Nô lệ cho tham ái
Tinh hoa Nikāya
THÂN NÀY LÀ THIẾU THỐN KHAO KHÁT
NÔ LỆ CHO THAM ÁI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc105306134 \h 1
II.Nô lệ cho tham ái PAGEREF _Toc105306135 \h 3
III.Nuôi dưỡng từ tâm PAGEREF _Toc105306136 \h 7
Bản chất của ngũ uẩn
Chúng ta đã biết đến ngũ uẩn, đã biết nhận diện ngũ uẩn. Đức Thế Tôn tuyên bố sự chứng ngộ của ngài là sự thấu triệt về bản chất thân tâm, thế giới, mà bản chất của thân tâm, thế giới chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Thân người là sắc
Cảm giác là thọ
Hình bóng là tưởng
Suy nghĩ là hành
Rõ biết là thức
Về phần thân, mở rộng ra gồm thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại, cả vũ trụ, trái đất này, Đức Thế Tôn chứng ngộ bằng một chữ sắc, thêm chữ uẩn vào trở thành sắc uẩn, tức là tổ hợp của sắc chất, vật chất, sắc pháp. Như vậy thì từ hạt bụi cho đến cả địa cầu, rộng ra thái dương hệ hay tam thiên, đại thiên thế giới, cho đến thân thể chúng ta đang ngồi đây, bàn ghế, nhà của, cây cối, núi đồi… cùng với tất cả hành tinh, địa cầu này đều được Đức Phật chứng ngộ bằng một chữ sắc. Phần thứ hai là phần tâm, gồm những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ và sự rõ biết.
Như vậy, vật chất thuộc về sắc, tinh thần thuộc về tâm. Ngoài hai cái này, tức là ngoài năm uẩn này ra không còn cái gì khác nữa. Khi chúng ta không biết năm uẩn, Đức Thế Tôn gọi là chúng ta sống trong vô minh, có nghĩa là sống trong bóng đêm, sống trong bóng tối, sống trong sự vô tri, vô thức, sống trong sự không thấy, không biết về thân tâm chính mình. Cũng vì bản thân mình đang có cảm giác như thế nào cũng không biết, nên chúng ta để cho những cảm giác tiêu cực, cảm giác thiêu đốt, nóng bức, cảm giác phừng phực bốc cháy: “Ngày đêm thiêu đốt tim gan, máu – Đốt cháy tâm can trong giận sân”. Vậy mà chúng ta không biết cảm giác đó là cảm giác gì; cảm giác đó nó đem đến tác hại như thế nào; đem lại sự đau khổ, tàn phá, hủy hoại, tiêu diệt như thế nào?
Những trận chiến tranh xảy ra cũng từ những cảm giác thiêu đốt, nhiệt não, phẩn nộ, sân hận, hận thù, ích kỷ, ta đây, bản ngã. Tại vì sao? Vì chúng sanh không biết cảm giác đó là cảm thọ, mà nghĩ rằng đó là “tôi”, “tôi đang giận”, “tôi đang bực, tức, nóng, thù”. Họ đồng hóa cảm xúc, cảm thọ đó là họ và bị cảm thọ đó đốt cháy, thiêu rụi, hủy diệt, tàn phá, tàn hại, làm cho đau khổ hết đời này đến kiếp khác, bởi vì không biết cảm thọ là cảm thọ.
Và chìa khóa để mở cánh cửa tâm linh, mở ra con mắt trí tuệ, con mắt đạo, con mắt pháp, mở ra tuệ nhãn, đạo nhãn, pháp nhãn, trí nhãn, Phật nhãn của chúng ta chính là phương pháp nhận diện ngũ uẩn. Vì vậy, dù tu tập trực tiếp hay gián tiếp đều nên nhớ kỹ công năng của nhận diện ngũ uẩn. Khi quay trở lại nhìn nhận được cảm xúc của mình, nhìn ra được những suy nghĩ bên trong, những lời nói lầm thầm, nhìn ra được những hình bóng ám ảnh bên trong thì khi đó chúng ta mới thấy biết được tâm của chúng ta một cách chân sát, chân thật, chân chánh. Còn khi chưa nhận biết được những hình bóng đó là tưởng, những cảm giác đó là thọ, những suy nghĩ đó là hành, chưa biết được thân thể này là sắc pháp, là tứ đại; chưa thấy biết được sự rõ biết của thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, rõ biết ở trong tâm; chưa thấy biết được thì chúng ta vẫn mãi sống trong bóng đêm, sống trong bóng tối, sống trong vô minh, đau khổ mà không hiểu tại sao mình đau khổ. Sau đó, làm khổ mình, làm khổ người, làm hại mình, làm hại người nhưng lầm tưởng đó là thương mình, thương người, làm khổ cho chính những người mình yêu thương vì những cảm xúc tôi ta, hơn thua, cảm giác của bản ngã. Do vậy sự nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng.
Chúng ta có thể đọc tâm kinh Bát Nhã một cách suôn chảy, thuộc lòng trong năm năm, mười năm, hai mươi năm nhưng đã nhận diện được ngũ uẩn chưa? Hay chỉ biết trên chữ nghĩa, trên đầu môi chót lưỡi, trên ngôn từ, sách vở. May mắn thay lúc này chúng ta đã được biết đến ngũ uẩn một cách rõ ràng, thực tế, đây gọi là chánh kiến, thấy biết chân chánh, đúng đắn, đúng sự thật. Khi nhìn lại và thường xuyên để ý vào cảm giác, thường xuyên để ý, dò xét, soi rọi, quán chiếu, nhìn ngó, tư sát những cảm giác, suy nghĩ, ám ảnh, hình bóng trong tâm, chúng ta sẽ phát giác, phát hiện ra một cú sốc toàn tập, một sự bất ngờ, một sự thật không thể tưởng tượng được rằng chúng ta là những con rối bị cảm xúc, nghĩ, tưởng giật dây, điều khiển; bị những suy nghĩ, hình bóng ám ảnh ở trong tâm, cảm giác thúc giục ở bên trong điều khiển, sai khiến, sai bảo. Để rồi chúng ta mới hiểu được Khổ tập thánh đế là cái gì? Nguyên nhân thật sự của đau khổ là gì?
Dần dần chúng ta sẽ phát giác, phát hiện ra được ở trong thọ, tưởng, hành của mình là những cảm giác, cảm xúc bức xúc, thúc giục, thiêu đốt, những cảm xúc hơn thua, những cảm xúc mà bản thân chúng ta giành phần thắng, giành phần hơn, giành phần phải. Thậm chí đối với bậc sinh thành, mình cũng bản ngã, ta đây. Cho nên ngày nay, trên báo chí, tin tức đầy rẫy những vụ con giết cha mẹ, vợ phân xác chồng, anh em huynh đệ tương tàn vì mấy tấc đất. Nhan nhãn trước mắt chúng ta là khổ. Dịch bệnh, chiến tranh đang diễn ra trên thế giới, với bao nhiêu sự bất an, lo toan, sợ hãi. Giữa con người với con người khi gặp nhau cũng phải lo sợ, bất an, khi ở trong bốn bức tường, bức xúc, căng thẳng.
Sự tu học của chúng ta không phải chỉ lễ lạy, cầu xin mà phải biết cầu xin cái gì? Ở đây là cầu xin phương pháp nhìn thấy được chính thân tâm của mình, cầu xin phương pháp để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những cảm giác tham sân si bản ngã đó. Trong bài kinh Ratthapala có dạy: “Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái. Đời sống này, tâm thức này, cảm xúc này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái. Thân này là vô chủ, vô hộ, là vô thường đi đến hoại diệt, thân này là vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả”. Ở đây, Minh Thành lấy theo pháp nghĩa để chia sẻ, chứ không đọc theo thứ tự để chúng ta niệm thân vô chủ.
