toàn quốc chắp tay tôn trọng, cuối đầu đảnh lễ cúng dường, là ruộng phước vô thượng của Phật giáo Việt Nam ta, và hiện tại chưa có mấy người biết được hết giá trị của tạng kinh Nikāya.
Nếu Minh Thành chỉ còn một hơi thở cuối cùng cũng phải nói lên một sự thật này để cho tất cả Tăng Ni, Phật tử thấy được lời dạy chân chánh của bậc Chánh Biến Tri, Thiện Thệ, bậc đại đạo sư của chúng. Nếu không, chúng ta bị lạc vào Tiểu Thừa là coi như dập mất hết Thánh đạo của Phật giáo và không có thánh quả. Trung Quốc đã phán định đó là Bà-la-môn giáo để làm cho Phật giáo không còn thánh đạo và thánh quả nữa. Thậm chí, người ta còn dám bịa đặt ra những lời phê phán ngài Xá-lợi-phất và các thánh Tăng mà Minh Thành không dám nhắc lại. Những bộ kinh sau này hết sức là nguy hiểm, nghe theo là mình chết, hơn nữa còn mang thêm tội phỉ báng bậc tướng quân của chánh pháp. Cho nên, người tu phải bám sát vào bốn bộ kinh Nikāya. Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả quý Phật tử và tất cả chư Tăng Ni, bên Học Viện cũng hãy tìm hiểu Thánh trí này. Thượng tọa trụ trì chùa Hoằng Pháp bây giờ cũng nhập thất nghiên cứu tạng kinh Nikāya, đó là một tấm gương cho tất cả chúng ta.
./.
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 4
ĐỊNH NGHĨA NĂM UẨN 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành nhận diện năm uẩn. PAGEREF _Toc116345276 \h 1
II.Hành uẩn PAGEREF _Toc116345277 \h 2
III.Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc116345278 \h 5
IV.Thức uẩn PAGEREF _Toc116345279 \h 8
V.Tạng kinh Nikāya tối thượng PAGEREF _Toc116345280 \h 15
Thực hành nhận diện năm uẩn.
Huynh đệ nào xung phong nhận diện thọ, tưởng, hành ngay bây giờ? Cảm giác lúc ngồi như thế nào? Trong tâm có tưởng gì, suy nghĩ gì? Cảm giác, hình bóng nội tâm và những suy nghĩ trong vài phút ngồi thiền như thế nào? Nếu không nhìn ra được cái này thì sự học của mình chỉ ở bên ngoài.
Sư thầy 1: Kính bạch thầy giáo thọ và toàn thể đại chúng. Lúc nãy con có lên lớp dự ngồi thiền năm phút, nhưng lúc đó con đang ngồi ăn ngoài căn tin thì con nghe thầy niệm Phật. Lúc đó cảm thọ của con là thấy mình trễ, sanh ra cảm thọ là khổ thọ, cái tưởng hiện ra hình bóng thầy giáo thọ đang đứng niệm Phật cùng với đại chúng, cái hành nói với con ăn lẹ đi. Lúc đó con ăn lẹ để con đi lên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư thầy 2: Mô Phật, vừa qua con thấy trong người mình không được khỏe do con bị tai nạn, thì đó là cái khổ của con lúc đó. Con đã liên tưởng đến cảnh con bị tai nạn xe, con đã nghĩ lúc đó do mình không chịu tu nên nghiệp đến mình vượt qua không được. Con có khổ thọ. Liên tưởng đến cảnh con bị tai nạn. Con thấy do mình không chịu tu nên nghiệp đến mình vượt qua không được nên mình phải cố gắng tu tập hơn nữa, đó là hành. Cái thức là nó biết được cảm giác khổ đó, những cái tưởng, hình bóng mình bị tai nạn, nó biết được mình đang suy nghĩ như vậy, đó là cái thức, biết được ba cái đó.
Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu- ni Phật. Kính bạch trên thầy và đại chúng. Qua năm phút ngồi tịnh tọa, con nhận diện về năm uẩn như sau: Con có cảm nhận về sắc thì thấy con của con đang ngồi trên ghế, mông chạm ghế có cảm giác cứng, cảm thọ là khi được ngồi trong lớp nghe thầy truyền trao kiến thức, tưởng của con là tưởng hình bóng của đại chúng trong lớp ngồi tịnh tọa năm phút trang nghiêm, cái hành của con là thúc giục con cố gắng chú tâm để nghe thầy truyền trao kiến thức, cái thức của con là biết rõ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức trên. A-di-đà Phật.
Hành uẩn
Đức Phật có những định nghĩa về hành:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành?
Có 6 tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Đây gọi là hành.
(trích Tương Ưng Bộ III, kinh Thủ chuyển)
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì?
Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh
Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh
Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh
Làm cho hiện hành các hành với hành tánh
Làm cho hiện hành thức với thức tánh.
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, nên gọi là các hành.
(Tương Ưng Bộ Tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Những gì ăn được, bài kinh Đáng được ăn)
Những điều này hết sức sâu sắc, nếu chỉ đọc kinh, không có người hướng dẫn và không có sự hành trì nhận diện, không có thiền quán là không bao giờ mình hiểu được. Nếu huynh đệ nắm vững được Thánh trí Băm uẩn này thì sự tu tập sẽ có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai, chúng ta sẽ giúp ích được những người mình muốn giúp ích.
“Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh” là những suy nghĩ trong nội tâm của mình làm cho hiện hành ra sắc với sắc tánh, ví dụ, nhìn thấy đóa hoa thì trong đầu mình nói là hoa hồng, hoa lan… đó là làm hiện hành ra sắc; trong tâm nói “hoa này vài bữa nữa sẽ héo thì đó là hiện hành sắc tánh”, vì bản tánh của sắc là vô thường, là biến hoại, là tan rã, cho nên hành là sự tác động tâm ý. Trong kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”, Đức Phật có nói “tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi”. Tác ý là sự tác động tâm ý, do sự tác động của tâm ý nên các pháp sanh khởi, nghĩa là làm cho hiện hành sắc với sắc tánh.
Khi nhìn một người, suy nghĩ trong đầu nói “người đó là người quen mình” thì đó là sự hiện hành ra sắc. Sau đó, mình nghĩ “người này tánh tốt lắm, hiền từ hay giúp người, người này hay đến hộ trì tam bảo nhưng mà người này bữa nay già rồi, yếu rồi” thì đó là hiện khởi sắc với sắc tánh. Tâm ý vận hành siêu nhanh và bộ máy vận hành của ngũ uẩn rất khủng khiếp. Tất cả những thiết bị tối tân của thế giới này chỉ bằng một phần tỷ của ngũ uẩn, không gì sánh nổi sự vận hành của ngũ uẩn.
Thế nào là “làm cho hiện hành thọ với thọ tánh”? Ví dụ, khi đang ăn nhưng sắp đến giờ đi học, mình có cảm giác khó chịu vì sợ trễ giờ; bên cạnh đó cũng có cảm giác hoan hỷ, muốn chạy nhanh vào lớp nghe thầy giảng. Nhưng tất cả cảm thọ đều vô thường, biến đổi, sanh diệt. Đó là làm hiện hành thọ với thọ tánh tức là sự tác ý, suy nghĩ của mình làm cho hiện khởi các pháp, nếu không suy nghĩ thì các pháp không hiện khởi. Cho nên, những suy nghĩ khủng khiếp lắm, nếu không tu tập đối với hành là mình chết dài dài.
Những sự tu thông thường là tu ở trên thân tướng sắc uẩn, còn giỏi hơn chút là tu trên tưởng và hành, tu trong suy nghĩ, tu ở trên bề mặt của suy nghĩ và các tưởn, chứ chưa vào tới cái thọ. Thật ra gốc rễ của các pháp đều quy tụ ở cảm thọ, cho nên, chúng ta tu sao cho phát sanh ra cảm giác thì sự tu đó mới tiến bộ, còn tu mà nghe pháp không có cảm xúc, không rung động thì sự nghe pháp đó chưa thâm sâu, trơ trơ ra, không làm phát sanh được cảm thọ. Thế nên, việc nghe pháp, ngồi thiền chỉ là những bước đầu, phải làm sao trong những lúc đó phát huy được thọ thì sự tu mới thâm sâu. Người ta bỏ tiền mua vé để xem xiếc bởi vì lúc đó cảm giác của người ta khiếp sợ, rúng động, gọi là đi tìm cảm giác mạnh. Cho nên, khi nghe pháp hay ngồi thiền mà mình trơ như khúc cây thì sự tu đó không đi tới đâu, phải làm cho cảm thọ xúc động, chấn động, trào dâng thì sự tu mới xem là đạt.
Mỗi khi quán bất tịnh là nước mắt phải trào ra, thân thể phải rung động, nổi da gà, cảm thấy sự ngao ngán, nhàm chán đối với thân thể thì sự quán chiếu đó mới sâu sắc, thành công. Còn quán mà ngồi trơ ra, không nhúc nhích, không sanh khởi thọ thì sự tu của mình không đạt hiệu quả. Trong tất cả mọi việc, huynh đệ phải để ý chú trọng vào cái thọ, đây là mấu chốt.
Thế nào là “làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh”? Chẳng hạn, những bậc làm cha mẹ có con cái, khi con đi đâu xa là tưởng tượng cảnh con mình bị tai nạn giao thông, đó là làm cho hiện hành tưởng. Nhưng những tưởng này là sanh diệt, vô thường, đang ngồi đây đâu có tai nạn, hoặc là tai nạn tháng trước đã xảy ra rồi, những hình bóng hiện ra chỉ là sắc tưởng của quá khứ. Tức là trong nội tâm có những hình bóng về sắc uẩn trước đó là sắc tưởng của quá khứ; những suy nghĩ làm hiện hành điều đó, khi mình nói ra thì người ta mới biết được. Nếu huynh đệ không đứng lên phát biểu hay Minh Thành không nói gì thì làm sao biết được chúng ta đang nghĩ về cái gì. Như vậy, cái làm hiện hành ra các pháp chính là suy nghĩ, nếu người ta để trong bụng không nói ra thì không ai biết được, chỉ có người đó biết, tại vì hành là cái làm hiện hữu ra các pháp.
