Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nhận Diện Thân Tâm 10 - Chiếu Kiến Ngũ Uẩn

2026-03-03 00:54:01
Tinh Hoa Nikāya - Chiếu Kiến Ngũ Uẩn

Nhận Diện Thân Tâm 10

Thích Minh Thành

Ngày 25 tháng 04 năm 2022

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hiểu về câu niệm Phật PAGEREF _Toc103610980 \h 1

II. Tứ thực PAGEREF _Toc103610981 \h 4

I. Hiểu về câu niệm Phật

Nhận diện Ngũ uẩn trong khi niệm tâm, khi mình niệm ba câu Phật thì Ngũ uẩn nhận diện như thế nào. Chúng ta mới vừa niệm ba câu Phật, lúc đó có thấy gì, cảm giác như thế nào, trong tâm có hình bóng gì, suy nghĩ gì. Ý thức là gì?

Con mời quý Thầy nhận diện Ngũ uẩn trong khi niệm ba câu Phật. Càng nhận diện chính xác, đầy đủ, nhiều phương diện khía cạnh chừng nào thì trí tuệ của mình càng tinh minh, trong sáng chừng nấy.

Trong khi niệm Phật, cảm thọ của mình đơ ra là phải điều chỉnh lại. Chữ “Nam Mô” là đem cả thân mạng của mình quay về nương tựa. Câu “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” là quy tính, quy mạng; đem cả thân mạng của mình quay về nương tựa Phật – bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc thấu suốt tất cả phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm và thế giới. Chữ Phật là Chánh Đẳng Giác, nói đầy đủ là vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Khi niệm ‘Nam Mô Phật” tức là đem cả sinh mạng này quay về nương tựa với bậc thấy, biết cùng tột thân tâm và thế giới. “Bổn sư” là bậc đạo sư vĩ đại, không phải dịch là thầy gốc, chữ “sư” là bậc đại đạo sư. Chữ “bổn” là pháp bổn, pháp chủ, là Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là con mắt của pháp, gốc của pháp, chỗ nương dựa của pháp, chỗ khởi nguyên ra pháp, từ chỗ Đức Thế Tôn mà pháp được sanh ra. Tất cả pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lãnh đạo, chỗ y chỉ, nương dựa.

“- Lành thay, Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy giải thích cho chúng con nghe lời dạy ấy, sau khi nghe lời dạy ấy, chúng con sẽ tiếp nhận và thọ trì.

- Này các tỷ-kheo, hãy lắng nghe, khéo suy xét tác ý. Ta sẽ vì các ông mà nói.”

Cho nên khi mình hiểu câu niệm Phật đó thì niệm bằng tâm biết ơn, cung kính, hướng về quy ngưỡng, quy y ở trong câu đó, chứ không phải mình niệm như máy móc, niệm cho có, cho xong thì mình rơi vào thọ “đơ”, “trơ”, thọ bất khổ bất lạc. Khi mình niệm làm cho sanh khởi một cảm thọ cùng cực của sự tôn kính, tột cùng của sự biết ơn, tri ơn đối với Đức Thế Tôn.

Tên của Ngài là Thích Ca Mâu Ni dịch là Năng Nhơn Tịch Mặc. Năng là năng lực, sức mạnh, từ bi. Tịch Mặc là sự vắng lặng. Thành ra trong câu “Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni” để hiểu là mình phải học rất là nhiều buổi. Trong khi niệm, mình tác ý làm cho tâm sanh khởi lên một cảm thọ, nghĩ tưởng về ân đức vĩ đại của Đức Như Lai. Chữ “Thế Tôn” là thế gian tôn kính, bậc tôn kính nhất đời, thế là thế gian, tôn là tôn kính, là bậc được thế gian tôn kính. Nhiều khi mình đọc Thế Tôn, Như Lai không hiểu cái ý cho nên khi mình nói như vậy không sanh ra cảm thọ vì không biểu ý trong đó.

