Tinh Hoa Thánh Điển NIKĀYA 1
TINH HOA THÁNH ĐIỂN NIKĀYA 1
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí hôm nay chúng ta chuyển qua một chủ đề lớn "Tinh Hoa Thánh Điển Nikāya". Vì cái chuyên đề này nó rộng, nó rất là rộng, nhiều phương diện, khía cạnh, nhiều trí tuệ, nhiều góc độ mà Đức Phật trình bày từ cho người cư sĩ cho đến người xuất gia, từ cái phước báo nhân thiên cho đến công đức vô lậu Niết-bàn xuất thế. Cái pháp giáo hóa trình tự của Chư Phật ở trong ba đời, đầu tiên cả các chư Thế Tôn nói về lòng tin, sau đó các ngài hướng dẫn người Phật tử về giới, bố thí, từ có lòng tin đối với tam bảo rồi phát tâm giữ giới, từ giữ giới Đức Phật khuyến khích, khích lệ cái sự bố thí, làm phước, sau đó Đức Thế Tôn nói về sự nguy hiểm của các dục, vị ngọt của các dục và sự xuất ly các dục, nói về cái tai hại, cái tác hại, sự nguy hại mà dục đem lại đau khổ cho con người. Cho đến khi một người đã thuần thục cái pháp rồi thì bấy giờ Thế Tôn mới tuyên thuyết, tuyên dương và trình bày cái pháp thâm sâu về bốn sự thật của bậc thánh là Tứ Thánh Đế, pháp mà tất cả các Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai tuyên dương, tuyên thuyết, khai thị, minh thị, minh hiển, trình bày, khai ngộ cho tất cả chúng sanh là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và đạo lộ diệt trừ đau khổ.
Đây là tuần tự giáo hóa của tất cả Chư Phật ở trong ba đời, thành ra quý Phật tử theo cái trình tự này để tu học, trong những cái buổi học về trước thì con cũng đã có chia sẻ, bây giờ nhắc lại để quý vị nhớ. Quý vị làm sao mà có được cái lòng tin bất động đối với tam bảo, quý vị học như thế nào, nghe pháp như thế nào, nghiền ngẫm, thiền tập như thế nào để càng ngày quý vị có được một cái lòng tin vững chắc, bất động, không lay chuyển là quý vị đang tiến bộ trong sự tu học. Nhất là cái thời đại ngày nay vàng thau lẫn lộn, thật giả khó phân, những cái mạng truyền thông nó có rất nhiều những cái tin tức mà chưa biết cái đó là đúng sai, mình vội nghe rồi thì mình bị dao động là cái này rất uổng, rất là đáng tiếc. Quý vị phải nhớ kỹ Đức Phật dạy rằng sự xuất hiện của một người tối tôn, tối thượng, tối cao, vô thượng, không có gì sánh giữa loài hai chân, giữa loài bốn chân, giữa loài nhiều chân đó là Đức Như Lai, bậc tối tôn, tối thượng, tối thắng trong tất cả chúng sanh và một bậc Như Lai xuất hiện ở thế gian này là hiếm có, khó tìm, vô lượng vô số, vô biên, vô thỉ, vô tỷ kiếp có một bậc như vậy xuất hiện là chúng ta hết sức là may mắn, hết sức là phước báo, hết sức là công đức.
"Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Chúng ta sanh ra cái thời tuy không phải là thời chánh pháp nhưng mà chúng ta vẫn còn được nghe chánh pháp, vẫn còn được gặp chánh pháp và vẫn còn được gặp Tăng chúng, trong đó vẫn có thánh phàm lẫn lộn, vẫn có những cái bậc hiền thánh Tăng, thậm chí là những bậc cư sĩ tu hành đắc đạo thành tựu cho nên mình nhớ mình học phải nắm vững được cái tinh thần tịnh tín bất động này, nếu không mình nghe một vài tin giựt gân, vài cái hình ảnh, những cái đoạn clip vậy đó rồi mình dao động như vậy thì rất uổng. Đức Phật ví dụ hai hạng người, hạng người giống như bông gòn đem thả ở ngoài ngã bảy, ngã tám gió thổi bay tứ tung, hạn người thứ hai là hạng người giống như trụ đá tám thước, chôn sâu xuống là ba bốn thước thì như vậy là gió thổi không có lay động.
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ-kheo, không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỳ-kheo. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỳỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'." (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, IX. Cột Trụ)
Bây giờ quý vị muốn làm bông gòn giữa gió bão hay quý vị muốn làm trụ đá? Nhớ là phải làm trụ đá chôn sâu tịnh tín bất động, không có lay chuyển tại vì Đức Thế Tôn có nói một câu mà chúng ta chiêm nghiệm sẽ thấy rất hay.
"Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Chúng ta thấy cái chỗ này là cái chỗ rất là tuyệt vời, khi mình đã hiểu được chánh pháp thì chánh pháp tức là cái trí tuệ, chúng ta đã được trao cho cái chìa khóa nhận diện năm uẩn rồi, cái trí tuệ mà mình nhìn ra được cái sự thật của thân tâm này, nhìn ra được cái sự thật ở trong cái hình hài này, trong cảm giác này, trong những cái hình bóng trong tâm, trong những suy nghĩ, nhận thức, nhận diện được năm uẩn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Chúng ta nhìn thấy được ở trong cảm thọ tham, sân, si trong đó, thúc giục trong đó, khao khát, thèm muốn ở trong đó, bản ngã, ta đây ở trong đó và chúng ta nhìn ra được cái đó rồi là chúng ta nhìn thấy được nguyên nhân của khổ.
Nguyên nhân của khổ nó nằm ngay đó, nó không phải nằm ở bên ngoài ngoại cảnh, không phải do cái người nào, không phải do cái cảnh vật nào, không phải do cái sự việc nào làm cho mình khổ, mà cái làm cho mình khổ chính là những cái cảm thọ thúc giục, thao khát, thèm khát, đói khát, khát ái ở bên trong. Nó sai xử, nó sai khiến, nó sai bảo, nó sai vặt, nó làm cho mình phải chạy từ hồi tóc xanh cho đến bạc đầu, chạy đi cuối cùng rồi mình lọt xuống một cái hố, chính là cái mộ huyệt. Đến cái ngày mình chuẩn bị ra đi, sắp sửa nhắm mắt xuôi tay tàn hơi mà lúc đó cái tâm khao khát, thèm muốn vẫn chưa có nguôi, vẫn chưa có dừng lại, cái tâm nóng giận, cái tâm sân hận vẫn còn âm ỉ bên trong đó, tuy là cái thân nó tàn rồi, tứ đại nó sắp rã tan nhưng những cái cảm thọ về tham muốn, về ham dục, tham ái vẫn còn, những cái cảm thọ về sân hận, về bực bội, về khó chịu âm ỉ ở bên trong và những cái cảm thọ, những cái hình bóng, suy tư, nhận thức về một cái tự ngã, một cái tôi nó vẫn còn nguyên vẹn.
Vì thế cái thân tàn mà cái nghiệp nó không tàn, thân hoại mà cái vô minh, khát ái không diệt cho nên Thế Tôn mới nói rằng dầu cho trái đất này có tan hoại thành tro bụi ta nói rằng chúng sanh không có chấm dứt khổ đau khi còn vô minh và còn khát ái. Vô Minh là không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tham, sân, si, không nhìn thấy dục ái, bản ngã, đó là vô minh, chính vì vô minh không thấy không biết những thứ đó là vô thường, là khổ, là vô ngã cho nên mình mới khao khát, mình mong, mình muốn, mình khoái, mình thích, mình chạy đuổi, mình chạy tìm, mình truy tầm, mình săn đón thì mình mới đau khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não mới sanh.
Bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu những sự tích tưởi, những sự uất ức, những sự nghẹn ngào, những sự bực bội, những sự ganh đua, những sự khẩu tranh, chiến tranh, quý vị nhìn thấy trong thế giới bây giờ mưa bom lửa đạn, bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu những khổ đau, bao nhiêu những cảnh nhà tan cửa nát. Trong một đêm mà cả một cái thành phố vĩ đại trở thành một đống hoang tàn, bao nhiêu sinh mạng, hàng trăm, hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn, hàng nhiều trăm ngàn cho đến hàng triệu người chết chỉ vì lòng tham của con người, lòng tham, lòng dục vọng nó sai khiến cho người ta quên tâm, quên mình, quên thân, quên già, quên bệnh, quên chết, quên khổ đau. Cho nên mình tu để mình nhìn thấy được những nguyên nhân làm cho mình khổ, mình nhiếp phục, chế ngự, chặn đứng nguyên nhân đó thì mình hết khổ. Vì vậy Đức Phật nói tự mình nương tựa chính mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình là như vậy đó.
Sau khi mình hiểu pháp, mình thấy pháp cũng là thấy được thân tâm, thấy được những nguyên nhân đau khổ nằm trong con người mình, mình nỗ lực, mình cố gắng, mình tinh tấn, mình nhiệt tâm, mình nhiệt tình, mình nhiệt huyết, nồng nhiệt ở trong sự nhìn thấy khổ và đoạn diệt nguyên nhân của khổ. Một người nhìn thấy được như vậy, một người nỗ lực như vậy thì như vậy Đức Phật gọi là hàng đệ tử tối thượng của Như Lai dù người đó là cư sĩ hay là tu sĩ, người đó là những đệ tử chân chánh của Đức Phật, gọi là bốn đôi tán chúng hiền thánh là những con người thật sự đi trên con đường mà Đức Phật đi, bước ở trên cái đạo lộ mà Đức Phật bước, hành ở trên cái pháp mà Đức Phật hành và tu ở trong cái đạo lộ mà Đức Phật đã tu. Khi mình có được niềm tin như vậy tức là giống như cột trụ chôn sâu, tịnh tín bất động không lay chuyển dầu cho gió bốn phương tám hướng thổi lên, vũ bão phong ba gì mình cũng vững chắc, giống như là tảng đá kiên cố không gió nào lay động được, người khen chê tâm không có hề giao động.
Một hôm Đức Phật đang đi khất thực thì ngoài sau lưng có vị đệ tử của một ông Bà-la-môn khen Đức Phật hết lời, khen đủ thứ hết, cái giới đức, đạo hạnh, thiền định, trí tuệ, hội chúng Đức phật khen đủ lời hết nhưng mà ông sư phụ Bà-la-môn là thầy của ông này thì chê bởi vì Đức Phật đi tới đâu là những người từ đạo khác ọ bỏ h đi theo Đức Phật. Những người bị đệ tử bỏ đi theo Đức Phật, gọi là cải đạo đi theo Đức Phật thì những người này bực bội, sân hận vì mất đệ tử. Như vậy ông thầy thì chê mà đệ tử lại khen, Đức Thế Tôn thì bình lặng, thanh thản, ung dung, tự tại trước lời chê khen.
"Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau: 'Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình'.
