Thánh Trí Năm Uẩn 3 - Định Nghĩa 5 Uẩn
Kinh Nikāya Giảng Giải
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 3
ĐỊNH NGHĨA NĂM UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cẩn thận trong tu học PAGEREF _Toc114234710 \h 1
II. Tưởng PAGEREF _Toc114234711 \h 4
III. Xúc PAGEREF _Toc114234712 \h 6
IV. Con đường tu học chân chánh PAGEREF _Toc114234713 \h 11
V. Hành uẩn PAGEREF _Toc114234714 \h 16
Cẩn thận trong tu học
Theo kinh nghiệm tu học, Minh Thành thấy rằng người ta dễ thất bại ở giây phút cuối. Lúc bắt đầu cho sự việc hay một hành trình thì rất để tâm, rất cố gắng, đến giai đoạn gần cuối cùng lại dễ bị thất bại, cho nên Minh Thành mong quý huynh đệ hãy cẩn thận trong khóa học sắp tốt nghiệp. Nói đầy đủ là có ba điều cần cẩn thận: khó khăn thứ nhất là những thủ tục, điều kiện phải cần phải có khi bắt đầu làm bất cứ việc gì, chẳng hạn hồ sơ, giấy tờ khi nhập học là thứ phải có; khó khăn thứ hai là khi sắp kết thúc thì mình dễ bị thất bại, người ta gọi đó là “cẩn thủy thận trung”; khó khăn thứ ba là khó để thành công nếu không nỗ lực, cố gắng, đây gọi là khó ở chặng giữa.
Như vậy, lúc bắt đầu và khi kết thúc là hai cái khó phải vượt qua, nổi bật nhất là khó khăn lúc bắt đầu, làm cái gì lúc đầu cũng khó nên người ta gọi “vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản”. Tuy nhiên, cái khó đầu tiên là khó theo kiểu ai cũng biết, chúng ta hoàn toàn có thể cố gắng để mình khắc phục được. Cái khó ở kết thúc là vì do xem thường, có rất nhiều người thất bại theo cách không đáng để thất bại nhưng họ vẫn thất bại. Như ngài Khổng Tử có ví dụ, khi đắp một núi rất cao, một người vất vả đắp đến lúc chỉ còn hai, ba sọt đất là tới đỉnh thì người này lại bỏ phế, như vậy lúc gần thành công thì người này bỏ cuộc. Cho nên giai đoạn sắp kết thúc rất quan trọng, phải “cẩn thủy thận trung”.
Giai đoạn ở giữa rất khó, hơn thua nhau ở chính lúc giữa, vì giai đoan này đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng và để tâm trong việc đang làm. Người nỗ lực, cố gắng, để tâm thì sẽ thành công lớn. Cho nên nếu tu được “Tứ Như Ý Túc”, “Tứ Thần Túc” được viên mãn thì sẽ trở thành những vị thánh lãnh đạo. Trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, “Tứ Thần Túc” gồm: dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc và tư duy như ý túc, nghĩa là sự mong muốn, nỗ lực, để tâm và tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được một việc gì đó. Người tu trọn vẹn bốn điều này sẽ là thánh nhân và là thánh lãnh đạo của các bậc thánh. Tất cả các vị hiền thánh, các vị A-la-hán cũng như nhau nhưng có vị là tướng quân chánh pháp, có bậc thánh là thuyết pháp đệ nhất, có bậc là đầu đà đệ nhất, có bậc là thần thông đệ nhất, nghị luận đệ nhất… đó là do hạnh của mỗi vị là khác nhau, còn trí huệ diệt lậu tận, diệt lậu hoặc thì như nhau.
Vì thế trước khi vào bài Minh Thành nhắc các huynh đệ cẩn thận giây phút cuối gọi là “trung thân thành tựu”. Ở Đài Loan có một bằng tuyên dương công đức, danh dự gọi là “trung thân thành tựu”, tức là người này thành công trọn vẹn trước sau. Hòa Thượng Tinh Vân được trao bằng ca ngợi công đức, danh dự với bốn chữ “trung thân thành tựu”, nghĩa là thành tựu trọn đời, suốt cuộc đời từ khi Ngài hoằng pháp cho đến lúc trên 90 tuổi tất cả đều trọn vẹn.
Thông thường, tâm lí con người khi không được thì ráng cố gắng, còn khi được rồi thì xem thường, chính điều đó làm cho họ thất bại. Thế nên, Minh Thành chia sẻ để mấy huynh đệ rút kinh nghiệm. Hồi xưa Minh Thành học tám năm ở chùa Vĩnh Nghiêm, Minh Thành thấy những vị giáo thọ lúc mới ra giảng thì rất hay, soạn bài rất kỹ, phong phú, đa dạng lý luận, ngôn ngữ, đưa ra nhiều ví dụ. Thế nhưng, khi họ nổi tiếng rồi thì muốn nói gì nói, không soạn bài gì nữa, người này chết ở trên thành công, sau đó người này không có cơ hội phát triển được nữa, Minh Thành thấy rất nhiều trường hợp như vậy.
Riêng bản thân Minh Thành, cho tới ngày hôm nay đứng lớp mười mấy năm nhưng vẫn thận trọng từng buổi nói chuyện, vẫn kĩ lưỡng bài vở, cái nào nghiên cứu phải làm thật kĩ, phải để tâm thì những tác phẩm mới giá trị. Điều quan trọng hơn hết là phải giảng đúng chánh pháp, nếu không, sau ba tháng, sáu tháng, một năm, năm năm ra giảng thì toàn là mình tự nói, không còn thấy Phật, thấy Pháp nữa. Điều này hết sức nguy hiểm đối với sự tu học của mình.
Các huynh đệ tương lai sẽ ngồi trên bục giảng, tương lai sẽ đứng trên pháp tòa, tương lai sẽ là những giáo thọ sư, những giảng viên của các trường Phật học cho nên những điều này phải nhớ kĩ và nắm thật vững. Dù không đứng trên trường, trên lớp, trên bục thì huynh đệ cũng phải ở chùa hướng dẫn cho Phật tử và ít nhất là hai, ba người đệ tử. Cho nên, người tu chúng ta phải nắm thật vững đâu là lời của Phật dạy, còn đâu là ý riêng của bản thân thì mình phải nói rõ. Còn cứ lẫn lộn thì không biết cái nào Phật dạy, cái nào mình nói, khi giảng cứ “cổ đức có câu” là xong thì không được. Cần phải nói rõ lời mình giảng nằm trong kinh Tăng Chi Bộ tập mấy, Tương Ưng Bộ quyển mấy, bài kinh số mấy trong Trung Bộ Kinh. Thà cúi xuống nhìn vào sách vở mà đọc mà đúng lời của Phật, còn hơn cứ nhắm mắt hả họng nói đại rồi nói Phật nói, như vậy là nói oan cho Phật, điều này hết sức nguy hiểm, có thể bị đọa nặng nề. Cứ nhắm mắt giảng đại là mai mốt không còn Chánh pháp nữa, cho nên phải hết sức nghiêm túc và thận trọng trong vấn đề nghiên cứu giáo pháp và hành trì.
Từ khi bắt đầu cho đến ngày mình nhắm mắt vô hòm không được xem thường pháp, từng câu, từng chữ trong kinh phải chính xác tuyệt đối 100%, vì sai một ly là đi một dặm, bản thân tu trật lất, còn hướng dẫn người ta lầm lạc theo. Trong luận văn “Thánh trí năm uẩn, Chiếu soi năm uẩn”, không có một chữ nào là của Minh Thành trong đây, toàn bộ luận văn là trích trong bốn bộ kinh Nikāya, những gì Minh Thành nói là để giải thích những từ khó hiểu và chia sẻ thêm những ví dụ trong đời sống thực tế để làm sáng rõ lời của Đức Phật.
Đây là kinh nghiệm quý báu để các huynh đệ làm chuẩn tắc tu học và hướng dẫn người sau. Chúng ta không được viết sách rồi tự mình suy nghĩ ra hoặc nghe ông này, ông kia, ông nọ nói rồi mình trích dẫn theo ông bác học nào đó, ông khoa học nào đó, ông tiến sĩ nào đó, thậm chí ông cụ nào đó. Nhưng, các vị đó có phải là Chánh Đẳng Chánh Giác không?
Cho nên lời Đức Phật lúc nào cũng phải đi đầu, sau đó những người nào giảng đúng với lời Đức Phật thì mình đưa vào, bằng không, mình nói đủ thứ nhưng không thấy Phật đâu hết, toàn là thấy bên Tàu, bên Tây, bên Âu. Đây là những điều quan trọng không được quên, học được như vậy thì mới trở thành Thánh đệ tử. Đừng xưng là đệ tử Phật mà nói một hồi là không thấy lời Phật dạy, chỉ toàn dẫn lời đạo này, đạo kia ra nói.
Trí tuệ về Tưởng uẩn
Tiếp theo, chúng ta cùng tìm hiểu về Tưởng Uẩn, gồm: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Khi ngồi yên lại, khi ở một mình, trong nội tâm hiện ra những hình bóng về một con người, về một món đồ, về cảnh vật nào đó thì đó gọi là sắc tưởng.Đức Phật đã định nghĩa tưởng như sau:
Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
(trích Tương Ưng Bộ tập III, kinh Đáng được ăn)
Tại sao lại nói nhận rõ màu? Ở đây, Đức Phật chỉ mới nói về sắc tưởng nhưng chúng ta phải hiểu rộng ra, gồm cả thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, tức là Phật nói một cái nhưng mình phải hiểu cả sáu cái. Ví dụ trong nội tâm mình có hình ảnh gì đó hiện ra màu đỏ, mình nhận rõ có màu đỏ trong tâm, đó là sắc tưởng. Khi những hình bóng, những bóng dáng của âm thanh đã nghe hiện khởi trở lại trong tâm, hoặc nhớ tiếng nói của ai đó thì đó là thanh tưởng. Những mùi, những vị mình từng ăn, từng nếm và mình nhớ lại cái mùi, cái vị thì đó gọi là hương tưởng, vị tưởng. Khi đã từng tiếp xúc với cái gì đó, mình ngồi nhớ lại cái đã tiếp xúc thì đó là xúc tưởng – những hình bóng về sự tiếp xúc.
Và pháp tưởng là cái khó nhất chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.
Thế nào là pháp tưởng
Trước tiên, huynh đệ cần phải học thuộc lòng duyên sanh pháp để quán chiếu đúng những từ trong Chánh pháp. Trong bài kinh “Cả hai” – Tương Ưng Bộ IV, Đức Phật thuyết về duyên sanh pháp, chúng ta phải căn cứ theo lời của Đức Phật trong kinh để tư duy, quán chiếu, chứ không thể tự suy nghĩ ra được. Trước giờ chúng ta luôn học theo kiểu tự suy diễn nên không thành công, Minh Thành đã trải qua mấy chục năm học như vậy nên rất uổng, bây giờ mới biết được một phương pháp học mới.