Thành ra tại sao phải học pháp là như vậy, khi mình đọc tới đâu pháp nghĩa rực sáng, rạng ngời tới đó, thẩm thấu, thấm đẫm, thấm đượm. Có khi mình đọc niệm câu đó có thể nước mắt tràn ra, ngập tràn ân đức của Như Lai và các bậc Thánh chúng. Khi niệm như vậy mình phải quán tưởng hình ảnh của Đức Phật chứ không phải trong tâm không có hình bóng gì hết, hoặc là lúc đó chú tâm sang hướng khác, hoặc là mình không thấy rõ. Cho nên nhiều khi mình trình pháp nhưng không phải trình như vậy là đúng hết, tại vì chưa thấy được tâm của mình.

Thông thường, khi mình niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật hay Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thì hình bóng Đức Phật mình thường thấy sẽ hiện ra. Ví dụ mình thường thấy tượng Phật trên chánh điện thì hiện ra hình đó, còn nếu mình ra ngoài đằng trước thì thấy hình bóng tượng đó hiện ra hoặc là tượng ở Trúc Lâm thì hình bóng tượng ở chánh điện Trúc Lâm hiện ra; còn ông tu ở chùa Ấn Quang, ông niệm Phật thì hiện hình bóng tượng của chùa đó. Đó chỉ là Sắc tưởng thôi không phải Phật. Mình tưởng đâu hình tướng đó là Phật.

Phật là ra khỏi Ngũ uẩn, không phải những hình tướng đó nhưng mà tạm thời ở trong thiện pháp bắt đầu thì cho phép mượn hình tướng đó cho mình sanh khởi lên tâm tôn kính, biết ơn. Còn người tu thâm sâu trong trí Ngũ uẩn khi niệm Phật là không có hình bóng gì mà là một bầu hư không rộng lớn vô biên, vô tận, vô tướng, lìa khỏi Ngũ uẩn, một tâm bất động giải thoát của Thánh Trí Tuệ.

Bây giờ, trong giai đoạn hiện tại thì chúng ta mượn hình tướng đó để sanh lên tâm biết ơn, cung kính. Không nói riêng một ai, nói chung tinh thần mình thực tập. Thường thường thì người ta sao mình vậy, xưa bày nay làm, người ta làm mình cũng làm, làm cho có cho xong cho rồi; thì cái đó không đem lại lợi ích sâu sắc và rộng lớn. Cho nên khi niệm mà ngập tràn ân đức như vậy thì mình trở lại phần thiết thực căn bản của mình hành trì, niệm trong một tâm mà con xin đem cả sinh mạng quay về nương tựa với bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thấu suốt hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, thân tâm thế giới của Ngũ uẩn này; bậc đã ly tham phá vỡ vô minh, thành tựu Thánh Trí; bậc đã diệt tận tất cả những vô minh và khát ái đối với Ngũ uẩn, bậc đã thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, bậc đã tẩy sạch hết tất cả các lậu hoặc, dục lậu, hủ lậu và vô minh lậu. Lúc đó, mình khởi lên cảm thọ tột cùng cung kính bậc tốt thượng giữa Chư thiên và loài người, bậc đạo sư vĩ đại của Tam giới, bậc đã vượt ra tất cả sắc – thọ - tưởng – hành – thức.

Khi mình niệm thì phải tác ý như vậy để tưới tẩm, nuôi dưỡng tâm biết ơn, cung kính, đó là niệm ơn đức của Phật. Mình càng tu thì càng thành tựu “tịnh tín bất động” đối với Đức Phật. Tại sao mình tu mà nhiều khi tự hỏi không biết Ngài nói vậy có không, cái này có phải Phật nói không. Niềm tin với Phật không lớn mạnh thì làm sao mình đi tới chỗ “tịnh tín bất động”.

Các bậc đã vào Thánh quả, Sơ quả Tu-đà-hoàn là có “tịnh tín bất động” đối với Đức Phật, Pháp, Thánh chúng. Tại sao mình tu lâu như vậy nhiều khi mà niềm tin đối với Phật thấy cũng giống giống vậy, nhiều khi còn nhạt hơn. Vì mình không có tưới tẩm, nuôi dưỡng, tác ý, làm cho nó lớn mạnh. Tất cả các pháp lấy tác ý làm sanh khởi, câu đó là tuyệt đối quan trọng. Nếu mình không tác ý thì pháp không sinh khởi, pháp cung kính, biết ơn không sanh, những thiện pháp không sanh.