Nô lệ cho tham ái
Chúng ta thấy rằng, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ cho chúng ta thấy được sự thật mà chúng ta rất bất ngờ, đó là thân này của chúng ta luôn ở trong trạng thái thiếu thốn, khao khát, vì vậy chúng ta luôn không cảm thấy hạnh phúc. Lúc nào cũng cảm thấy thiếu, tiền bao nhiêu là đủ, sở hữu bao nhiêu ngôi nhà, bao nhiêu cái xe là đủ. Có người trong tay có cả chục cái xe vẫn săn đón đi tìm. Chúng ta luôn luôn cảm thấy mình ở trong cảm giác thiếu thốn, khao khát, tìm kiếm, làm nô lệ cho những ham muốn, yêu thích. Mới chỉ vậy thôi mà khi chúng ta quán chiếu phải mất một khoảng thời gian rất dài, có khi đến cả chục năm. Lúc nào cũng là thiếu, là không đủ, chính vì vậy mà tâm chúng ta luôn ở trạng thái tìm cầu, truy tầm, chạy đuổi, đuổi hình bắt bóng, cho nên tâm luôn bất an, lo lắng, luôn là thiếu thốn. Một mối tình thôi đã đau khổ, thất tình xong lại đi tìm mối tình thứ hai, thứ ba... Chúng ta ăn hoài nhưng lại đói hoài, uống hoài rồi lại khát hoài, quần áo bao nhiêu cũng thấy không đủ, nhà có bao nhiêu cũng muốn kiếm thêm. Cha mẹ lo lắng, chăm bẳm như thế nào cũng không hài lòng mà đi so đo với những đứa con nhà giàu, những cậu ấm cô chiêu khác, rồi quay trở lại oán trách cha mẹ. Thầy cô dạy dỗ, lo lắng cho mình rồi khi quay ngược trở lại lại oán hận.
Tâm chúng sanh là tâm vô minh, tâm vô ơn nên mới có những con người bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, mới có bạn trở thành thù, thân trở thành sơ. Bản chất chúng ta luôn thích lời ngon tiếng ngọt, thích hoa từ, mĩ ngữ giả dối, thích nghe nói những lời êm tai, đường mật, nhưng trong tâm lại không phải như vậy. Đức Phật dạy chúng ta phải sống thật để nhìn thấy được bản chất của đời sống này, bản chất của thân tâm này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái.
Thử nhìn xem suốt cuộc đời này, nhìn chung hết toàn thể thế giới, chúng sanh, con người, phải rằng chúng ta luôn chạy theo những dục vọng, những tham muốn. Rồi xét xem có phải chúng ta đau khổ vì những thứ đó hay không? Đức Phật bằng trí tuệ của ngài đã chứng ngộ được năm thứ, năm thứ này nuôi lớn lòng tham của chúng sanh. Được gọi là năm dục trưởng dưỡng, đó là: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm thứ này nuôi lớn lòng tham của con người, của chúng sanh.
Chúng sanh muốn sắc đẹp, muốn đồ tốt, muốn nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, ti vi, đồng hồ, mắt kiếng... tất cả cái đó là sắc, là sắc dục, sắc ái. Suốt cuộc đời chỉ cứ chạy theo những thứ đó, rồi đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, có khi còn dẫn đến việc sử dụng các thủ đoạn để hại người, tạo ra bao nhiêu ác nghiệp, thậm chí đến cả trộm cướp, giết người. Ngày nay, trộm cướp đầy rẫy khắp nơi, bất cứ chỗ nào cũng thấy có. Đó là sắc dục.
Con người chúng ta, cả cuộc đời cứ chạy chạy theo những âm thanh, những tiếng hay, những bản nhạc, còn có người đánh đổi cả cuộc đời của mình cho âm nhạc, chỉ để nghe được bản nhạc đó rồi sao cũng được – đó là thanh dục. Còn có người thì tham ăn, muốn ăn, khoái ăn, tìm ăn, ăn hết mọi thứ, đi khắp thế giới chỉ để ăn mà vẫn muốn ăn, đòi ăn, tham ăn – đó là vị. Về hương thì con người luôn có ham muốn về mùi hương, dầu thơm, hương trầm, trầm hương...
Còn về xúc thì là sự ham muốn về đụng chạm, trong xúc có đến sáu xúc. Muốn nhìn, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm, xúc chạm. Vì vậy khi bị nhốt trong bốn bức tường trong trận đại dịch vừa rồi làm cho con người khó chịu, căng thẳng, có người bị trầm cảm, tự kỷ, thần kinh, thậm chí có người nhảy cầu, nhảy lầu, thắt cổ tự vẫn chỉ vì muốn những cái đó mà không được. Bứt rứt, chỉ muốn được đi ra ngoài, không muốn bị nhốt, dù đi ra ngoài sẽ đánh lộn, bị phạt tiền, dù chết cũng muốn được đi ra ngoài. Đó là do ham muốn về xúc, muốn nhìn, muốn ngó, muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm, muốn được tiếp xúc. Nhãn xúc, nhỉ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ỷ xúc, muốn tiếp xúc. Cả cuộc đời của chúng ta là chạy theo những cái đó. Giới trẻ ngày nay chỉ thích được đi phượt, đi chơi, hưởng thụ dẫn đến sự buông lung phóng giật, sa đọa, trở thành nghịch tử, trở thành người phá làng phá xóm, hại người, không chịu tu chí, không chịu làm ăn, không chịu phấn đấu từ trong phương diện vật chất đến tinh thần, đạo đức.
Minh Thành khuyên chúng ta nên nghe kỹ bài “Đệ tử quy”, bài này rất hay, rất quan trọng trong thời đại ngày nay, dạy chúng ta về phép tắc người con, phải nghe kỹ, học kỹ và tụng bài này như quý vị thường tụng chú Vãng Sanh, tụng chú Đại Bi. Chúng ta nên nhìn kỹ, nhìn sâu sắc lại để thấy được nguyên nhân làm cho mình khổ đau. Không phải cứ đi vào chùa là để tụng kinh, là để nghe những lời khen, lời hoa mỹ, tưởng tượng, tưởng mơ, tu trong tưởng tượng. Phải nhìn thấy được tự thân, tự tâm mình, tự nhìn thấy được các khuyết điểm, tập khí, thói quen, những cái giở xấu của mình, phải nhìn thấy để điều chỉnh. Khi có người thương, mến, chỉ dạy cho thì chúng ta lại trỗi dậy lòng sân si, sân hận, ôm trong mình thân bệnh, tâm bệnh, ung hạch, ung nhọt, ung bướu, ung thư ở trong tâm mà không chịu trị liệu, không chịu chữa trị.
Minh Thành có bài “Thầy là bác sỹ tâm linh, chùa là bệnh viện tinh thần”. Khi về chùa được bắt mạch, cho toa khám bệnh, khi về chùa chỉ thích được khen ngợi, thích được nói ngọt ngào, đi đến chỗ nào được khen, được cỗ vũ thì còn quay lại, khi đến chỗ không được như vậy thì lại cho rằng ở đó sư thầy, sư cô khó tính và không muốn quay lại. Như vậy, mục đích khi mình về chùa là để tìm ái, tìm sự ngọt ngào chứ không phải là đi tìm pháp, tìm sự thật, tìm đạo để giúp mình được hoàn thiện, tăng thượng. Vậy nên trong thanh quy của mình, Đức Phật đã dạy:
Nếu thấy bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng
Phải thân cận người trí
Thân cận người như vậy
Chỉ tốt hơn không xấu.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hiền Trí)
Trong Đệ Tử Quy cũng nói: “bạn bè chơi mà chỉ thích lời khen, ghét tiếng chê thì những bạn xấu sẽ đến. Khi mình giao du kết bạn hay đi học mà gặp những người chỉ trích, chỉ lỗi cho mình mà mình vui, mình cảm ơn, mình hân hoan thì mình sẽ được những bậc hiền trí kết bạn với mình, những bậc thầy đạo đức, trí tuệ, sẽ gặp được những bậc chánh kiến, chân tu, minh sư, thiện hữu.”