Khi được hỏi bất cứ vấn đề nào về pháp, nếu đứng lên trả lời “Con xin trình bày suy nghĩ của con hiểu về điều đó” là không đúng, vì làm sao mình suy nghĩ được, mà phải xem Đức Phật định nghĩa như thế nào, ở trong kinh nào. Sự học phải khó như vậy, vì khó như vậy mới đi theo đúng Thánh đạo và mới đi đến Thánh quả. Học hai, ba năm nhưng những điều căn bản không nắm vững thì khi ngồi thiền không thể nào biết được thế nào là pháp tưởng. Những trí tuệ này rất sâu sắc, không phải đơn giản để học, học chơi chơi không thể đi đến chỗ thành công. Muốn thành công trong sự học là phải thuộc lòng hết những định nghĩa này, khi học thuộc lòng rồi thì giải thích ra mới đúng, vì những điều này là do Đức Phật định nghĩa, nếu mình cứ nhớ mông lung rồi nói thì Chánh pháp sẽ đi về đâu?
Thế nào là pháp tưởng? Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng là năm tưởng đã học. Tưởng thứ sáu gọi là pháp tưởng, là hình bóng của cảm giác, hình bóng của những nghĩ, tưởng. Danh từ chuyên môn gọi là hình bóng của thọ, tưởng, hành.
Ví dụ, trong nội tâm có hình bóng của mẹ mình hiện ra, gương mặt buồn, tóc bạc, da nhăn, đau bệnh, sức yếu. Lúc đó mình có cảm giác khổ thọ; có suy nghĩ “không biết giờ này mẹ ra sao” là hành. Như vậy, hình bóng đó là tưởng, cảm giác là thọ, những suy nghĩ, lời nói thầm là hành, đó là pháp tưởng, tức là những hình bóng, cảm giác và nghĩ tưởng đối với những cái đã tiếp xúc. Cho nên, pháp tưởng này bao gồm thọ, tưởng, hành. Hình bóng mẹ hiện ra làm mình có cảm giác buồn và có những suy nghĩ theo đó. Như vậy, khi hình bóng hiện lên là mình có lời nói kèm theo và cảm giác sanh khởi thì đó là pháp tưởng.
Trong một ngày, những thọ, tưởng, hành ấy đi theo chúng ta không ngừng nhưng mình không thấy không biết, đó gọi là vô minh, không biết các pháp đang vận hành. Ví dụ, đang ngồi học nhưng cứ nghĩ rằng không biết trưa nay ăn món gì, trong tâm hiện ra tùm lum món ăn, đó là pháp tưởng. Trong tâm hiện lên món ngon mình thích, nghĩ rắng “chắc trưa nay được món đó, mình phải ăn hai, ba tô”, lúc đó cảm thọ vui vẻ, phấn khởi… đó chính là pháp tưởng. Chúng ta sống với những nghĩ, tưởng như vậy hằng ngày, hằng giờ nhưng không biết gì về nó, đó gọi là vô minh. Điều đau đớn nhất, cay đắng nhất là chúng ta nhận những thọ, tưởng, hành đó chính là tâm” của mình mà không biết chỉ là pháp tưởng, là duyên sanh pháp.
Tại sao tưởng sanh khởi? Đức Phật nói rằng, “Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi”, sở dĩ có tưởng là do mình đã từng tiếp xúc với hình bóng đó. Cũng như gương mặt mẹ mình đã từng thấy thì mới tưởng được, còn không thấy thì làm sao tưởng. Chúng ta không thể nhớ tưởng về một điều gì chưa từng tiếp xúc, chưa từng thấy. Cho nên xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, xúc tập khởi nên thọ tập khởi, xúc tập khởi nên hành tập khởi. Vì vậy, những gì mà chúng ta tưởng tượng, suy nghĩ, cảm giác đều là những cái mình đã tiếp xúc.
Đây là những định nghĩa phải học thuộc lòng, nếu không thuộc lòng là nói sai trật hết. Những định nghĩa này có nằm trong quyển “Tóm tắt năm uẩn”, gồm những định lý của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya được soạn ra và gom hết vào đây, gồm những điều căn bản nhất và toàn bộ những yếu nghĩa của tạng kinh Nikāya, nếu học thuộc quyển này là nắm hết những yếu tủy của tạng kinh Nikāya, là chìa khóa mở ra tạng kinh Nikāya.
Định nghĩa về pháp tưởng: Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Có khi phải ngồi thiền suốt đời, 20 năm, 30 năm vẫn không biết được điều này. Những trí tuệ này phải học mới biết được.
Duyên sanh pháp
Đầu tiên, phải có ý căn, ví dụ huynh đệ để ý đến dưới lòng bàn chân mình, khi để ý lòng bàn chân thì có cảm giác lòng bàn chân hơi đổ mồ hôi, nếu không để ý thì mình không thấy. Nếu chỉ lo nhìn bảng, nhìn thầy, nhìn này kia, không để ý đến lòng bàn chân thì không cảm giác được lòng bàn chân lúc đó như thế nào. Khi có sự để ý thì thọ, tưởng, hành sanh ra. Tức là có hình ảnh lòng bàn chân hiện ra trong tưởng; có cảm giác đang đổ mồ hôi; hành suy nghĩ “lòng bàn chân mình đang đổ mồi hôi, có phải bệnh phong thấp không”. Lúc đó ý thức nhận rõ là mình đang có cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, như vậy lúc đó ý thức sanh khởi. Chuỗi vận hành này diễn ra hằng ngày nhưng mình không biết đó chính là ý duyên với các pháp sanh ra ý thức. Đây là cả một công trình chứng ngộ của Đức Phật, không phải chuyện đơn giản. Hằng ngày nó vận hành ngay thân tâm mình mà mình không biết, cho nên mới gọi là vô minh, không biết tên, tuổi, mặt, mũi các pháp ra sao.
Khi có sự để ý thì đó là ý căn; do có sự để ý nên hình bóng bàn chân hiện ra, đó là tưởng; mình có cảm giác hơi khó chịu, đó là thọ; suy nghĩ “chân mình đổ mồ hôi chắc bệnh phong thấp”, đó là hành – đây là các pháp thọ, tưởng, hành; sự rõ biết những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, đó là ý thức. Ba pháp này hội tụ tạo thành ý xúc – sự tiếp xúc của ý, sau đó có cảm giác thứ hai sanh ra, tưởng thứ hai sanh ra, hành thứ hai sanh ra. Cứ như vậy, thọ, tưởng, hành một sanh khởi; thọ, tưởng, hành hai sanh; thọ, tưởng, hành ba; thọ, tưởng, hành bốn liên miên sanh khởi, cho nên gọi là chúng sanh.
Chính vì vậy, khi nhìn lại trong tâm, chúng ta sẽ thấy thọ, tưởng, hành sanh liên tục, do xúc nên sanh mãi, không bao giờ ngừng lại. Cho nên Đức Phật đưa ra con đường chấm dứt thọ, tưởng, hành, tức là làm cho thọ, tưởng, hành hoàn toàn yên tĩnh, chúng ta không còn chạy theo những thọ, tưởng, hành nữa. Bằng không, cả đời này mình cứ chạy theo, cứ đi tìm cảm giác và những hình bóng, âm thanh, suy nghĩ cứ hiện lên. Vào ngồi thiền cũng không ngồi yên được, vì không biết thọ tập khởi như thế nào, thọ đoạn diệt như thế nào và như thế nào gọi là thọ diệt đạo, tức là con đường chấm dứt vô minh và tham, ái đối với các cảm thọ. Ngoài tạng kinh Nikāya thì không chỗ nào khác chỉ cho chúng ta trí tuệ này.
Như vậy, hằng ngày những hình bóng về thọ, tưởng, hành trong tâm cứ sanh diệt liên tục mà mình không biết không thấy; những hình bóng về thọ, tưởng, hành đó chính là pháp tưởng. Đây là những định lý, là tâm lý học tối thượng của Chánh Đẳng Chánh Giác, là tâm lý học của Phật giáo.
Minh Thành sẽ ví dụ về pháp tưởng đối với đối tượng ưa thích, khi quán chiếu chúng ta sẽ thấy các pháp vận hành, sanh khởi rất khủng khiếp. Ví dụ, giờ ngồi học kinh, học pháp nhưng lại thấy chán, không muốn học nên tắt máy nghe pháp, xếp kinh lại. Khi đó, ngồi nhớ hình bóng của một bóng hồng, đó là tưởng đang hiện ra; lúc đó cảm giác dễ chịu, khoan khoái xuất hiện; suy nghĩ phải liên hệ, phải gặp, đó là hành hiện ra… cứ như vậy khiến mình bấm điện thoại, nhắn tin, chạy xe đi, tạo cơ hội để tiếp xúc. Từ xúc sanh ra thọ, thọ sanh ra tưởng và hành, sau đó lại đi tìm xúc. Thế là thọ, tưởng, hành một tiếp xúc với thọ, tưởng, hành hai… cứ như vậy muốn xúc với người này đến người kia, hết người kia đến người nọ.
Cho nên, Đức Phật dạy xúc là một trong bốn thức ăn, gọi là xúc thực. Sự tiếp xúc này làm chúng ta ở một mình không được, mà phải đi tìm xúc, muốn được xúc. Có khi đang ở trong phòng một mình nhưng nghe bên ngoài người này, người nọ nói chuyện rần rần, mình thích xe mà họ lại nói về chủ đề xe nên trong lòng rạo rực, thúc giục, đó là dục nhưng mình không thấy nên chạy xuống liền và lúc đó mình đang làm nô lệ cho dục. Thứ bên trong làm mình bị thúc giục, khoan khoái, muốn tiếp xúc chính là dục, là ái, là tham. Mình chạy theo dục, tham, ái ngoan ngoãn vô cùng, như vậy mình là đệ tử của dục, đệ tử của tham chứ không phải là đệ tử chân chánh của Phật. Tại vì khi dục, tham đẩy đi là mình chạy theo liền. Đây là trí huệ thâm sâu đối với các pháp trong nội tâm của mình, chúng ta phải thấy được.
Minh Thành chỉ ví dụ về xe, nhưng chúng ta phải hiểu rộng ra thêm. Trong nhiều trường hợp, không phải hiện pháp là trú là ngồi ngay chỗ này mỉm cười, thở và cười, bưng chung trà uống là thấy nhiệm màu, bởi vì dục, ái, tham tràn đầy ngay lúc đó nhưng mình không thấy được. Do không có sự nhận diện năm uẩn nên chúng ta không thấy được những thọ, tưởng, hành, thức; không thấy bản ngã, sắc tưởng đang có mặt, chấp thủ về một khối tôi và của tôi to tướng; không thấy được tham, sân, si đang vận hành. Thông thường, người ta cứ nghĩ tham, sân, si là phải đi đánh lộn, ăn cắp đồ của người khác nhưng tham, sân, si như vậy là dưới cái nhìn của vô văn phàm phu. Còn bậc Thánh đệ tử phải nhìn thâm sâu để thấy tham, sân, si trong từng cảm giác nhỏ nhiệm nhất, đó mới là tâm lý học tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác.