“Làm cho hiện hành thức với thức tánh”, nghĩa là suy nghĩ làm hiện hành ra sự rõ biết và tính chất của sự rõ biết đó là vô thường. Hành làm cho hiện hành năm uẩn, mà năm uẩn hiện hành là thế giới hiện hành. Trong tạng kinh Nikāya, dùng từ “thế giới” tức là thế giới ngũ uẩn, thông thường mình hiểu thế giới là các màu sắc, là thành phố, là đất, là biển thì những cái đó mới chỉ là một sắc uẩn, còn những gì Đức Phật nói là trí huệ triệt để. Nếu nói thế giới là nhà cửa, cây cỏ, đất đai, rừng núi, ao hồ, loài vật, con người thì cũng chỉ mới là sắc uẩn. Còn Đức Phật nói thế giới bao gồm năm uẩn: vật chất và tinh thần, sắc và tâm. Hiện hành năm uẩn tức là hiện hành tâm tư của thế giới, đây là một trong những pháp nếu người nào suy nghĩ là sẽ đi đến cuồng loạn.
Bốn điều không thể nào suy nghĩ được. Thứ nhất, cảnh giới của chư Phật, nếu ai suy nghĩ sẽ đưa đến điên loạn. Thứ hai, cảnh giới của thiền định, nếu suy nghĩ sẽ điên loạn. Thứ ba, quả dị thục của nghiệp là điều không thể suy nghĩ được, nếu suy nghĩ sẽ dẫn đến điên loạn. Thứ tư, tâm tư của thế giới là điều không thể suy nghĩ được, nếu suy nghĩ sẽ bị cuồng loạn, tâm tư của thế giới tức là tâm tư của ngũ uẩn.
Chúng ta thường ngạc nhiên “tại sao một người hiền lành như vậy mà lại ra những hành động khủng khiếp như vậy”, “nếu biết cô ấy như vậy tôi đâu có cưới làm vợ”, đó chính là tâm tư của thế giới, đây là bốn cảnh giới mà chúng ta suy nghĩ không thể đi tới cùng tận. Ngũ uẩn thâm sâu vô cùng, nếu nghiên cứu được ngũ uẩn thì tuyệt diệu lắm. Chúng ta sẽ biết được tâm tư, ngũ uẩn đang vận hành thế nào; còn các bậc chứng thánh quả thì các Ngài ấy thấy biết như thật, chứ không còn suy nghĩ nữa, đó gọi là người trí tự mình giác hiểu.
Như vậy, hành là những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm trong nội tâm, chính nó làm hiện hành ra tất cả mọi pháp.
Tầm quan trọng của nhận diện năm uẩn
“- Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn?
- Phật giới của các đức Phật, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
- Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỷkheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
- Quả dị thục của nghiệp, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
- Tâm tư thế giới, này các Tỷ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.
Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỷ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.”
(Tăng Chi Bộ kinh tập I, Chương Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không hý luận, bài kinh Không có thể nghĩ được)
Thứ nhất là cảnh giới của Phật, thứ hai là cảnh giới của thiền định, thứ ba là quả dị thục của nghiệp, thứ tư là tâm tư của thế giới. Bốn cảnh giới này không thể suy nghĩ được, nếu ai cố suy nghĩ thì người đó sẽ đi đến chỗ điên loạn.
Cho nên hỏi Phật đang ở đâu, Phật còn hay không là câu hỏi không trả lời được, vì chúng ta còn đang trong năm uẩn, mà Phật là bậc đã đi ra năm uẩn thì làm sao chúng ta có thể biết được. Chúng sanh cứ mãi lẩn quẩn trong năm uẩn, lấy năm uẩn làm nhà, làm tôi, làm của tôi, làm tự ngã của tôi, rồi mê đắm thích thú trong đó. Còn Đức Phật nhìn thấy bản chất của năm uẩn này là bất tịnh, là vô thường, là khổ, là gai độc, không đáng giá gì hết nên Phật vứt bỏ năm uẩn, đi ra khỏi năm uẩn. Cho nên, nếu nói Phật còn thì còn giống như năm uẩn, còn nghĩ Phật không còn thì không còn gì nữa. Tại vì ngoài năm uẩn ra chúng ta không biết thứ gì khác, chúng ta đam mê, thích thú, hoan hỷ, tham đắm và an trú trong năm uẩn, nhận năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi và suốt cuộc đời của mình, của chúng sanh sanh trong tam giới là cuồng loạn, là quay cuồng xung quanh dục, tham, ái đối với năm uẩn.
Các bậc A-la-hán, Chư Phật, các bậc Thánh giả là các vị đã từ bỏ, nhàm chán, ly tham, chấm dứt ra khỏi năm uẩn nên các Ngài mới giải thoát sanh tử. Còn chúng ta nói mình đi tu để giải thoát sanh tử, nhưng cái tham lúc trước chỉ có chút ít, tu nhiều rồi thì cái tham to bằng bàn tay, thành ra, tu như vậy là đi ngược đường. Cho nên đi tu để chấm dứt khổ mà không thấy hết khổ, lại càng khổ thêm, chấm dứt tham, sân, si cũng không được. Tại vì tâm mình đặt lệch hướng, người bắt đầu Nhập lưu quả và hướng Dự lưu là người bắt đầu đi ra khỏi năm uẩn, còn chưa hướng Dự lưu, chưa vào dòng trí huệ thì vẫn ở trong năm uẩn, không có ý niệm đi ra. Đây là chỗ quyết định trong sự học Phật của mình.