Chúng ta cần nhìn lại để thấy rõ sự tu học của chính mình đang như thế nào. Đôi khi chúng ta đi chùa năm năm, mười năm nhưng chỉ là thích đi vào chùa để tìm niềm vui, trong khi cái vui ở ngoài đời đầy rẫy, vì vậy, nếu cần tìm niềm vui chúng ta nên tìm ở công viên, sân khấu, ở trên thách thức danh hài... Còn khi đã về chùa là chúng ta cầu pháp, tìm cách thức, phương pháp nhìn thấy được sự thật, bản chất của đời sống này, tháo gỡ được những trói buộc ở trong tâm, tìm ra được những phương pháp thực tập đem lại an lạc, hạnh phúc hiện tại và dài lâu cho mình. Đó là người đi chùa thông minh, là người học đạo có trí. Nếu không như vậy thì thật uổng công cho việc lên núi, vì lên núi chỉ lo đi chụp hình, lo đi chơi. Thay vào đó, hãy tập trung tâm ý, đem hết tất cả thời gian của mình thực hành pháp học và pháp hành, lấy những điều đó làm tư lương, hành trang cho suốt cuộc đời, suốt kiếp người của mình, đồng thời chia sẻ cho những người thân thương như cha mẹ, anh em, bạn bè, đồng nghiệp... của mình.
Chính vì vậy, Đức Phật dạy: quán chiếu thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái. Bản thân mình làm nô lệ cho những tham muốn mà mình không biết. Thử hỏi bản thân mình xem mục đích thật sự của đời sống này là cái gì? Chúng ta có mặt ở trên đời để làm gì? Chẳng nhẽ chúng ta chỉ cứ mãi đi tìm những món đồ, những món ăn, những cảnh đẹp để đi chơi. Chẳng nhẽ mục đích đời sống của chúng ta chỉ có như vậy! Chẳng lẽ cả cuộc đời chúng ta chỉ mải cố gắng làm việc để được hưởng thụ một chút dục lạc! Hàng ngày, trước mắt, xung quanh, bên cạnh mình có biết bao nhiêu những con người ràn rụa nước mắt và máu, thậm chí cả sinh mạng, nô lệ cho những ham muốn, trở thành những kẻ vong ân bội nghĩa, bất nhân, bất hiếu, sống không tình không nghĩa, không chung không thủy...
Hơn 80% cái khổ đến với chúng ta từ ham muốn. Tham muốn chỉ là cái cảm giác thúc giục trong tâm, khi nhận diện ra được các cảm giác đó chúng ta sẽ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Khi kêu gọi sự an tịnh hướng vào lồng ngực, chúng ta sẽ cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Khi đối trước với sắc, những món đồ đẹp, người đẹp, mùi thơm, tiếng hay, vị ngon... thì trong tâm chúng ta khởi lên sự ham muốn, thúc giục, chúng ta biết đó là ác, bất thiện pháp và phải biết kêu gọi tâm mình an tịnh, lắng dịu. Đây là lò lửa, đây là rắn độc, đây là khổ đau, phải dừng lại, dừng lại. Đó là lời kêu gọi trong cảm thọ, trong con người của mình. Tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào trong mọi lúc mọi nơi. Dù khi nghe ai đó nói điều rất bức xúc, khi chúng ta chưa tu tập chúng ta sẽ cảm thấy rất giận dữ, nhưng khi chúng ta đã học được đến đây, chúng ta nghe rồi thì vẫn an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Đó là sự tu tập tạo ra cảm giác đó, muốn được như vậy thì hàng ngày, hàng giờ chúng ta phải chăm sóc.
Nuôi dưỡng từ tâm
Thứ nhất, chúng ta phải nhìn ngó cảm giác, cảm xúc của mình, đó là sự quán xét. Tiếp đến, chúng ta phải chế ngự cảm xúc tiêu cực tham – sân – si, hơn thua, tranh giành, ta đây bản ngã. Sau đó, chúng ta phải tưới tẩm, chăm chút những cảm giác, tình thương, chia sẻ cảm thông, ngọt ngào, bao dung, tha thứ. Tưới tẩm và nuôi dưỡng cảm xúc để lúc nào trong người chúng ta cũng cảm giác mát mẻ. Dù bên ngoài trời có nóng bức nhưng trong con người chúng ta luôn cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng, dễ chịu bởi do chúng ta thường luôn tưới tẩm và chăm sóc, nuôi dưỡng. Thường tưới tẩm những cảm xúc của từ bi, của tình thương. Mình hiểu rõ đời sống này là vô thường, đi đến hoại diệt, hiểu rõ về hơi thở, chỉ cần dừng thở thôi thì không có là gì cả, vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả. Chính vì hiểu được những cái vô thường đó, hiểu được tất cả rồi đi đến hoại diệt cho nên chúng ta biết cảm thông và tha thứ đối với những người xung quanh. Chúng ta không nuôi dưỡng những cảm xúc cộc cằn, cau có, gắt gõng, khó chịu, bức xúc, sân hận, mà luôn luôn nuôi dưỡng, tưới tẩm và chăm sóc cảm thọ của mình, nó ngọt ngào, mát dịu, dễ chịu, dễ thương. Phải có sự tác ý, tác động tâm ý của mình, nuôi dưỡng tâm ý của mình bằng những suy nghĩ hiền lành, hiền đức, hiền thiện, hiền trí.
Ví dụ, trên con đường chúng ta đi luôn thúc giục chúng ta phải đi nhanh, lúc đó chúng ta nên an tịnh, lắng dịu và tác ý đi chậm thôi. Chúng ta cảm thấy trong tâm chúng ta luôn có cảm giác thúc giục hơn thua, nhân ngã, bỉ thử, thị phi, lúc đó hãy tự nhũ: “Thôi, hơn thua để được cái gì, tranh giành để được cái gì, thị phi để được cái gì? Nên an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào và dễ chịu thôi”. Chúng ta tác động tâm ý như vậy, suy nghĩ như vậy, nhắc nhỡ, giáo dục, dạy dỗ tâm mình như vậy, huấn luyện, nuôi dưỡng tâm mình như vậy để rồi dần dần trong tâm chúng ta, những cảm xúc sẽ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái và yêu thương.
Trong bài Trải tâm từ có chỉ cách tác ý để tâm chúng ta được ngọt ngào. Thỉnh thoảng chúng ta phải ngồi lại và kêu gọi “Tình thương ơi, tình thương của ta ơi. Tình thương ơi, hãy thức dậy đi, đừng ngủ quên nữa. Tình thương ơi, cảm thông ơi.” Chúng ta kêu ở trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của mình, kêu ở trong tâm của mình. Nói như vậy với chính mình, với tâm mình, mình kêu tâm ơi, tình thương ơi, cảm thông ơi. Khơi dậy trong con người mình tình thường, khơi dậy trong lòng mình từ tâm, khơi dậy trong cảm thọ, cảm xúc của mình tình thương, tâm từ. Thấy rõ trong cảm xúc, cảm thọ, cảm giác của mình có sự khởi động của tình thương. Thấy được tình thương đang sống trong người mình, thấy được tình thương đang có mặt trong con người mình, thấy được từ tâm đang hiện hữu trong trái tim của mình. Nhìn sâu sắc vào bên trong quán xét và thấy được mình thương chính mình. Trong thời gian vừa qua, bản thân mình đã bỏ quên cái cảm xúc này, để cho tham muốn và nóng giận hành hạ. Cảm giác tham muốn thúc giục, lôi kéo, sai khiến, bản thân mình trở thành đầy tớ, nô lệ cho sự tham muốn đó, nó bắt mình chạy đi tìm kiếm, mà cuối cùng lại không biết chạy đi đâu. Tất cả là do cái cảm giác thúc giục ở bên trong nó sai khiến bản thân mình.