Quý huynh đệ phải học thuộc những trí tuệ này: Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Nhờ học thuộc lòng, khi ngồi thiền chúng ta mới bắt đầu đối chiếu, thực tập nhận diện trong nội tâm mình.Mỗi một ngày, một giờ không biết bao nhiêu pháp tưởng vận hành trong nội tâm. Vô số những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ sanh khởi và trong đó có dục, tham, sân, ái, bản ngã mà mình thấy, hơn nữa còn nhập cuộc cho rằng “đây là tâm của tôi”, “đây là cảm giác của tôi”, “tôi đang suy nghĩ”.
Thâm sâu như vậy mới là “pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Còn chúng ta tu hoài không hiểu, mở cuốn kinh ra đọc, lạy, niệm nhưng chỉ là hình thức bên ngoài, chưa có si nhê đối với tâm thức này và không thấy tâm thức vận hành ra sao.
Ví dụ thêm một pháp tưởng khác, chẳng hạn đang ngồi ở đây thì hình bóng của người làm mình tức giận hiện lên, đó là tưởng; cảm thọ thấy khó chịu, đó là thọ; suy nghĩ “tại sao đối xử với mình như vậy”, “mình là người xuất gia, tu sĩ mà đối xử mình như vậy”, đó là hành. Thọ, tưởng, hành thứ nhất này duyên với ý nên ý thức sanh khởi; ý thức rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ đó. Tất cả chỉ là pháp duyên sanh nhưng do không nhận thức ra lúc đó pháp đang diễn ra nên mình nhập cuộc vào. Thế nên tiếp tục sanh khởi cảm thọ bực bội; hiện lên hình bóng phải gặp người đó giải quyết vấn đề là pháp tưởng; suy nghĩ “phải làm sao cho hả dạ” thì đó là thọ, tưởng, hành thứ hai sanh ra. Sau đó, chúng ta suy nghĩ tiếp tục thì thọ, tưởng, hành thứ ba sanh ra… cứ như vậy các thọ, tưởng, hành sanh khởi không ngừng. Và lực đẩy của tâm sân hận, của cảm giác khó chịu đó sẽ đẩy mình đi gặp người làm mình khó chịu.
Con đường tu học chân chánh
Đức Phật nói “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố tác ý tức là nghiệp”, đây là tâm lý học vận hành trong nội tâm. Nếu hoàn toàn không biết cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, không biết cái nào là thức, cái nào là ý, cái nào là ý xúc, cái nào là thọ do xúc sanh thì các pháp sẽ rối một chùm, nhận tất những thứ đó là tâm tôi và của tôi là chết không có đất chôn. Đó là trí tuệ Đức Phật truyền lại cho chúng ta.
Trí tuệ về Hành uẩn
Định nghĩa về hành:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành?
Có 6 tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Đây gọi là hành.
(trích Tương Ưng Bộ III, kinh Thủ chuyển)
“Tư” là những suy tư, suy nghĩ về hình sắc, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc và suy nghĩ về các pháp thọ, tưởng, hành trong nội tâm. Những suy nghĩ đó được gọi là “tư”, chúng ta thường gọi là “hành”, do cách dùng từ khác nhau, có chỗ kêu là hành có chỗ gọi là tư.
Đầu tiên là những suy tư về sắc, suy nghĩ về những hình bóng. Ví dụ, ra đường gặp một người cười nói vui vẻ, mắt nhìn mình dịu dàng, khi về nhà là mình nghĩ “nụ cười của người này thật dễ thương, lời nói nghe cũng dễ thương, mùi dầu thơm đặc biệt”, đó là sắc tư, thanh tư, hương tư. Chỉ bao nhiêu đó là dính vào mê hồn trận, bát tà đạo tung ra, gọi là bát quái trận, đào hoa đảo, ma trận. Bắt đầu mình cuốn theo những hình bóng, âm thanh, mùi hương đó. Nếu vô tình cầm trúng tay hay quẹt trúng tay là xúc tư. Cảm giác ngay lúc đó sanh khởi. Sau đó lại những hình bóng, cảm giác và suy nghĩ về người đó tiếp tục sanh khởi. Tức là suy nghĩ chồng lên suy nghĩ, cảm thọ chồng lên cảm thọ, xúc chồng lên thêm xúc. Cứ tiếp tục như vậy, mình bị dẫn đi, đẩy đi, bị dính vào ma trận, bẫy mồi của ác ma. Ác ma đó ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ở trong người chứ không phải ác ma ở ngoài. Ác ma đó là dục và tham ở bên trong người mình.
Để thấy được những điều này là phải thành tựu trí tuệ thiền quán. Nếu không tu được Chánh pháp thì không thể nào nhìn ra được điều này, cứ cho rằng những thọ, tưởng, hành đó là mình. Cho nên trí huệ này là trí huệ đại bác, Minh Thành gọi là bom nguyên tử, chỉ có trí huệ này mới đưa ta đến ly tham một cách triệt để và toàn vẹn. Còn hiểu sơ sơ thì không ly tham được, mỗi khi đi đám ma, thấy người bị tai nạn giao thông, thấy cảnh nghèo khó thì thấy tội nghiệp, như vậy thì không thấy khổ để nhàm chán, thoát ra. Vì đó chỉ là một phần nhỏ xíu về sắc uẩn ở bên ngoài, chỉ thấy như vậy thì sao thành tựu được pháp ly tham trọn vẹn, có tu mãi cũng không đi đến thành công được.
Dù cho có lắng dịu, nhàm chán sắc uẩn này được một chút thì lát sau vẫn còn, tại vì những cảm giác, tưởng, hành, thức bên trong vẫn còn, chứ không phải chỉ có sắc uẩn ở bên ngoài. Vì vậy, phải dùng quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn một tử thi để phá tung hết sắc uẩn. Ngày nào cũng phải quán, tối thiểu một ngày dành một tiếng đồng hồ để chín giai đoạn của một tử thi, quán như vậy thì từ từ mới giảm bớt dục, giảm bớt tham, giảm bớt ái, dần dần mới tiêu mòn, mới rục rã từ từ qua nhiều năm, nhiều tháng. Trí huệ mới thể nhập vào pháp, đó gọi là thể nhập thánh trí, tới lúc đó chúng ta mới có thể độ đời bằng trí huệ này.
Đức Phật còn định nghĩa về hành như sau:
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì?
Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh
Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh
Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh
Làm cho hiện hành các hành với hành tánh
Làm cho hiện hành thức với thức tánh.
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, nên gọi là các hành.
(trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Đáng được ăn)
Những suy nghĩ trong tâm làm hiện hành ra pháp hữu vi, biểu lộ ra sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Sắc tánh, thọ tánh, tưởng tánh, hành tánh, thức tánh nghĩa là tánh vô thường, hữu vi, sanh diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Khi nhìn thường xuyên, chúng ta sẽ thấy các hành là pháp hữu vi, sanh diệt, chỉ lòng vòng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Muốn thấy rõ được điều này, đòi hỏi người tu phải có nhiều thời gian yên tịnh, trầm mặc nhìn lại nội tâm của mình để phân biệt cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành và phải thường trực nhìn lại trong tâm xem hành uẩn đang nói cái gì.
Người không có sự thiền định, không có sự tu tập, không có sự nội quán, không có chánh niệm tỉnh giác thì vừa suy nghĩ gì là nói ra miệng ngay, nhiều khi nói không kịp suy nghĩ dẫn đến hư chuyện. Còn người có thiền định sẽ làm cho hiện khởi sắc và sắc tánh, làm cho tính chất của các pháp hiện khởi và sự vận hành trong nội tâm cũng được thấy rõ.
Trí tuệ về thức
Định nghĩa về thức:
Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm, rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.
(trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Đáng được ăn)
Thức gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Thế nào gọi là thức? Là sự rõ biết chua, đắng, cay, ngọt, rõ biết chất kiềm, rõ biết không phải chất kiềm…. Đây mới nói đến vị trần nhưng chúng ta phải hiểu rộng ra cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; chứ không phải chỉ hiểu hạn hẹp trong một cái vị. Khi nói thì Đức Phật chỉ nói một điểm cho mình thấy nhưng mình phải hiểu rộng ra cả sáu trần.
Phải nhớ thật kỹ, thức chỉ là sự rõ biết. Có rất nhiều người hiểu lầm về thức uẩn, đặc biệt là những người tu thiền hiểu sai rất lớn, trước đây Minh Thành cũng học như vậy. Thức chỉ là rõ biết; thức không phải là suy tư, phân biệt, vì suy tư là hành. Đây là chỗ hết sức quan trọng, trước giờ mình học lẫn lộn cho nên không có chánh kiến về pháp. Hành mới là suy nghĩ, những suy nghĩ lầm thầm mới là hành, thức chỉ là rõ biết chứ không phải là suy nghĩ, thành ra giải thích thức là suy nghĩ, phân biệt là sai. Cho nên học sai thì sao tu thành tựu được. Nếu hiểu sai là mình lẫn lộn, dẫn đến loạn pháp, như vậy tu thế nào cũng không thành tựu đúng như lời Đức Phật. Như vậy, thức chỉ là sự rõ biết, còn những suy nghĩ xem cái đó đúng sai, tốt xấu, phải quấy, phân biệt là hành uẩn.
Chúng ta phải học nhận diện về thức uẩn thật kỹ, dù thuộc lànhãn thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức thì chỉ là nói miệng, chứ chưa thật sự nhận diện được. Người ta thường tưởng rằng thức là cái biết trọn vẹn nhưng không phải vậy, đó là duyên sanh pháp, là vô thường. Chúng ta thường dùng từ nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Trong đó “giới” là giới vực, là ranh giới, phạm vi, phạm trù.
Ví dụ, nhãn thức giới là sự rõ biết các sắc, nó chỉ rõ biết trong phạm vi các sắc, ngoài ra tiếng, mùi, vị thì không biết. Nhưng nhãn thức phải do duyên có mắt, có các sắc thì mới sanh khởi sự rõ biết các sắc. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của mắt, gọi là nhãn xúc. Do sự tiếp xúc như vậy sanh ra thọ, gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Như vậy, khi con mắt tiếp xúc các sắc mới sanh ra cảm giác; trong cảm giác có ba loại: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; trong ba loại cảm giác đó sanh ra tham, sân, si. Và điều quan trọng là cảm giác đó mình phải thấy được khi con mắt tiếp xúc, từ đó mới nhận diện được tham, sân, si và nhiếp phục chúng. Tâm lý học của bậc Chánh Đẳng Giác tinh vi, bao trùm hết tất cả như vậy, chứ không phải học lơ tơ mơ, nghĩ đơn giản là xong.
Năm thức đầu: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức chỉ biết các trần bên ngoài; thức thứ sáu – ý thức mới biết thọ, tưởng, hành bên trong. Như vậy, phạm vi của nhãn thức là chỉ biết tất cả các hình sắc, ngoài các sắc ra là nhãn thức không biết; nhĩ thức chỉ biết tất cả âm thanh trong phạm vi tai nghe được, ngoài âm thanh ra thì không biết gì khác.
