Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hướng Thượng -Tăng Thượng

2026-03-03 00:54:00
HƯỚNG THƯỢNG – TĂNG THƯỢNG NHƯ THẾ NÀO

Thích Minh Thành

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc tri giả-kiến giả, bậc Chánh Biến Tri vô thượng giác.

Kính thưa đại chúng, mấy ngày trước con đi thiền hành trên lang can lầu 4 vào lúc 4h sáng ở chùa Bửu Liên, con nhìn thấy một chú chạy xe ôm trong mùa mưa bão, chú nằm ngủ trên chiếc xe Honda của mình ngoài trời mưa gió. Chú chạy Honda ôm này từ khi con mới đi tu chú đã từng chở con, cho đến giờ là gần 30 năm chú vẫn ở bên chiếc xe Honda ôm đó, vừa gió lạnh vừa mưa bão. Khi con đi thiền hành nhìn thấy như vậy thì con rất xót xa, có những Phật tử con đã biết từ trước khi con vào chùa tu, mỗi lần gặp lại con vẫn thấy họ sầu bi khổ ưu não trong những cái tâm của bản ngã, tham dục, sân hận. Con rất xót xa và thấy thương, 35 năm trong chùa có những thầy cạo đầu trước con mà bây giờ ngồi ở cửa giữ xe, trong lòng con trào dâng sự bi mẫn, xót xa và xúc cảm là một tình thương. Khi mẹ con trị bệnh ở Sài Gòn, ở tạm trong chùa Bửu Liên thì có các vị bên ngoài, các cháu đến thăm, có người 20 năm, 35 năm mới gặp lại con. Con nhìn thấy, con nghe họ nói chuyện và những dòng nước mắt của họ tuôn xuống vì họ đau khổ, sầu bi khổ ưu não. Cảm giác từ đỉnh đầu đến gót chân của con tràn ngập sự từ tâm, con mới thấm thía câu "chánh pháp có khả năng hướng thượng". Nhìn người ta mà ngẫm lại mình, nếu mình không gặp chánh pháp thì mình cũng giống họ, bao nhiêu năm gặp lại họ cũng còn đầy rẫy dục ái, tham muốn, khát khao, thiếu thốn, đòi hỏi, đau khổ. Nếu mình không thực sự hành trì chánh pháp thì cuộc đời mình không có con đường đi lên, không có nấc thang bước khỏi đây. Khi nãy con nghe các chú, các thầy đọc bài kinh Học Giới thì con rất xúc động, tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tâm thượng tuệ học.

Thế nào là tăng thượng? Nghĩa là tăng trưởng và hướng thượng, luôn luôn làm cho đức hạnh của mình được tăng trưởng, luôn luôn có sự hướng lên, đạo hạnh cao thượng. Mỗi suy nghĩ, lời nói, hành động của mình trong hằng ngày, hằng giờ là luôn suy nghĩ làm sao để đạo đức, đạo hạnh, đức hạnh, giới hạnh luôn được tăng trưởng thì đó gọi là tăng thượng giới học. Tại sao 35 năm rồi mà họ vẫn như vậy? Họ không muốn tăng thượng, họ không có hướng thượng. Hai chữ Tăng Thượng hết sức quan trọng, hai chữ Hướng Thượng là tuyệt đối quan trọng đối với bậc hữu học, khi nào đạt đến vô học vị, lậu tận thì mới hết học 2 chữ Tăng Thượng, Hướng Thượng. Người nào hài lòng, bằng lòng, chấp nhận với chỗ đứng của mình trong cái tâm lậu hoặc, cấu uế thì người đó đã tự mình đóng kín cánh cửa của giác ngộ.

Trong lòng mình phải luôn có sự tha thiết, cháy bỏng, trăn trở, ray rứt phát triển định tâm, phát triển cái tâm an định, bình tĩnh, không động thì đó gọi là tăng thượng tâm học.

Trong lòng mình luôn khao khát, hi vọng, khắc khoải, mong cầu phát triển trí tuệ để thấy được sự thật đây là khổ, thấy được nguyên nhân của khổ, thấy được phương pháp tiêu diệt khổ đau, luôn tha thiết và khao khát thì gọi là tăng thượng tuệ học.