Giờ đây, khi đã nhìn nhận ra mọi việc, chúng ta cảm thấy thương cho chính bản thân chúng ta vì trước đây chúng ta không hiểu được cái cảm thọ, cảm xúc này, chúng ta để cho những cái tham muốn, nóng giận, hơn thua, những cái ta tôi nó hành hạ bản thân mình và hành hạ những người xung quanh mình. Cảm thấy thương mình:
Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau.
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha.
Ta đừng tìm đau khổ
Vì trái ý, nghịch lòng
Ta đừng làm ác nghiệp
Ta thương mình nhiều nha.
(trích Cửa Vào Bất Tử)
Chúng ta để cho những cảm thọ thương yêu này nó thấm đượm, ngấm vào từng làn da thớ thịt của chúng ta, từng lỗ chân lông, từng tế bào. Ta cảm thấy giữa lồng ngực chúng ta trào dâng lên một cảm xúc xót xa cho chính mình, thương cho chính mình vì trước nay mình cứ để cảm xúc tiêu cực, cảm xúc hờn trách, oán hờn, trách móc, ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết nghĩ cho mình mà không nghĩ đến mẹ cha, không nghĩ đễn những người thân thương nhất của mình, không hiểu cho họ, không cảm thông cho họ, không tha thứ, không thấu hiểu. Sống trong sự hờn trách, trách móc, sống trong sự ích kỹ, không có cảm thông, không thấu hiểu, không chia sẻ, không san sẻ những nỗi khổ, niềm đau của cha mẹ mình.
Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau.
Xin cùng nhau thấu hiểu
Nỗi khổ ở trong nhau.
(trích Cửa Vào Bất Tử)
Mỗi người là một nỗi khổ, mình có nỗi khổ của mình, cha mẹ mình có nỗi khổ của cha mẹ, anh em mình có nỗi khổ của anh em mình, những người bà con của mình họ có nỗi khổ của họ. “Xin cùng nhau thấu hiểu, những đau khổ trong nhau”.
Khi chúng ta nhìn thấy người ăn xin, người bán vé số, người bán hàng, người chạy xe ráp, người bán hoa quả. Khi chúng ta mua trái cây, cầm tờ vé số của họ mình phải hiểu được nỗi khổ của họ. Khi bê chén cơm lên ăn phải thấy được mồ hôi của mẹ, nước mắt của cha. Chiếc áo mình đang mặc, chiếc xe mình đang chạy là nước mắt và máu của cha mẹ. Hình hài mình đang mang là từng đoạn ruột của mẹ cha. Phải thường tác ý như vậy để dẹp tâm bất hiếu, ngỗ nghịch, tâm hờn trách, trách móc của mình đối với cha mẹ. Cần thường xuyên tác ý, suy tư theo chiều hướng đó để nuôi lớn, tưới tẩm tâm biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn. Thật là sung mãn, thật là đầy ắp và tràn ngập trong con người của mình là cảm xúc biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn đối với những người có ơn. Có như vậy thì mới triệt phá hết được những cảm xúc tiêu cực, oán trách, trách hờn, ích kỹ, hẹp hòi và chỉ suy nghĩ cho bản thân mình.
Đối với bạn bè, mỗi ngay hay vài ba ngày là gọi điện nhưng còn đối với cha mẹ ở dưới quê, có khi đến một tháng cũng chưa gọi, khi cha mẹ gọi lại tìm cách báo bận, không muốn bắt máy, không muốn nói chuyện. Vô ơn, vong ơn, bội nghĩa, bất hiếu, nhưng lại tự cảm thấy như vậy là bình thường. Cha mẹ lo lắng hết mức cho mình, chiếu cố, quan tâm đến khi tuổi già sức yếu, đến lúc gần đứt hơi trên giường bệnh, nhưng rồi chúng ta lại thấy đó là bình thường, đó bổn phận của cha mẹ phải lo lắng cho con cái. Đó là những suy nghĩ vô minh, ngu ngốc, dại khờ. Để đến lúc cha mẹ mất rồi, khi đó mới chảy những dòng nước mắt hối hận, oán trách muộn màng. Cho nên ngay từ giờ phút này, chúng ta tập nhìn ra được nỗi khổ của mẹ cha, nỗi khổ của anh em, niềm đau của những người thân thuộc, bà con của mình, hay cảm thông với những người đồng nghiệp, huynh đệ của mình. Khi thấy người bạn của mình đang bức xúc, sân hận đối với mình, mình cảm thấy thương, không giận lại. Bởi mình biết rằng, bạn ấy đang bị cảm thọ thiêu đốt ở bên trong, bạn ấy đang đau khổ, bạn ấy cần nước, cần sự mát mẻ, cần sự thanh lương, cần nước cam lồ, cần giọt sương ngọt để dập tắt cơn nóng giận này. Hay khi thấy ba mẹ đang bực bội, bức xúc, bản thân chúng ta không tức giận lại mà phải tìm cách xoa dịu sự bức xúc đó, cảm thông cho ba mẹ mình. Thương cha mẹ là thương cái cảm xúc bức xúc, nhiệt não đang bực cháy trong tâm cha mẹ, đang làm khổ cha mẹ mình. Không nhẽ giờ chúng ta đổ thêm dầu vào để đốt cháy cả cha mẹ và mình?
Đó là tâm từ của đạo Phật, đó là tình thương qua sự thấu hiểu bằng trí tuệ mà Đức Phật triền trao. Cho nên chúng ta thương những người buôn bán quanh năm nghèo khổ, nên khi mua đồ đừng nên trả giá, bởi người ta không lời lãi bao nhiêu cả. Khi cầm lên, để xuống, đưa qua, bẻ lại để lựa ra những trái ngon nhất, rồi để lại những trái xấu xí, hỏi làm sao để người ta bán tiếp. Cho nên khi đi mua đồ, nên đặt bản thân mình vào người bán để hiểu và thông cảm. Trải tình thương của chúng ta ra khắp tắt cả những đối tượng mà chúng ta tiếp xúc bằng sự cảm thông thấu hiểu, bằng những cảm xúc ngọt ngào của tình thương thấm đẫm, thấm đượm, thấm nhuần. Trong mỗi cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, nhận thức của mình là cả một dòng suối của sự yêu thương, của sự ngọt ngào, của sự lan tỏa. Từ những cảm thọ này mới hóa giải, triệt phá được những cảm xúc tiêu cực, bất hiếu, vô ơn, bội nghĩa. Đó là chúng ta đang tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển những cảm xúc hiền thiện, thánh thiện, cao thượng, ngọt ngào, biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn.
Qua bài này, Minh Thành đã chia sẻ với chúng ta sự nhận diện cảm thọ, chăm sóc, tưới tẩm những cảm xúc yêu thương. Mong rằng tất cả chúng ta đều có những cảm giác ngọt ngào, từ ái lan tỏa cho mình và cho mọi người. Để đời sống này bớt khổ đau và thêm nhiều niềm vui và hạnh phúc.
./.