Thành ra, sự rõ biết của các căn có giới hạn, có phạm vi, lãnh vực riêng, cho nên người ta gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Chữ “giới” là giới hạn, là phạm vi, phạm trù. Ngoài đời người ta thường dừng từ: giới doanh nhân, giới trí thức, ngoài cái đó ra thì người ta không phải giới khác, không phải giới tu hành.
Cũng vậy, tỷ thức chỉ biết mùi và ngoài mùi ra thì không biết cái nào khác. Hơn nữa, phải đầy đủ duyên mới sanh khởi thức, vì nếu thiếu duyên lỗ mũi, chẳng hạn nghẹt mũi, lỗ mũi bệnh là không biết mùi. Thiệt thức giới biết vị, còn ngoài ra không biết gì khác. Ý thức chỉ biết thọ, tưởng, hành bên trong, còn những gì bên ngoài thì không biết. Trí tuệ này rất sâu sắc, cần phải học và nhận diện thường xuyên. Nếu không học, không thực tập thiền quán thì mình sẽ nghĩ sáu thức này là một cái biết trọn vẹn, nhưng không phải.
Bởi vì, nếu chọt mù con mắt là hết thấy hoặc chỉ thấy một bên, bên còn lại không thấy. Hoặc nếu lỗ tai không may bị điếc thì những mắt, mũi, lưỡi… vẫn hoạt động bình thường. Như vậy, nhĩ thức có liên hệ tới nhĩ căn. Vì nếu nhĩ căn, những bộ phận hoạt động của thần kinh thính giác bị hư thì không đủ duyên để nhĩ thức phát khởi, sanh khởi, hiện khởi.
Đây là những trí tuệ hết sức căn bản và hết sức quan trọng để chúng ta nhận diện năm uẩn. Nếu nắm thật vững thì khi ngồi thiền hay sinh hoạt hằng ngày mình nhìn cái nào ra cái đó, không bị lẫn lộn, như vậy mới thành tựu được chánh tri kiến, biết chính xác về pháp, mà pháp ở ngay trong thân tâm mình chứ không phải ở đâu xa.
Xuất ly năm uẩn
Nhận diện năm uẩn là cánh cửa hết sức quan trọng để nhìn thấy nội tâm mình. Sự tu thật sự Đức Phật dạy khi còn tại thế là không hướng vào bất cứ một ai cầu xin, lạy lục, van xin để cứu độ cho mình, ngay cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không giúp được mình. Chỉ khi nào tu tập theo sự dạy dỗ của Đức Phật là quay trở lại nhìn rõ thân tâm mình, thấy được thân tâm này cấu tạo, vận hành như thế nào, từ đâu có đau khổ, thấy rõ và đoạn tận những nguyên nhân sanh ra đau khổ thì mình hết khổ, đó là Niết-bàn, toàn bộ giáo lý của Đức Phật chỉ bấy nhiêu.
Không một ai có thể giúp mình chặn được tâm sân, giảm được tham dục, phá được chấp ngã, cái ta, cái tôi nếu không tự mình quán chiếu, thực tập. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật đã nhắn nhủ: “Này các Tỳ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác”. Chánh pháp chính là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và các pháp này vận hành để xem tâm mình vận hành ra sao, đó gọi là Tứ Niệm Xứ. Như vậy, Tứ Niệm Xứ là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nhìn lại nội tâm và thấy biết các pháp vận hành như thế nào. Ngoài ra, Phật không dạy chúng ta hướng ra ngoài cầu người nào độ cho mình.
Cách tu bây giờ đa số là suốt ngày cúng, lạy, cầu nguyện, van xin, hướng ra bên ngoài, cuối cùng quay trở lại tâm mình thì tham, sân, si, bản ngã một đống, không giảm thiểu, khổ còn nguyên, dục càng ngày càng tham, muốn nhiều hơn nữa. Khi còn là cư sĩ, mới vào chùa tập sự thì dễ thương, đến khi thọ giới Tỳ-kheo là thương không dễ. Đây là sự cay đắng, đau đớn, xấu hổ của người tu, tu như vậy là đi sai đường. Lúc còn là cư sĩ, tập sự bị la, bị rầy thì “dạ dạ vâng vâng, con xin lỗi”, còn bây giờ thầy cô là rầy một tiếng là giận, nghỉ học, vì “tôi cũng là Tỳ-kheo vậy”. Thử nghĩ đến khi thành trụ trì còn đến mức độ nào?
Thương lắm thay, đau đớn thay, xót xa thay cho những người tu đi sai đường. Có tu pháp này mới thấy được nội tâm mình, chúng ta sẽ luôn cúi xuống vì thấy xấu hổ, lo mình chưa xong thì không dám nhìn ai. Khi thấy trong thọ, tưởng, hành của mình tràn đầy những dục, tham, ái, sân hận, si mê, bản ngã, mình nhiếp phục chúng không xong thì ta đây với ai, cống cao với ai, ngã mạn với ai.
Nếu nắm vững được những trí tuệ về ngũ uẩn là chúng ta trở thành nhà tâm lý học vĩ đại của Phật giáo, vì đây là trí huệ tâm lý học của bậc tôn quý nhất trên đời. Tất cả các góc độ, khía cạnh, ngõ ngách về ngũ uẩn đều được Đức Phật thấy biết một cách tròn đầy, viên mãn, đồng đều, đầy đủ, tường tận, không còn điều gì Đức Phật không biết trong năm uẩn. Đó mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, đó mới là thầy của trời và người. Khi Đức Phật mới thành đạo, Ngài định không nói pháp. Khi đó, Phạm thiên Sahampati co duỗi cánh tay, từ trên cảnh trời thỉnh Phật nói pháp, sau ba lần cầu pháp như vậy thì Đức Phật mới thuyết giảng.
Trong năm uẩn này không còn một thứ gì nhỏ nhiệm mà Đức Phật không thấy, không biết. Cho nên, nếu học kĩ, nắm vững được trí tuệ này, chúng ta sẽ biết được nội tâm mình vận hành ra sao, khi hiểu tâm mình thì sẽ hiểu tâm người khác. Trước nay mình không được học trí tuệ này nên mình không biết thọ ra sao, tưởng ra sao, hành ra sao, thức ra sao. Mình cứ ngơ ngơ ngáo ngáo nhưng ai chê đến là sân lên. Vì không biết tên tuổi, không biết mặt mũi của thân tâm này nên mình càng không biết tính tình tham, sân, si của nó ra sao. Thế mà vẫn nhận những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm là tôi, là của tôi. Nhiều người, thậm chí các nhà bác học thường phát biểu “tôi suy nghĩ như vậy”, vậy, nếu suy nghĩ là tôi thì hình bóng trong tâm là gì, cảm giác là gì, rõ biết là gì, sắc thân này là gì? Chẳng lẽ có năm cái tôi hay sao? Một câu hỏi này là phá tung tất cả lý luận, học thuyết của các nhà khoa học, bác học, tâm lý học vĩ đại trên thế gian. Đây gọi là Như Lai thần chưởng, nắm được cái này là nắm được cả vũ trụ.
Minh Thành hay ví dụ Tôn Ngộ Không bay mãi không ra được bàn tay của Như Lai Phật Tổ, bàn tay đó là ngũ hành, là năm uẩn, tức là không bao giờ ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một khi tâm thức đã dính chặc vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì bay mãi không ra khỏi bàn tay, không ra khỏi bàn tay tức là không ra khỏi năm uẩn. Như Lai chứng Niết-bàn là đi ra khỏi năm uẩn. Tôn Ngộ Không cứ chấp thủ vào năm uẩn thì làm sao đi ra.
Một người cứ nói “đây là nhà đẹp, đây là nhà tôi xây lên, tôi thiết kế ra” thì người đó chừng nào bỏ nhà đi được. Một khi đã nhận sắc uẩn đó làm nhà thì đi đâu cũng không bằng nhà mình, về tới nhà mới có cảm giác khỏe khoắn. Cũng vậy, vì vô minh, chúng ta không thấy được năm uẩn là năm uẩn, nhận cho năm uẩn là mình thì không bao giờ xuất ly khỏi năm uẩn được.
Trong Tương Ưng Uẩn, Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu không gặp bậc Chân nhân, không thấy bậc Chân nhân, không thuần thục pháp bậc Chân nhân, không tu học pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; quán thọ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; cho rằng tưởng, hành, thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Một khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến đổi thì người này sẽ sầu, bi, khổ, ưu não, bứt tóc đấm ngực chết và gần như chết.
Còn bậc Đa Văn Thánh đệ tử không quán sắc như tự ngã, hay không quán tự ngã như là sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã…. không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Khi không thấy năm uẩn là tôi, mà thấy năm uẩn là năm uẩn, là pháp duyên sanh, vô thường, biến hoại nên khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến đổi thì Đa văn Thánh đệ tử không khổ. Hoặc nếu có khổ thì khổ rất ít, vì biết bản chất của ngũ uẩn là duyên sanh, vô thường, biến đổi, hoại diệt. Như trong kinh Niệm Xứ thường kết thúc mỗi phần bằng câu “thân này bản tánh là như vậy, bản chất là như vậy không thể khác với bản tánh ấy”. Nếu ngày nào chúng ta cũng quán năm uẩn thì từ từ sẽ ly tham đối với năm uẩn, nhàn chán đối với năm uẩn, xa lìa đối với năm uẩn, đến khi chuẩn bị nắm mắt ra đi sẽ quán từ bỏ ngũ uẩn, được như vậy sẽ chứng nhập từ Bất lai đến A-la-hán quả.
Trong mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm chúng ta đều tu học, quán chiếu, không nhìn nhận năm uẩn này là mình thì sự thấy biết đó được tưới tẩm, được hun đúc, được gieo trồng, được nuôi dưỡng, được tăng trưởng, phát triển quảng đại cho tới một mức chín muồi thì có được sự nhàm chán, ly tham, giải thoát. Trong sự giải thoát ấy ta thấy rõ ta đã giải thoát, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Trạng thái này là trạng thái vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, trạng thái cho rằng ngũ uẩn này là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Giống như Tôn Ngộ Không bị nhốt vào Ngũ Hành Sơn, lá bùa chế ngự Ngộ Không chính là bản ngã, là thân kiến. Khi nào phá được chấp ngã thì ngọn núi ấy được tung vỡ ra, Ngộ Không được giải thoát. Lúc đó, Ngộ Không thấy rõ được tính chất rỗng không của năm uẩn, khi tung núi ra mới được đặt tên là Ngộ Không. “Ngộ Không” nghĩa là thấy rõ tính chất trống rỗng của năm uẩn./.