Cho nên trong Tương Ưng Căn, Đức Phật nói người tu tín - tấn - niệm - định - tuệ là tu một cách chân chánh, đúng đắn. Thấp nhất là quả Dự lưu, cao nhất là Thánh quả tột cùng của bậc A-la-hán. Tín căn biến thành tín lực, có gốc rễ của lòng tin, tín đối với Đức Phật tuyệt đối. Còn các bậc Thánh, chí Thánh cùng tột sạch các lậu hoặc là cung kính Đức Thế Tôn khủng khiếp, tuyệt đối. Sau này, chúng ta vào trong tạng kinh sẽ thấy, các ngài khủng khiếp lắm, nằm bệnh gần chết như vậy. Đức Thế Tôn đến nói thôi nằm đó đi, đừng dậy, các ngài cố gắng lồm cồm ngồi dậy quỳ xuống lạy mà lúc đó bệnh gần chết. Con có lòng tin tuyệt đối đối với Đức Thế Tôn.

Thành ra, sẵn duyên để chúng ta nhận diện Ngũ uẩn trong khi niệm Phật thì khi đọc tụng hay niệm, lúc đó phải tác ý cho đến khi nào mình chỉ cần nghe tên, chữ Đức Phật thì trong này nó ngọt ngào, trào dâng một sự cung kính tột độ. Đó là cái tâm của các bậc từ hướng Dự lưu cho đến chí Thánh, nói đến Đức Phật là bên trong trào dâng một cảm xúc tôn kính cùng cực. Mỗi khi mình niệm như vậy bên trong này dạt dào, sung mãn những cảm xúc, cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng về ơn đức của Thế Tôn. Đó là cách chúng ta niệm Phật, sanh khởi lên cảm thọ chứ không phải mình niệm mà không suy nghĩ gì. Chẳng những suy nghĩ mà còn phải tác ý, tưới tẩm và nuôi dưỡng sự tin kính đối với Đức Phật.

Con mời quý Thầy đọc kỹ trong “Trí Đức Như Lai”, học thuộc lòng là số 1, đó là cốt tủy tinh hoa về Thánh Trí Huệ của Đức Phật, căn cứ theo trong tạng kinh để soạn ra chứ không phải tự ý. Xin mời quý Thầy, chúng ta cùng đọc bài “Trí Đức Như Lai”.

Cảm thọ của chúng ta bây giờ ra sao? Sau khi chúng ta đọc bài “Trí Đức Như Lai” giải thích về mười hiệu, mười đức hạnh tối thượng của Đức Phật thì nhìn thấy trong thọ, tưởng, hành của mình như thế nào, có khác khi nãy mình niệm không. Vừa rồi là nhân duyên về Nhận diện Ngũ uẩn trong khi niệm Phật mà chúng ta có duyên để chia sẻ cách khi niệm Phật, để chúng ta tăng trưởng, phát triển “tịnh tín bất động” đối với Đức Thế Tôn. Hôm trước, chúng ta đã học “Bảy trí về Sắc” rồi. Cái này phải học thuộc lòng và ghi chú cẩn thận.

Tại sao có thân này, tồn tại thân này? Quý Thầy đang cầm thánh chỉ trong tay, Thánh Trí Huệ mà không có sử dụng. Sắc sanh ra sao? Thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi. Thành ra chỗ đặc biệt ở đây là tại sao chúng ta quen học kiểu tự mình suy diễn nên chúng ta hiểu pháp chung chung, lung tung hết trong khi Thánh Trí Huệ của Đức Phật mình để qua một bên. Sắc sanh do các thức ăn tập khởi nên Sắc tập khởi, Sắc diệt do các thức ăn đoạn diệt nên Sắc đoạn diệt. Mình trả lời theo ý mình mà Thánh Trí Huệ nằm trong tay, đó là cách học của chúng ta về sau này.