THÂN NÀY LÀ THIẾU THỐN KHAO KHÁT
NÔ LỆ CHO THAM ÁI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bản chất của ngũ uẩn PAGEREF _Toc105306134 \h 1
II.Nô lệ cho tham ái PAGEREF _Toc105306135 \h 3
III.Nuôi dưỡng từ tâm PAGEREF _Toc105306136 \h 7
Bản chất của ngũ uẩn
Chúng ta đã biết đến ngũ uẩn, đã biết nhận diện ngũ uẩn. Đức Thế Tôn tuyên bố sự chứng ngộ của ngài là sự thấu triệt về bản chất thân tâm, thế giới, mà bản chất của thân tâm, thế giới chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Thân người là sắc
Cảm giác là thọ
Hình bóng là tưởng
Suy nghĩ là hành
Rõ biết là thức
Về phần thân, mở rộng ra gồm thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại, cả vũ trụ, trái đất này, Đức Thế Tôn chứng ngộ bằng một chữ sắc, thêm chữ uẩn vào trở thành sắc uẩn, tức là tổ hợp của sắc chất, vật chất, sắc pháp. Như vậy thì từ hạt bụi cho đến cả địa cầu, rộng ra thái dương hệ hay tam thiên, đại thiên thế giới, cho đến thân thể chúng ta đang ngồi đây, bàn ghế, nhà của, cây cối, núi đồi… cùng với tất cả hành tinh, địa cầu này đều được Đức Phật chứng ngộ bằng một chữ sắc. Phần thứ hai là phần tâm, gồm những cảm giác, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ và sự rõ biết.
Như vậy, vật chất thuộc về sắc, tinh thần thuộc về tâm. Ngoài hai cái này, tức là ngoài năm uẩn này ra không còn cái gì khác nữa. Khi chúng ta không biết năm uẩn, Đức Thế Tôn gọi là chúng ta sống trong vô minh, có nghĩa là sống trong bóng đêm, sống trong bóng tối, sống trong sự vô tri, vô thức, sống trong sự không thấy, không biết về thân tâm chính mình. Cũng vì bản thân mình đang có cảm giác như thế nào cũng không biết, nên chúng ta để cho những cảm giác tiêu cực, cảm giác thiêu đốt, nóng bức, cảm giác phừng phực bốc cháy: “Ngày đêm thiêu đốt tim gan, máu – Đốt cháy tâm can trong giận sân”. Vậy mà chúng ta không biết cảm giác đó là cảm giác gì; cảm giác đó nó đem đến tác hại như thế nào; đem lại sự đau khổ, tàn phá, hủy hoại, tiêu diệt như thế nào?
Những trận chiến tranh xảy ra cũng từ những cảm giác thiêu đốt, nhiệt não, phẩn nộ, sân hận, hận thù, ích kỷ, ta đây, bản ngã. Tại vì sao? Vì chúng sanh không biết cảm giác đó là cảm thọ, mà nghĩ rằng đó là “tôi”, “tôi đang giận”, “tôi đang bực, tức, nóng, thù”. Họ đồng hóa cảm xúc, cảm thọ đó là họ và bị cảm thọ đó đốt cháy, thiêu rụi, hủy diệt, tàn phá, tàn hại, làm cho đau khổ hết đời này đến kiếp khác, bởi vì không biết cảm thọ là cảm thọ.
Và chìa khóa để mở cánh cửa tâm linh, mở ra con mắt trí tuệ, con mắt đạo, con mắt pháp, mở ra tuệ nhãn, đạo nhãn, pháp nhãn, trí nhãn, Phật nhãn của chúng ta chính là phương pháp nhận diện ngũ uẩn. Vì vậy, dù tu tập trực tiếp hay gián tiếp đều nên nhớ kỹ công năng của nhận diện ngũ uẩn. Khi quay trở lại nhìn nhận được cảm xúc của mình, nhìn ra được những suy nghĩ bên trong, những lời nói lầm thầm, nhìn ra được những hình bóng ám ảnh bên trong thì khi đó chúng ta mới thấy biết được tâm của chúng ta một cách chân sát, chân thật, chân chánh. Còn khi chưa nhận biết được những hình bóng đó là tưởng, những cảm giác đó là thọ, những suy nghĩ đó là hành, chưa biết được thân thể này là sắc pháp, là tứ đại; chưa thấy biết được sự rõ biết của thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, rõ biết ở trong tâm; chưa thấy biết được thì chúng ta vẫn mãi sống trong bóng đêm, sống trong bóng tối, sống trong vô minh, đau khổ mà không hiểu tại sao mình đau khổ. Sau đó, làm khổ mình, làm khổ người, làm hại mình, làm hại người nhưng lầm tưởng đó là thương mình, thương người, làm khổ cho chính những người mình yêu thương vì những cảm xúc tôi ta, hơn thua, cảm giác của bản ngã. Do vậy sự nhận diện ngũ uẩn là tuyệt đối quan trọng.
Chúng ta có thể đọc tâm kinh Bát Nhã một cách suôn chảy, thuộc lòng trong năm năm, mười năm, hai mươi năm nhưng đã nhận diện được ngũ uẩn chưa? Hay chỉ biết trên chữ nghĩa, trên đầu môi chót lưỡi, trên ngôn từ, sách vở. May mắn thay lúc này chúng ta đã được biết đến ngũ uẩn một cách rõ ràng, thực tế, đây gọi là chánh kiến, thấy biết chân chánh, đúng đắn, đúng sự thật. Khi nhìn lại và thường xuyên để ý vào cảm giác, thường xuyên để ý, dò xét, soi rọi, quán chiếu, nhìn ngó, tư sát những cảm giác, suy nghĩ, ám ảnh, hình bóng trong tâm, chúng ta sẽ phát giác, phát hiện ra một cú sốc toàn tập, một sự bất ngờ, một sự thật không thể tưởng tượng được rằng chúng ta là những con rối bị cảm xúc, nghĩ, tưởng giật dây, điều khiển; bị những suy nghĩ, hình bóng ám ảnh ở trong tâm, cảm giác thúc giục ở bên trong điều khiển, sai khiến, sai bảo. Để rồi chúng ta mới hiểu được Khổ tập thánh đế là cái gì? Nguyên nhân thật sự của đau khổ là gì?
Dần dần chúng ta sẽ phát giác, phát hiện ra được ở trong thọ, tưởng, hành của mình là những cảm giác, cảm xúc bức xúc, thúc giục, thiêu đốt, những cảm xúc hơn thua, những cảm xúc mà bản thân chúng ta giành phần thắng, giành phần hơn, giành phần phải. Thậm chí đối với bậc sinh thành, mình cũng bản ngã, ta đây. Cho nên ngày nay, trên báo chí, tin tức đầy rẫy những vụ con giết cha mẹ, vợ phân xác chồng, anh em huynh đệ tương tàn vì mấy tấc đất. Nhan nhãn trước mắt chúng ta là khổ. Dịch bệnh, chiến tranh đang diễn ra trên thế giới, với bao nhiêu sự bất an, lo toan, sợ hãi. Giữa con người với con người khi gặp nhau cũng phải lo sợ, bất an, khi ở trong bốn bức tường, bức xúc, căng thẳng.
Sự tu học của chúng ta không phải chỉ lễ lạy, cầu xin mà phải biết cầu xin cái gì? Ở đây là cầu xin phương pháp nhìn thấy được chính thân tâm của mình, cầu xin phương pháp để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những cảm giác tham sân si bản ngã đó. Trong bài kinh Ratthapala có dạy: “Thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái. Đời sống này, tâm thức này, cảm xúc này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái. Thân này là vô chủ, vô hộ, là vô thường đi đến hoại diệt, thân này là vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả”. Ở đây, Minh Thành lấy theo pháp nghĩa để chia sẻ, chứ không đọc theo thứ tự để chúng ta niệm thân vô chủ.