Tăng là thêm, thượng là lên. Tức là thêm nữa, lên nữa, bước lên cao nữa, lớn lên thêm, cao lên nữa thì đó là ý nghĩa của động từ tăng thượng. Không thỏa mãn, không hài lòng với địa vị thấp kém của phàm phu với nội tâm đầy cấu nhiễm, rác bẩn, dục tham ái, sân hận, bản ngã. Không chấp nhận cái tâm như vậy mà bất mãn với cái tâm đó, nhàm chán, kinh sợ đối với cái tâm đó, tha thiết mong cầu vượt thoát ra khỏi nó thì gọi là tăng thượng giải thoát học. Hai chữ Tăng Thượng đó là tuyệt đối quan trọng, hai chữ Hướng Thượng mà mất đi trong lòng thì mình mãi mãi là phàm phu và không bao giờ có thể tiến đến địa vị của hiền thánh. Phải lấy hai chữ đó làm đề mục quán chiếu, lấy hai chữ đó làm động lực và là phương châm tu tập, hai chữ đó giống như nhiên liệu, một chiếc xe không có xăng dầu thì làm sao chạy được, cũng như với người tu mà không có tâm tha thiết, không có tâm nhiệt huyết cũng như chiếc xe không có nhiên liệu và người đó chắc chắn sẽ thối đọa. Hình ảnh chú chạy xe ôm thật là một hình ảnh ấn tượng mà con không bao giờ quên suốt đời này, đời tu cũng như vậy, sau 10 năm, 20 năm trong chùa thì càng ngày giới phẩm càng lên cao, địa vị càng lên cao, tham sân si và bản ngã lại càng cao. Chưa bao giờ nhục nhã như vậy, chưa bao giờ một người tu lại hèn hạ như vậy, chưa bao giờ một người tu lại xấu hổ, kinh tởm như vậy. Tại vì sao? Vì người đó không có tâm cầu hướng thượng. Đó là sự cay đắng và đau đớn nhất của người tu, dù là tại gia hay xuất gia, bốn chúng của Đức Phật. Không có tâm thiết tha học pháp, không có tâm tha thiết sửa đổi, không có tâm chân thành cầu tiến, đó là kẻ đáng tội nghiệp nhất trong khi mang hình thức giữa bốn chúng của Thế Tôn.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò".

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn)

Hãy làm cho tâm mình phát khởi sự ray rứt, nhức nhối, giày vò khi mình thấy các bậc đồng phạm hạnh sống đời sống cao thượng, thanh tịnh, trí tuệ, trong khi mình lại ở trong u mê. Mình phải làm cho tâm mình bứt rứt, đau nhức, mình phải hành hạ tâm thức mình, mình phải mắng chửi, giày xéo tâm thức chính mình để nó biết xấu hổ, nhục nhã và biết tàm quý, đó là một phần ý nghĩa của chữ Tăng Thượng Giới Học, đó là một phần ý nghĩa của ước muốn sắc bén mà mình tụng mỗi buổi sáng. Những vị bác sĩ, những nhà khoa học của ngành y đang ráo riết, miệt mài, dồn tất cả tâm huyết để đi tìm vaccine chữa trị cho những người bị nhiễm dịch bệnh, khi chưa tìm ra được thuốc ngừa thì họ ăn không ngon, ngủ không yên, có khi thức trắng đêm, thậm chí có người hi sinh vì họ phải tiếp xúc với virut đó thì mới phân tích ra được và mới biết dùng cái gì trị, chẳng mang không cẩn trọng thì họ có thể bị nhiễm bệnh và mất mạng. Khi chưa tìm ra được vaccine thì họ ray rứt, thao thức vì trọng trách của họ chưa hoàn thành. Người tu mình cũng giống như vậy, mình ray rứt khi trong lòng mình còn dục tham ái xâm chiếm, mình nhức nhối khi trong lòng còn cảm giác sân hận, tức giận bốc cháy, mình ray rứt, đau khổ khi thân tâm mình bị bao phủ bởi những cảm giác của vô minh và si ám. Bước ra khỏi giảng đường là quên hết, bước ra khỏi thiền đường là buông lung phóng dật, tiếp duyên xúc cảnh là mất mình, mất tâm. Mình phải thấy điều này là một điều đau khổ, nhức nhối cho bản thân, đây là một điều hèn hạ, thất bại, đây là mối sỉ nhục của người tu. Mình phải có được điều ray rứt này mới được chứ mình không thể trơ ra, vô cảm đối với thánh pháp, học và hiểu rồi nhưng trở ra lại sống với tập khí, thói quen, sống với nghiệp, buông lung phóng dật, mình phải thấy điều này là điều nhục nhã, xấu hổ, hạ liệt. Trong giờ ngồi thiền mình phải đem điều này ra xử lý, mình lôi nó ra giày xéo nó, làm cho tâm mình nhức nhối, chính vì vậy mà lần sau mới bắt đầu cẩn thận, để tâm, ngày hôm sau mới có sự ngăn ngừa, phòng hộ. Trước bàn Phật mình dập đầu, lạy sám hối và nước mắt tràn ra "Thật là đau khổ cho con, thật là tội lỗi cho con, thật là xấu hổ và nhục nhã cho con khi mang danh Thích Tử, mang một tấm y phước điền vô thượng này mà trong lòng con lại là những điều xấu xa, tồi bại, là đầy rẫy những dục tham ái, sân hận, bản ngã, ganh tỵ, đố kỵ, hơn thua. Thật là đau khổ, xấu hổ cho con", dập đầu xuống lạy trong nước mắt đầm đìa. Phải như vậy mới được, đó là tăng thượng giới học. Mỗi khi mình không có oai nghi, chánh niệm thì tối đó khi xả thiền là mình phải dập đầu sám hối "Thật là tội lỗi cho con, thật là chai sạn cho con, thật là ù lỳ, thật là nghiệp chướng cho con, thật là khốn khổ và hoạn nạn cho con. Con không muốn như vậy nữa Thế Tôn ơi!". Mình phải làm cho bản thân sanh khởi những cảm giác thống khổ, bi thương đối với những thiện pháp mà mình chưa thành tựu, đối với những ác pháp còn thống trị và bành trướng cho thân tâm mình, đó gọi là tha thiết tu học. Khi nãy các thầy, các chú đọc trong bài Vị Tối Thượng, đó gọi là có sự xúc cảm đối với việc tu, còn không sẽ vô cảm đối với thánh pháp, dù ở trong chùa thêm 30 năm nữa cũng không thay đổi, thậm chí không biết tu sẽ bị chìm đắm trong sự cung kính cúng dường, tài sắc.