Con thưa với quý Thầy là bám sát vào lời kinh của Đức Phật, ngay cả những bản luận cũng không thể tuyệt đối tin được, phải bám sát tuyệt đối vào lời của Đức Phật. Trừ khi bản luận đó là của các bậc Thánh, A-la-hán, đã vào Thánh quả thì Chánh tri kiến, thành tựu nói không sai. Còn nếu phàm phu mà luận giảng lời của bậc Thánh một hồi là trở thành phàm phu tri kiến, vào bản ngã, tư ý cá nhân, định kiến, kiến chấp, thấy biết thường tình. Nếu mình học theo cái đó thì không thể nào thành tựu Thánh Trí Huệ; Thánh đạo, Thánh quả không có.

II. Tứ thực

Như vậy, Sắc sanh, do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, hôm trước chúng ta học về Tứ thực – 4 loại thức ăn kế bên con mời nhìn xuống. Nói theo tiếng Việt của mình, thân này có ra là do thức ăn, thân này chết đi cũng là do thức ăn, ăn không được là sắp sửa chết. Cái ăn này rộng nghĩa, thở cũng là ăn, ăn không khí.

Thành ra chỉ cần ngừng lại sự vay mượn, mượn trả như trong bài kệ của Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm của chúng ta: “Mượn vào là nhờ gió, thở ra cũng gió đưa, một khi gió nghiệp dừng, thân này như khúc gỗ”.

Đó là trí tuệ để nhìn thấy, ăn này nó rộng cả Tứ đại, mình nghĩ là ăn món này: Mì xào, phở, cơm, bún riêu, bún Huế chứ thực sự là Tứ đại, mấy thứ này là từ đất, nước, gió, lửa hết; thì đó là Sắc. Đó là ngoại sắc, còn cái này là nội sắc. Cho nên khi mình học về Tứ Niệm Xứ là quán chiếu về nội thân, ngoại thân. Ở trong thân: Phèo, phổi, gan, ruột, bao tử, lá lách, dạ dày, tim, tỳ, thận, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, máu, mủ, đàm, phân, nước tiểu... những thứ đó là bên trong.

Thành ra, chúng ta thấy 4 loại thức ăn. Đầu tiên, đoàn thực là các thức ăn uống cứng mềm, ngon dở, là thức ăn vật chất cho thân Tứ đại này, thức ăn này mình dễ hiểu. Hồi sáng, mình mới ăn bánh ướt là đoàn thực, chứ không phải ăn vò viên mới là đoàn thực. Là những thứ mình gắp, múc, chấm, bốc; những đồ ăn gọi là đoàn thực, thức ăn thô thiển ở bên ngoài, vật chất. Mà bây giờ chỉ cần thấy người nằm đút cái ống, xay thức ăn ra đổ nước vô ống là sắp sửa, sắp gần đất, xa trời chưa. Ăn uống không được, thở không được là chết. Ăn uống của mình là sự vay mượn Tứ đại, cái thô bên ngoài dễ thấy, cái bốc, chấm, múc, nuốt, nhai, nếm. Đó là thức ăn thứ nhất.

Hàng ngày, chúng ta mới ăn món thứ nhất này là mệt chưa, không có nó là khó chịu, sân hận, coi như hết sức lực đi không nổi. Những lúc nhịn ăn hay là phương pháp thanh lọc cơ thể, nhiều khi cả tuần lễ không ăn tới ngày cuối là đi hết nổi, uống một loại nước đơn giản, không ăn để trục độc ra, gần tới mấy ngày cuối là đi hết nổi, chỉ cần mấy thức ăn này đưa vô không nổi nữa là xong. Cho nên, do có thức ăn mới có thân này, sự sống, mới có tồn tại. Một tuần lễ không ăn là chết, tại sao mà mình phải cần những thức ăn này.