Phàm Tăng và Thánh Tăng khác nhau ở chỗ, Thánh Tăng là vị đã đi ra khỏi năm uẩn, là bốn đôi tám bậc hiền thánh, còn người nào dù cho làm bất cứ điều gì đi nữa mà vẫn đam mê trong năm uẩn thì người đó còn bị mù lòa, còn bị thống khổ, sầu, bi, ưu, não. Sanh tử người này còn dài dài tiếp diễn đến vô tận cho đến khi nào người đó nhận thức thấu triệt được bản chất của năm uẩn là đáng chán, đáng bỏ thì lúc đó mới thể nhập thánh trí.
Minh Thành sẽ bật mí cho các huynh đệ thấy giữa Phàm Tăng và Thánh Tăng khác nhau chỗ nào; giữa một bậc giác ngộ và người còn đam mê khác nhau như thế nào? Một người dù tham, sân, si chưa phá hết nhưng người đó đang hướng ra khỏi năm uẩn là bắt đầu bước vào bốn đôi tám bậc của hiền thánh. Khi đã xác định hướng ra khỏi năm uẩn thì họ sẽ phá từ từ được tham, sân, si theo dòng chảy của Bát Chánh Đạo. Tức là khi thành tựu chánh tri kiến thì chánh tư duy sẽ sanh khởi, mà chánh tư duy sanh khởi thì chánh ngữ sanh khởi… Tất cả được chánh tri kiến dẫn đầu, dòng pháp đưa người về phía trước, nhất định phải như vậy, không thể khác.
Một khi chúng ta đã nhập vào dòng chảy của trí huệ thì nó sẽ đưa mình qua dòng bên kia, đó là chỗ đặc biệt thù thắng nhất của chánh tri kiến trong Bát Chánh Đạo, mà chánh tri kiến là đầu tiên phải thấy được năm uẩn, tức là thấy Phật. Người nào chưa thấy được năm uẩn thì người đó vẫn còn mù lòa trong giáo pháp, tại vì không thấy năm uẩn thì cái tôi vẫn còn đó, bản ngã vẫn còn, ngã và ngã sở đầy rẫy, đụng vào thì tham, sân, si trỗi dậy. Còn người thường lúc nào cũng thấy năm uẩn sẽ thấy một đống cảm giác khốn khổ, cứ thúc giục mình đi tìm kiếm hết thứ này để thứ khác. Khi là thanh niên thì chạy theo cảm giác, đến trung niên mà không biết chánh pháp cũng tiếp tục chạy tìm, bảy tám chục tuổi vẫn như vậy, trừ khi Nhập lưu vào dòng chảy trí huệ thì mới bắt đầu dừng lại.
Vì thế vấn đề nhận diện năm uẩn là cực kì quan trọng cho nên các huynh đệ không nhìn ra được thì tất cả sự tu hành đều không thành công. Ai có thời gian đọc kinh tạng Nikāya thì tràn ngập trong kinh đều nói về năm uẩn. Mà giáo lý của Như Lai giảng dạy thường xuyên nhiều nhất là trình bày về trí năm uẩn, chúng ta tu phải biết năm uẩn chính là mình, là thân tâm của chính mình, đó cũng chính là Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ là luôn luôn quán sát thân thể, cảm giác, nội tâm và sự vận hành trong nội tâm, đó chính là Tứ Niệm Xứ, là thân, thọ, tâm pháp. Mặc dù thường gọi là Tứ Niệm Xứ nhưng có một danh từ khác, đó chính là năm uẩn, là thân tâm của mình, là bao trùm cả thế giới.
Nếu tu học mà cứ nhìn bên ngoài, dụng công phu bên ngoài thì tới lúc nào điều chỉnh được thân tâm? Nội tâm mình có gì cũng không biết, trong thân đang có tưởng gì cũng không biết, đang có cảm giác như thế nào cũng không hay, đang có những suy nghĩ, bản ngã ra sao cũng không biết thì đó là kẻ mù lòa, làm sao tu chỉnh được, chỉ cần người ta nói một câu là sân hận, bực tức tại vì không nhìn ra được cảm giác, không nhìn ra được sự sanh khởi của các cảm giác. Đối với sự tập khởi của thọ, sự an trú của thọ, sự vận hành của thọ, sự chấm dứt của thọ, mình hoàn toàn không thấy không biết thì làm sao điều phục được cảm thọ. Chính vì vậy, Đức Phật tuyên bố:
“– Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
(Trung Bộ Kinh – 2. Kinh Tất Cả Lậu Hoặc)
Nếu không thấy, không biết thì làm sao mình đoạn tận được, mà thấy biết là thấy và biết được nội tâm của mình.
Thức uẩn
Nếu chỉ biết thức gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức thì đó là chỉ nói miệng. Chẳng hạn Minh Thành yêu cầu các huynh đệ chỉ ra các thân thức là các huynh đệ không biết, mà nói ra duyên sanh pháp của sáu thức này là càng mù tịt, rất là khó không phải dễ, mà nhận thức được rồi thì sẽ thấy rất dễ, bởi vì chúng ta thường dùng.
“Có sáu thức thân này, này các Tỳ-kheo, nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, Và này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức”.
(Tương Ưng Bộ Tập III, Chương I. Tương Ưng Uẩn, III. Phẩm Những gì ăn được, bài kinh Đáng được ăn)
Có một số người định nghĩa “thức là suy nghĩ, phân biệt”, định nghĩa như vậy không đúng. Thức chỉ là rõ biết, còn suy nghĩ là hành, cho nên, trước nay mình học sai, không đúng. Hãy nhớ cho kĩ, vì cái này rất quan trọng, một khi pháp bị lẫn lộn là loạn pháp, tu sẽ không có kết quả. Phi công máy bay chỉ cần bấm lộn nút thôi là có thể rơi xuống biển, xuống mồ. Giáo pháp cũng vậy, nếu nhận thức lầm lẫn, loạn pháp thì tu sẽ không đi đến kết quả như Đức Phật nói. Mà Đức Phật nói có bốn kết quả, đó là thánh quả thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, đó là bốn thành quả của người tu Chánh pháp.