Phẫn nộ, không hoan hỉ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, III. Asurindaka)
Đức Phật dạy khi nghe người ta khen các ông đừng có vội mừng, phải tỉnh giác, chánh niệm quán sát coi cái đó có đúng sự thật không, các ông bị người ta huỷ nhục, chê bai các ông đừng có vội bực bội, khó chịu mà hãy tỉnh giác chánh niệm và quán sát coi cái đó có đúng không. Nếu mà đúng, người ta góp ý nói mình đúng thì như vậy mình sửa lại, người ta là thầy mình phải không.
"Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu."
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Quý vị có muốn được chỉ chỗ chôn vàng không? Được cái người trí huệ người ta chỉ cho mình được, không ai chỉ cho mình được hết, những cái bậc hiền, những bậc trí, những của bậc tuệ chỉ cho mình thì mình hãy thân cận người như vậy, chỉ tốt hơn không có xấu, giúp cho mình tốt. Cho nên khi mình hiểu được chánh pháp như vậy rồi đó mình có lòng tin tuyệt đối với pháp, những vị chư Tăng chân tu thật học, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ sự nghiệp, bỏ ái tình cuộc đời, bỏ những thú vui thụ hưởng thế gian để người ta đem cả cuộc đời ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, sống đời đơn giản, ích muốn biết đủ, thiểu dục tri túc, kham khổ, khổ hạnh, thiền định, viễn ly, những cái giới đức đó, những cái đạo hạnh đó rồi chưa nói cái trí tuệ mà cái ngài tu học đúng thành tựu được chánh tri kiến thì như vậy có xứng đáng để cho mình chấp tay đảnh lễ, cung kính, cúng dường hay không.
Đó là những cái bậc đáng kính, đáng đảnh lễ, đáng cung kính, đáng chấp tay, ruộng phước vô thượng ở trên đời. Cho nên làm sao mình tu mà bất cứ là cư sĩ hay là xuất gia càng ngày lòng tin về thì tam bảo nó càng cứng, nó càng mạnh, nó càng lớn, nó càng sâu, nó càng chắc, nó càng dày, càng bất động thì cái đó mình tu đúng. Còn tu thời gian lúc thì nghi ngờ Tăng, nghi ngờ pháp, nghi ngờ Phật luôn là coi như xong rồi, quý vị nhớ cái đạo lộ đó là đầu tiên là mình được thành tựu được cái lòng tin vững chắc không dao động, tịnh tín kiên cố bất động. Cái tiếp theo là mình giữ giới, cái giới của mình làm sao mà càng ngày phải càng tăng thượng, đừng có mới thọ giới cũng vậy rồi thọ ba năm, năm năm, bảy năm cũng y chang vậy, phải cho cái giới tăng thượng lên, trong lòng của mình lúc nào mình cũng muốn cho mình phát triển. Quý vị đi làm mười năm mà lương tháng có mấy đồng vậy hoài quý vị có chịu không?
Quý vị cũng mong muốn cho mình được lương cao lên chứ, mình cũng muốn tu nghiệp, mình cũng muốn học cao lên, mình cũng muốn từ từ thăng chức lên thì cũng vậy, trong cái sự tu của mình đối với cái đạo đức, cái giới hạnh, cái phẩm hạnh, cái phẩm chất của một người Phật tử làm sao càng ngày mình càng tăng thượng ở trong năm cái giới. Từ bỏ sát sanh, không có dùng dao, không dùng gậy, không dùng trượng, không có dùng những thứ làm cho chúng sanh phải bị đau đớn, quằn quại, khổ sở. Càng ngày mình càng bớt ăn những máu thịt, bớt giết những cái con kiến, con trùng, con gián, những loài Hữu tình chúng sanh có tình thức, từ bỏ sát sanh. Càng ngày mình thấy cái tâm từ của mình nó càng lớn lên, càng ngày mình càng phát triển phát triển giới hạnh của một người Phật tử hay là cái giới hạnh của một cái người xuất gia, mình thấy trong mình nó lớn mạnh.
Mình thấy một cái cây mình trồng xuống thì lâu lâu ra nhìn thấy tự nhiên nó lớn lên, ở chỗ thất của con có mấy cây bờ nên vài bữa ra ngồi thiền, ra đi thiền hành nhìn thấy nó lớn lên. Mình nhìn lên mình thấy mình nhục, tại sao mà giới đức, thiền định, trí tuệ của mình chưa thấy nó lớn lên, mà cái cây nó vô tri, nó vô giác, nó vô tình mà nó còn tăng trưởng, còn phát triển, còn hướng thượng trong khi mình có tình thức, có tri giác mà tại sao mình không biết tự làm cho mình tự cường, tự thân tự lực, tự tiến, tự mình mạnh mẽ, cao lớn lên vậy, tăng trưởng lên vậy. Mình thấy vậy thì mình xấu hổ chứ, mấy cái cỏ dại cũng còn lớn lên mà tại sao mình không lớn lên ở trong các thiện pháp? Cái tâm an định của mình sao nó không lớn lên, không vững chắc, không thâm sâu, những cái oan nghi, những cái đạo đức, những cái phẩm hạnh của mình tại sao không tăng trưởng lên. Như vậy là mình thấy xấu hổ, thấy mình tàm quý, ở đây có một cái đức tánh rất quan trọng Đức Phật dạy:
"Người được tàm chế ngự,
Tìm được ai ở đời?
Ai biết ngăn chỉ trích,
Như ngựa hiền bóng roi.
Người được tàm chế ngự,
Sống thường thường chánh niệm,
Vị ấy đạt kết quả,
Khổ đau được đoạn tận,
Bước những bước thăng bằng,
Trên đường không thăng bằng." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên II. Phẩm Vườn Hoan Hỉ, VIII. Tàm Quý)
Tức là cái người này luôn luôn sống ở trong một cái cảm giác xấu hổ và sợ hãi, ngước lên mình nhìn Đức Phật mình thấy xấu hổ. Ngài cũng là một con người, ngài cũng là một ngũ uẩn, ngài cũng là một tứ đại, ngài đã không ngừng vươn lên, không ngừng vượt qua, không ngừng chiến thắng chính mình. Từng kiếp, từng kiếp như vậy ngài đã vượt lên, ngày vươn qua, ngài vượt qua, ngài chiến đấu với biết bao nhiêu là khó khăn, gian khổ, thử thách, trở ngại, chông gai, hiểm hóc mà ngài đi đến cái chỗ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tại sao mình cũng là một con người mà bây giờ mình đã được cái thánh pháp, tức là cái bí kíp của chánh pháp, cái bí kết siêu phàm nhập thánh, cái bí quyết nhìn thấu được ngũ uẩn thân tâm, bản chất của thế giới, lậu hoặc, vô minh, khát ái mà tại sao bây giờ chỉ có làm thôi mà không chịu làm, là mình thấy mình nhục không, thấy nhục nhã, thấy xấu hổ, thấy hèn hạ. Tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình khiển trách mình, tự mình quở trách mình.
Như vậy một người thường an trú ở trong cái trạng thái cái tâm xấu hổ thì người này sống thường thường chánh niệm. Nếu một người thường nhớ như vậy hoài, nhớ Đức Phật, nhớ các bậc thánh, bậc A-la-hán, nhớ đức hạnh ngài Ca-diếp, nhớ đức hạnh của ngài A-nan, nhớ đức hạnh ngài Mục-kiền-liên thần thông, nhớ trí tuệ của ngài Xá-lợi-phất, mình cứ niệm thì cái đó là niệm Tăng, niệm thánh Tăng. Mình nhớ đức hạnh của ngài Phú-lâu-na, mình nhớ đức hạnh của các bậc trưởng lão tăng kệ, trưởng lão ni kệ, các bậc hiền thánh mà mình đã được học, nhớ cái đó thì mình thấy thật là xấu hổ, thật là thấp kém, thật là thấp hèn. Như vậy là mình trú ở trong cái sự hổ thẹn, "người được tàm chế ngự sống thường thường chánh niệm". Như vậy tự động mình sẽ thấy "mình còn cái này nha, cái này mình chưa được hiền nè, mình còn hung dữ nè, cái này tâm mình chưa có nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng nè. Mình còn chống đối nè, mình còn cãi bướng nè, mình còn ương ngạnh nè, mình còn khó nói, khó nghe, khó dạy, khó bảo nè, khó tu, khó học nè".
Mình thấy như vậy là mình tủi, thậm chí mình tức tưởi, mình nghẹn ngào, mình ở trước bàn Phật là nước mắt đầm đìa hết. Mình ngồi thiền một mình là mình ràng rụa, mình thấy buồn đau cho mình, tiếc thương cho mình, tủi phận cho mình và từ những cái giọt nước mắt đó, từ những cái sự xấu hổ đó, từ những cái sự lo lắng sợ, hãi đó thì đổi đời, chuyển tộc. Tức là chuyển đổi dòng tộc, như mình ở ngoài đời họ Nguyễn, họ Trần, họ gì không biết, mình vô tu trở thành họ Thích, đó gọi là chuyển tộc theo cái danh nghĩa đó, còn cái chuyển tộc ở đây nói đó tức là bậc Nhập Lưu thánh quả, dòng máu giác ngộ được tuôn chảy trong thân tâm huyết quản của mình, trong suy nghĩ, trong nhận thức, trong cảm giác, trong tư duy của mình là những cái sự thấy, những sự biết về trí tuệ, về tuệ giác khổ thánh trí.
Mình chuyển tọc, không còn ở trong cái dòng họ bà con của vô minh, của khát ái, của chấp thủ, của hôn mê nữa, của si ám nữa mà từ giờ về sau mình đã đi vào cái dòng huyết quản của các bậc hiền thánh, của các bậc chánh giác. Đó là từ nhục nhã sanh thánh quả cho nên người an trú trong tàm quý là người này thường thường chánh niệm, "vị ấy đạt kết quả, khổ đau được đoạn tận, bước những bước thăng bằng, trên đường không thăng bằng". Quá tuyệt vời cho nên hai cái pháp tàm quý này là cực kỳ quan trọng, người mà có Tàm có quý, có xấu hổ, có sợ hãi thì người này sẽ có chế ngự các căn, mà chế ngực các căn có rồi thì người này sẽ có được những cái oai nghi, oai nghi có rồi người này sẽ có được sự định tĩnh, định tĩnh được rồi thì người này sẽ có được sự thấy biết như thật về khổ, người này thấy biết như thật về khổ thì người này sẽ có nhàm chán, ly tham, có nhàm chán, ly tham thì người này được giải thoát.
Một người buông lung phóng dật, tả thả lỏng các căn, dao động, lắm mồm lắm miệng, nói nhiều, không phòng hộ, không chế ngự, không bảo vệ thì người này đương nhiên làm gì có tàm quý. Một người có xấu hổ, một người có hổ thẹn, một người có lo lắng, sợ hãi thì làm sao có những cái này, mà muốn có được cái này thì người này phải tu cái pháp này mới có. Phải biết nhớ, phải học được cái pháp đó là đầu tiên, kế đó phải nhớ được cái pháp đó là cái thứ hai và cái tiếp theo là phải tác ý về cái pháp đó là cái thứ ba, cái thứ tư là người này an trú được trong cái pháp đó, khi người này an trú được trong cái pháp tàm quý này, cái xấu hổ và sợ hãi này đó người này trú tâm được cái này thì người này lớn mạnh ở trong pháp, tăng trưởng ở trong pháp, hướng thượng ở trong pháp, người này quảng đại ở trong pháp và có chân đứng ở trong pháp và luật.