Nô lệ cho tham ái
Chúng ta thấy rằng, chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ cho chúng ta thấy được sự thật mà chúng ta rất bất ngờ, đó là thân này của chúng ta luôn ở trong trạng thái thiếu thốn, khao khát, vì vậy chúng ta luôn không cảm thấy hạnh phúc. Lúc nào cũng cảm thấy thiếu, tiền bao nhiêu là đủ, sở hữu bao nhiêu ngôi nhà, bao nhiêu cái xe là đủ. Có người trong tay có cả chục cái xe vẫn săn đón đi tìm. Chúng ta luôn luôn cảm thấy mình ở trong cảm giác thiếu thốn, khao khát, tìm kiếm, làm nô lệ cho những ham muốn, yêu thích. Mới chỉ vậy thôi mà khi chúng ta quán chiếu phải mất một khoảng thời gian rất dài, có khi đến cả chục năm. Lúc nào cũng là thiếu, là không đủ, chính vì vậy mà tâm chúng ta luôn ở trạng thái tìm cầu, truy tầm, chạy đuổi, đuổi hình bắt bóng, cho nên tâm luôn bất an, lo lắng, luôn là thiếu thốn. Một mối tình thôi đã đau khổ, thất tình xong lại đi tìm mối tình thứ hai, thứ ba... Chúng ta ăn hoài nhưng lại đói hoài, uống hoài rồi lại khát hoài, quần áo bao nhiêu cũng thấy không đủ, nhà có bao nhiêu cũng muốn kiếm thêm. Cha mẹ lo lắng, chăm bẳm như thế nào cũng không hài lòng mà đi so đo với những đứa con nhà giàu, những cậu ấm cô chiêu khác, rồi quay trở lại oán trách cha mẹ. Thầy cô dạy dỗ, lo lắng cho mình rồi khi quay ngược trở lại lại oán hận.
Tâm chúng sanh là tâm vô minh, tâm vô ơn nên mới có những con người bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa, mới có bạn trở thành thù, thân trở thành sơ. Bản chất chúng ta luôn thích lời ngon tiếng ngọt, thích hoa từ, mĩ ngữ giả dối, thích nghe nói những lời êm tai, đường mật, nhưng trong tâm lại không phải như vậy. Đức Phật dạy chúng ta phải sống thật để nhìn thấy được bản chất của đời sống này, bản chất của thân tâm này là thiếu thốn, khát khao, là nô lệ cho tham ái.
Thử nhìn xem suốt cuộc đời này, nhìn chung hết toàn thể thế giới, chúng sanh, con người, phải rằng chúng ta luôn chạy theo những dục vọng, những tham muốn. Rồi xét xem có phải chúng ta đau khổ vì những thứ đó hay không? Đức Phật bằng trí tuệ của ngài đã chứng ngộ được năm thứ, năm thứ này nuôi lớn lòng tham của chúng sanh. Được gọi là năm dục trưởng dưỡng, đó là: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Năm thứ này nuôi lớn lòng tham của con người, của chúng sanh.
Chúng sanh muốn sắc đẹp, muốn đồ tốt, muốn nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, ti vi, đồng hồ, mắt kiếng... tất cả cái đó là sắc, là sắc dục, sắc ái. Suốt cuộc đời chỉ cứ chạy theo những thứ đó, rồi đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi, có khi còn dẫn đến việc sử dụng các thủ đoạn để hại người, tạo ra bao nhiêu ác nghiệp, thậm chí đến cả trộm cướp, giết người. Ngày nay, trộm cướp đầy rẫy khắp nơi, bất cứ chỗ nào cũng thấy có. Đó là sắc dục.
Con người chúng ta, cả cuộc đời cứ chạy chạy theo những âm thanh, những tiếng hay, những bản nhạc, còn có người đánh đổi cả cuộc đời của mình cho âm nhạc, chỉ để nghe được bản nhạc đó rồi sao cũng được – đó là thanh dục. Còn có người thì tham ăn, muốn ăn, khoái ăn, tìm ăn, ăn hết mọi thứ, đi khắp thế giới chỉ để ăn mà vẫn muốn ăn, đòi ăn, tham ăn – đó là vị. Về hương thì con người luôn có ham muốn về mùi hương, dầu thơm, hương trầm, trầm hương...
Còn về xúc thì là sự ham muốn về đụng chạm, trong xúc có đến sáu xúc. Muốn nhìn, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm, xúc chạm. Vì vậy khi bị nhốt trong bốn bức tường trong trận đại dịch vừa rồi làm cho con người khó chịu, căng thẳng, có người bị trầm cảm, tự kỷ, thần kinh, thậm chí có người nhảy cầu, nhảy lầu, thắt cổ tự vẫn chỉ vì muốn những cái đó mà không được. Bứt rứt, chỉ muốn được đi ra ngoài, không muốn bị nhốt, dù đi ra ngoài sẽ đánh lộn, bị phạt tiền, dù chết cũng muốn được đi ra ngoài. Đó là do ham muốn về xúc, muốn nhìn, muốn ngó, muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm, muốn được tiếp xúc. Nhãn xúc, nhỉ xúc, tỉ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ỷ xúc, muốn tiếp xúc. Cả cuộc đời của chúng ta là chạy theo những cái đó. Giới trẻ ngày nay chỉ thích được đi phượt, đi chơi, hưởng thụ dẫn đến sự buông lung phóng giật, sa đọa, trở thành nghịch tử, trở thành người phá làng phá xóm, hại người, không chịu tu chí, không chịu làm ăn, không chịu phấn đấu từ trong phương diện vật chất đến tinh thần, đạo đức.
Minh Thành khuyên chúng ta nên nghe kỹ bài “Đệ tử quy”, bài này rất hay, rất quan trọng trong thời đại ngày nay, dạy chúng ta về phép tắc người con, phải nghe kỹ, học kỹ và tụng bài này như quý vị thường tụng chú Vãng Sanh, tụng chú Đại Bi. Chúng ta nên nhìn kỹ, nhìn sâu sắc lại để thấy được nguyên nhân làm cho mình khổ đau. Không phải cứ đi vào chùa là để tụng kinh, là để nghe những lời khen, lời hoa mỹ, tưởng tượng, tưởng mơ, tu trong tưởng tượng. Phải nhìn thấy được tự thân, tự tâm mình, tự nhìn thấy được các khuyết điểm, tập khí, thói quen, những cái giở xấu của mình, phải nhìn thấy để điều chỉnh. Khi có người thương, mến, chỉ dạy cho thì chúng ta lại trỗi dậy lòng sân si, sân hận, ôm trong mình thân bệnh, tâm bệnh, ung hạch, ung nhọt, ung bướu, ung thư ở trong tâm mà không chịu trị liệu, không chịu chữa trị.
Minh Thành có bài “Thầy là bác sỹ tâm linh, chùa là bệnh viện tinh thần”. Khi về chùa được bắt mạch, cho toa khám bệnh, khi về chùa chỉ thích được khen ngợi, thích được nói ngọt ngào, đi đến chỗ nào được khen, được cỗ vũ thì còn quay lại, khi đến chỗ không được như vậy thì lại cho rằng ở đó sư thầy, sư cô khó tính và không muốn quay lại. Như vậy, mục đích khi mình về chùa là để tìm ái, tìm sự ngọt ngào chứ không phải là đi tìm pháp, tìm sự thật, tìm đạo để giúp mình được hoàn thiện, tăng thượng. Vậy nên trong thanh quy của mình, Đức Phật đã dạy:
Nếu thấy bậc hiền trí
Chỉ lỗi và khiển trách
Như chỉ chỗ chôn vàng
Phải thân cận người trí
Thân cận người như vậy
Chỉ tốt hơn không xấu.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Hiền Trí)
Trong Đệ Tử Quy cũng nói: “bạn bè chơi mà chỉ thích lời khen, ghét tiếng chê thì những bạn xấu sẽ đến. Khi mình giao du kết bạn hay đi học mà gặp những người chỉ trích, chỉ lỗi cho mình mà mình vui, mình cảm ơn, mình hân hoan thì mình sẽ được những bậc hiền trí kết bạn với mình, những bậc thầy đạo đức, trí tuệ, sẽ gặp được những bậc chánh kiến, chân tu, minh sư, thiện hữu.”