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 3
ĐỊNH NGHĨA NĂM UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cẩn thận trong tu học PAGEREF _Toc114234710 \h 1
II. Tưởng PAGEREF _Toc114234711 \h 4
III. Xúc PAGEREF _Toc114234712 \h 6
IV. Con đường tu học chân chánh PAGEREF _Toc114234713 \h 11
V. Hành uẩn PAGEREF _Toc114234714 \h 16
Cẩn thận trong tu học
Theo kinh nghiệm tu học, Minh Thành thấy rằng người ta dễ thất bại ở giây phút cuối. Lúc bắt đầu cho sự việc hay một hành trình thì rất để tâm, rất cố gắng, đến giai đoạn gần cuối cùng lại dễ bị thất bại, cho nên Minh Thành mong quý huynh đệ hãy cẩn thận trong khóa học sắp tốt nghiệp. Nói đầy đủ là có ba điều cần cẩn thận: khó khăn thứ nhất là những thủ tục, điều kiện phải cần phải có khi bắt đầu làm bất cứ việc gì, chẳng hạn hồ sơ, giấy tờ khi nhập học là thứ phải có; khó khăn thứ hai là khi sắp kết thúc thì mình dễ bị thất bại, người ta gọi đó là “cẩn thủy thận trung”; khó khăn thứ ba là khó để thành công nếu không nỗ lực, cố gắng, đây gọi là khó ở chặng giữa.
Như vậy, lúc bắt đầu và khi kết thúc là hai cái khó phải vượt qua, nổi bật nhất là khó khăn lúc bắt đầu, làm cái gì lúc đầu cũng khó nên người ta gọi “vạn sự khởi đầu nan, gian nan bắt đầu nản”. Tuy nhiên, cái khó đầu tiên là khó theo kiểu ai cũng biết, chúng ta hoàn toàn có thể cố gắng để mình khắc phục được. Cái khó ở kết thúc là vì do xem thường, có rất nhiều người thất bại theo cách không đáng để thất bại nhưng họ vẫn thất bại. Như ngài Khổng Tử có ví dụ, khi đắp một núi rất cao, một người vất vả đắp đến lúc chỉ còn hai, ba sọt đất là tới đỉnh thì người này lại bỏ phế, như vậy lúc gần thành công thì người này bỏ cuộc. Cho nên giai đoạn sắp kết thúc rất quan trọng, phải “cẩn thủy thận trung”.
Giai đoạn ở giữa rất khó, hơn thua nhau ở chính lúc giữa, vì giai đoan này đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng và để tâm trong việc đang làm. Người nỗ lực, cố gắng, để tâm thì sẽ thành công lớn. Cho nên nếu tu được “Tứ Như Ý Túc”, “Tứ Thần Túc” được viên mãn thì sẽ trở thành những vị thánh lãnh đạo. Trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, “Tứ Thần Túc” gồm: dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc và tư duy như ý túc, nghĩa là sự mong muốn, nỗ lực, để tâm và tìm đủ mọi cách để làm cho bằng được một việc gì đó. Người tu trọn vẹn bốn điều này sẽ là thánh nhân và là thánh lãnh đạo của các bậc thánh. Tất cả các vị hiền thánh, các vị A-la-hán cũng như nhau nhưng có vị là tướng quân chánh pháp, có bậc thánh là thuyết pháp đệ nhất, có bậc là đầu đà đệ nhất, có bậc là thần thông đệ nhất, nghị luận đệ nhất… đó là do hạnh của mỗi vị là khác nhau, còn trí huệ diệt lậu tận, diệt lậu hoặc thì như nhau.
Vì thế trước khi vào bài Minh Thành nhắc các huynh đệ cẩn thận giây phút cuối gọi là “trung thân thành tựu”. Ở Đài Loan có một bằng tuyên dương công đức, danh dự gọi là “trung thân thành tựu”, tức là người này thành công trọn vẹn trước sau. Hòa Thượng Tinh Vân được trao bằng ca ngợi công đức, danh dự với bốn chữ “trung thân thành tựu”, nghĩa là thành tựu trọn đời, suốt cuộc đời từ khi Ngài hoằng pháp cho đến lúc trên 90 tuổi tất cả đều trọn vẹn.
Thông thường, tâm lí con người khi không được thì ráng cố gắng, còn khi được rồi thì xem thường, chính điều đó làm cho họ thất bại. Thế nên, Minh Thành chia sẻ để mấy huynh đệ rút kinh nghiệm. Hồi xưa Minh Thành học tám năm ở chùa Vĩnh Nghiêm, Minh Thành thấy những vị giáo thọ lúc mới ra giảng thì rất hay, soạn bài rất kỹ, phong phú, đa dạng lý luận, ngôn ngữ, đưa ra nhiều ví dụ. Thế nhưng, khi họ nổi tiếng rồi thì muốn nói gì nói, không soạn bài gì nữa, người này chết ở trên thành công, sau đó người này không có cơ hội phát triển được nữa, Minh Thành thấy rất nhiều trường hợp như vậy.
Riêng bản thân Minh Thành, cho tới ngày hôm nay đứng lớp mười mấy năm nhưng vẫn thận trọng từng buổi nói chuyện, vẫn kĩ lưỡng bài vở, cái nào nghiên cứu phải làm thật kĩ, phải để tâm thì những tác phẩm mới giá trị. Điều quan trọng hơn hết là phải giảng đúng chánh pháp, nếu không, sau ba tháng, sáu tháng, một năm, năm năm ra giảng thì toàn là mình tự nói, không còn thấy Phật, thấy Pháp nữa. Điều này hết sức nguy hiểm đối với sự tu học của mình.
Các huynh đệ tương lai sẽ ngồi trên bục giảng, tương lai sẽ đứng trên pháp tòa, tương lai sẽ là những giáo thọ sư, những giảng viên của các trường Phật học cho nên những điều này phải nhớ kĩ và nắm thật vững. Dù không đứng trên trường, trên lớp, trên bục thì huynh đệ cũng phải ở chùa hướng dẫn cho Phật tử và ít nhất là hai, ba người đệ tử. Cho nên, người tu chúng ta phải nắm thật vững đâu là lời của Phật dạy, còn đâu là ý riêng của bản thân thì mình phải nói rõ. Còn cứ lẫn lộn thì không biết cái nào Phật dạy, cái nào mình nói, khi giảng cứ “cổ đức có câu” là xong thì không được. Cần phải nói rõ lời mình giảng nằm trong kinh Tăng Chi Bộ tập mấy, Tương Ưng Bộ quyển mấy, bài kinh số mấy trong Trung Bộ Kinh. Thà cúi xuống nhìn vào sách vở mà đọc mà đúng lời của Phật, còn hơn cứ nhắm mắt hả họng nói đại rồi nói Phật nói, như vậy là nói oan cho Phật, điều này hết sức nguy hiểm, có thể bị đọa nặng nề. Cứ nhắm mắt giảng đại là mai mốt không còn Chánh pháp nữa, cho nên phải hết sức nghiêm túc và thận trọng trong vấn đề nghiên cứu giáo pháp và hành trì.
Từ khi bắt đầu cho đến ngày mình nhắm mắt vô hòm không được xem thường pháp, từng câu, từng chữ trong kinh phải chính xác tuyệt đối 100%, vì sai một ly là đi một dặm, bản thân tu trật lất, còn hướng dẫn người ta lầm lạc theo. Trong luận văn “Thánh trí năm uẩn, Chiếu soi năm uẩn”, không có một chữ nào là của Minh Thành trong đây, toàn bộ luận văn là trích trong bốn bộ kinh Nikāya, những gì Minh Thành nói là để giải thích những từ khó hiểu và chia sẻ thêm những ví dụ trong đời sống thực tế để làm sáng rõ lời của Đức Phật.
Đây là kinh nghiệm quý báu để các huynh đệ làm chuẩn tắc tu học và hướng dẫn người sau. Chúng ta không được viết sách rồi tự mình suy nghĩ ra hoặc nghe ông này, ông kia, ông nọ nói rồi mình trích dẫn theo ông bác học nào đó, ông khoa học nào đó, ông tiến sĩ nào đó, thậm chí ông cụ nào đó. Nhưng, các vị đó có phải là Chánh Đẳng Chánh Giác không?
Cho nên lời Đức Phật lúc nào cũng phải đi đầu, sau đó những người nào giảng đúng với lời Đức Phật thì mình đưa vào, bằng không, mình nói đủ thứ nhưng không thấy Phật đâu hết, toàn là thấy bên Tàu, bên Tây, bên Âu. Đây là những điều quan trọng không được quên, học được như vậy thì mới trở thành Thánh đệ tử. Đừng xưng là đệ tử Phật mà nói một hồi là không thấy lời Phật dạy, chỉ toàn dẫn lời đạo này, đạo kia ra nói.
Trí tuệ về Tưởng uẩn
Tiếp theo, chúng ta cùng tìm hiểu về Tưởng Uẩn, gồm: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Khi ngồi yên lại, khi ở một mình, trong nội tâm hiện ra những hình bóng về một con người, về một món đồ, về cảnh vật nào đó thì đó gọi là sắc tưởng.Đức Phật đã định nghĩa tưởng như sau:
Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ. Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng.
(trích Tương Ưng Bộ tập III, kinh Đáng được ăn)
Tại sao lại nói nhận rõ màu? Ở đây, Đức Phật chỉ mới nói về sắc tưởng nhưng chúng ta phải hiểu rộng ra, gồm cả thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, tức là Phật nói một cái nhưng mình phải hiểu cả sáu cái. Ví dụ trong nội tâm mình có hình ảnh gì đó hiện ra màu đỏ, mình nhận rõ có màu đỏ trong tâm, đó là sắc tưởng. Khi những hình bóng, những bóng dáng của âm thanh đã nghe hiện khởi trở lại trong tâm, hoặc nhớ tiếng nói của ai đó thì đó là thanh tưởng. Những mùi, những vị mình từng ăn, từng nếm và mình nhớ lại cái mùi, cái vị thì đó gọi là hương tưởng, vị tưởng. Khi đã từng tiếp xúc với cái gì đó, mình ngồi nhớ lại cái đã tiếp xúc thì đó là xúc tưởng – những hình bóng về sự tiếp xúc.
Và pháp tưởng là cái khó nhất chúng ta sẽ cùng tìm hiểu.
Thế nào là pháp tưởng
Trước tiên, huynh đệ cần phải học thuộc lòng duyên sanh pháp để quán chiếu đúng những từ trong Chánh pháp. Trong bài kinh “Cả hai” – Tương Ưng Bộ IV, Đức Phật thuyết về duyên sanh pháp, chúng ta phải căn cứ theo lời của Đức Phật trong kinh để tư duy, quán chiếu, chứ không thể tự suy nghĩ ra được. Trước giờ chúng ta luôn học theo kiểu tự suy diễn nên không thành công, Minh Thành đã trải qua mấy chục năm học như vậy nên rất uổng, bây giờ mới biết được một phương pháp học mới.