Trồng cây mà có trái là chuyện bình thường, mà trồng cây ba, bốn chục năm, đến gần chết luôn mà cũng không có trái là bất bình thường. Vậy tại sao nghe nói tu chứng thánh quả thì lại sợ? Đó là sự đảo lộn, sự bất bình thường trong người tu, cho nên tu mà chứng quả là bình thường, tu mà không chứng quả mới bất bình thường, không chứng là do tu sai, tu lầm, tu trật cho nên mới không chứng quả, mà chứng quả chính là thành quả của sự tu tập đúng pháp.
Tại sao bây giờ nghe nói thành quả là sợ? Đừng nghĩ không có thánh quả, nếu tu đúng theo kinh Nikāya là sẽ có những bậc hiền thánh, đó là sự thật. Tại vì công thức như vậy, định lý như vậy, cách thức là như vậy mà làm đúng theo thì ra kết quả y như vậy, làm sai thì không thành đạo, chỉ vậy thôi. Mà giáo pháp Đức Phật Thích Ca chưa có diệt, tuy nhiên, trong thời kì tượng pháp, tức là mường tượng pháp giống như vậy nhưng thật chất không phải. Còn tu theo đúng theo những lời Đức Phật dạy trong Nikāya chính là thánh đạo, thánh quả, làm y như lời Phật thì sẽ có bốn kết quả, chắc chắn 100%.
Nhận diện sáu thức là pháp học rất khó nhưng lại rất hay. Khi học phải nói y như trong tạng kinh Nikāya mới là đúng, bằng không, nói theo suy nghĩ thì đó là suy nghĩ chứ không phải pháp. Đa số kiểu học bây giờ là mọi người suy nghĩ sao thì nói như vậy, như vậy thì học làm gì. Chúng ta tu phải nói đúng theo tạng kinh Nikāya, mà làm đúng theo như vậy 100% thì mới ra kết quả chứ không thể nói rằng “con xin trình bày cho giáo thọ suy nghĩ của con”, mạnh ai người đó suy nghĩ thì sẽ không còn chánh pháp nữa.
Nhiều vị lên giảng rồi cũng suy nghĩ tùm lum hết, mười ông giảng hết mười lăm kiểu thì chánh pháp không còn nữa. Cho nên tại sao bên Myanma người ta học thuộc tam tạng, mấy huynh đệ biết pháp sư là những bậc triền trì pháp tạng, đâu phải muốn nói sao là nói. Do duyên có con mắt, do duyên có các sắc khởi lên nhãn thức tức là sự rõ biết các sắc, chứ không được nói cái biết của con mắt mà là sự rõ biết các sắc, thì đó là nhãn thức. Phải dùng từ đúng như trong kinh Nikāya.
Có người nói rằng “cái biết của con mắt”, như vậy người chết hoặc người đang ngủ thì họ đâu biết được các sắc. Hơn nữa, người chết lúc đó có mở mắt thì cũng không có sự rõ biết; lúc nhắm mắt ngủ, lúc ngất xỉu cũng không có sự rõ biết của con mắt. Hay lúc lỗ tai bệnh không nghe được mà người ta nói ầm ầm thì cái biết của lỗ tai ở đâu? Cho nên, chúng ta phải trình bày cho đủ duyên sanh pháp: do có lỗ tai, có tiếng khởi lên nhĩ thức – tức là sự rõ biết các âm thanh; do có lỗ mũi, các mùi khởi lên tỷ thức – tức là sự rõ biết các mùi; do có lưỡi, có các vị, mình gắp thức ăn để vào miệng thì lúc đó khởi lên thiệt thức – tức là sự rõ biết các vị. Tất cả những sự rõ biết này do đủ duyên mới sanh lên, còn thiếu duyên thì không được. Ví dụ, khi lưỡi bị bệnh, bị đẹn thì cảm giác bị rát, nhứt chứ không cảm nhận được cái ngon của thức ăn. Cho nên, cái duyên phải đầy đủ thì duyên mới sanh khởi.
Thân thức là như thế nào? Do có thân, có quần áo, bàn ghế… do có sự tiếp xúc đụng chạm với các món đồ vật đó thì khởi lên thân thức – tức là sự rõ biết của thân khi tiếp xúc do dụng chạm các món đồ. Chỗ nào tiếp xúc thì biết ngay chỗ ấy, như vậy là sự rõ biết khi thân xúc chạm với bất cứ đồ vật nào. Khi biết được như vậy, chúng ta sẽ thấy được sự riêng lẽ của các thức, điều này hết sức quan trọng. Bình thường, vì không nhận diện ra các thức nên chúng ta thấy cái biết của mình là trọn vẹn, điều này là sai, bởi vì cái biết của mình là rời rạc, cho nên gọi là nhãn thức giới, tỷ thức giới, nhĩ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới.