Chúng ta cần nhìn lại để thấy rõ sự tu học của chính mình đang như thế nào. Đôi khi chúng ta đi chùa năm năm, mười năm nhưng chỉ là thích đi vào chùa để tìm niềm vui, trong khi cái vui ở ngoài đời đầy rẫy, vì vậy, nếu cần tìm niềm vui chúng ta nên tìm ở công viên, sân khấu, ở trên thách thức danh hài... Còn khi đã về chùa là chúng ta cầu pháp, tìm cách thức, phương pháp nhìn thấy được sự thật, bản chất của đời sống này, tháo gỡ được những trói buộc ở trong tâm, tìm ra được những phương pháp thực tập đem lại an lạc, hạnh phúc hiện tại và dài lâu cho mình. Đó là người đi chùa thông minh, là người học đạo có trí. Nếu không như vậy thì thật uổng công cho việc lên núi, vì lên núi chỉ lo đi chụp hình, lo đi chơi. Thay vào đó, hãy tập trung tâm ý, đem hết tất cả thời gian của mình thực hành pháp học và pháp hành, lấy những điều đó làm tư lương, hành trang cho suốt cuộc đời, suốt kiếp người của mình, đồng thời chia sẻ cho những người thân thương như cha mẹ, anh em, bạn bè, đồng nghiệp... của mình.
Chính vì vậy, Đức Phật dạy: quán chiếu thân này là thiếu thốn, là khát khao, là nô lệ cho tham ái. Bản thân mình làm nô lệ cho những tham muốn mà mình không biết. Thử hỏi bản thân mình xem mục đích thật sự của đời sống này là cái gì? Chúng ta có mặt ở trên đời để làm gì? Chẳng nhẽ chúng ta chỉ cứ mãi đi tìm những món đồ, những món ăn, những cảnh đẹp để đi chơi. Chẳng nhẽ mục đích đời sống của chúng ta chỉ có như vậy! Chẳng lẽ cả cuộc đời chúng ta chỉ mải cố gắng làm việc để được hưởng thụ một chút dục lạc! Hàng ngày, trước mắt, xung quanh, bên cạnh mình có biết bao nhiêu những con người ràn rụa nước mắt và máu, thậm chí cả sinh mạng, nô lệ cho những ham muốn, trở thành những kẻ vong ân bội nghĩa, bất nhân, bất hiếu, sống không tình không nghĩa, không chung không thủy...
Hơn 80% cái khổ đến với chúng ta từ ham muốn. Tham muốn chỉ là cái cảm giác thúc giục trong tâm, khi nhận diện ra được các cảm giác đó chúng ta sẽ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Khi kêu gọi sự an tịnh hướng vào lồng ngực, chúng ta sẽ cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Khi đối trước với sắc, những món đồ đẹp, người đẹp, mùi thơm, tiếng hay, vị ngon... thì trong tâm chúng ta khởi lên sự ham muốn, thúc giục, chúng ta biết đó là ác, bất thiện pháp và phải biết kêu gọi tâm mình an tịnh, lắng dịu. Đây là lò lửa, đây là rắn độc, đây là khổ đau, phải dừng lại, dừng lại. Đó là lời kêu gọi trong cảm thọ, trong con người của mình. Tập cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào trong mọi lúc mọi nơi. Dù khi nghe ai đó nói điều rất bức xúc, khi chúng ta chưa tu tập chúng ta sẽ cảm thấy rất giận dữ, nhưng khi chúng ta đã học được đến đây, chúng ta nghe rồi thì vẫn an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Đó là sự tu tập tạo ra cảm giác đó, muốn được như vậy thì hàng ngày, hàng giờ chúng ta phải chăm sóc.
Nuôi dưỡng từ tâm
Thứ nhất, chúng ta phải nhìn ngó cảm giác, cảm xúc của mình, đó là sự quán xét. Tiếp đến, chúng ta phải chế ngự cảm xúc tiêu cực tham – sân – si, hơn thua, tranh giành, ta đây bản ngã. Sau đó, chúng ta phải tưới tẩm, chăm chút những cảm giác, tình thương, chia sẻ cảm thông, ngọt ngào, bao dung, tha thứ. Tưới tẩm và nuôi dưỡng cảm xúc để lúc nào trong người chúng ta cũng cảm giác mát mẻ. Dù bên ngoài trời có nóng bức nhưng trong con người chúng ta luôn cảm giác mát mẻ, nhẹ nhàng, dễ chịu bởi do chúng ta thường luôn tưới tẩm và chăm sóc, nuôi dưỡng. Thường tưới tẩm những cảm xúc của từ bi, của tình thương. Mình hiểu rõ đời sống này là vô thường, đi đến hoại diệt, hiểu rõ về hơi thở, chỉ cần dừng thở thôi thì không có là gì cả, vô sở hữu, ra đi từ bỏ tất cả. Chính vì hiểu được những cái vô thường đó, hiểu được tất cả rồi đi đến hoại diệt cho nên chúng ta biết cảm thông và tha thứ đối với những người xung quanh. Chúng ta không nuôi dưỡng những cảm xúc cộc cằn, cau có, gắt gõng, khó chịu, bức xúc, sân hận, mà luôn luôn nuôi dưỡng, tưới tẩm và chăm sóc cảm thọ của mình, nó ngọt ngào, mát dịu, dễ chịu, dễ thương. Phải có sự tác ý, tác động tâm ý của mình, nuôi dưỡng tâm ý của mình bằng những suy nghĩ hiền lành, hiền đức, hiền thiện, hiền trí.
Ví dụ, trên con đường chúng ta đi luôn thúc giục chúng ta phải đi nhanh, lúc đó chúng ta nên an tịnh, lắng dịu và tác ý đi chậm thôi. Chúng ta cảm thấy trong tâm chúng ta luôn có cảm giác thúc giục hơn thua, nhân ngã, bỉ thử, thị phi, lúc đó hãy tự nhũ: “Thôi, hơn thua để được cái gì, tranh giành để được cái gì, thị phi để được cái gì? Nên an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào và dễ chịu thôi”. Chúng ta tác động tâm ý như vậy, suy nghĩ như vậy, nhắc nhỡ, giáo dục, dạy dỗ tâm mình như vậy, huấn luyện, nuôi dưỡng tâm mình như vậy để rồi dần dần trong tâm chúng ta, những cảm xúc sẽ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, từ ái và yêu thương.
Trong bài Trải tâm từ có chỉ cách tác ý để tâm chúng ta được ngọt ngào. Thỉnh thoảng chúng ta phải ngồi lại và kêu gọi “Tình thương ơi, tình thương của ta ơi. Tình thương ơi, hãy thức dậy đi, đừng ngủ quên nữa. Tình thương ơi, cảm thông ơi.” Chúng ta kêu ở trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của mình, kêu ở trong tâm của mình. Nói như vậy với chính mình, với tâm mình, mình kêu tâm ơi, tình thương ơi, cảm thông ơi. Khơi dậy trong con người mình tình thường, khơi dậy trong lòng mình từ tâm, khơi dậy trong cảm thọ, cảm xúc của mình tình thương, tâm từ. Thấy rõ trong cảm xúc, cảm thọ, cảm giác của mình có sự khởi động của tình thương. Thấy được tình thương đang sống trong người mình, thấy được tình thương đang có mặt trong con người mình, thấy được từ tâm đang hiện hữu trong trái tim của mình. Nhìn sâu sắc vào bên trong quán xét và thấy được mình thương chính mình. Trong thời gian vừa qua, bản thân mình đã bỏ quên cái cảm xúc này, để cho tham muốn và nóng giận hành hạ. Cảm giác tham muốn thúc giục, lôi kéo, sai khiến, bản thân mình trở thành đầy tớ, nô lệ cho sự tham muốn đó, nó bắt mình chạy đi tìm kiếm, mà cuối cùng lại không biết chạy đi đâu. Tất cả là do cái cảm giác thúc giục ở bên trong nó sai khiến bản thân mình.