Chúng ta thấy thức ăn thứ hai là sự tiếp xúc, xúc thực. Con mắt nhìn, lỗ tai nghe, tiếp xúc đụng chạm cũng là thức ăn. Nhiều người họ không tiếp xúc là chết, sống không nổi, ba má không cho gặp là con chết, đó là xúc thực, nhưng cái này là thức ăn của tinh thần.

Từ từ chúng ta sẽ đi kỹ, về Tư niệm thực có cả mấy bài kinh Đức Phật giảng rất là kỹ. Minh Thành có chia sẻ cho lớp cao đẳng Phật học rất là kỹ. Tư niệm thực là nhớ nghĩ, nhớ nghĩ cũng là thức ăn, thức ăn của tinh thần, Ngũ uẩn. Khi ngồi nhớ như vậy thì nó đã, thích. Rồi Thức thực là sự rõ biết cũng là thức ăn, muốn biết cái này cái kia.

Thành ra Xúc thực là sự gặp gỡ nhau, thức ăn tinh thần cho thân Ngũ uẩn. Tư niệm thực là những tư duy, suy nghĩ khoan khoái, vui thích; tư niệm là nghĩ, nhớ thức ăn của tinh thần. Thức thực là sự biết, hay biết, rõ biết để đưa đến những cảm giác vui thích.

Đoàn thực là thức ăn, vật chất cho thân Ngũ uẩn, còn ba thức ăn còn lại là thức ăn tinh thần, tâm linh, cho vô minh, cho thọ - tưởng – hành – thức trong tâm mê được sung mãn để tái tạo, tái sanh liên tục những thân Ngũ uẩn vô thường và phiền não này. Chỗ đây muốn nói, do ái tập khởi nên Tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt nên Tứ thực đoạn diệt. Con đường đưa đến sự chấm dứt 4 loại thức ăn này là Bát Chánh đạo - phương pháp 8 đúng, không cho nó ăn nữa cho nên không còn tái sanh, cho nó ăn là tái sanh.

Bây giờ, chúng ta sẽ bắt đầu đi vào chi tiết tổng quát. Do ái tập khởi, nói tiếng Việt dễ hiểu là mình thích ăn, khoái ăn, muốn ăn, thậm chí tham ăn. Đó là ái, vì cái yêu, thích, khoái đó cho nên mình phảih sanh ra để ăn, dù cho sanh ra loại nào. Bây giờ chúng ta thấy cái này, mình quán khủng khiếp lắm. Mình coi những con beo, cọp xé xác con nai, ăn tươi nuốt sống, mà những loài chúng sanh ăn nhau, nuốt nhau, xé xác lẫn nhau: Hổ, beo, báo, sư tử. Chỉ cần miếng ăn ngon thì sẵn sàng sát phạt, giết hại, xé xác, phanh thây chúng sanh khác.

Hai con chó đang chơi vui vẻ, thân thiện, quấn quít với nhau. Mình muốn cho nó cắn lộn thì quăng cục xương là hai con cắn nhau liền, huynh đệ tương tàn là vì cục xương khô đó, ác độc, khủng khiếp chưa, “miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu”. Ái, mình thích, muốn, tham, no rồi mà đồ ăn ngon ráng phình bụng lên để ăn nữa, ăn xong rồi đi không nổi, trúng thực, bội thực.

Bên nước Mỹ, ở mấy quán ăn tự chọn thì mình mua 12, 13, 15 đô-la là vào ăn đã đời, mấy trăm món, cả ngàn món. Có cô này mua vé vào ăn, thấy ăn ít vậy uổng nên ăn no rồi cũng ráng ăn một hồi xe cấp cứu lại. Đừng nghĩ rằng những con vật, con thú, loài súc sanh, thú vật hung hăng, ác độc mới xé xác, nhai nuốt, ăn tưới nuốt sống với nhau mà chúng ta là con người, động vật cao cấp, ngon hơn, nếu chúng ta không tu thì có không. Ở trong này là nghĩa địa, đủ thứ loài: Heo, gà, chó, ngỗng, vịt....đủ thứ hết, nếu mình không tu thì có khác gì đâu, cũng nhai nuốt chúng sanh.