Thật là nhục nhã!

Thật là tồi bại!

Thật là thảm hại cho đời tu như vậy!

Từ dáng đi, tướng đi, cho đến oai nghi khi ngồi của mình đều phải được để tâm, để ý từng chút một, phải tha thiết làm cho đức hạnh của mình tăng trưởng, oai nghi được chỉnh tề, nghi dung phải đĩnh đạc. Không thể chấp nhận việc ở trong chùa 5 năm, 10 năm mà hành động còn thua cả người cư sĩ, như vậy thì thật là ô nhục, thật là tồi bại! Đó gọi là chánh pháp có khả năng hướng thượng, chánh pháp có khả năng hướng thượng là như vậy đó.

Này các Tỳ-kheo, Ta không tán thán đứng một chỗ trong các thiện pháp, còn nói gì tổn giảm. Này các Tỳ-kheo, Ta tán thán tăng trưởng trong các thiện pháp, không đứng một chỗ, không tổn giảm. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (III) (53) Ðứng Một Chỗ)

Khi làm được một chút, học được một chút, tu được một chút là cảm thấy hài lòng rồi tự mãn, dừng lại, khoe khoang, phô trương, bằng lòng, chấp nhận với nó, đây là bệnh nặng nề của người tu. Như vậy thì làm sao có thể bước lên cao được? Làm sao có thể thành tựu vô thượng cứu cánh phạm hạnh? Mình phải lấy hai chữ Tăng Thượng, Hướng Thượng này làm kim chỉ nam, làm sức sống, làm nguồn sinh lực khích lệ, sách tấn, xúc tiến, thúc đẩy để mình bước lên và bước lên cao hơn nữa. Chỉ mới ngồi thiền nửa tiếng hoặc một tiếng là bắt đầu xem thường thiền định, hoặc vào ngồi rồi nhắm mắt thả hồn theo mây gió, ngủ gật chứ không tăng thượng tâm học, tu trong trạng thái buông lung phóng dật, xem thường chứ không có sự cung kính thiền định, không có tùy thuận, tôn trọng thiền định. Lê lết tấm thân lên bồ đoàn rồi ngồi đó như xác chết, như một thây ma, như một con robot, người máy, như vậy thì làm sao thành công? Cha mẹ tóc đã bạc phơ trên mái đầu với một tấm thân đầy bệnh hoạn vẫn tựa cửa chờ con về nhà, trông chờ mình tu hành đắc đạo để cứu độ, vậy mà mình không nhớ, không nghĩ đến cha mẹ, không nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn như trời biển, mình chỉ tu trên hình thức, tu ở vẻ bề ngoài, trong dáng vẻ thì thật là tội lỗi. Thật là đau khổ cho chúng ta! Không khéo chúng ta sẽ trở thành lưỡng đồ câu thất, ngoài đời không hưởng được dục lạc, vào đạo lại không hưởng được pháp lạc, cả hai đường đều mất, đời không ra đời, đạo không ra đạo mà là nửa vời, chẳng ra gì. Thật là ô uế và nhục nhã! Mình chỉ ngồi đó như một xác chết, như một thây ma chứ không có tác động tâm ý, không có nhiệt thành tha thiết, không có tỉnh giác chánh niệm thì ngồi đó làm cái gì? Phải tác động tâm ý những điều đã nói ở trên, đó gọi là tăng thượng tâm học. Chết ở trên bồ đoàn đi để vinh quang, rực sáng. Gục ngã ở trên bồ đoàn đi để siêu phàm nhập thánh. Gục ngã trên thiền đường, pháp đường đi. Hãy chói sáng trong thánh trí huệ.