Giờ đây, khi đã nhìn nhận ra mọi việc, chúng ta cảm thấy thương cho chính bản thân chúng ta vì trước đây chúng ta không hiểu được cái cảm thọ, cảm xúc này, chúng ta để cho những cái tham muốn, nóng giận, hơn thua, những cái ta tôi nó hành hạ bản thân mình và hành hạ những người xung quanh mình. Cảm thấy thương mình:
Thương lâu rồi ta sống
Trong sự quên lãng mình
Ta bỏ quên cảm thọ
Nên để mình khổ đau.
Thương lâu rồi ta thiếu
Thương hiểu cảm thọ mình
Để tham, sân hành hạ
Ta để mình khổ đau.
Nay hiểu rồi thọ ạ
Ta nhớ đến thọ rồi
Thôi thọ đừng sân giận
Thọ thương mình nhiều nha.
Ta đừng tìm đau khổ
Vì trái ý, nghịch lòng
Ta đừng làm ác nghiệp
Ta thương mình nhiều nha.
(trích Cửa Vào Bất Tử)
Chúng ta để cho những cảm thọ thương yêu này nó thấm đượm, ngấm vào từng làn da thớ thịt của chúng ta, từng lỗ chân lông, từng tế bào. Ta cảm thấy giữa lồng ngực chúng ta trào dâng lên một cảm xúc xót xa cho chính mình, thương cho chính mình vì trước nay mình cứ để cảm xúc tiêu cực, cảm xúc hờn trách, oán hờn, trách móc, ích kỷ, hẹp hòi, chỉ biết nghĩ cho mình mà không nghĩ đến mẹ cha, không nghĩ đễn những người thân thương nhất của mình, không hiểu cho họ, không cảm thông cho họ, không tha thứ, không thấu hiểu. Sống trong sự hờn trách, trách móc, sống trong sự ích kỹ, không có cảm thông, không thấu hiểu, không chia sẻ, không san sẻ những nỗi khổ, niềm đau của cha mẹ mình.
Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau.
Xin cùng nhau thấu hiểu
Nỗi khổ ở trong nhau.
(trích Cửa Vào Bất Tử)
Mỗi người là một nỗi khổ, mình có nỗi khổ của mình, cha mẹ mình có nỗi khổ của cha mẹ, anh em mình có nỗi khổ của anh em mình, những người bà con của mình họ có nỗi khổ của họ. “Xin cùng nhau thấu hiểu, những đau khổ trong nhau”.
Khi chúng ta nhìn thấy người ăn xin, người bán vé số, người bán hàng, người chạy xe ráp, người bán hoa quả. Khi chúng ta mua trái cây, cầm tờ vé số của họ mình phải hiểu được nỗi khổ của họ. Khi bê chén cơm lên ăn phải thấy được mồ hôi của mẹ, nước mắt của cha. Chiếc áo mình đang mặc, chiếc xe mình đang chạy là nước mắt và máu của cha mẹ. Hình hài mình đang mang là từng đoạn ruột của mẹ cha. Phải thường tác ý như vậy để dẹp tâm bất hiếu, ngỗ nghịch, tâm hờn trách, trách móc của mình đối với cha mẹ. Cần thường xuyên tác ý, suy tư theo chiều hướng đó để nuôi lớn, tưới tẩm tâm biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn. Thật là sung mãn, thật là đầy ắp và tràn ngập trong con người của mình là cảm xúc biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn đối với những người có ơn. Có như vậy thì mới triệt phá hết được những cảm xúc tiêu cực, oán trách, trách hờn, ích kỹ, hẹp hòi và chỉ suy nghĩ cho bản thân mình.
Đối với bạn bè, mỗi ngay hay vài ba ngày là gọi điện nhưng còn đối với cha mẹ ở dưới quê, có khi đến một tháng cũng chưa gọi, khi cha mẹ gọi lại tìm cách báo bận, không muốn bắt máy, không muốn nói chuyện. Vô ơn, vong ơn, bội nghĩa, bất hiếu, nhưng lại tự cảm thấy như vậy là bình thường. Cha mẹ lo lắng hết mức cho mình, chiếu cố, quan tâm đến khi tuổi già sức yếu, đến lúc gần đứt hơi trên giường bệnh, nhưng rồi chúng ta lại thấy đó là bình thường, đó bổn phận của cha mẹ phải lo lắng cho con cái. Đó là những suy nghĩ vô minh, ngu ngốc, dại khờ. Để đến lúc cha mẹ mất rồi, khi đó mới chảy những dòng nước mắt hối hận, oán trách muộn màng. Cho nên ngay từ giờ phút này, chúng ta tập nhìn ra được nỗi khổ của mẹ cha, nỗi khổ của anh em, niềm đau của những người thân thuộc, bà con của mình, hay cảm thông với những người đồng nghiệp, huynh đệ của mình. Khi thấy người bạn của mình đang bức xúc, sân hận đối với mình, mình cảm thấy thương, không giận lại. Bởi mình biết rằng, bạn ấy đang bị cảm thọ thiêu đốt ở bên trong, bạn ấy đang đau khổ, bạn ấy cần nước, cần sự mát mẻ, cần sự thanh lương, cần nước cam lồ, cần giọt sương ngọt để dập tắt cơn nóng giận này. Hay khi thấy ba mẹ đang bực bội, bức xúc, bản thân chúng ta không tức giận lại mà phải tìm cách xoa dịu sự bức xúc đó, cảm thông cho ba mẹ mình. Thương cha mẹ là thương cái cảm xúc bức xúc, nhiệt não đang bực cháy trong tâm cha mẹ, đang làm khổ cha mẹ mình. Không nhẽ giờ chúng ta đổ thêm dầu vào để đốt cháy cả cha mẹ và mình?
Đó là tâm từ của đạo Phật, đó là tình thương qua sự thấu hiểu bằng trí tuệ mà Đức Phật triền trao. Cho nên chúng ta thương những người buôn bán quanh năm nghèo khổ, nên khi mua đồ đừng nên trả giá, bởi người ta không lời lãi bao nhiêu cả. Khi cầm lên, để xuống, đưa qua, bẻ lại để lựa ra những trái ngon nhất, rồi để lại những trái xấu xí, hỏi làm sao để người ta bán tiếp. Cho nên khi đi mua đồ, nên đặt bản thân mình vào người bán để hiểu và thông cảm. Trải tình thương của chúng ta ra khắp tắt cả những đối tượng mà chúng ta tiếp xúc bằng sự cảm thông thấu hiểu, bằng những cảm xúc ngọt ngào của tình thương thấm đẫm, thấm đượm, thấm nhuần. Trong mỗi cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, nhận thức của mình là cả một dòng suối của sự yêu thương, của sự ngọt ngào, của sự lan tỏa. Từ những cảm thọ này mới hóa giải, triệt phá được những cảm xúc tiêu cực, bất hiếu, vô ơn, bội nghĩa. Đó là chúng ta đang tưới tẩm, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển những cảm xúc hiền thiện, thánh thiện, cao thượng, ngọt ngào, biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn, đền ơn.
Qua bài này, Minh Thành đã chia sẻ với chúng ta sự nhận diện cảm thọ, chăm sóc, tưới tẩm những cảm xúc yêu thương. Mong rằng tất cả chúng ta đều có những cảm giác ngọt ngào, từ ái lan tỏa cho mình và cho mọi người. Để đời sống này bớt khổ đau và thêm nhiều niềm vui và hạnh phúc.
./.