Khi được hỏi bất cứ vấn đề nào về pháp, nếu đứng lên trả lời “Con xin trình bày suy nghĩ của con hiểu về điều đó” là không đúng, vì làm sao mình suy nghĩ được, mà phải xem Đức Phật định nghĩa như thế nào, ở trong kinh nào. Sự học phải khó như vậy, vì khó như vậy mới đi theo đúng Thánh đạo và mới đi đến Thánh quả. Học hai, ba năm nhưng những điều căn bản không nắm vững thì khi ngồi thiền không thể nào biết được thế nào là pháp tưởng. Những trí tuệ này rất sâu sắc, không phải đơn giản để học, học chơi chơi không thể đi đến chỗ thành công. Muốn thành công trong sự học là phải thuộc lòng hết những định nghĩa này, khi học thuộc lòng rồi thì giải thích ra mới đúng, vì những điều này là do Đức Phật định nghĩa, nếu mình cứ nhớ mông lung rồi nói thì Chánh pháp sẽ đi về đâu?
Thế nào là pháp tưởng? Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng là năm tưởng đã học. Tưởng thứ sáu gọi là pháp tưởng, là hình bóng của cảm giác, hình bóng của những nghĩ, tưởng. Danh từ chuyên môn gọi là hình bóng của thọ, tưởng, hành.
Ví dụ, trong nội tâm có hình bóng của mẹ mình hiện ra, gương mặt buồn, tóc bạc, da nhăn, đau bệnh, sức yếu. Lúc đó mình có cảm giác khổ thọ; có suy nghĩ “không biết giờ này mẹ ra sao” là hành. Như vậy, hình bóng đó là tưởng, cảm giác là thọ, những suy nghĩ, lời nói thầm là hành, đó là pháp tưởng, tức là những hình bóng, cảm giác và nghĩ tưởng đối với những cái đã tiếp xúc. Cho nên, pháp tưởng này bao gồm thọ, tưởng, hành. Hình bóng mẹ hiện ra làm mình có cảm giác buồn và có những suy nghĩ theo đó. Như vậy, khi hình bóng hiện lên là mình có lời nói kèm theo và cảm giác sanh khởi thì đó là pháp tưởng.
Trong một ngày, những thọ, tưởng, hành ấy đi theo chúng ta không ngừng nhưng mình không thấy không biết, đó gọi là vô minh, không biết các pháp đang vận hành. Ví dụ, đang ngồi học nhưng cứ nghĩ rằng không biết trưa nay ăn món gì, trong tâm hiện ra tùm lum món ăn, đó là pháp tưởng. Trong tâm hiện lên món ngon mình thích, nghĩ rắng “chắc trưa nay được món đó, mình phải ăn hai, ba tô”, lúc đó cảm thọ vui vẻ, phấn khởi… đó chính là pháp tưởng. Chúng ta sống với những nghĩ, tưởng như vậy hằng ngày, hằng giờ nhưng không biết gì về nó, đó gọi là vô minh. Điều đau đớn nhất, cay đắng nhất là chúng ta nhận những thọ, tưởng, hành đó chính là tâm” của mình mà không biết chỉ là pháp tưởng, là duyên sanh pháp.
Tại sao tưởng sanh khởi? Đức Phật nói rằng, “Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi”, sở dĩ có tưởng là do mình đã từng tiếp xúc với hình bóng đó. Cũng như gương mặt mẹ mình đã từng thấy thì mới tưởng được, còn không thấy thì làm sao tưởng. Chúng ta không thể nhớ tưởng về một điều gì chưa từng tiếp xúc, chưa từng thấy. Cho nên xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, xúc tập khởi nên thọ tập khởi, xúc tập khởi nên hành tập khởi. Vì vậy, những gì mà chúng ta tưởng tượng, suy nghĩ, cảm giác đều là những cái mình đã tiếp xúc.
Đây là những định nghĩa phải học thuộc lòng, nếu không thuộc lòng là nói sai trật hết. Những định nghĩa này có nằm trong quyển “Tóm tắt năm uẩn”, gồm những định lý của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya được soạn ra và gom hết vào đây, gồm những điều căn bản nhất và toàn bộ những yếu nghĩa của tạng kinh Nikāya, nếu học thuộc quyển này là nắm hết những yếu tủy của tạng kinh Nikāya, là chìa khóa mở ra tạng kinh Nikāya.
Định nghĩa về pháp tưởng: Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư.
Có khi phải ngồi thiền suốt đời, 20 năm, 30 năm vẫn không biết được điều này. Những trí tuệ này phải học mới biết được.
Duyên sanh pháp
Đầu tiên, phải có ý căn, ví dụ huynh đệ để ý đến dưới lòng bàn chân mình, khi để ý lòng bàn chân thì có cảm giác lòng bàn chân hơi đổ mồ hôi, nếu không để ý thì mình không thấy. Nếu chỉ lo nhìn bảng, nhìn thầy, nhìn này kia, không để ý đến lòng bàn chân thì không cảm giác được lòng bàn chân lúc đó như thế nào. Khi có sự để ý thì thọ, tưởng, hành sanh ra. Tức là có hình ảnh lòng bàn chân hiện ra trong tưởng; có cảm giác đang đổ mồ hôi; hành suy nghĩ “lòng bàn chân mình đang đổ mồi hôi, có phải bệnh phong thấp không”. Lúc đó ý thức nhận rõ là mình đang có cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, như vậy lúc đó ý thức sanh khởi. Chuỗi vận hành này diễn ra hằng ngày nhưng mình không biết đó chính là ý duyên với các pháp sanh ra ý thức. Đây là cả một công trình chứng ngộ của Đức Phật, không phải chuyện đơn giản. Hằng ngày nó vận hành ngay thân tâm mình mà mình không biết, cho nên mới gọi là vô minh, không biết tên, tuổi, mặt, mũi các pháp ra sao.
Khi có sự để ý thì đó là ý căn; do có sự để ý nên hình bóng bàn chân hiện ra, đó là tưởng; mình có cảm giác hơi khó chịu, đó là thọ; suy nghĩ “chân mình đổ mồ hôi chắc bệnh phong thấp”, đó là hành – đây là các pháp thọ, tưởng, hành; sự rõ biết những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, đó là ý thức. Ba pháp này hội tụ tạo thành ý xúc – sự tiếp xúc của ý, sau đó có cảm giác thứ hai sanh ra, tưởng thứ hai sanh ra, hành thứ hai sanh ra. Cứ như vậy, thọ, tưởng, hành một sanh khởi; thọ, tưởng, hành hai sanh; thọ, tưởng, hành ba; thọ, tưởng, hành bốn liên miên sanh khởi, cho nên gọi là chúng sanh.
Chính vì vậy, khi nhìn lại trong tâm, chúng ta sẽ thấy thọ, tưởng, hành sanh liên tục, do xúc nên sanh mãi, không bao giờ ngừng lại. Cho nên Đức Phật đưa ra con đường chấm dứt thọ, tưởng, hành, tức là làm cho thọ, tưởng, hành hoàn toàn yên tĩnh, chúng ta không còn chạy theo những thọ, tưởng, hành nữa. Bằng không, cả đời này mình cứ chạy theo, cứ đi tìm cảm giác và những hình bóng, âm thanh, suy nghĩ cứ hiện lên. Vào ngồi thiền cũng không ngồi yên được, vì không biết thọ tập khởi như thế nào, thọ đoạn diệt như thế nào và như thế nào gọi là thọ diệt đạo, tức là con đường chấm dứt vô minh và tham, ái đối với các cảm thọ. Ngoài tạng kinh Nikāya thì không chỗ nào khác chỉ cho chúng ta trí tuệ này.
Như vậy, hằng ngày những hình bóng về thọ, tưởng, hành trong tâm cứ sanh diệt liên tục mà mình không biết không thấy; những hình bóng về thọ, tưởng, hành đó chính là pháp tưởng. Đây là những định lý, là tâm lý học tối thượng của Chánh Đẳng Chánh Giác, là tâm lý học của Phật giáo.
Minh Thành sẽ ví dụ về pháp tưởng đối với đối tượng ưa thích, khi quán chiếu chúng ta sẽ thấy các pháp vận hành, sanh khởi rất khủng khiếp. Ví dụ, giờ ngồi học kinh, học pháp nhưng lại thấy chán, không muốn học nên tắt máy nghe pháp, xếp kinh lại. Khi đó, ngồi nhớ hình bóng của một bóng hồng, đó là tưởng đang hiện ra; lúc đó cảm giác dễ chịu, khoan khoái xuất hiện; suy nghĩ phải liên hệ, phải gặp, đó là hành hiện ra… cứ như vậy khiến mình bấm điện thoại, nhắn tin, chạy xe đi, tạo cơ hội để tiếp xúc. Từ xúc sanh ra thọ, thọ sanh ra tưởng và hành, sau đó lại đi tìm xúc. Thế là thọ, tưởng, hành một tiếp xúc với thọ, tưởng, hành hai… cứ như vậy muốn xúc với người này đến người kia, hết người kia đến người nọ.
Cho nên, Đức Phật dạy xúc là một trong bốn thức ăn, gọi là xúc thực. Sự tiếp xúc này làm chúng ta ở một mình không được, mà phải đi tìm xúc, muốn được xúc. Có khi đang ở trong phòng một mình nhưng nghe bên ngoài người này, người nọ nói chuyện rần rần, mình thích xe mà họ lại nói về chủ đề xe nên trong lòng rạo rực, thúc giục, đó là dục nhưng mình không thấy nên chạy xuống liền và lúc đó mình đang làm nô lệ cho dục. Thứ bên trong làm mình bị thúc giục, khoan khoái, muốn tiếp xúc chính là dục, là ái, là tham. Mình chạy theo dục, tham, ái ngoan ngoãn vô cùng, như vậy mình là đệ tử của dục, đệ tử của tham chứ không phải là đệ tử chân chánh của Phật. Tại vì khi dục, tham đẩy đi là mình chạy theo liền. Đây là trí huệ thâm sâu đối với các pháp trong nội tâm của mình, chúng ta phải thấy được.
Minh Thành chỉ ví dụ về xe, nhưng chúng ta phải hiểu rộng ra thêm. Trong nhiều trường hợp, không phải hiện pháp là trú là ngồi ngay chỗ này mỉm cười, thở và cười, bưng chung trà uống là thấy nhiệm màu, bởi vì dục, ái, tham tràn đầy ngay lúc đó nhưng mình không thấy được. Do không có sự nhận diện năm uẩn nên chúng ta không thấy được những thọ, tưởng, hành, thức; không thấy bản ngã, sắc tưởng đang có mặt, chấp thủ về một khối tôi và của tôi to tướng; không thấy được tham, sân, si đang vận hành. Thông thường, người ta cứ nghĩ tham, sân, si là phải đi đánh lộn, ăn cắp đồ của người khác nhưng tham, sân, si như vậy là dưới cái nhìn của vô văn phàm phu. Còn bậc Thánh đệ tử phải nhìn thâm sâu để thấy tham, sân, si trong từng cảm giác nhỏ nhiệm nhất, đó mới là tâm lý học tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác.