Cái ‘giới’ đó là phạm trù, là ranh giới tức là nhãn thức chỉ biết các sắc, ngoài sắc ra thì không nghe tiếng được. Nhãn thức chỉ rõ biết các sắc, mà cái biết cũng bị giới hạn, chỉ rõ biết được các sắc trước tầm mắt; còn sau tầm mắt thì không thể biết được, hoặc là do tưởng tượng ra, mà tưởng tượng, mà như vậy là qua tưởng. Nhĩ thức là sự rõ biết các âm thanh, nghĩa là chỉ biết tiếng còn ngoài ra không biết gì khác. Phạm vi hoạt động nhận thức của nhĩ thức chỉ trong âm thanh, cho nên gọi là nhĩ thức giới. Chính vì vậy, nếu nói cái biết của mình là một cái biết chung hết là không chính xác.
Sáu thức hoạt động riêng lẽ từng phạm vi, từng bộ phận, đó là cái biết rời rạc. Khi ngồi thiền yên tịnh, chúng ta có thể nhận ra điều này rất rõ. Tỷ thức giới là mũi chỉ nhận biết được các mùi, ngoài ra không biết cái khác, mà mùi thì cũng phải đủ duyên, phải tiếp xúc gần gần chứ mùi ở xa hàng cây số thì cũng không thể ngửi được, cho nên đó gọi là duyên sanh pháp, tức là sự kết hợp tạm bợ vô thường, trống rỗng không có bản chất. Thế nhưng sau khi ngửi mùi, đến tối ngồi thiền thì hương tưởng khởi lên lại, nhớ lại sáng nay ngửi cái mùi lạ lạ, đó là hương tưởng. Vậy mà chúng ta không biết cái mùi đó là vô thường, là vô ngã, là do duyên sanh, do tiếp xúc mới có. Duyên sanh pháp là trí tuệ vô cùng tuyệt vời, mỗi khi thấy, khi nghe, khi đụng, khi chạm, khi nếm, khi ngửi là chúng ta thấy được các pháp bằng trí tuệ, chứ không phải lộn xộn, lung tung. Trí huệ là phải biết rõ hết tất cả các pháp khi chúng hiện hành trong nội tâm, đó là quán pháp ở trên pháp.
Một nhà tâm lý học vĩ đại để có thể nghiên cứu hết tất cả các tập khởi của năm uẩn và sự chấm dứt của năm uẩn. Một nhà tâm linh thế giới bao trùm hết tất cả vũ trụ trời đất này, thấu biết hết tất cả liễu tri, thắng tri, tuệ tri đó là bậc Đa văn Thánh đệ tử. Bậc Đa văn Thánh đệ tử mới được như thế còn mình đi tu lại thành vô văn phàm phu, nghe đủ thứ mà không nghe Chánh pháp, cứ nghe cái mê tín, hướng ngoại nên hiểu sai lầm về pháp. Tu mà chỉ thích những cái gì dễ, còn pháp nào khó quá thì trong tâm nói “cái này khó quá, sao tu được” thì đó là ma làm biếng, nhát lười. Muốn thành Thánh quả, muốn thành Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà chỉ thích làm những điều đơn giản thì đó là dục, là ái, là tham, là con ma dục, con ma ái, con ma tham, con ma làm biếng, chỉ muốn ngồi mát hưởng bát vàng, đó là ma nhập chứ không có thánh trí nào như vậy.
Các huynh đệ thử nghĩ một người học y học mà lên đến tiến sĩ, bác sĩ thì họ phải học bao nhiêu năm, rồi nghiên cứu rồi thực tập trong bao lâu mới trở thành một bác sĩ có địa vị, có tiếng tăm, có thực lực, thực tài? Bây giờ mình tu mà cứ nghĩ làm chi cho nhiều, học chi cho nhiều thì phải nhìn ra được đó là ái, là ưa thích sự lười nhát, lười biếng. Học trí năm uẩn này thì mắt mình giống như Dương Tiễn, nhìn thấu ra được hết, xuyên thấu hết tất cả qua những lớp da, qua ruột, gan, phèo, phổi, xuyên thấu hết những cảm giác, những nghĩ tưởng nhận thức, xuyên thủng qua khối đại vô minh uẩn. Đó là trí huệ tuyệt vời của thánh trí năm uẩn!
Mọi người phải nhớ “ý thức chỉ biết thọ, tưởng, hành”, cái này hết sức quan trọng. Cái ý thức chỉ biết cảm giác, những hình bóng và những suy nghĩ trong nội tâm, ý thức chỉ biết ba điều này thôi. Chứ ý thức không biết được các sắc ở ngoài, cũng không thể biết được âm thanh. Biết được các sắc và âm thanh chỉ có nhãn thức và nhĩ thức.