Mình đã ngủ vô lượng vô biên kiếp trong bóng đêm rồi mà còn chưa vừa lòng hay sao? Ngủ từ vô thỉ kiếp cho đến nay rồi mà vẫn chưa thấy đủ hay sao? Trong mỗi giờ tu, mỗi giờ thiền phải mở đầu óc ra, phải tác ý hùng lực, mạnh mẽ. Còn chướng ngại pháp trong ngũ cái, dục tham, sân si, hôn trầm, hoài nghi thì phải dồn hết tâm sức bằng tinh thần của chiến sĩ, vô thượng sĩ đánh nát năm triền cái thì mới có thể bước được vào Sơ thiền. Còn lên ngồi thiền cứ lo sợ, làm cái gì cũng sợ thì đó là nhu nhược, yếu hèn. Hở chút là sợ, hở tí là lo, lo cho cái thân này lắm, yêu thích, đam mê cho cái thân này lắm. Đam mê cái thân giòi này, tham đắm bộ xương này, ái luyến đống máu mủ này lắm hay sao? Thấy cái gì cũng sợ, đi chơi, cười đùa, giỡn hớt vui vẻ của phàm phu dục lạc thì không sợ mà tu thiện pháp lại sợ. Phải đánh đuổi trong thiền, muốn tăng thượng trong thiền thì phải diệt được hôn trầm và sự tán loạn, đây là hai con ác ma phải xem nó là kẻ thù chứ không thể làm bạn với nó. Nhất định giờ ngồi thiền phải tỉnh táo, phải cố gắng ngồi yên để nhiếp phục sự giao động, trạo cử cái thân trước rồi mới đến cái tâm. Phải làm cho định tâm của mình được tăng trưởng, được phát triển vững chắc, đó gọi là tăng thượng tâm học. Con nhắc rất nhiều lần, giờ ngồi thiền là giờ linh thiêng nhất trong tất cả các giờ, kế đó là giờ nghe pháp. Phải dụng tâm trong giờ này để tập trung tất cả tâm ý như sư tử vồ mồi khi ngồi thiền. Con sư tử khi thấy con mồi, dù cho đó là con nhỏ nhất đến con lớn thì sư tử đều dùng toàn lực vồ mồi, giờ thiền định, thiền quán là giờ sư tử bắt mồi. Còn mình ngồi thiền lơ mơ, thả hồn theo mây gió, ngắm trời mây chim hót là mình đang thưởng thức dục ái, chỉ trừ khi nào cái tâm mình có quá nhiều sự căng thẳng thì mình thư giản chút ít để đừng bị trói trong cái sanh này, trong dục tham này, đó là pháp đối trị. Còn giờ thiền không phải là giờ ngắm mây bay trời núi, đó là ngắm cảnh chứ không phải thiền định, đó là giờ nội soi thân tâm, xem xét gan ruột phèo phổi để tìm ra bệnh, không những chụp X-quang mà còn chụp cắt lớp, chụp bao nhiêu góc độ thì đó mới là nội soi toàn diện thân tâm. Khi ngồi mà thấy có cảm giác trì trệ, muốn buông xả cho khỏe thì phải biết đó là cảm giác si, phải dùng toàn lực đánh cho tan ra cái si ám đó rồi mình mỉm cười của sự chiến thắng, mình vừa đánh đuổi được tên giặc si ám thành công, đó là tăng thượng tâm học, còn lên ngồi là tháo động, ngứa ngáy đủ chỗ thì mình phải làm cho an tịnh, lắng dịu, còn khi đã an tịnh và lắng dịu được rồi thì mình phất cờ đánh trống báo hiệu sự chiến thắng, hỷ lạc sanh khởi vì mình diệt được thứ làm che đậy tâm mình, là chướng ngại pháp, sự trạo hối, trạo cử, giao động. Giờ ngồi thiền là giờ im lặng của bậc thánh, lúc đó mình là thánh nhân trong giờ đó, nếu ngồi thiền đúng mức thì đó là giờ thần thánh, dụng tâm, trí tuệ và thân tướng của mình lúc đó là biểu hiện của bậc hiền thánh. Dáng ngồi, oai nghi, sự dụng tâm đó là biểu tượng của đại thánh trong giờ ngồi thiền chứ mình không thể xem thường giờ thiền định được, đó là giờ siêu phàm, mặc dù chưa nhập thánh nhưng cũng là giờ siêu phàm. Phàm phu không thể ngồi được như vậy, phàm phu không thể nhìn thấy ngũ uẩn như vậy, phàm phu không thể kiểm soát được các tham sân si, bản ngã như vậy, không có phương pháp đánh đuổi như vậy, phàm phu không thể mắng chửi tâm như mình có phương pháp Như lý tác ý mắng chửi như vậy. Đó gọi là tăng thượng tâm học.

Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác về dục khởi lên thì mình phải tác ý mãnh liệt để đánh đuổi cho nó tan biến. Khi nghĩ đến người này người kia mà bực mình, khó chịu, sân hận thì dùng Như lý tác ý đánh đuổi, trải tâm từ. Phải thuộc bài kinh Trải Tâm Từ chứ không thể hỏi đến lại nói thuộc sơ sơ, thuộc sơ sơ thì tu cũng sơ sơ, làm cũng sơ sơ. Phải có một thái độ tu học nghiêm túc, bỏ cha bỏ mẹ ra đi có nghiêm túc không? Bỏ trách nhiệm, bổn phận làm con có nghiêm túc không? Bỏ bổn phận với dòng tộc có nghiêm túc không? Không cho phép mình tu học sơ sơ mà phải nghiêm túc với sự tu học của chính mình, đây là đại sự, là trách nhiệm, bổn phận, là trọng trách của mình chứ không được xem thường. Chính vì xem thường nên ở trong chùa bao nhiêu năm mà tham sân si, bản ngã, những tập khí phàm phu, nhỏ nhặt, ích kỷ còn y nguyên, đó là kết quả của sự tu học xem thường, coi thường, khinh thường. Khinh thường pháp, khinh thường thiền định, khinh thường bậc đạo sư, nói ra là hờn trách các bậc đạo sư, đó là bản ngã sâu nặng dìm mình xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong cái nội tâm hờn trách với người bình thường đã là sự sai quấy, nội tâm tích tụ những cảm giác oán trách những bậc thiện tri thức, những bậc đạo sư đã mở con mắt trí tuệ nhãn cho mình thì cái tâm đó sẽ đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Đừng mong tu học được với một cái tâm bới lông tìm vết các lỗi của các bậc thiện tri thức, bậc đạo sư, bậc ân nhân, bậc đồng phạm hạnh. Làm sao có thể tu được với một cái tâm như thế? Đó là ung thư nội tâm. Con xin thưa với đại chúng, sự cầu pháp của con hết sức gian khổ, hết sức chân thành tha thiết và khao khát, tôn trọng các bậc đạo sư. Một ý niệm nào trong tâm con mà xem thường, bất thiện, nghĩ không tốt là con tác ý liên tục suốt ngày đêm và dập đầu sám hối trước Phật. Chỉ cần có một ý nghĩ trong tâm hoặc lỡ có lời nói không cung kính là con dập đầu trước Phật, con khóc và chửi trong nội tâm là "súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ" 1000 lần. "Mày đem cái tâm này cầu thánh pháp hả? Đồ súc sanh". Chỉ với một cái tâm cung kính tuyệt đối mới có thể bước vào thể nhập dòng thánh pháp này, mọi người phải nhớ là tuyệt đối, nếu còn một chút ý niệm thầm thì đó chính là lỗ mọt của chiếc thuyền, nhất định con thuyền này một ngày không xa sẽ bị chìm đắm. Nếu không giải phá cảm thọ, suy nghĩ, cái tưởng đó mà nó vẫn còn tồn động thì sớm muộn gì người này cũng bị đào thải ra khỏi dòng thánh pháp, chắc chắn là như vậy. Phải biết tôn kính bậc đạo sư, tôn kính pháp, tôn kính thiền định, tôn kính giới luật, tôn kính học pháp, tôn kính những bậc trưởng thượng, những bậc đồng phạm hạnh, tôn kính sự tiếp đón. Cho nên sự nội soi trong tâm gọi là tâm thượng tâm học là hết sức sâu sắc, cực kì thâm thúy, cực kì toàn diện nhiều khía cạnh. Vì nếu mình chỉ soi một góc thì mình sẽ không thấy hết, các góc còn lại sẽ làm mình nghiêng đổ, chính vì vậy sự thực hành Tứ Niệm Xứ chính là sự nội soi toàn diện trong tâm. Khi thấy những người tu học bây giờ con rất thương họ, họ hờn trách, oán trách vị thầy dạy dỗ cho mình, nên ở đây có nhiều người đã xuống núi cũng vì lý do này. Các Phật tử dự những khóa tu mà bắt lỗi các vị hướng dẫn pháp cho mình từng chút một, con cảm thấy lo sợ. Làm sao những tâm thức đó có thể thành tựu được pháp? Không thể nào với một cái tâm bất kính mà có thể thành tựu được, đại chúng ở đây đều nhìn thấy con lạy dưới chân người cư sĩ để cầu pháp giữa trăm người, như vậy mà con còn cho rằng con chưa đủ sự cung kính. Cho nên phải thành tựu tuyệt đối cái pháp cung kính, nếu không thì không thể nào thể nhập được vào dòng pháp thâm sâu này. Cung kính nói lên điều gì? Đó là bản ngã của mình đã hạ thấp, những người đáng kính mà mình còn không kính được thì những người thấp hơn mình làm sao mình kính được? Đây là điều mà con hết sức lo lắng cho những người chuẩn bị bước vào dòng pháp này. Trở lại tiêu chí tuyệt đối quan trọng của đạo tràng Nikāya chính là tâm hiền từ và thực hành diệt ngã. Hai điều này là điều kiện tiên quyết để tham dự vào đạo tràng Nikāya và cũng là điều kiện tiên quyết để Nhập lưu thánh quả thứ nhất, tối thiểu cũng là hướng Dự lưu vào bốn đôi tám chúng, đệ tử chính thức của Đức Phật. Cho nên vấn đề ngồi thiền để nội soi bên trong thân tâm rất hay và cực kì có lợi. Một hồ nước cứ gợn sóng, làm bùn lầy dâng lên vẫn đục thì làm sao mình thấy được đáy hồ, bây giờ mình ngồi thiền để lắng xuống càng trong chừng nào thì mình mới nhìn rõ được dưới đáy hồ có chất dơ bẩn gì, thấy gì thì lấy nó ra hoặc là làm những rác thô nhất rồi đến rác lá cây, sau đó là xúc hồ, làm tổng vệ sinh. Những cái mà chúng ta nói là ung thư nội tâm là những thứ thô thiển là mình phải trị trước, mình cứ thấy mình tu ngon lành là sức nội soi của mình không có tinh tế, tinh tường, chỉ tu được bên ngoài, bắt được mạch một chút vậy thôi. Vì vậy công phu thiền định càng sâu, cái tâm càng tịnh thì càng nội soi ra được những cái thâm cung bí hiểm bên trong, có những cái nằm yên lâu lâu nó gợi lên hình bóng trong tâm phớt qua, mình đang nói đến sự sâu xa trong thiền định, còn những cái thô bên ngoài như ngồi thiền một chút rồi tỉnh dậy kể chuyện như mới đi họp trên trời về thì không còn gì nói nữa, đó là nằm chiêm bao hoặc bị hôn trầm, một người thô thiển, ngủ gà ngủ gật thì làm sao thấy được những cái sâu xa, cho nên khi tâm tỉnh táo và yên định, lắng dịu, an tịnh thì những thứ bên trong hiện ra, Đức Phật gọi là các pháp bên trong được hiển hiện như thật. Thật sự rất khó khăn trong thời đại này khi nói đến tứ thiền, nhiều người không muốn nghe vì cái này xa xôi quá, chỉ có ở thời Đức Phật. Nhưng ở đây, tối thiểu mình phải đạt được Sơ thiền hoặc Nhị thiền. Nếu tối thiểu không vào được Sơ thiền thì không thể đi vào dòng pháp sâu sắc này được, vào được Sơ thiền là cái tâm ly sanh hỷ lạc, ly ngũ dục, ly tham, ly ái, ly những sân si, bản ngã thì cái đó gọi là tăng thượng tâm học bước thứ nhất. Niềm hạnh phúc của người tu chính là bốn tầng thiền, nếu một người tu không nếm được tầng thiền nào thì người đó không thể trụ được trong pháp, người đó nhất định sẽ tìm dục lạc, đó là hạnh phúc của người tu mà Đức Thế Tôn gọi là gường chõng của thánh nhân, là nệm lót nằm, là tọa cụ, là phòng ốc của bậc thánh, chính là tứ thiền và bát định. Có một vài Phật tử tu ở đây nói với con là người đó thường trực trú trong trạng thái của Sơ thiền, con rất là hoan hỷ mà con thấy chú đó làm được, đó là sự thật. Có những người là cư sĩ ngay trong đạo tràng Nikāya của mình thành tựu được Sơ thiền nhưng không phải được hoài, mà là có được nhiều lần đi vào được Sơ thiền, còn chứng là bất cứ khi nào mình muốn vào Sơ thiền là vào được thì cái đó mới gọi là chứng thiền. Đức Phật lúc chuẩn bị nhập diệt là Ngài trụ từ Sơ thiền, tăng lên Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.