Quý huynh đệ phải học thuộc những trí tuệ này: Do duyên có ý và các pháp thọ, tưởng, hành nên sanh khởi Ý thức (rõ biết thọ, tưởng, hành). Sự hội tụ của ba pháp này là Ý xúc. Do duyên có Ý xúc nên sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Nhờ học thuộc lòng, khi ngồi thiền chúng ta mới bắt đầu đối chiếu, thực tập nhận diện trong nội tâm mình.Mỗi một ngày, một giờ không biết bao nhiêu pháp tưởng vận hành trong nội tâm. Vô số những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ sanh khởi và trong đó có dục, tham, sân, ái, bản ngã mà mình thấy, hơn nữa còn nhập cuộc cho rằng “đây là tâm của tôi”, “đây là cảm giác của tôi”, “tôi đang suy nghĩ”.
Thâm sâu như vậy mới là “pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”. Còn chúng ta tu hoài không hiểu, mở cuốn kinh ra đọc, lạy, niệm nhưng chỉ là hình thức bên ngoài, chưa có si nhê đối với tâm thức này và không thấy tâm thức vận hành ra sao.
Ví dụ thêm một pháp tưởng khác, chẳng hạn đang ngồi ở đây thì hình bóng của người làm mình tức giận hiện lên, đó là tưởng; cảm thọ thấy khó chịu, đó là thọ; suy nghĩ “tại sao đối xử với mình như vậy”, “mình là người xuất gia, tu sĩ mà đối xử mình như vậy”, đó là hành. Thọ, tưởng, hành thứ nhất này duyên với ý nên ý thức sanh khởi; ý thức rõ biết hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ đó. Tất cả chỉ là pháp duyên sanh nhưng do không nhận thức ra lúc đó pháp đang diễn ra nên mình nhập cuộc vào. Thế nên tiếp tục sanh khởi cảm thọ bực bội; hiện lên hình bóng phải gặp người đó giải quyết vấn đề là pháp tưởng; suy nghĩ “phải làm sao cho hả dạ” thì đó là thọ, tưởng, hành thứ hai sanh ra. Sau đó, chúng ta suy nghĩ tiếp tục thì thọ, tưởng, hành thứ ba sanh ra… cứ như vậy các thọ, tưởng, hành sanh khởi không ngừng. Và lực đẩy của tâm sân hận, của cảm giác khó chịu đó sẽ đẩy mình đi gặp người làm mình khó chịu.
Con đường tu học chân chánh
Đức Phật nói “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố tác ý tức là nghiệp”, đây là tâm lý học vận hành trong nội tâm. Nếu hoàn toàn không biết cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành, không biết cái nào là thức, cái nào là ý, cái nào là ý xúc, cái nào là thọ do xúc sanh thì các pháp sẽ rối một chùm, nhận tất những thứ đó là tâm tôi và của tôi là chết không có đất chôn. Đó là trí tuệ Đức Phật truyền lại cho chúng ta.
Trí tuệ về Hành uẩn
Định nghĩa về hành:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành?
Có 6 tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Đây gọi là hành.
(trích Tương Ưng Bộ III, kinh Thủ chuyển)
“Tư” là những suy tư, suy nghĩ về hình sắc, âm thanh, mùi, vị, sự tiếp xúc và suy nghĩ về các pháp thọ, tưởng, hành trong nội tâm. Những suy nghĩ đó được gọi là “tư”, chúng ta thường gọi là “hành”, do cách dùng từ khác nhau, có chỗ kêu là hành có chỗ gọi là tư.
Đầu tiên là những suy tư về sắc, suy nghĩ về những hình bóng. Ví dụ, ra đường gặp một người cười nói vui vẻ, mắt nhìn mình dịu dàng, khi về nhà là mình nghĩ “nụ cười của người này thật dễ thương, lời nói nghe cũng dễ thương, mùi dầu thơm đặc biệt”, đó là sắc tư, thanh tư, hương tư. Chỉ bao nhiêu đó là dính vào mê hồn trận, bát tà đạo tung ra, gọi là bát quái trận, đào hoa đảo, ma trận. Bắt đầu mình cuốn theo những hình bóng, âm thanh, mùi hương đó. Nếu vô tình cầm trúng tay hay quẹt trúng tay là xúc tư. Cảm giác ngay lúc đó sanh khởi. Sau đó lại những hình bóng, cảm giác và suy nghĩ về người đó tiếp tục sanh khởi. Tức là suy nghĩ chồng lên suy nghĩ, cảm thọ chồng lên cảm thọ, xúc chồng lên thêm xúc. Cứ tiếp tục như vậy, mình bị dẫn đi, đẩy đi, bị dính vào ma trận, bẫy mồi của ác ma. Ác ma đó ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, ở trong người chứ không phải ác ma ở ngoài. Ác ma đó là dục và tham ở bên trong người mình.
Để thấy được những điều này là phải thành tựu trí tuệ thiền quán. Nếu không tu được Chánh pháp thì không thể nào nhìn ra được điều này, cứ cho rằng những thọ, tưởng, hành đó là mình. Cho nên trí huệ này là trí huệ đại bác, Minh Thành gọi là bom nguyên tử, chỉ có trí huệ này mới đưa ta đến ly tham một cách triệt để và toàn vẹn. Còn hiểu sơ sơ thì không ly tham được, mỗi khi đi đám ma, thấy người bị tai nạn giao thông, thấy cảnh nghèo khó thì thấy tội nghiệp, như vậy thì không thấy khổ để nhàm chán, thoát ra. Vì đó chỉ là một phần nhỏ xíu về sắc uẩn ở bên ngoài, chỉ thấy như vậy thì sao thành tựu được pháp ly tham trọn vẹn, có tu mãi cũng không đi đến thành công được.
Dù cho có lắng dịu, nhàm chán sắc uẩn này được một chút thì lát sau vẫn còn, tại vì những cảm giác, tưởng, hành, thức bên trong vẫn còn, chứ không phải chỉ có sắc uẩn ở bên ngoài. Vì vậy, phải dùng quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn một tử thi để phá tung hết sắc uẩn. Ngày nào cũng phải quán, tối thiểu một ngày dành một tiếng đồng hồ để chín giai đoạn của một tử thi, quán như vậy thì từ từ mới giảm bớt dục, giảm bớt tham, giảm bớt ái, dần dần mới tiêu mòn, mới rục rã từ từ qua nhiều năm, nhiều tháng. Trí huệ mới thể nhập vào pháp, đó gọi là thể nhập thánh trí, tới lúc đó chúng ta mới có thể độ đời bằng trí huệ này.
Đức Phật còn định nghĩa về hành như sau:
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì?
Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh
Làm cho hiện hành thọ với thọ tánh
Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh
Làm cho hiện hành các hành với hành tánh
Làm cho hiện hành thức với thức tánh.
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, nên gọi là các hành.
(trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Đáng được ăn)
Những suy nghĩ trong tâm làm hiện hành ra pháp hữu vi, biểu lộ ra sắc với sắc tánh, thọ với thọ tánh, tưởng với tưởng tánh, hành với hành tánh, thức với thức tánh. Sắc tánh, thọ tánh, tưởng tánh, hành tánh, thức tánh nghĩa là tánh vô thường, hữu vi, sanh diệt của sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Khi nhìn thường xuyên, chúng ta sẽ thấy các hành là pháp hữu vi, sanh diệt, chỉ lòng vòng trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Muốn thấy rõ được điều này, đòi hỏi người tu phải có nhiều thời gian yên tịnh, trầm mặc nhìn lại nội tâm của mình để phân biệt cái nào là sắc, cái nào là thọ, cái nào là tưởng, cái nào là hành và phải thường trực nhìn lại trong tâm xem hành uẩn đang nói cái gì.
Người không có sự thiền định, không có sự tu tập, không có sự nội quán, không có chánh niệm tỉnh giác thì vừa suy nghĩ gì là nói ra miệng ngay, nhiều khi nói không kịp suy nghĩ dẫn đến hư chuyện. Còn người có thiền định sẽ làm cho hiện khởi sắc và sắc tánh, làm cho tính chất của các pháp hiện khởi và sự vận hành trong nội tâm cũng được thấy rõ.
Trí tuệ về thức
Định nghĩa về thức:
Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm, rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức.
(trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Đáng được ăn)
Thức gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Thế nào gọi là thức? Là sự rõ biết chua, đắng, cay, ngọt, rõ biết chất kiềm, rõ biết không phải chất kiềm…. Đây mới nói đến vị trần nhưng chúng ta phải hiểu rộng ra cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; chứ không phải chỉ hiểu hạn hẹp trong một cái vị. Khi nói thì Đức Phật chỉ nói một điểm cho mình thấy nhưng mình phải hiểu rộng ra cả sáu trần.
Phải nhớ thật kỹ, thức chỉ là sự rõ biết. Có rất nhiều người hiểu lầm về thức uẩn, đặc biệt là những người tu thiền hiểu sai rất lớn, trước đây Minh Thành cũng học như vậy. Thức chỉ là rõ biết; thức không phải là suy tư, phân biệt, vì suy tư là hành. Đây là chỗ hết sức quan trọng, trước giờ mình học lẫn lộn cho nên không có chánh kiến về pháp. Hành mới là suy nghĩ, những suy nghĩ lầm thầm mới là hành, thức chỉ là rõ biết chứ không phải là suy nghĩ, thành ra giải thích thức là suy nghĩ, phân biệt là sai. Cho nên học sai thì sao tu thành tựu được. Nếu hiểu sai là mình lẫn lộn, dẫn đến loạn pháp, như vậy tu thế nào cũng không thành tựu đúng như lời Đức Phật. Như vậy, thức chỉ là sự rõ biết, còn những suy nghĩ xem cái đó đúng sai, tốt xấu, phải quấy, phân biệt là hành uẩn.
Chúng ta phải học nhận diện về thức uẩn thật kỹ, dù thuộc lànhãn thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức thì chỉ là nói miệng, chứ chưa thật sự nhận diện được. Người ta thường tưởng rằng thức là cái biết trọn vẹn nhưng không phải vậy, đó là duyên sanh pháp, là vô thường. Chúng ta thường dùng từ nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Trong đó “giới” là giới vực, là ranh giới, phạm vi, phạm trù.
Ví dụ, nhãn thức giới là sự rõ biết các sắc, nó chỉ rõ biết trong phạm vi các sắc, ngoài ra tiếng, mùi, vị thì không biết. Nhưng nhãn thức phải do duyên có mắt, có các sắc thì mới sanh khởi sự rõ biết các sắc. Ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của mắt, gọi là nhãn xúc. Do sự tiếp xúc như vậy sanh ra thọ, gọi là thọ do nhãn xúc sanh. Như vậy, khi con mắt tiếp xúc các sắc mới sanh ra cảm giác; trong cảm giác có ba loại: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; trong ba loại cảm giác đó sanh ra tham, sân, si. Và điều quan trọng là cảm giác đó mình phải thấy được khi con mắt tiếp xúc, từ đó mới nhận diện được tham, sân, si và nhiếp phục chúng. Tâm lý học của bậc Chánh Đẳng Giác tinh vi, bao trùm hết tất cả như vậy, chứ không phải học lơ tơ mơ, nghĩ đơn giản là xong.