Vừa rồi, tin tức ở bên Nhật đưa lên ăn cá sống, người này lấy đôi đũa gắp thì con cá táp đôi đũa cứng lại, để vậy mà ăn, khủng khiếp như vậy. Con người chúng ta cũng ăn nuốt lẫn nhau. Chúng ta nhìn thấy con mèo rình rình đi nhẹ nhẹ rồi nhào táp con rắn mối nhỏ, chuột hay gián, bỏ vô họng nhai. Mình quán chiếu cái ăn, nhiều khi thức ăn thật là ngon để đó rồi do công việc quên, xong rồi nhìn trở lại nó thúi quắc, có giòi lên.

Kỳ đó nhập thất trên núi, bốn năm ngày thì mấy thầy, mấy chú đem cho cà rốt, khoai tây, để quên lâu tới chừng nhìn lại giòi bò lúc nhúc trong củ cà rốt, thiệt là hôi, dơ, bất tịnh, bẩn thỉu. Vào bữa trước mình nhai ngồm ngoàm, ngon, thích, khoái, bây giờ nó hôi thúi, giòi, dơ bẩn. Đó là mình quán chiếu, đừng nói chi thịt máu của chúng sanh. Xong rồi thơm phức rồi nhai nuốt, bây giờ ói ra, dám ăn lại không. Đang nhai thì sặc văng ra lụm lại ăn, ngon không. Mới hồi nãy sân si chia nhiều, ít, thiếu, đủ, người kia có tui không có, bây giờ dơ bẩn, bất tịnh. Vậy mà tham hoài, ăn bốn chục, sáu chục năm, bảy chục năm rồi vẫn còn tham ăn, mê ăn, kiếm ăn. Ái, yêu thích, khoái, tham muốn. Cho nên mình tu chỗ trong bàn ăn là tuyệt vời lắm.

Hôm nay, chúng ta có dịp sẽ học cách ăn cơm của Đức Phật, nhiều khi người tu suốt đời mà chưa biết Đức Phật ăn cơm ra sao. Hôm nay, chúng ta sẽ biết cách ăn cơm của Đức Thế Tôn, bậc Tối tôn Tối thượng giữa Chư Thiên và loài người thọ thực như thế nào. Thành ra chúng ta đừng nghĩ khi lên ngồi thiền lúc đó mới thiền, ăn cơm mà thiền chất lượng, từ ăn đó nhìn ra được dục, tham, ái, hoạt động của nó. Đức Phật tu kỹ lắm. Mình học từng chút từng chút thật kỹ cho nên là đoạn tận hết tất cả lậu hoặc, cho nên không có một chút nhỏ xíu nào, bằng một hạt cát, hạt bụi lậu hoặc nào có thể qua mặt được Đức Thế Tôn và các bậc Thánh, cho nên Ngài mới đi đến chỗ lậu tận. Tất cả phiền não, tham – sân – si ngấm ngầm hoạt động trong vi tế, nhỏ nhiệm đều được các ngài dùng pháp nhãn, trí nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn, minh kiến soi rọi và tẩy sạch hết, diệt tận hoàn toàn không cho sanh khởi trở lại trong tương lai.

Mình nhiều khi tu giỏi mà khi lên ăn không biết có tu không, trong khi ăn thì dục, ái, tham, sân, vô minh hoạt động mà mình nhận diện Ngũ uẩn sâu sắc mới thấy. Thứ nhất là sự thúc giục ở bên trong, những hình bóng, mùi hương là những sắc tưởng, hương tưởng, vị tưởng trước kia mình ăn món đó hiện ra. Thọ - tưởng – hành bên trong sanh khởi những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ. Khi mà gắp một miếng để vô miệng thì nó tê trong đây, ái, khoan khoái, thích thú, sướng, mê. Chúng ta thấy chưa, đó là hoạt động. Gắp lia gắp lịa, nhai chưa xong là nuốt rồi. Đồ ăn trong miệng chưa nhai xong là đũa thứ hai chờ gắp để vô, trong này thúc giục, khoan khoái, thích thú rồi gắp thêm, dục, ái, tham hoạt động.