Cho nên cái pháp tàm quý là rất quan trọng, một người không có an trú tàm quý nhìn vô biết liền, một người có tàm có quý thì mỗi ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ của họ mình thấy rõ ràng. Khi có tàm quý tự động chế ngự các căn, có chế ngự các căn thì họ có được đầy đủ các giới, khi đã đầy đủ các giới thì tâm họ được định. Họ không có phạm những cái lỗi lầm thì cái tâm nó đâu có cái sự ray rứt, tâm nó đâu có bất an, tâm nó được an tịnh, lắng dịu, yên định và khi cái tâm an tịnh, lắng dịu, yên định cộng với cái chánh kiến đã được học thì bấy giờ chánh kiến phát huy ở trong cái tâm định tĩnh đó. Giống như cái mặt hồ nó tĩnh lặng thì bắt đầu phản chiếu, khi nó phản chiếu nhờ nước mặt hồ lắng lặng như vậy, nó trong, nó sáng như vậy thì nó mới phản chiếu được thì bên trên mình nhìn sâu xuống mới thấy ở dưới thì cái chỗ nào còn rác, chỗ nào còn bùn, chỗ nào con cá, chỗ nào con cua, chỗ nào con ếch, con nhái, nòng nọc, thấy rồi mình mới lấy rác ra hết thì trở thành hồ nước trong sạch.
Cái tâm mình cũng vậy cho nên cái pháp tàm quý này cực kì quan trọng, khi mất pháp tàm quý này là mất cơ hội thể nhập vào chánh kiến. Phải luôn luôn chánh niệm, người ta nói cái gì, người ta làm cái gì, người ta suy nghĩ cái gì cũng được cái tàm quý đó, nó dẫn dắt và với một cái tâm xấu hổ và sợ hãi như vậy thì người này có dám ngã mạn không, có dám kiêu mạn không, có dám ngạo mạn không. Không có, cho nên phải học được cái pháp tàm quý này, xấu hổ và sợ hãi, học rồi phải nhớ cái pháp tàm quý là cái bước thứ hai, nhớ tàm quý chưa đủ bởi vì nhớ rồi cũng quên thì bây giờ như lý tác ý nhắc hoài cho nên pháp thứ ba là nhắc, học rồi nhớ và nhắc tới nhắc lui, nhắc xuôi nhắc ngược, sáng nhắc, trưa nhắc, chiều nhắc, tối nhắc, bất cứ giờ nào cũng nhắc hoài như vậy. Khi mà nhắc một thời gian nó quen, nó thuần thục rồi người này an trú vào trong cái pháp này, cái pháp này không mất nữa.
Cho nên cái chữ an trú trong Nikāya hay lắm, vi diệu lắm, an trú là ở yên trong đó. Như vậy cái tâm ở trong cái xấu hổ và sợ hãi thì khi một người chưa đoạn tận lậu hoặc thì chắc chắn là xấu hổ rồi, chắc chắn là sợ hãi rồi, trừ bật A-la-hán mới hết tàm quý thôi, hễ còn các lậu hoặc dù nhỏ nhất của bậc Bất Lai hay Nhất Lai cũng sẽ còn có tàm quý. Khi người này an trú cái tàm quý đó thì từ trong cái tàm quý này làm cho các cái pháp cấu nhiễm, tham, sân, si, dục ái, bản ngã lắng dịu ở trong cái tàm quý, nó lắng dịu xuống. Nhìn thấy mình còn dục, còn tham, còn ái, nhìn thấy mình còn sân hận, nhìn thấy mình còn bản ngã, nhìn thấy mình còn chấp thủ như vậy có nhục không? Làm sao không nhục? Quá nhục đi, cái tâm này đưa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là quá sợ luôn, nhục và sợ, khi mà có nhục có sợ, có xấu hổ và sợ hãi thì người này tự động ngôn ngữ lắng dịu.
Chỗ này là cái bí kíp, cái này chính là cội nguồn của sự an tịnh, lắng dịu. Khi mình mới tu, mới học an tịnh, lắng dịu là mình phải tập ở ngoài, nhưng khi mình tu học sâu vô rồi mình mới thấy được cái gốc để mình nó an tịnh, lắng dịu chính là cái tâm tàm quý, xấu hổ và sợ hãi các ác và bất thiện pháp. Khi mình có được cảm thọ đó rồi đó thì tự động mình không dám nói lớn vì nói lớn nhục lắm, la lối, chỉ chỏ, ta đây, khen mình chê người xấu hổ lắm, hèn hạ lắm, tồi bại quá, không xứng với cái thánh hạnh, không xứng với đức hạnh cao thượng của một người tu dù cho cư sĩ hay là một người xuất gia, tự động khi bên trong an trú tàm quý thì lời nói lắng dịu, nói nhỏ nhẹ. Khi bên trong có sự xấu hổ và sợ hãi thì cái hành vi sẽ khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhã, tâm khiêm nhường, ở trong suy nghĩ càng kỹ, nó được cái tàm quý này hướng dẫn cái suy nghĩ, cái suy nghĩ không dám suy nghĩ chống đối với người khác, không dám suy nghĩ hơn thua, không phải là không dám nữa không muốn nữa, chán quá rồi, ngao ngán cái hơn thua này, ngao ngán tranh giành, đấu đá, thị phi, thấy nhàm chán, thấy ly tham, chỉ muốn từ bỏ, thoát ra, chúng ta thấy cái chỗ này quá tuyệt vời.
Cho nên khi mình trú được cái tàm quý thì khổ đau được đoạn tận, bước những bước thăng bằng trên đường không thăng bằng. Con đường rất là gập ghềnh nhưng người có được chánh kiến, có được cái tàm quý, có được xấu hổ và sợ hãi các ác bất thiện pháp thì người này sẽ đi thăng bằng, không có cái gì lồi lõm hết. Người này không còn muốn thị phi, hơn thua, tranh giành, đấu đá với bất cứ một ai nữa, qua đây chúng ta mới thấy được từ cái lòng tin thì mới giữ giới, mình có tàm quý, Đức Phật dạy mình bố thí. Hôm nay chúng ta tổng quát về cái trình tự giáo hóa của Đức Phật, bố thí với một cái tâm rộng mở, diệt trừ cái tham lam, cái bủn xỉn, cái keo kiệt, với bàn tay rộng mở vui bố thí, thích bố thí, hoan hỉ trong bố thí, hạnh phúc, sung sướng trong sự bố thí, cả một cái tấm lòng, tình thương, từ tâm của mình. đức Phật mới nói về cái tai hại của dục ái, giáo pháp cốt tủy ở trong tạng Nikāya là dạy chúng ta cái pháp ly tham.
Tại sao dạy cái pháp ly tham? Vì cái tham này nó làm cho chúng sanh đau khổ, cái tham này làm cho chúng sanh không biết bao nhiêu là nước mắt, ở trong kinh nhấn mạnh về cái tham, cái dục, cái hỷ và cái tầm cầu.
"-- Vật gì dẫn dắt đời?
Vật gì tự não hại?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
-- Chính ái là một đời,
Chính ái tự não hại,
Chính ái là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên VII. Phẩm Thắng, III. Khát Ái)
"-- Vật gì trói buộc đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mới được gọi Niết-bàn?
-- Chính hỷ trói buộc đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mới được gọi Niết-bàn." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên VII. Phẩm Thắng, IV. Kiết Sử)
"-- Vật gì triền phược đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mọi triền phược đoạn diệt?
-- Chính hỷ triền phược đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mọi triền phược đoạn diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên VII. Phẩm Thắng, V. Triền Phược)
Trong ba bài kinh này Đức Phật nói nội dung chính ái dẫn dắt cuộc đời, chính cái tâm yêu thích dẫn dắt cuộc đời này đi và cái tâm yêu thích đó làm hại cuộc đời này, nó làm cho mình buồn đau và tất cả mọi vật ở trên đời này đều tùy thuộc vào cái dục ái này hết. Chính cái sự khoan khoái trong yêu thích tức là hỷ ái đó, nó trói buộc cuộc đời này, từ cái chỗ yêu thích, khoan khoái thì cái tâm sẽ tìm cầu, mình thích, mình muốn, mình khoái thì mình sẽ đi tìm cho nên cái tầm cầu này dẫn đời đi, do đoạn trừ được cái tâm khao khát, cái tâm yêu thích thì mới được gọi là Niết-bàn. Như vậy mình đi theo cái trình tự thuyết pháp của Chư Phật là khi Đức Phật nói về tín, nói về giới, nói về cái phước báo của sự bố thí cũng như niềm vui ở cõi trời thì Đức Phật bắt đầu nói về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục.
Cái dục này bao gồm luôn ái tham trong đó, như vậy con người ta vì cái gì làm cho khổ đau thì trong kinh Đức Phật nói rất là kỹ, vì cái sự ham muốn mà làm ra đủ thứ nước mắt, đủ thứ buồn đau, đủ thứ những cái lừa gạt, dối trá, rồi chiến tranh, bao nhiêu những cái thủ đoạn ở trên cuộc đời này là từ cái tâm tham, tâm dục, tâm ái. Ngày nay chúng ta thấy rất là rõ mẹ con có thể đổ xăng đốt nhà với nhau vì một chút tài sản, vợ chồng, thậm chí đừng nói chi là chia tay, đừng nói chi trở thành kẻ thù mà có thể vì cái sự ghen tuông, rồi anh em huynh đệ tương tàn vì mấy tấc đất, thầy trò, cô trò cũng có thể không còn tình, không còn nghĩa gì hết khi chạm tới cái đồng tiền, chạm tới cái lợi ích riêng ích kỷ cá nhân, rồi người thân chỉ cần liên hệ tới cái lợi thì có thể là quay lưng, có thể là trở mặt với nhau.
Như vậy thì cái dục này, cái ham cái muốn, cái thích, cái khoái, nói đơn giản theo người đời mình dễ hiểu là cái đồng tiền này, cái tài sản này, cái đất đai, ruộng vườn, xe cộ, nhà cửa, tiền bạc này, khi mà cái lòng tham, lòng thích, lòng muốn, lòng khoái đối với nó thì bao nhiêu là cái tai họa, bao nhiêu là cái hiểm nguy, bao nhiêu khổ đau, bao nhiêu cái tan rã, bao nhiêu sự đổ vỡ, bao nhiêu là cái buồn phiền, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu hồng, bao nhiêu huyết lệ và bao nhiêu súng ống đạn dược. Mình phải thấy được cái vị ngọt của nó có một chút thôi, vị ngọt của cái lòng tham, lòng dục, lòng ái chỉ một chút thôi nhưng mà cái nguy hiểm, cái tai họa, cái hậu quả đã đem lại là khủng khiếp, khủng khiếp, khủng khiếp vô số kể mà Đức Phật ví dụ là nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển, nào là cha chết, mẹ chết, con chết, chồng chết, ông chết, bà chết, cháu chết, anh chết, em chết, chị chết.
"Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết...
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Bao nhiêu những sự sanh ly tử biệt, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, tóm lại năm cái thủ uẩn này là khổ.
"Này chư Hiền, thế nào là sầu? Này chư Hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là sầu.
Và này chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Này chư Hiền, như thế nào là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ? Như sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư Hiền, như vậy gọi là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ". (Trung Bộ Kinh, 141. Kinh Phân biệt về Sự thật)
Tất cả những cái đó là cái ái này dẫn dắt cuộc đời, cái sự yêu thương, cái sự ham muốn, cái sự khoái thích này hãm hại mình, làm cho mình buồn đau, khổ sầu. Tất cả cuộc đời này phải quay cuồng ở trong đó, quay vòng vòng ở trong đó, điên đảo ở trong đó, trôi lăn ở trong đó, trôi dạt, chìm đắm ở trong đó cho nên người ta mới nói "biển ái sóng bao la, nhận chìm cả ta bà". Cái sự bao trùm, xâm chiếm và áp đảo của cái tam tham, lòng dục, lòng ái này là khủng khiếp tới cả tam giới luôn, dục ái, sắc ái và vô sắc ái, tam thiên, đại thiên thế giới, mười ngàn thế giới này tất cả đều chết chìm trong cái biển ái này. Vì thế người tu muốn bớt khổ, muốn giảm khổ, muốn đoạn khổ, muốn hết khổ, muốn dứt khổ thì người tu phải nhiếp phục và chế ngự cái tham ái này, muốn tháo gỡ, muốn giải thoát cũng phải nhiếp phục, chế ngự tham ái này, yêu thích này, cái khoan khoái này. Chính cái hỷ này trói buộc đời mà, tầm cầu dẫn đời đi, do đoạn trừ khát ái mới được gọi Niết-bàn, như vậy mức độ tu tập nằm ở chỗ nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận được cái tham ái, cái ham, cái thích, cái khoái, cái muốn này, cái tìm, cái kiếm, cái khao, cái khát này, cái thèm thuồng, cái khao khát, cái tìm kiếm, cái mong đợi, cái truy tầm, cái săn đuổi này phải được dừng lại, muốn dừng lại thì làm như thế nào?
Đức Phật chỉ rất rõ là phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó. Nãy giờ chúng ta nói nguy hiểm, tác hại đó, vợ chồng thì phân sát nhau, mẹ con, cha con thì thiêu đốt, phóng hỏa với nhau, anh chị em thì đâm thủng ruột, thấu tim, quay lưng trở mặt với nhau vì mấy cái đồng tiền đó, thưa kiện với nhau mười mấy với một cái người út khuyết tật ngồi xe lăn để giành lấy quyền thừa kế cái nhà hương hỏa. Đau lòng… đau lòng và đau lòng cho nên mình có một cái sự quán chiếu, nghiền ngẫm sâu sắc, cái tu ở trong Nikāya này thì tám mươi, chín mươi phần trăm là thiền quán. Thiền Quán là sự chiêm nghiệm bằng chánh kiến, bằng cái thấy đúng rồi mình mới chiêm nghiệm được sự nguy hiểm của dục, sự tai hại của ác, cái hậu quả mà nó đem lại cho nên Thế Tôn mới nói tất cả cái nỗi khổ khởi lên ở trong quá khứ đều bắt nguồn từ dục, từ ái này, ham muốn này, yêu thích này, tất cả những cái nỗi khổ khởi lên ở thời vị lai sau này đều bắt nguồn từ dục, từ tham, từ ái này và tất cả cái khổ mà khởi lên ở trong thời hiện tại này đều bắt nguồn từ dục, từ tham, từ ái này. Trong ba thời xưa, sau và nay tất cả những đau khổ trên cuộc đời này đều xuất phát từ cái dục, cái ái, cái tham.
"Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra)
Nếu người nào thường xuyên nhận diện ngũ uẩn, thấy được các cảm thọ và nhiếp phục, chế ngự những dục ái này thì người đó giảm khổ, bớt khổ, đoạn tận được dục ái, người đó đi đến hết khổ, chứng đạt được Niết-bàn cho nên mới nói chính cái ái hay là cái hỷ này trói buộc cuộc đời, tầm cầu dẫn đời đi, do đoạn trừ khát ái mới được gọi Niết-bàn. Mình muốn sâu sắc hơn nữa, mình muốn nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận cái dục, cái tham, cái ái này thì Đức Phật dạy mình phải thấy được khổ ở trong đó, thấy được tai họa ở trong đó, thấy được những nguy nan, những hiểm họa, những ách nạn, những khốn nạn, những hoạn nạn, những hiểm nạn, những hỏa hoạn ở trong đó, thấy được núi lửa phun trào trong đó, thấy được sóng thần của dục ái, thấy được động đất, chiến tranh, tan nát, hoại diệt của lòng tham, lòng dục của con người.
Mình quán được, mình xét được, mình tư duy được, mình thẩm thấu được một cái sự khổ bao trùm hết tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, tứ đại ngũ uẩn này, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn này bao trùm hết, nhìn thấy được cái khổ đó rồi mình phải gớm ghê, chán chê, não nề, ê chề, ngao ngán. Từ đó mình có cái tâm nhàm chán, tâm yểm ly, tâm ly tham, cái tâm xuất ly, thoát ly, xả ly thì như vậy bằng cái con đường thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng đúng, sống đúng, quán đúng và định đúng trong cái tám đúng của bậc thánh này sẽ đưa mình đến chỗ đoạn tận cái khát ái, phá vỡ vô minh, bẻ gãy cái kiêu mạn này để mình có thể mình tiến thẳng vào thành trí Niết-bàn an lạc bất tử. Đó là cái đạo lộ của Chư Phật, cái tuần tự thuyết giáo của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, trong hiện tại, trong tương lai, trong cả ba thời cho nên Bát Chánh Đạo là con đường cũ, đạo lộ cũ và ngày xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua, hôm nay đức Như Lai Thích-ca Mâu-ni của chúng ta cũng đi con đường ấy.
Đi con đường ấy ngài nhìn thấy rõ hết tất cả mười hai nhân duyên, thấy rõ hết tất cả những dục, tham, ái, thấy rõ tất cả những vô minh, những lậu hoặc, những cái thứ làm cho chúng sanh đau khổ, làm cho tự thân ngài khổ đau. Từ cái chỗ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh này có thể tám mặt đánh vỡ, đánh phá, đánh sập, đánh nát, đánh tan bát tà đạo để triển khai hiển hiện Bát Thánh Đạo, tám đúng của bậc thánh. Từ chỗ mình thấy đúng về ngũ uẩn này, về cái thân tâm này và cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã này, nói gọn ở đây là dục ái thì mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận nó thì mình đi đến cái chỗ diệt khổ.
Đó là cái pháp gọi là diệt khổ chi đạo, con đường diệt khổ và đạo Phật chúng ta, đó cũng là cái sự đóng góp vĩ đại mà thái tử Tất-đạt-đa, bồ tát Sĩ-đạt-ta, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác của dòng họ Sakya đã phụng hiến cho thế giới nhân loại này, đem lại mặt trời thánh tuệ, đem lại vầng trăng minh kiến, đem lại một cái đạo lộ diệt khổ cho thế gian này. Và cái chân lý này nó vĩnh hằng, nó bất diệt cho đến khi nào tất cả chúng sanh không còn ai chấp nhận, không còn ai muốn giải thoát nữa thì con đường này bị lãng quên. Cho đến khi nào còn một người tha thiết, nhiệt huyết, quyết chí tầm cầu sự giải thoát mà người này bắt gặp được con đường này, bằng tất cả tấm lòng nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt tình, nhiệt huyết nóng bỏng và đem hết tất cả sinh mạng của mình để thực hành thì người đó sẽ được giải thoát sanh tử, chấm dứt khổ đau, đoạn tận lậu hoặc cứu cánh phạm hạnh, thành tựu Niết-bàn.
Như vậy hôm nay là cái buổi đầu tiên thì chúng ta tổng quát về tuần tự giáo hóa, cái trình tự thuyết pháp của ba đời Chư Phật để chúng ta thấy rõ được cái trình tự đó để mình tu học cho đúng theo chánh pháp, đúng theo đạo lộ, đúng theo cái tuần tự, đúng theo cái trình tự để mình đừng có bị những cái tác động ở bên ngoài làm cho tâm mình chao đảo, làm cho tâm của mình lung lay, mình phải chánh tín, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn để mình đạt đến một sự chánh quán, chánh giải thoát, chánh trí ở trong đạo Phật. Hôm nay là cái bài tổng quát về tuần tự thuyết pháp, trình tự giáo hóa của ba đời Chư Phật, chúng ta hoan hỉ ha.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa giảng sư, kính thưa quý Phật tử, chúng con xin thay lời ban Tổ chức khóa học thành kính tri ân thượng tọa đã có thời pháp thoại chia sẻ đến với khóa học hôm nay để cho quý Phật tử ứng dụng và thực hành trong đời sống tu học hàng ngày được lợi ích an vui. Chúng con thành tâm kính chúc thượng tọa giảng sư pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, Phật sự viên thành. Chúng tôi xin kính chúc toàn thể quý Phật tử thành tựu thiện duyên, gia đình được an vui, yết tường như ý.
Giờ đây thượng tọa đã hồi hướng rồi, bây giờ thì quý Phật tử có còn những cái thắc mắc, hay là những cái gì chưa hiểu muốn thưa thượng tọa để giải thích thêm thì mời quý Phật tử mình cứ bấm vào giơ tay lên để cho thượng tọa chia sẻ cho quý Phật tử được am tường. A-di-đà Phật. Như vậy thì không có Phật tử nào muốn hỏi thêm điều gì. A-di-đà Phật chúng con xin cung thỉnh thượng tọa nghỉ.
./.