Năm thức đầu: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức chỉ biết các trần bên ngoài; thức thứ sáu – ý thức mới biết thọ, tưởng, hành bên trong. Như vậy, phạm vi của nhãn thức là chỉ biết tất cả các hình sắc, ngoài các sắc ra là nhãn thức không biết; nhĩ thức chỉ biết tất cả âm thanh trong phạm vi tai nghe được, ngoài âm thanh ra thì không biết gì khác.
Thành ra, sự rõ biết của các căn có giới hạn, có phạm vi, lãnh vực riêng, cho nên người ta gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Chữ “giới” là giới hạn, là phạm vi, phạm trù. Ngoài đời người ta thường dừng từ: giới doanh nhân, giới trí thức, ngoài cái đó ra thì người ta không phải giới khác, không phải giới tu hành.
Cũng vậy, tỷ thức chỉ biết mùi và ngoài mùi ra thì không biết cái nào khác. Hơn nữa, phải đầy đủ duyên mới sanh khởi thức, vì nếu thiếu duyên lỗ mũi, chẳng hạn nghẹt mũi, lỗ mũi bệnh là không biết mùi. Thiệt thức giới biết vị, còn ngoài ra không biết gì khác. Ý thức chỉ biết thọ, tưởng, hành bên trong, còn những gì bên ngoài thì không biết. Trí tuệ này rất sâu sắc, cần phải học và nhận diện thường xuyên. Nếu không học, không thực tập thiền quán thì mình sẽ nghĩ sáu thức này là một cái biết trọn vẹn, nhưng không phải.
Bởi vì, nếu chọt mù con mắt là hết thấy hoặc chỉ thấy một bên, bên còn lại không thấy. Hoặc nếu lỗ tai không may bị điếc thì những mắt, mũi, lưỡi… vẫn hoạt động bình thường. Như vậy, nhĩ thức có liên hệ tới nhĩ căn. Vì nếu nhĩ căn, những bộ phận hoạt động của thần kinh thính giác bị hư thì không đủ duyên để nhĩ thức phát khởi, sanh khởi, hiện khởi.
Đây là những trí tuệ hết sức căn bản và hết sức quan trọng để chúng ta nhận diện năm uẩn. Nếu nắm thật vững thì khi ngồi thiền hay sinh hoạt hằng ngày mình nhìn cái nào ra cái đó, không bị lẫn lộn, như vậy mới thành tựu được chánh tri kiến, biết chính xác về pháp, mà pháp ở ngay trong thân tâm mình chứ không phải ở đâu xa.
Xuất ly năm uẩn
Nhận diện năm uẩn là cánh cửa hết sức quan trọng để nhìn thấy nội tâm mình. Sự tu thật sự Đức Phật dạy khi còn tại thế là không hướng vào bất cứ một ai cầu xin, lạy lục, van xin để cứu độ cho mình, ngay cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không giúp được mình. Chỉ khi nào tu tập theo sự dạy dỗ của Đức Phật là quay trở lại nhìn rõ thân tâm mình, thấy được thân tâm này cấu tạo, vận hành như thế nào, từ đâu có đau khổ, thấy rõ và đoạn tận những nguyên nhân sanh ra đau khổ thì mình hết khổ, đó là Niết-bàn, toàn bộ giáo lý của Đức Phật chỉ bấy nhiêu.
Không một ai có thể giúp mình chặn được tâm sân, giảm được tham dục, phá được chấp ngã, cái ta, cái tôi nếu không tự mình quán chiếu, thực tập. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật đã nhắn nhủ: “Này các Tỳ-kheo, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác”. Chánh pháp chính là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và các pháp này vận hành để xem tâm mình vận hành ra sao, đó gọi là Tứ Niệm Xứ. Như vậy, Tứ Niệm Xứ là luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nhìn lại nội tâm và thấy biết các pháp vận hành như thế nào. Ngoài ra, Phật không dạy chúng ta hướng ra ngoài cầu người nào độ cho mình.
Cách tu bây giờ đa số là suốt ngày cúng, lạy, cầu nguyện, van xin, hướng ra bên ngoài, cuối cùng quay trở lại tâm mình thì tham, sân, si, bản ngã một đống, không giảm thiểu, khổ còn nguyên, dục càng ngày càng tham, muốn nhiều hơn nữa. Khi còn là cư sĩ, mới vào chùa tập sự thì dễ thương, đến khi thọ giới Tỳ-kheo là thương không dễ. Đây là sự cay đắng, đau đớn, xấu hổ của người tu, tu như vậy là đi sai đường. Lúc còn là cư sĩ, tập sự bị la, bị rầy thì “dạ dạ vâng vâng, con xin lỗi”, còn bây giờ thầy cô là rầy một tiếng là giận, nghỉ học, vì “tôi cũng là Tỳ-kheo vậy”. Thử nghĩ đến khi thành trụ trì còn đến mức độ nào?
Thương lắm thay, đau đớn thay, xót xa thay cho những người tu đi sai đường. Có tu pháp này mới thấy được nội tâm mình, chúng ta sẽ luôn cúi xuống vì thấy xấu hổ, lo mình chưa xong thì không dám nhìn ai. Khi thấy trong thọ, tưởng, hành của mình tràn đầy những dục, tham, ái, sân hận, si mê, bản ngã, mình nhiếp phục chúng không xong thì ta đây với ai, cống cao với ai, ngã mạn với ai.
Nếu nắm vững được những trí tuệ về ngũ uẩn là chúng ta trở thành nhà tâm lý học vĩ đại của Phật giáo, vì đây là trí huệ tâm lý học của bậc tôn quý nhất trên đời. Tất cả các góc độ, khía cạnh, ngõ ngách về ngũ uẩn đều được Đức Phật thấy biết một cách tròn đầy, viên mãn, đồng đều, đầy đủ, tường tận, không còn điều gì Đức Phật không biết trong năm uẩn. Đó mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác, đó mới là thầy của trời và người. Khi Đức Phật mới thành đạo, Ngài định không nói pháp. Khi đó, Phạm thiên Sahampati co duỗi cánh tay, từ trên cảnh trời thỉnh Phật nói pháp, sau ba lần cầu pháp như vậy thì Đức Phật mới thuyết giảng.
Trong năm uẩn này không còn một thứ gì nhỏ nhiệm mà Đức Phật không thấy, không biết. Cho nên, nếu học kĩ, nắm vững được trí tuệ này, chúng ta sẽ biết được nội tâm mình vận hành ra sao, khi hiểu tâm mình thì sẽ hiểu tâm người khác. Trước nay mình không được học trí tuệ này nên mình không biết thọ ra sao, tưởng ra sao, hành ra sao, thức ra sao. Mình cứ ngơ ngơ ngáo ngáo nhưng ai chê đến là sân lên. Vì không biết tên tuổi, không biết mặt mũi của thân tâm này nên mình càng không biết tính tình tham, sân, si của nó ra sao. Thế mà vẫn nhận những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm là tôi, là của tôi. Nhiều người, thậm chí các nhà bác học thường phát biểu “tôi suy nghĩ như vậy”, vậy, nếu suy nghĩ là tôi thì hình bóng trong tâm là gì, cảm giác là gì, rõ biết là gì, sắc thân này là gì? Chẳng lẽ có năm cái tôi hay sao? Một câu hỏi này là phá tung tất cả lý luận, học thuyết của các nhà khoa học, bác học, tâm lý học vĩ đại trên thế gian. Đây gọi là Như Lai thần chưởng, nắm được cái này là nắm được cả vũ trụ.
Minh Thành hay ví dụ Tôn Ngộ Không bay mãi không ra được bàn tay của Như Lai Phật Tổ, bàn tay đó là ngũ hành, là năm uẩn, tức là không bao giờ ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Một khi tâm thức đã dính chặc vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì bay mãi không ra khỏi bàn tay, không ra khỏi bàn tay tức là không ra khỏi năm uẩn. Như Lai chứng Niết-bàn là đi ra khỏi năm uẩn. Tôn Ngộ Không cứ chấp thủ vào năm uẩn thì làm sao đi ra.
Một người cứ nói “đây là nhà đẹp, đây là nhà tôi xây lên, tôi thiết kế ra” thì người đó chừng nào bỏ nhà đi được. Một khi đã nhận sắc uẩn đó làm nhà thì đi đâu cũng không bằng nhà mình, về tới nhà mới có cảm giác khỏe khoắn. Cũng vậy, vì vô minh, chúng ta không thấy được năm uẩn là năm uẩn, nhận cho năm uẩn là mình thì không bao giờ xuất ly khỏi năm uẩn được.
Trong Tương Ưng Uẩn, Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu không gặp bậc Chân nhân, không thấy bậc Chân nhân, không thuần thục pháp bậc Chân nhân, không tu học pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; quán thọ là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi; cho rằng tưởng, hành, thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Một khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến đổi thì người này sẽ sầu, bi, khổ, ưu não, bứt tóc đấm ngực chết và gần như chết.
Còn bậc Đa Văn Thánh đệ tử không quán sắc như tự ngã, hay không quán tự ngã như là sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã…. không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. Khi không thấy năm uẩn là tôi, mà thấy năm uẩn là năm uẩn, là pháp duyên sanh, vô thường, biến hoại nên khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến đổi thì Đa văn Thánh đệ tử không khổ. Hoặc nếu có khổ thì khổ rất ít, vì biết bản chất của ngũ uẩn là duyên sanh, vô thường, biến đổi, hoại diệt. Như trong kinh Niệm Xứ thường kết thúc mỗi phần bằng câu “thân này bản tánh là như vậy, bản chất là như vậy không thể khác với bản tánh ấy”. Nếu ngày nào chúng ta cũng quán năm uẩn thì từ từ sẽ ly tham đối với năm uẩn, nhàn chán đối với năm uẩn, xa lìa đối với năm uẩn, đến khi chuẩn bị nắm mắt ra đi sẽ quán từ bỏ ngũ uẩn, được như vậy sẽ chứng nhập từ Bất lai đến A-la-hán quả.
Trong mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm chúng ta đều tu học, quán chiếu, không nhìn nhận năm uẩn này là mình thì sự thấy biết đó được tưới tẩm, được hun đúc, được gieo trồng, được nuôi dưỡng, được tăng trưởng, phát triển quảng đại cho tới một mức chín muồi thì có được sự nhàm chán, ly tham, giải thoát. Trong sự giải thoát ấy ta thấy rõ ta đã giải thoát, “sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Trạng thái này là trạng thái vô minh, tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn, trạng thái cho rằng ngũ uẩn này là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Giống như Tôn Ngộ Không bị nhốt vào Ngũ Hành Sơn, lá bùa chế ngự Ngộ Không chính là bản ngã, là thân kiến. Khi nào phá được chấp ngã thì ngọn núi ấy được tung vỡ ra, Ngộ Không được giải thoát. Lúc đó, Ngộ Không thấy rõ được tính chất rỗng không của năm uẩn, khi tung núi ra mới được đặt tên là Ngộ Không. “Ngộ Không” nghĩa là thấy rõ tính chất trống rỗng của năm uẩn./.