Như vậy, năm thức trước là biết ở bên ngoài, còn ý thức mới biết bên trong nội trần, cho nên khi hỏi đang có suy nghĩ gì thì phải quay lại coi kĩ nội tâm, khi nhìn trở lại bên trong thì mới thấy. Nếu được hỏi đang có suy nghĩ gì gì mà mình lại nhìn ra bên ngoài rồi nói chuyện này kia thì làm sao biết được bản thân đang có suy nghĩ gì, cho nên, chúng ta tu là phải nhìn trở lại bên trong. Vì vậy, tu tập thiền định rất là cần thiết, có như vậy chúng ta mới nhận diện được các pháp ở bên trong. Không ngồi yên tịnh mà nội soi, nội quán thì chúng ta không thể nào thấy được các pháp bên trong tâm
Khi đi khám, nội soi, chụp X-Quang là người ta phải đưa đồ vô bên trong người mình để soi trong đó có gì, bệnh ra sao; cũng vậy, ý thức của mình là ý thức có tu tập sẽ khác với ý thức không có tu tập. Ý thức không có tu tập sẽ ở trong vô minh, trong si ái, không biết không thấy gì; còn ý thức có tu tập sẽ thường nhìn lại thọ, tưởng, hành xem trong đó nó như thế nào. Khi để ý rằng mình đang có cảm giác gì, đang suy nghĩ gì, có hình bóng gì trong nội tâm thì lúc đó mới bắt đầu nhìn lại; còn chỉ lo nhìn bên ngoài cái này đẹp, cái kia xấu, cái nọ đúng, cái kia sai thì gọi là hướng ngoại, không có thời gian ngồi lại nhìn tâm mình. Sáng con mắt nhìn những thứ bên ngoài, tối về lại nhìn điện thoại, ngủ thì nhìn trong giấc chiêm bao; còn nội tâm mình thì lại không có thời gian nhìn lại. Cay đắng thay! Đó là tiếng gầm của sư tử, những tiếng chuông mạnh mẽ được đánh lên để những tên vô minh thức tỉnh vì vẫn còn đang ngập chìm trong bóng đêm.
Đức Phật dạy phải liên tục nhìn lại thọ, tưởng, hành, thức của mình đang hoạt động liên tục để mình chấm dứt, cho nên mình phải nhận diện được sáu cái thức này. Phòng học kế bên la lên là quý huynh đệ bên đây nhìn qua liền, có thấy tâm mình hướng ngoại mạnh mẽ không? Đó là thọ do nhĩ xúc sanh, mình phải quán được pháp này, đây chính là Tứ Niệm Xứ. Do duyên có tai, có âm thanh của lớp kế bên la lên thì nhĩ thức khởi lên sự rõ biết âm thanh, khi rõ biết âm thanh thì sẽ sanh ra cảm thọ, cảm giác, và đây là cảm giác sanh khởi do không phòng hộ các căn, thả lỏng các căn, không chú tâm tỉnh giác và không có niệm thân, tức là không biết mình đang làm gì và không biết cái tiếng đó là ở đâu, cũng không biết giờ này đang là giờ gì, mình đang ngồi với ai… Quán pháp như vậy giúp chúng ta có sự chánh niệm, tỉnh giác trong giây phút hiện tại, biết mình đang ngồi ở đâu, đang làm cái gì, đang tiếp xúc ai và chỗ đó phải ứng xử như thế nào. Đây là những học pháp được kết hợp từ sự chánh niệm và tỉnh thức. Bằng không, chúng ta sẽ bị ngoại cảnh, ngoại trần tác động, lôi kéo và chúng ta mất sự tự chủ khi nghe thấy âm thanh.
Chỗ này Minh Thành phân tích kỹ để các huynh đệ thấy. Chỉ có một tiếng la đơn giản nhưng đã có thể lôi kéo được mình thì một tiếng chửi sẽ ra sao? Mình sẽ hoàn toàn mất mình, còn nếu là một tiếng khen ngợi, ca tụng thì cũng đánh mất mình luôn, còn một tiếng thương mến, tình cảm tình ái thì mình cũng chết luôn. Vì thế, chỉ có một tiếng bình thường như vậy nhưng cách mình đối mặt sẽ thể hiệ sức tu tập, công phu của mình như thế nào. Người dễ bị ngoại cảnh tác động là một người suy nhược, ốm yếu trong pháp và luật.
Minh Thành không nói riêng cá nhân một ai trong phòng này, mà đây chính là những bài học sống để mình thực tập nhìn lại tâm mình, tức là người này hoàn toàn không có sức niệm định tuệ thì người này nhất định khi đối diện xúc cảnh sẽ bị nghiêng ngã và sụp đổ. Điều này hết sức hay và quan trọng, các huynh đệ thực tập sẽ thấy được sự màu nhiệm trong pháp. Ví dụ mình đang ngồi thì vách tường đằng sau đổ sụp xuống là mình sẽ rối loạn, nhảy lên rồi chạy cho nên mình tu tập càng ngày sức niệm định huệ càng vững chắc.
Chữ ‘niệm’ đó bao gồm cả Tứ Niệm Xứ chứ không phải niệm chỉ là đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm, đó chỉ là một phần nhỏ của niệm thân thôi, riêng niệm thân là phải có sáu phần: niệm oai nghi, niệm hơi thở, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn tử thi, đó gọi là Thân Hành Niệm, Đức Phật gọi người nào thực hành được điều này sẽ nếm được hương vị của bất tử. Hơn thế nữa, chỉ cần niệm oai nghi, hành động thì người này đã là một người tuyệt vời. Người nào chỉ cần chú ý để tâm mình vào hành động, cử chỉ để điều chỉnh thì người này đã là người có vỏ ngoài của phạm hạnh, còn mình bây giờ tu càng nhiều thì càng đánh mất những điều cơ bản đó. Chứng kiến những việc như vậy, Minh Thành vô cùng ngao ngán, nhiều lúc Minh Thành thấy người như vậy thì cúi mặt nhìn xuống, không dám nhìn; hoặc cũng có những người nhìn mình với ánh mắt khiến mình hơi sợ, cho nên phải luôn luôn nhận diện lại sắc, gọi là:
Đệ tử Gotama
Luôn luôn tự tỉnh giác
Vô luận ngày hay đêm
Quán sắc thân thường niệm.