Và Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền.

Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền.

Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ.

Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ.

Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ.

Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Sau khi lên hết tất cả các tầng thiền thì cuối cùng Ngài trở về Sơ thiền, Ngài làm như vậy bao nhiêu lần các tầng thiền định, sau đó Ngài mới xả thọ mạng.

Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.

Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định.

Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định.

Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định.

Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền.

Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền.

Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền.

Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Đó là Đức Thế Tôn biểu diễn lần cuối cùng cho các chúng sanh, chư Thiên, các bậc thánh giả nhìn thấy sự chứng đạt của Ngài, cho nên chứng là bất cứ lúc nào mình muốn vào trạng thái tầng thiền thứ mấy là mình sẽ vô được, và vào trong bao lâu là tùy ý mình thì đó mới gọi là chứng. Còn lâu lâu mình được Sơ thiền thì đó là mình chạm được, mình nếm được, mình thưởng thức được hương vị của hỷ lạc ly dục, còn mình chứng là bất cứ lúc nào mình muốn cũng có thể vào được Sơ thiền. Trong Tiểu kinh Rừng Sừng Bò đã ghi: Lâu cho đến khi nào chúng con muốn ở trong các tầng thiền định là con sẽ ở trong đó, đó mới gọi là chứng thiền, là sự chứng đắc thiền định.

-- Bạch Thế Tôn, sao có thể không được! Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Như vậy, bạch Thế Tôn, đối với chúng con, là pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; chúng con chứng được và sống thoải mái, an lạc, nhờ chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được. Ở đây, bạch Thế Tôn, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con diệt tầm diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái, an lạc.

-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được! Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba, Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh, và sống thoải mái, an lạc.