–Thích Minh Thành–
Kính bạch chư tôn đức và chư hiền trí hôm nay chúng ta chuyển qua một chủ đề lớn "Tinh Hoa Thánh Điển Nikāya". Vì cái chuyên đề này nó rộng, nó rất là rộng, nhiều phương diện, khía cạnh, nhiều trí tuệ, nhiều góc độ mà Đức Phật trình bày từ cho người cư sĩ cho đến người xuất gia, từ cái phước báo nhân thiên cho đến công đức vô lậu Niết-bàn xuất thế. Cái pháp giáo hóa trình tự của Chư Phật ở trong ba đời, đầu tiên cả các chư Thế Tôn nói về lòng tin, sau đó các ngài hướng dẫn người Phật tử về giới, bố thí, từ có lòng tin đối với tam bảo rồi phát tâm giữ giới, từ giữ giới Đức Phật khuyến khích, khích lệ cái sự bố thí, làm phước, sau đó Đức Thế Tôn nói về sự nguy hiểm của các dục, vị ngọt của các dục và sự xuất ly các dục, nói về cái tai hại, cái tác hại, sự nguy hại mà dục đem lại đau khổ cho con người. Cho đến khi một người đã thuần thục cái pháp rồi thì bấy giờ Thế Tôn mới tuyên thuyết, tuyên dương và trình bày cái pháp thâm sâu về bốn sự thật của bậc thánh là Tứ Thánh Đế, pháp mà tất cả các Chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai tuyên dương, tuyên thuyết, khai thị, minh thị, minh hiển, trình bày, khai ngộ cho tất cả chúng sanh là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và đạo lộ diệt trừ đau khổ.
Đây là tuần tự giáo hóa của tất cả Chư Phật ở trong ba đời, thành ra quý Phật tử theo cái trình tự này để tu học, trong những cái buổi học về trước thì con cũng đã có chia sẻ, bây giờ nhắc lại để quý vị nhớ. Quý vị làm sao mà có được cái lòng tin bất động đối với tam bảo, quý vị học như thế nào, nghe pháp như thế nào, nghiền ngẫm, thiền tập như thế nào để càng ngày quý vị có được một cái lòng tin vững chắc, bất động, không lay chuyển là quý vị đang tiến bộ trong sự tu học. Nhất là cái thời đại ngày nay vàng thau lẫn lộn, thật giả khó phân, những cái mạng truyền thông nó có rất nhiều những cái tin tức mà chưa biết cái đó là đúng sai, mình vội nghe rồi thì mình bị dao động là cái này rất uổng, rất là đáng tiếc. Quý vị phải nhớ kỹ Đức Phật dạy rằng sự xuất hiện của một người tối tôn, tối thượng, tối cao, vô thượng, không có gì sánh giữa loài hai chân, giữa loài bốn chân, giữa loài nhiều chân đó là Đức Như Lai, bậc tối tôn, tối thượng, tối thắng trong tất cả chúng sanh và một bậc Như Lai xuất hiện ở thế gian này là hiếm có, khó tìm, vô lượng vô số, vô biên, vô thỉ, vô tỷ kiếp có một bậc như vậy xuất hiện là chúng ta hết sức là may mắn, hết sức là phước báo, hết sức là công đức.
"Dầu cho các loại hữu tình nào, này các Tỳ-kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào đức Phật, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng" (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV). Các Lòng Tin)
Chúng ta sanh ra cái thời tuy không phải là thời chánh pháp nhưng mà chúng ta vẫn còn được nghe chánh pháp, vẫn còn được gặp chánh pháp và vẫn còn được gặp Tăng chúng, trong đó vẫn có thánh phàm lẫn lộn, vẫn có những cái bậc hiền thánh Tăng, thậm chí là những bậc cư sĩ tu hành đắc đạo thành tựu cho nên mình nhớ mình học phải nắm vững được cái tinh thần tịnh tín bất động này, nếu không mình nghe một vài tin giựt gân, vài cái hình ảnh, những cái đoạn clip vậy đó rồi mình dao động như vậy thì rất uổng. Đức Phật ví dụ hai hạng người, hạng người giống như bông gòn đem thả ở ngoài ngã bảy, ngã tám gió thổi bay tứ tung, hạn người thứ hai là hạng người giống như trụ đá tám thước, chôn sâu xuống là ba bốn thước thì như vậy là gió thổi không có lay động.
"-- Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ-kheo, không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt (ullokenti) một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.
Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỷ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác và nhận xét: "Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì bốn Thánh đế được khéo thấy, này các Tỳ-kheo. Thế nào là bốn?
Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Do vậy, này các Tỳỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Khổ'... một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'." (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, IX. Cột Trụ)
Bây giờ quý vị muốn làm bông gòn giữa gió bão hay quý vị muốn làm trụ đá? Nhớ là phải làm trụ đá chôn sâu tịnh tín bất động, không có lay chuyển tại vì Đức Thế Tôn có nói một câu mà chúng ta chiêm nghiệm sẽ thấy rất hay.
"Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)
Chúng ta thấy cái chỗ này là cái chỗ rất là tuyệt vời, khi mình đã hiểu được chánh pháp thì chánh pháp tức là cái trí tuệ, chúng ta đã được trao cho cái chìa khóa nhận diện năm uẩn rồi, cái trí tuệ mà mình nhìn ra được cái sự thật của thân tâm này, nhìn ra được cái sự thật ở trong cái hình hài này, trong cảm giác này, trong những cái hình bóng trong tâm, trong những suy nghĩ, nhận thức, nhận diện được năm uẩn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Chúng ta nhìn thấy được ở trong cảm thọ tham, sân, si trong đó, thúc giục trong đó, khao khát, thèm muốn ở trong đó, bản ngã, ta đây ở trong đó và chúng ta nhìn ra được cái đó rồi là chúng ta nhìn thấy được nguyên nhân của khổ.
Nguyên nhân của khổ nó nằm ngay đó, nó không phải nằm ở bên ngoài ngoại cảnh, không phải do cái người nào, không phải do cái cảnh vật nào, không phải do cái sự việc nào làm cho mình khổ, mà cái làm cho mình khổ chính là những cái cảm thọ thúc giục, thao khát, thèm khát, đói khát, khát ái ở bên trong. Nó sai xử, nó sai khiến, nó sai bảo, nó sai vặt, nó làm cho mình phải chạy từ hồi tóc xanh cho đến bạc đầu, chạy đi cuối cùng rồi mình lọt xuống một cái hố, chính là cái mộ huyệt. Đến cái ngày mình chuẩn bị ra đi, sắp sửa nhắm mắt xuôi tay tàn hơi mà lúc đó cái tâm khao khát, thèm muốn vẫn chưa có nguôi, vẫn chưa có dừng lại, cái tâm nóng giận, cái tâm sân hận vẫn còn âm ỉ bên trong đó, tuy là cái thân nó tàn rồi, tứ đại nó sắp rã tan nhưng những cái cảm thọ về tham muốn, về ham dục, tham ái vẫn còn, những cái cảm thọ về sân hận, về bực bội, về khó chịu âm ỉ ở bên trong và những cái cảm thọ, những cái hình bóng, suy tư, nhận thức về một cái tự ngã, một cái tôi nó vẫn còn nguyên vẹn.
Vì thế cái thân tàn mà cái nghiệp nó không tàn, thân hoại mà cái vô minh, khát ái không diệt cho nên Thế Tôn mới nói rằng dầu cho trái đất này có tan hoại thành tro bụi ta nói rằng chúng sanh không có chấm dứt khổ đau khi còn vô minh và còn khát ái. Vô Minh là không nhìn thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy tham, sân, si, không nhìn thấy dục ái, bản ngã, đó là vô minh, chính vì vô minh không thấy không biết những thứ đó là vô thường, là khổ, là vô ngã cho nên mình mới khao khát, mình mong, mình muốn, mình khoái, mình thích, mình chạy đuổi, mình chạy tìm, mình truy tầm, mình săn đón thì mình mới đau khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não mới sanh.
Bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu những sự tích tưởi, những sự uất ức, những sự nghẹn ngào, những sự bực bội, những sự ganh đua, những sự khẩu tranh, chiến tranh, quý vị nhìn thấy trong thế giới bây giờ mưa bom lửa đạn, bao nhiêu dòng nước mắt, bao nhiêu những khổ đau, bao nhiêu những cảnh nhà tan cửa nát. Trong một đêm mà cả một cái thành phố vĩ đại trở thành một đống hoang tàn, bao nhiêu sinh mạng, hàng trăm, hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn, hàng nhiều trăm ngàn cho đến hàng triệu người chết chỉ vì lòng tham của con người, lòng tham, lòng dục vọng nó sai khiến cho người ta quên tâm, quên mình, quên thân, quên già, quên bệnh, quên chết, quên khổ đau. Cho nên mình tu để mình nhìn thấy được những nguyên nhân làm cho mình khổ, mình nhiếp phục, chế ngự, chặn đứng nguyên nhân đó thì mình hết khổ. Vì vậy Đức Phật nói tự mình nương tựa chính mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình là như vậy đó.
Sau khi mình hiểu pháp, mình thấy pháp cũng là thấy được thân tâm, thấy được những nguyên nhân đau khổ nằm trong con người mình, mình nỗ lực, mình cố gắng, mình tinh tấn, mình nhiệt tâm, mình nhiệt tình, mình nhiệt huyết, nồng nhiệt ở trong sự nhìn thấy khổ và đoạn diệt nguyên nhân của khổ. Một người nhìn thấy được như vậy, một người nỗ lực như vậy thì như vậy Đức Phật gọi là hàng đệ tử tối thượng của Như Lai dù người đó là cư sĩ hay là tu sĩ, người đó là những đệ tử chân chánh của Đức Phật, gọi là bốn đôi tán chúng hiền thánh là những con người thật sự đi trên con đường mà Đức Phật đi, bước ở trên cái đạo lộ mà Đức Phật bước, hành ở trên cái pháp mà Đức Phật hành và tu ở trong cái đạo lộ mà Đức Phật đã tu. Khi mình có được niềm tin như vậy tức là giống như cột trụ chôn sâu, tịnh tín bất động không lay chuyển dầu cho gió bốn phương tám hướng thổi lên, vũ bão phong ba gì mình cũng vững chắc, giống như là tảng đá kiên cố không gió nào lay động được, người khen chê tâm không có hề giao động.
Một hôm Đức Phật đang đi khất thực thì ngoài sau lưng có vị đệ tử của một ông Bà-la-môn khen Đức Phật hết lời, khen đủ thứ hết, cái giới đức, đạo hạnh, thiền định, trí tuệ, hội chúng Đức phật khen đủ lời hết nhưng mà ông sư phụ Bà-la-môn là thầy của ông này thì chê bởi vì Đức Phật đi tới đâu là những người từ đạo khác ọ bỏ h đi theo Đức Phật. Những người bị đệ tử bỏ đi theo Đức Phật, gọi là cải đạo đi theo Đức Phật thì những người này bực bội, sân hận vì mất đệ tử. Như vậy ông thầy thì chê mà đệ tử lại khen, Đức Thế Tôn thì bình lặng, thanh thản, ung dung, tự tại trước lời chê khen.
"Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau: 'Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình'.
Phẫn nộ, không hoan hỉ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, III. Asurindaka)
Đức Phật dạy khi nghe người ta khen các ông đừng có vội mừng, phải tỉnh giác, chánh niệm quán sát coi cái đó có đúng sự thật không, các ông bị người ta huỷ nhục, chê bai các ông đừng có vội bực bội, khó chịu mà hãy tỉnh giác chánh niệm và quán sát coi cái đó có đúng không. Nếu mà đúng, người ta góp ý nói mình đúng thì như vậy mình sửa lại, người ta là thầy mình phải không.
"Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu."
(Kinh Pháp Cú 06 – Phẩm Hiền Trí, kệ 76)
Quý vị có muốn được chỉ chỗ chôn vàng không? Được cái người trí huệ người ta chỉ cho mình được, không ai chỉ cho mình được hết, những cái bậc hiền, những bậc trí, những của bậc tuệ chỉ cho mình thì mình hãy thân cận người như vậy, chỉ tốt hơn không có xấu, giúp cho mình tốt. Cho nên khi mình hiểu được chánh pháp như vậy rồi đó mình có lòng tin tuyệt đối với pháp, những vị chư Tăng chân tu thật học, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ sự nghiệp, bỏ ái tình cuộc đời, bỏ những thú vui thụ hưởng thế gian để người ta đem cả cuộc đời ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, sống đời đơn giản, ích muốn biết đủ, thiểu dục tri túc, kham khổ, khổ hạnh, thiền định, viễn ly, những cái giới đức đó, những cái đạo hạnh đó rồi chưa nói cái trí tuệ mà cái ngài tu học đúng thành tựu được chánh tri kiến thì như vậy có xứng đáng để cho mình chấp tay đảnh lễ, cung kính, cúng dường hay không.
Đó là những cái bậc đáng kính, đáng đảnh lễ, đáng cung kính, đáng chấp tay, ruộng phước vô thượng ở trên đời. Cho nên làm sao mình tu mà bất cứ là cư sĩ hay là xuất gia càng ngày lòng tin về thì tam bảo nó càng cứng, nó càng mạnh, nó càng lớn, nó càng sâu, nó càng chắc, nó càng dày, càng bất động thì cái đó mình tu đúng. Còn tu thời gian lúc thì nghi ngờ Tăng, nghi ngờ pháp, nghi ngờ Phật luôn là coi như xong rồi, quý vị nhớ cái đạo lộ đó là đầu tiên là mình được thành tựu được cái lòng tin vững chắc không dao động, tịnh tín kiên cố bất động. Cái tiếp theo là mình giữ giới, cái giới của mình làm sao mà càng ngày phải càng tăng thượng, đừng có mới thọ giới cũng vậy rồi thọ ba năm, năm năm, bảy năm cũng y chang vậy, phải cho cái giới tăng thượng lên, trong lòng của mình lúc nào mình cũng muốn cho mình phát triển. Quý vị đi làm mười năm mà lương tháng có mấy đồng vậy hoài quý vị có chịu không?
Quý vị cũng mong muốn cho mình được lương cao lên chứ, mình cũng muốn tu nghiệp, mình cũng muốn học cao lên, mình cũng muốn từ từ thăng chức lên thì cũng vậy, trong cái sự tu của mình đối với cái đạo đức, cái giới hạnh, cái phẩm hạnh, cái phẩm chất của một người Phật tử làm sao càng ngày mình càng tăng thượng ở trong năm cái giới. Từ bỏ sát sanh, không có dùng dao, không dùng gậy, không dùng trượng, không có dùng những thứ làm cho chúng sanh phải bị đau đớn, quằn quại, khổ sở. Càng ngày mình càng bớt ăn những máu thịt, bớt giết những cái con kiến, con trùng, con gián, những loài Hữu tình chúng sanh có tình thức, từ bỏ sát sanh. Càng ngày mình thấy cái tâm từ của mình nó càng lớn lên, càng ngày mình càng phát triển phát triển giới hạnh của một người Phật tử hay là cái giới hạnh của một cái người xuất gia, mình thấy trong mình nó lớn mạnh.
Mình thấy một cái cây mình trồng xuống thì lâu lâu ra nhìn thấy tự nhiên nó lớn lên, ở chỗ thất của con có mấy cây bờ nên vài bữa ra ngồi thiền, ra đi thiền hành nhìn thấy nó lớn lên. Mình nhìn lên mình thấy mình nhục, tại sao mà giới đức, thiền định, trí tuệ của mình chưa thấy nó lớn lên, mà cái cây nó vô tri, nó vô giác, nó vô tình mà nó còn tăng trưởng, còn phát triển, còn hướng thượng trong khi mình có tình thức, có tri giác mà tại sao mình không biết tự làm cho mình tự cường, tự thân tự lực, tự tiến, tự mình mạnh mẽ, cao lớn lên vậy, tăng trưởng lên vậy. Mình thấy vậy thì mình xấu hổ chứ, mấy cái cỏ dại cũng còn lớn lên mà tại sao mình không lớn lên ở trong các thiện pháp? Cái tâm an định của mình sao nó không lớn lên, không vững chắc, không thâm sâu, những cái oan nghi, những cái đạo đức, những cái phẩm hạnh của mình tại sao không tăng trưởng lên. Như vậy là mình thấy xấu hổ, thấy mình tàm quý, ở đây có một cái đức tánh rất quan trọng Đức Phật dạy:
"Người được tàm chế ngự,
Tìm được ai ở đời?
Ai biết ngăn chỉ trích,
Như ngựa hiền bóng roi.
Người được tàm chế ngự,
Sống thường thường chánh niệm,
Vị ấy đạt kết quả,
Khổ đau được đoạn tận,
Bước những bước thăng bằng,
Trên đường không thăng bằng." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên II. Phẩm Vườn Hoan Hỉ, VIII. Tàm Quý)
Tức là cái người này luôn luôn sống ở trong một cái cảm giác xấu hổ và sợ hãi, ngước lên mình nhìn Đức Phật mình thấy xấu hổ. Ngài cũng là một con người, ngài cũng là một ngũ uẩn, ngài cũng là một tứ đại, ngài đã không ngừng vươn lên, không ngừng vượt qua, không ngừng chiến thắng chính mình. Từng kiếp, từng kiếp như vậy ngài đã vượt lên, ngày vươn qua, ngài vượt qua, ngài chiến đấu với biết bao nhiêu là khó khăn, gian khổ, thử thách, trở ngại, chông gai, hiểm hóc mà ngài đi đến cái chỗ vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tại sao mình cũng là một con người mà bây giờ mình đã được cái thánh pháp, tức là cái bí kíp của chánh pháp, cái bí kết siêu phàm nhập thánh, cái bí quyết nhìn thấu được ngũ uẩn thân tâm, bản chất của thế giới, lậu hoặc, vô minh, khát ái mà tại sao bây giờ chỉ có làm thôi mà không chịu làm, là mình thấy mình nhục không, thấy nhục nhã, thấy xấu hổ, thấy hèn hạ. Tự mình đi đến mình, tự mình chỉ trích mình, tự mình khiển trách mình, tự mình quở trách mình.
Như vậy một người thường an trú ở trong cái trạng thái cái tâm xấu hổ thì người này sống thường thường chánh niệm. Nếu một người thường nhớ như vậy hoài, nhớ Đức Phật, nhớ các bậc thánh, bậc A-la-hán, nhớ đức hạnh ngài Ca-diếp, nhớ đức hạnh của ngài A-nan, nhớ đức hạnh ngài Mục-kiền-liên thần thông, nhớ trí tuệ của ngài Xá-lợi-phất, mình cứ niệm thì cái đó là niệm Tăng, niệm thánh Tăng. Mình nhớ đức hạnh của ngài Phú-lâu-na, mình nhớ đức hạnh của các bậc trưởng lão tăng kệ, trưởng lão ni kệ, các bậc hiền thánh mà mình đã được học, nhớ cái đó thì mình thấy thật là xấu hổ, thật là thấp kém, thật là thấp hèn. Như vậy là mình trú ở trong cái sự hổ thẹn, "người được tàm chế ngự sống thường thường chánh niệm". Như vậy tự động mình sẽ thấy "mình còn cái này nha, cái này mình chưa được hiền nè, mình còn hung dữ nè, cái này tâm mình chưa có nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng nè. Mình còn chống đối nè, mình còn cãi bướng nè, mình còn ương ngạnh nè, mình còn khó nói, khó nghe, khó dạy, khó bảo nè, khó tu, khó học nè".
Mình thấy như vậy là mình tủi, thậm chí mình tức tưởi, mình nghẹn ngào, mình ở trước bàn Phật là nước mắt đầm đìa hết. Mình ngồi thiền một mình là mình ràng rụa, mình thấy buồn đau cho mình, tiếc thương cho mình, tủi phận cho mình và từ những cái giọt nước mắt đó, từ những cái sự xấu hổ đó, từ những cái sự lo lắng sợ, hãi đó thì đổi đời, chuyển tộc. Tức là chuyển đổi dòng tộc, như mình ở ngoài đời họ Nguyễn, họ Trần, họ gì không biết, mình vô tu trở thành họ Thích, đó gọi là chuyển tộc theo cái danh nghĩa đó, còn cái chuyển tộc ở đây nói đó tức là bậc Nhập Lưu thánh quả, dòng máu giác ngộ được tuôn chảy trong thân tâm huyết quản của mình, trong suy nghĩ, trong nhận thức, trong cảm giác, trong tư duy của mình là những cái sự thấy, những sự biết về trí tuệ, về tuệ giác khổ thánh trí.
Mình chuyển tọc, không còn ở trong cái dòng họ bà con của vô minh, của khát ái, của chấp thủ, của hôn mê nữa, của si ám nữa mà từ giờ về sau mình đã đi vào cái dòng huyết quản của các bậc hiền thánh, của các bậc chánh giác. Đó là từ nhục nhã sanh thánh quả cho nên người an trú trong tàm quý là người này thường thường chánh niệm, "vị ấy đạt kết quả, khổ đau được đoạn tận, bước những bước thăng bằng, trên đường không thăng bằng". Quá tuyệt vời cho nên hai cái pháp tàm quý này là cực kỳ quan trọng, người mà có Tàm có quý, có xấu hổ, có sợ hãi thì người này sẽ có chế ngự các căn, mà chế ngực các căn có rồi thì người này sẽ có được những cái oai nghi, oai nghi có rồi người này sẽ có được sự định tĩnh, định tĩnh được rồi thì người này sẽ có được sự thấy biết như thật về khổ, người này thấy biết như thật về khổ thì người này sẽ có nhàm chán, ly tham, có nhàm chán, ly tham thì người này được giải thoát.
Một người buông lung phóng dật, tả thả lỏng các căn, dao động, lắm mồm lắm miệng, nói nhiều, không phòng hộ, không chế ngự, không bảo vệ thì người này đương nhiên làm gì có tàm quý. Một người có xấu hổ, một người có hổ thẹn, một người có lo lắng, sợ hãi thì làm sao có những cái này, mà muốn có được cái này thì người này phải tu cái pháp này mới có. Phải biết nhớ, phải học được cái pháp đó là đầu tiên, kế đó phải nhớ được cái pháp đó là cái thứ hai và cái tiếp theo là phải tác ý về cái pháp đó là cái thứ ba, cái thứ tư là người này an trú được trong cái pháp đó, khi người này an trú được trong cái pháp tàm quý này, cái xấu hổ và sợ hãi này đó người này trú tâm được cái này thì người này lớn mạnh ở trong pháp, tăng trưởng ở trong pháp, hướng thượng ở trong pháp, người này quảng đại ở trong pháp và có chân đứng ở trong pháp và luật.