(Kinh Pháp Cú – phẩm Tạp lục)
Tạng kinh Nikāya tối thượng
Khi học kinh Nikāya, chúng ta sẽ thấy hạnh vô cùng, tại vì những lời Phật dạy luôn nhất quán, học đến đâu thì pháp liên kết rõ ràng vào một đường lối, một đạo lộ tu tập. Còn chúng ta học lung tung, không biết cái nào ra cái nào thì sẽ rối như một đống xà bần. Kinh Nikāya cái nào ra cái đó, có một hệ thống rất rõ ràng và chúng ta thấy được đạo lộ, thánh đạo rất rõ và thánh quả đi theo đó. Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả các huynh đệ phải để tâm vào bốn bộ kinh Nikāya: Tương Ưng Bộ là quan trọng nhất, lõi của tất cả lõi cây ở trong Tương Ưng Bộ, tất cả những vấn đề mà ngày Ấn Thuận đạo sư gọi là vô biên thậm thâm pháp nghĩa đều nằm trong Tương Ưng Bộ kinh.
Tiếp theo là Trung Bộ, Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, còn Tiểu Bộ là sau này chỉ sử dụng một vài phần, vì sau này có những điều bị thêm vào, người sâu sắc mới biết được cái nào là người sau thêm vào. Ngay cả trong tạng kinh nguyên thủy mà còn phải chắt lọc như vậy thì huống hồ gì những bộ kinh sau 500 năm Phật nhập diệt mới xuất hiện. Ngay cả bộ đầu còn như vậy thì mấy bộ sau để qua một bên, xếp lại.
Các huynh đệ đi vào trong kinh Nikāya rồi sẽ thấy những lời Đức Phật dạy là tuyệt diệu, dù cho mình chưa lên thánh quả nhưng ít nhất mình cũng là hiền nhân trong Phật giáo, là những bậc hiền thiện hướng đến trí huệ. Đừng nghe lung tung, tông phái này nọ, ai có thể so sánh ngang hàng với bậc không có người ngang hàng, không có người so sánh, không có người xứng đối, là bậc duy nhất trên đời này?
“Này các Tỳ-kheo, có một người xuất hiện trên đời này, người đó sẽ đem lại lợi ích cho đa số, lợi lộc cho đa số, đem lại phúc báo an lạc dài lâu cho hiện tại và tương lai, người đó là Như Lai Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”
(Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, XIII. Phẩm Một Người, bài kinh Như Lai)
Ai có thể so sánh được với bậc đó mà tại sao không học theo Ngài mà lại học lung tung, chạy loạn qua Phổ Đà Sơn để chứng pháp, qua bên Ngũ Đài để tìm Văn Thù, lại tới Nga Mi để kiếm Phổ Hiền. Phật sờ sờ trước mắt, lời dạy của Đức Thế Tôn đây mà không chịu để tâm vào những bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Cứ chạy tìm cái khác mà không biết rằng cái chạy đó là từ cái dục, nó thúc giục ở bên trong để đi chơi, để đi hướng ra ngoài, để tìm những cảnh vật thôi rồi ra xá lợi, bột bán tùm lum. Cứ chạy qua Tàu, qua Tạng, qua Miên, qua Thái, trong khi tạng kinh Nikāya đã được phiên dịch bởi đại tôn đức trưởng lão Thượng Minh Hạ Châu, một bậc đại đạo sư của Phật giáo Việt Nam, một công lao không tiền tuyệt hậu của Phật giáo Việt Nam, là người xứng đáng cho tất cả Tăng Ni của toàn quốc chắp tay tôn trọng, cuối đầu đảnh lễ cúng dường, là ruộng phước vô thượng của Phật giáo Việt Nam ta, và hiện tại chưa có mấy người biết được hết giá trị của tạng kinh Nikāya.
Nếu Minh Thành chỉ còn một hơi thở cuối cùng cũng phải nói lên một sự thật này để cho tất cả Tăng Ni, Phật tử thấy được lời dạy chân chánh của bậc Chánh Biến Tri, Thiện Thệ, bậc đại đạo sư của chúng. Nếu không, chúng ta bị lạc vào Tiểu Thừa là coi như dập mất hết Thánh đạo của Phật giáo và không có thánh quả. Trung Quốc đã phán định đó là Bà-la-môn giáo để làm cho Phật giáo không còn thánh đạo và thánh quả nữa. Thậm chí, người ta còn dám bịa đặt ra những lời phê phán ngài Xá-lợi-phất và các thánh Tăng mà Minh Thành không dám nhắc lại. Những bộ kinh sau này hết sức là nguy hiểm, nghe theo là mình chết, hơn nữa còn mang thêm tội phỉ báng bậc tướng quân của chánh pháp. Cho nên, người tu phải bám sát vào bốn bộ kinh Nikāya. Minh Thành tha thiết kêu gọi tất cả quý Phật tử và tất cả chư Tăng Ni, bên Học Viện cũng hãy tìm hiểu Thánh trí này. Thượng tọa trụ trì chùa Hoằng Pháp bây giờ cũng nhập thất nghiên cứu tạng kinh Nikāya, đó là một tấm gương cho tất cả chúng ta.
./.