-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể không được! Ở đây, lâu cho đến khi chúng con muốn, chúng con xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Bạch Thế Tôn, chúng con vượt qua sự an trú kia, làm cho khinh an sự an trú kia; chúng con chứng được pháp thượng nhân khác, một tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh và sống thoải mái an lạc. (Trung Bộ Kinh, 31. Tiểu kinh Rừng sừng bò)

Chúng ta ở đây đang ở trong trạng thái Sơ thiền rất nhiều. Không có gì khó, cái tâm không suy nghĩ về dục sân, không bị hôn trầm, không bị trạo cử, không hoài nghi đối với pháp. Cái tâm lìa suy nghĩ về những cảm giác dục đó mà ở trong cảm giác hỷ lạc của pháp thì sẽ chứng được Sơ thiền. Có một cô Phật tử nói chưa bao giờ cô cảm thấy hạnh phúc hỷ lạc trong sự thiền quán suốt buổi như hôm vừa rồi, nước mắt tràn ra, thì đó là trạng thái của Sơ thiền. Tất cả chúng ta tu theo dòng pháp này, thực hành nhận diện ngũ uẩn và có sự tác ý hỷ lạc là chúng ta sẽ dễ dàng ở trong Sơ thiền, mình muốn trú vào tâm từ bi là mình sẽ trú được. Lúc xưa con không có khóc, sau này khi nói về tâm từ hay nói về thánh trí là nước mắt con tràn ra, thì đó là con đang trú trong từ tâm, tự động nước mắt sẽ chảy ra. Trong 28 năm đi tu con rất ít khi nào khóc, nhưng bây giờ đại chúng thấy con đọc thiền quán hay nói về tâm từ là nước mắt tràn ra, không phải tu theo dòng pháp này rồi mít ướt. Nếu người không tu dòng pháp Nikāya mà vào đạo tràng chúng ta sẽ thấy bất ngờ vì thấy khóc sướt mướt nhưng không phải khóc là khổ mà cái khóc đó là hạnh phúc. Mọi người có thấy tuyệt vời không? Cái khóc đó biểu hiện cho cái tâm mê chạm tới trí tuệ cho nên nó xúc cảm, rung động và cái thọ tràn dâng lên, thành ra những buổi khóc như hôm trình thiền quán là rất tốt, cứ để cho khóc. Con thấy mọi người khóc là con sẽ cho trình pháp, lúc đó con đang giúp cho vị đó khơi thông dòng cảm thọ của trí huệ, còn khi gọi lên trình pháp mà lắc đầu là cái tâm còn cứng cỏi, chưa được nhu nhuyến, trong kinh nói là chưa tùy thuận học pháp, cho nên mỗi lần các vị khóc là con sẽ gọi lên chia sẻ là con đang cho cảm thọ bung mở ra. Những người khóc được là cảm thọ bắt đầu đã mở ra, dòng cảm thọ hồi xưa giờ bị ứ động trong vô minh, dục ái, bản ngã thì hôm nay đã được khơi thông, tuy nhiên không phải khơi là thông suốt mà thông được chút ít rồi sau đó phải khơi nữa, và phải khơi nhiều lần như vậy. Những lúc con tu tập trong thất, khi quán bất tịnh là nước mắt tràn ra, khóc tức tưởi, thân tâm bị rung động, những lúc đó là những lúc cảm thọ được khai mở, giống như người luyện võ được khai thông kinh mạch. Mình tu dòng pháp này thì việc tối quan trọng là phần thọ uẩn, nếu người nào không khai thông cảm thọ thì người đó tu không tiến, người đó cứ trơ ra, ai khóc, ai nói gì mặc ai, gọi đến tên thì không muốn nói, như vậy người đó sẽ bị mất phần lợi ích rất lớn, người nào con gọi trình pháp mà không muốn nói là con sẽ không gọi nữa. Vì bằng từ tâm, bằng tình thương giúp cho họ mau tiến lên trong thánh pháp mà họ không muốn thì thôi. Cảm thọ của mình bắt đầu được khai mở ra thì sẽ khóc nhiều, có các chú Phật tử rất ngang bướng, ương ngạch nhưng khi vào tu dòng pháp này là khóc tức tưởi, khóc ràng rụa, dập dầu lạy, như vậy là thay đổi thành con người khác, đó là công năng của chánh pháp mà chúng ta nhãn tiền chứng kiến, chúng ta chứng kiến và thấy rõ ngay trước mắt chứ không phải đọc trong kinh mấy ngàn năm trước, đó là công năng của chánh pháp. Vì vậy đừng sợ khóc, cũng như hôm con đọc bài Lời Cuối Của Đức Như Lai, lúc đó như có dòng điện chạy dọc cơ thể, run từ gót chân đến đỉnh đầu, sự xúc cảm rúng động thân tâm thì con biết dòng cảm thọ đó đã khai mở trí tuệ cho con và con để cho dòng cảm thọ đó phát huy hết mức. Nếu mình thiền quán bất tịnh, thiền quán vô ngã mà nước mắt trào dâng, nhìn thấy được sự thật phũ phàng, một sự thật hôi tanh, bất tịnh, trống rỗng mà bao năm qua mình lại vô minh, ngu si, tham ái như vậy thì nếu thâm sâu có thể tiến thẳng vào các quả vị, từ Nhập lưu cho đến tứ quả A-la-hán, tức là cái thọ đó bung ra rồi bứt phá hết tất cả vô minh, tham ái, chấp thủ. Vì vậy thiền quán là cực kì quan trọng, những cảm thọ đó đừng kiềm chế lại mà hãy để cho nó bung mở ra, mỗi lần nó bung ra như vậy là mỗi lần nó nở hoa, cảm thọ thiện pháp và trí huệ của mình sẽ được nâng lên cấp bậc cao hơn. Còn nếu tu hoài mà mình cứ trơ ra, không có cảm xúc thì người đó không có tiến bộ, cảm thọ chưa được mở ra. Vì thế phải biết nắm bắt những khoảnh khắc đó, từ khi con thực tập pháp này thì khóc cũng vài chục lần như má mất đi, lúc con qua Bồ đề đạo tràng con khóc mà tất cả người xung quanh nhìn không biết có chuyện gì, con đã rú lên và con đặt tên cho tựa bài đó là Chấn Động Thánh Tích, lúc đó cảm thọ trong người con như bị điện giật, từng ngũ quan, từng lỗ chân lông, tất cả tứ chi bị rung chuyển chấn động, chính là con được khai thông các cảm thọ, và mỗi lần như vậy sẽ đi gần đến thánh trí, đến sự thật chân lý. Cảm thọ của mình có thì dễ xúc động với thánh trí, thánh pháp và thánh đạo, đó là mình phải tăng thượng tâm học.