Cho nên cái pháp tàm quý là rất quan trọng, một người không có an trú tàm quý nhìn vô biết liền, một người có tàm có quý thì mỗi ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ của họ mình thấy rõ ràng. Khi có tàm quý tự động chế ngự các căn, có chế ngự các căn thì họ có được đầy đủ các giới, khi đã đầy đủ các giới thì tâm họ được định. Họ không có phạm những cái lỗi lầm thì cái tâm nó đâu có cái sự ray rứt, tâm nó đâu có bất an, tâm nó được an tịnh, lắng dịu, yên định và khi cái tâm an tịnh, lắng dịu, yên định cộng với cái chánh kiến đã được học thì bấy giờ chánh kiến phát huy ở trong cái tâm định tĩnh đó. Giống như cái mặt hồ nó tĩnh lặng thì bắt đầu phản chiếu, khi nó phản chiếu nhờ nước mặt hồ lắng lặng như vậy, nó trong, nó sáng như vậy thì nó mới phản chiếu được thì bên trên mình nhìn sâu xuống mới thấy ở dưới thì cái chỗ nào còn rác, chỗ nào còn bùn, chỗ nào con cá, chỗ nào con cua, chỗ nào con ếch, con nhái, nòng nọc, thấy rồi mình mới lấy rác ra hết thì trở thành hồ nước trong sạch.
Cái tâm mình cũng vậy cho nên cái pháp tàm quý này cực kì quan trọng, khi mất pháp tàm quý này là mất cơ hội thể nhập vào chánh kiến. Phải luôn luôn chánh niệm, người ta nói cái gì, người ta làm cái gì, người ta suy nghĩ cái gì cũng được cái tàm quý đó, nó dẫn dắt và với một cái tâm xấu hổ và sợ hãi như vậy thì người này có dám ngã mạn không, có dám kiêu mạn không, có dám ngạo mạn không. Không có, cho nên phải học được cái pháp tàm quý này, xấu hổ và sợ hãi, học rồi phải nhớ cái pháp tàm quý là cái bước thứ hai, nhớ tàm quý chưa đủ bởi vì nhớ rồi cũng quên thì bây giờ như lý tác ý nhắc hoài cho nên pháp thứ ba là nhắc, học rồi nhớ và nhắc tới nhắc lui, nhắc xuôi nhắc ngược, sáng nhắc, trưa nhắc, chiều nhắc, tối nhắc, bất cứ giờ nào cũng nhắc hoài như vậy. Khi mà nhắc một thời gian nó quen, nó thuần thục rồi người này an trú vào trong cái pháp này, cái pháp này không mất nữa.
Cho nên cái chữ an trú trong Nikāya hay lắm, vi diệu lắm, an trú là ở yên trong đó. Như vậy cái tâm ở trong cái xấu hổ và sợ hãi thì khi một người chưa đoạn tận lậu hoặc thì chắc chắn là xấu hổ rồi, chắc chắn là sợ hãi rồi, trừ bật A-la-hán mới hết tàm quý thôi, hễ còn các lậu hoặc dù nhỏ nhất của bậc Bất Lai hay Nhất Lai cũng sẽ còn có tàm quý. Khi người này an trú cái tàm quý đó thì từ trong cái tàm quý này làm cho các cái pháp cấu nhiễm, tham, sân, si, dục ái, bản ngã lắng dịu ở trong cái tàm quý, nó lắng dịu xuống. Nhìn thấy mình còn dục, còn tham, còn ái, nhìn thấy mình còn sân hận, nhìn thấy mình còn bản ngã, nhìn thấy mình còn chấp thủ như vậy có nhục không? Làm sao không nhục? Quá nhục đi, cái tâm này đưa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là quá sợ luôn, nhục và sợ, khi mà có nhục có sợ, có xấu hổ và sợ hãi thì người này tự động ngôn ngữ lắng dịu.
Chỗ này là cái bí kíp, cái này chính là cội nguồn của sự an tịnh, lắng dịu. Khi mình mới tu, mới học an tịnh, lắng dịu là mình phải tập ở ngoài, nhưng khi mình tu học sâu vô rồi mình mới thấy được cái gốc để mình nó an tịnh, lắng dịu chính là cái tâm tàm quý, xấu hổ và sợ hãi các ác và bất thiện pháp. Khi mình có được cảm thọ đó rồi đó thì tự động mình không dám nói lớn vì nói lớn nhục lắm, la lối, chỉ chỏ, ta đây, khen mình chê người xấu hổ lắm, hèn hạ lắm, tồi bại quá, không xứng với cái thánh hạnh, không xứng với đức hạnh cao thượng của một người tu dù cho cư sĩ hay là một người xuất gia, tự động khi bên trong an trú tàm quý thì lời nói lắng dịu, nói nhỏ nhẹ. Khi bên trong có sự xấu hổ và sợ hãi thì cái hành vi sẽ khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhã, tâm khiêm nhường, ở trong suy nghĩ càng kỹ, nó được cái tàm quý này hướng dẫn cái suy nghĩ, cái suy nghĩ không dám suy nghĩ chống đối với người khác, không dám suy nghĩ hơn thua, không phải là không dám nữa không muốn nữa, chán quá rồi, ngao ngán cái hơn thua này, ngao ngán tranh giành, đấu đá, thị phi, thấy nhàm chán, thấy ly tham, chỉ muốn từ bỏ, thoát ra, chúng ta thấy cái chỗ này quá tuyệt vời.
Cho nên khi mình trú được cái tàm quý thì khổ đau được đoạn tận, bước những bước thăng bằng trên đường không thăng bằng. Con đường rất là gập ghềnh nhưng người có được chánh kiến, có được cái tàm quý, có được xấu hổ và sợ hãi các ác bất thiện pháp thì người này sẽ đi thăng bằng, không có cái gì lồi lõm hết. Người này không còn muốn thị phi, hơn thua, tranh giành, đấu đá với bất cứ một ai nữa, qua đây chúng ta mới thấy được từ cái lòng tin thì mới giữ giới, mình có tàm quý, Đức Phật dạy mình bố thí. Hôm nay chúng ta tổng quát về cái trình tự giáo hóa của Đức Phật, bố thí với một cái tâm rộng mở, diệt trừ cái tham lam, cái bủn xỉn, cái keo kiệt, với bàn tay rộng mở vui bố thí, thích bố thí, hoan hỉ trong bố thí, hạnh phúc, sung sướng trong sự bố thí, cả một cái tấm lòng, tình thương, từ tâm của mình. đức Phật mới nói về cái tai hại của dục ái, giáo pháp cốt tủy ở trong tạng Nikāya là dạy chúng ta cái pháp ly tham.
Tại sao dạy cái pháp ly tham? Vì cái tham này nó làm cho chúng sanh đau khổ, cái tham này làm cho chúng sanh không biết bao nhiêu là nước mắt, ở trong kinh nhấn mạnh về cái tham, cái dục, cái hỷ và cái tầm cầu.
"-- Vật gì dẫn dắt đời?
Vật gì tự não hại?
Và có một pháp nào,
Mọi vật đều tùy thuộc?
-- Chính ái là một đời,
Chính ái tự não hại,
Chính ái là một pháp,
Mọi vật đều tùy thuộc." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên VII. Phẩm Thắng, III. Khát Ái)
"-- Vật gì trói buộc đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mới được gọi Niết-bàn?
-- Chính hỷ trói buộc đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mới được gọi Niết-bàn." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên VII. Phẩm Thắng, IV. Kiết Sử)
"-- Vật gì triền phược đời?
Vật gì dẫn hành đời?
Do đoạn trừ pháp gì,
Mọi triền phược đoạn diệt?
-- Chính hỷ triền phược đời,
Tầm cầu dẫn hành đời,
Do đoạn trừ khát ái,
Mọi triền phược đoạn diệt." (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên VII. Phẩm Thắng, V. Triền Phược)
Trong ba bài kinh này Đức Phật nói nội dung chính ái dẫn dắt cuộc đời, chính cái tâm yêu thích dẫn dắt cuộc đời này đi và cái tâm yêu thích đó làm hại cuộc đời này, nó làm cho mình buồn đau và tất cả mọi vật ở trên đời này đều tùy thuộc vào cái dục ái này hết. Chính cái sự khoan khoái trong yêu thích tức là hỷ ái đó, nó trói buộc cuộc đời này, từ cái chỗ yêu thích, khoan khoái thì cái tâm sẽ tìm cầu, mình thích, mình muốn, mình khoái thì mình sẽ đi tìm cho nên cái tầm cầu này dẫn đời đi, do đoạn trừ được cái tâm khao khát, cái tâm yêu thích thì mới được gọi là Niết-bàn. Như vậy mình đi theo cái trình tự thuyết pháp của Chư Phật là khi Đức Phật nói về tín, nói về giới, nói về cái phước báo của sự bố thí cũng như niềm vui ở cõi trời thì Đức Phật bắt đầu nói về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục.
Cái dục này bao gồm luôn ái tham trong đó, như vậy con người ta vì cái gì làm cho khổ đau thì trong kinh Đức Phật nói rất là kỹ, vì cái sự ham muốn mà làm ra đủ thứ nước mắt, đủ thứ buồn đau, đủ thứ những cái lừa gạt, dối trá, rồi chiến tranh, bao nhiêu những cái thủ đoạn ở trên cuộc đời này là từ cái tâm tham, tâm dục, tâm ái. Ngày nay chúng ta thấy rất là rõ mẹ con có thể đổ xăng đốt nhà với nhau vì một chút tài sản, vợ chồng, thậm chí đừng nói chi là chia tay, đừng nói chi trở thành kẻ thù mà có thể vì cái sự ghen tuông, rồi anh em huynh đệ tương tàn vì mấy tấc đất, thầy trò, cô trò cũng có thể không còn tình, không còn nghĩa gì hết khi chạm tới cái đồng tiền, chạm tới cái lợi ích riêng ích kỷ cá nhân, rồi người thân chỉ cần liên hệ tới cái lợi thì có thể là quay lưng, có thể là trở mặt với nhau.
Như vậy thì cái dục này, cái ham cái muốn, cái thích, cái khoái, nói đơn giản theo người đời mình dễ hiểu là cái đồng tiền này, cái tài sản này, cái đất đai, ruộng vườn, xe cộ, nhà cửa, tiền bạc này, khi mà cái lòng tham, lòng thích, lòng muốn, lòng khoái đối với nó thì bao nhiêu là cái tai họa, bao nhiêu là cái hiểm nguy, bao nhiêu khổ đau, bao nhiêu cái tan rã, bao nhiêu sự đổ vỡ, bao nhiêu là cái buồn phiền, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu hồng, bao nhiêu huyết lệ và bao nhiêu súng ống đạn dược. Mình phải thấy được cái vị ngọt của nó có một chút thôi, vị ngọt của cái lòng tham, lòng dục, lòng ái chỉ một chút thôi nhưng mà cái nguy hiểm, cái tai họa, cái hậu quả đã đem lại là khủng khiếp, khủng khiếp, khủng khiếp vô số kể mà Đức Phật ví dụ là nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển, nào là cha chết, mẹ chết, con chết, chồng chết, ông chết, bà chết, cháu chết, anh chết, em chết, chị chết.
"Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết...
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... bị tham ái trói buộc.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Bao nhiêu những sự sanh ly tử biệt, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, tóm lại năm cái thủ uẩn này là khổ.
"Này chư Hiền, thế nào là sầu? Này chư Hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự sầu của người ấy. Này chư Hiền, như vậy gọi là sầu.
Và này chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, (bệnh là khổ), chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Này chư Hiền, như thế nào là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ? Như sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này chư Hiền, như vậy gọi là tóm lại, năm thủ uẩn là khổ". (Trung Bộ Kinh, 141. Kinh Phân biệt về Sự thật)
Tất cả những cái đó là cái ái này dẫn dắt cuộc đời, cái sự yêu thương, cái sự ham muốn, cái sự khoái thích này hãm hại mình, làm cho mình buồn đau, khổ sầu. Tất cả cuộc đời này phải quay cuồng ở trong đó, quay vòng vòng ở trong đó, điên đảo ở trong đó, trôi lăn ở trong đó, trôi dạt, chìm đắm ở trong đó cho nên người ta mới nói "biển ái sóng bao la, nhận chìm cả ta bà". Cái sự bao trùm, xâm chiếm và áp đảo của cái tam tham, lòng dục, lòng ái này là khủng khiếp tới cả tam giới luôn, dục ái, sắc ái và vô sắc ái, tam thiên, đại thiên thế giới, mười ngàn thế giới này tất cả đều chết chìm trong cái biển ái này. Vì thế người tu muốn bớt khổ, muốn giảm khổ, muốn đoạn khổ, muốn hết khổ, muốn dứt khổ thì người tu phải nhiếp phục và chế ngự cái tham ái này, muốn tháo gỡ, muốn giải thoát cũng phải nhiếp phục, chế ngự tham ái này, yêu thích này, cái khoan khoái này. Chính cái hỷ này trói buộc đời mà, tầm cầu dẫn đời đi, do đoạn trừ khát ái mới được gọi Niết-bàn, như vậy mức độ tu tập nằm ở chỗ nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận được cái tham ái, cái ham, cái thích, cái khoái, cái muốn này, cái tìm, cái kiếm, cái khao, cái khát này, cái thèm thuồng, cái khao khát, cái tìm kiếm, cái mong đợi, cái truy tầm, cái săn đuổi này phải được dừng lại, muốn dừng lại thì làm như thế nào?
Đức Phật chỉ rất rõ là phải thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó. Nãy giờ chúng ta nói nguy hiểm, tác hại đó, vợ chồng thì phân sát nhau, mẹ con, cha con thì thiêu đốt, phóng hỏa với nhau, anh chị em thì đâm thủng ruột, thấu tim, quay lưng trở mặt với nhau vì mấy cái đồng tiền đó, thưa kiện với nhau mười mấy với một cái người út khuyết tật ngồi xe lăn để giành lấy quyền thừa kế cái nhà hương hỏa. Đau lòng… đau lòng và đau lòng cho nên mình có một cái sự quán chiếu, nghiền ngẫm sâu sắc, cái tu ở trong Nikāya này thì tám mươi, chín mươi phần trăm là thiền quán. Thiền Quán là sự chiêm nghiệm bằng chánh kiến, bằng cái thấy đúng rồi mình mới chiêm nghiệm được sự nguy hiểm của dục, sự tai hại của ác, cái hậu quả mà nó đem lại cho nên Thế Tôn mới nói tất cả cái nỗi khổ khởi lên ở trong quá khứ đều bắt nguồn từ dục, từ ái này, ham muốn này, yêu thích này, tất cả những cái nỗi khổ khởi lên ở thời vị lai sau này đều bắt nguồn từ dục, từ tham, từ ái này và tất cả cái khổ mà khởi lên ở trong thời hiện tại này đều bắt nguồn từ dục, từ tham, từ ái này. Trong ba thời xưa, sau và nay tất cả những đau khổ trên cuộc đời này đều xuất phát từ cái dục, cái ái, cái tham.
"Nếu có khổ nào khởi lên trong quá khứ, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ. Phàm có khổ nào khởi lên trong tương lai, tất cả khổ ấy khởi lên lấy dục làm căn bản, lấy dục làm sở nhân. Dục là căn bản của khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương VIII. Tương Ưng Thôn Trưởng, XI. Bhadra)
Nếu người nào thường xuyên nhận diện ngũ uẩn, thấy được các cảm thọ và nhiếp phục, chế ngự những dục ái này thì người đó giảm khổ, bớt khổ, đoạn tận được dục ái, người đó đi đến hết khổ, chứng đạt được Niết-bàn cho nên mới nói chính cái ái hay là cái hỷ này trói buộc cuộc đời, tầm cầu dẫn đời đi, do đoạn trừ khát ái mới được gọi Niết-bàn. Mình muốn sâu sắc hơn nữa, mình muốn nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận cái dục, cái tham, cái ái này thì Đức Phật dạy mình phải thấy được khổ ở trong đó, thấy được tai họa ở trong đó, thấy được những nguy nan, những hiểm họa, những ách nạn, những khốn nạn, những hoạn nạn, những hiểm nạn, những hỏa hoạn ở trong đó, thấy được núi lửa phun trào trong đó, thấy được sóng thần của dục ái, thấy được động đất, chiến tranh, tan nát, hoại diệt của lòng tham, lòng dục của con người.
Mình quán được, mình xét được, mình tư duy được, mình thẩm thấu được một cái sự khổ bao trùm hết tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, tứ đại ngũ uẩn này, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn này bao trùm hết, nhìn thấy được cái khổ đó rồi mình phải gớm ghê, chán chê, não nề, ê chề, ngao ngán. Từ đó mình có cái tâm nhàm chán, tâm yểm ly, tâm ly tham, cái tâm xuất ly, thoát ly, xả ly thì như vậy bằng cái con đường thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, siêng đúng, sống đúng, quán đúng và định đúng trong cái tám đúng của bậc thánh này sẽ đưa mình đến chỗ đoạn tận cái khát ái, phá vỡ vô minh, bẻ gãy cái kiêu mạn này để mình có thể mình tiến thẳng vào thành trí Niết-bàn an lạc bất tử. Đó là cái đạo lộ của Chư Phật, cái tuần tự thuyết giáo của tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác trong quá khứ, trong hiện tại, trong tương lai, trong cả ba thời cho nên Bát Chánh Đạo là con đường cũ, đạo lộ cũ và ngày xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua, hôm nay đức Như Lai Thích-ca Mâu-ni của chúng ta cũng đi con đường ấy.
Đi con đường ấy ngài nhìn thấy rõ hết tất cả mười hai nhân duyên, thấy rõ hết tất cả những dục, tham, ái, thấy rõ tất cả những vô minh, những lậu hoặc, những cái thứ làm cho chúng sanh đau khổ, làm cho tự thân ngài khổ đau. Từ cái chỗ thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng và định đúng của bậc thánh này có thể tám mặt đánh vỡ, đánh phá, đánh sập, đánh nát, đánh tan bát tà đạo để triển khai hiển hiện Bát Thánh Đạo, tám đúng của bậc thánh. Từ chỗ mình thấy đúng về ngũ uẩn này, về cái thân tâm này và cái tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã này, nói gọn ở đây là dục ái thì mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận nó thì mình đi đến cái chỗ diệt khổ.
Đó là cái pháp gọi là diệt khổ chi đạo, con đường diệt khổ và đạo Phật chúng ta, đó cũng là cái sự đóng góp vĩ đại mà thái tử Tất-đạt-đa, bồ tát Sĩ-đạt-ta, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác của dòng họ Sakya đã phụng hiến cho thế giới nhân loại này, đem lại mặt trời thánh tuệ, đem lại vầng trăng minh kiến, đem lại một cái đạo lộ diệt khổ cho thế gian này. Và cái chân lý này nó vĩnh hằng, nó bất diệt cho đến khi nào tất cả chúng sanh không còn ai chấp nhận, không còn ai muốn giải thoát nữa thì con đường này bị lãng quên. Cho đến khi nào còn một người tha thiết, nhiệt huyết, quyết chí tầm cầu sự giải thoát mà người này bắt gặp được con đường này, bằng tất cả tấm lòng nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt tình, nhiệt huyết nóng bỏng và đem hết tất cả sinh mạng của mình để thực hành thì người đó sẽ được giải thoát sanh tử, chấm dứt khổ đau, đoạn tận lậu hoặc cứu cánh phạm hạnh, thành tựu Niết-bàn.
Như vậy hôm nay là cái buổi đầu tiên thì chúng ta tổng quát về tuần tự giáo hóa, cái trình tự thuyết pháp của ba đời Chư Phật để chúng ta thấy rõ được cái trình tự đó để mình tu học cho đúng theo chánh pháp, đúng theo đạo lộ, đúng theo cái tuần tự, đúng theo cái trình tự để mình đừng có bị những cái tác động ở bên ngoài làm cho tâm mình chao đảo, làm cho tâm của mình lung lay, mình phải chánh tín, chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn để mình đạt đến một sự chánh quán, chánh giải thoát, chánh trí ở trong đạo Phật. Hôm nay là cái bài tổng quát về tuần tự thuyết pháp, trình tự giáo hóa của ba đời Chư Phật, chúng ta hoan hỉ ha.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa giảng sư, kính thưa quý Phật tử, chúng con xin thay lời ban Tổ chức khóa học thành kính tri ân thượng tọa đã có thời pháp thoại chia sẻ đến với khóa học hôm nay để cho quý Phật tử ứng dụng và thực hành trong đời sống tu học hàng ngày được lợi ích an vui. Chúng con thành tâm kính chúc thượng tọa giảng sư pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ, Phật sự viên thành. Chúng tôi xin kính chúc toàn thể quý Phật tử thành tựu thiện duyên, gia đình được an vui, yết tường như ý.
Giờ đây thượng tọa đã hồi hướng rồi, bây giờ thì quý Phật tử có còn những cái thắc mắc, hay là những cái gì chưa hiểu muốn thưa thượng tọa để giải thích thêm thì mời quý Phật tử mình cứ bấm vào giơ tay lên để cho thượng tọa chia sẻ cho quý Phật tử được am tường. A-di-đà Phật. Như vậy thì không có Phật tử nào muốn hỏi thêm điều gì. A-di-đà Phật chúng con xin cung thỉnh thượng tọa nghỉ.
./.