Mình luôn tha thiết, chân thành, khao khát, khát vọng để mình nhìn thấy được thật sự năm thủ uẩn này là khổ đau. Thân xác này, cảm giác này, những sự thúc giục bên trong, những sự khao khát, đòi hỏi, thiếu thốn bên trong thúc giục mình đi chạy tìm kiếm không có ngày dừng lại. Mệt mỏi, thân tàn ma dại mà vẫn thúc giục mình đi tìm kiếm những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, những nhận thức rõ biết. Đây là khổ, mình phải thấy đây là khổ, mình cố gắng nhìn sâu, nhìn kĩ, nhìn xuyên thấu để thấy rõ tính chất khổ của nó. Nhìn thấy lòng dục tham, lòng khao khát, lòng khát ái đối với những thứ này là khổ, thật sự là khổ, nước mắt mình tràn ra và có xúc cảm. Mình tha thiết, tâm huyết, nhiệt thành, mình mong muốn thấy được như vậy, mình nghe giáo pháp của Phật, mình thiền quán, chiêm nghiệm hoài để thể nhập thì đó gọi là tăng thượng tuệ học. Những buổi pháp thoại chính là để tăng thượng tuệ học để mình tiếp xúc gần với sự thật, mình ôn lại sự thật, mình thấm nhuần sự thật, thấy khổ, thấm khổ để mình thoát khổ, đó là tăng thượng tuệ học. Những giờ ngồi thiền là tăng thượng tâm học. Những oai nghi, cử chỉ được để ý thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày, tụng giới nửa tháng một lần, lâu lâu mình có những buổi trưởng tịnh, có những buổi trưởng dưỡng hòa hợp an lạc của Tăng chúng thì đó là tăng thượng giới học nhưng đây là buổi chung, còn cái riêng của tự thân mỗi người phải biết tác ý, phải biết khéo léo đầu tư cho mình phát triển, mình tu cho chính mình chứ không tu cho bất kì ai. Đó là mình luôn hằng ngày tăng thượng tam vô lậu học, mình phải làm cho ước muốn được sắc bén.

 Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

Thọ trì tăng thượng giới học,

Thọ trì tăng thượng định học,

Thọ trì tăng thượng tuệ học.

Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn)

Ước muốn của mình phải được sắc bén, mãnh liệt, mạnh mẽ, rực cháy, nóng bỏng để làm sao cho mình thể nhập được thánh trí tuệ (trí tuệ của bậc thánh). Mình đã học, đã thấy, đã thuộc lòng nhưng khi trở ra lại không sống được với trí tuệ đó, chính vì vậy mình mong muốn làm sao những cái pháp, những lời trong kinh, trong sự thiền quán để đưa được vào trong từng hơi thở, trong sinh hoạt hằng ngày, trong từng cái nhìn, cái thấy, cái nhận thức của mình về cuộc đời này, về tâm tư, về thân xác này, về tất cả mọi thứ xung quanh, đều phải được thấy bằng trí tuệ thì đó gọi là tăng thượng tuệ học. Phải thực sự tha thiết và thân thành, khao khát và ước mơ, ray rứt và thao thức, mất ăn bỏ ngủ vì những thứ tham sân si, bản ngã vẫn còn trong đây, mình thấy nhức nhối khi những nguyên nhân của khổ làm cho khổ mà mình vẫn chưa diệt được nó, phải đau khổ như vậy mới là người nhiệt tình trong giáo pháp, như vậy mới là người nhiệt tâm và người tu phải như vậy.

Con tặng món quà pháp bảo cho đại chúng trong giờ thiền quán sáng nay. Con không mong mọi người khóc, khóc là cảm xúc của mọi người được trào dâng chứ con không khuyến khích khóc. Khi khóc thì đừng kiềm chế, tình nghĩa đạo pháp hay còn gọi là đạo tình, là chia sẻ dìu dắt nhau để bước gần đến trí tuệ, thấy được sự thật của cuộc đời để cái tâm mình nhả ra những dục tham ái, sân hận, bản ngã, từ đó mình bớt khổ. Đó là món quà pháp bảo con dành cho đại chúng.

./.