Chúng ta xem chỗ Kinh Trung Bộ, Tập 2, Bài 91 – Kinh Brahmàyu, coi Đức Thế Tôn dùng cơm như thế nào.

“Khi Ngài nhận cơm, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận cơm không quá ít, không quá nhiều. Ngài ăn đồ ăn vừa phải, không có bỏ miếng cơm, chỉ lựa miếng thức ăn. Tôn giả Gotama đưa miếng cơm quanh miệng hai ba lần rồi mới nuốt, không hột cơm nào được vào trong thân không bị nghiến nát, và không một hột cơm nào còn lại trong miệng trước khi ăn miếng cơm khác. Tôn giả Gotama không thưởng thức vị ăn khi ăn đồ ăn, không thưởng thức lòng tham vị. Tôn giả Gotama ăn đồ ăn có đầy đủ tám đức tánh, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, Ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và Ta sẽ không lỗi lầm, sống được an ổn”.

Ngài ăn xong lấy nước rửa bát, không chúc bình bát lên, không chúc bình bát xuống, không xoay bình bát vào phía trong, không xoay bình bát ra phía ngoài, nhận nước không quá ít, không quá nhiều. Ngài rửa bát không sanh tiếng động, rửa bát không xoay tròn bình bát, không có đặt bình bát xuống đất rồi rửa tay, khi hai tay rửa xong, bình bát cũng rửa xong, khi bình bát rửa xong, hai tay cũng rửa xong. Ngài đổ nước bình bát, không quá xa, không quá gần, không vẩy nước cùng khắp.

Khi ăn xong, Ngài đặt bình bát xuống đất, không quá xa, không quá gần, không phải không nghĩ đến bình bát, cũng không quá lo cho bình bát.

Khi ăn xong, Ngài ngồi im lặng một lát nhưng không để quá thì giờ nói lời tùy hỷ (công đức). Ngài nói lời tùy hỷ (công đức), không chỉ trích bữa ăn ấy, không mong bữa ăn khác; trái lại, Ngài với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Ngài sau khi với pháp thoại khai thị hội chúng ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Ngài đi không quá mau, không quá chậm. Ngài đi không phải (như muốn) lánh xa hội chúng ấy.”

Chúng ta thấy đó là cách Đức Phật ăn cơm, những cái này là pháp hành, nếu mà học thuộc thì quá tuyệt vời, còn không phải để ý thật là kỹ, ghi chép ra những phần quan trọng, mình sẽ học được rất là nhiều từ trong đây. Chúng ta thấy Ngài dùng cơm xong rồi, khi Ngài nói lời tùy hỷ (công đức) của buổi ăn, không chỉ trích buổi ăn đó, không mong có bữa ăn khác. Khi cúng trai tăng, nói lời tùy hỷ cũng vừa vừa thôi, nhiều khi nói “tất cả phước báo trai tăng là bậc nhất”, thành ra nhiều khi mình nói có những cái sâu sắc bên trong mà không thấy hết. Bởi vậy, mình học trong đây phải thấy Đức Thế Tôn “nhân thiên sư phạm”, từng chút từng chút của Ngài mẫu mực cho trời, người. Mình tu như vậy rồi nói sau này chắc mình ngồi “xẹt” vậy đó thì lúc đó mới chứng quả, còn bây giờ mấy cái nhỏ nhặt có gì đâu mà bắt kỹ vậy, nhưng không ngờ sự tu tập là từng chút từng chút trong mọi ngôn ngữ, cử chỉ, suy nghĩ, hành vi của mình mọi lúc mọi nơi.

Cho nên trí tuệ, đức hạnh của Ngài viên mãn cùng cực, tối thượng tối tôn, không có một chút khuyết điểm nào bằng một cọng long chia ra làm 100 phần, không còn một chút lỗi lầm.

Đó là chúng ta nghe sơ qua về cách dùng cơm, thọ trai của Đức Phật. Bây giờ, chúng ta nghe về “chánh quán thọ thực” là cách ứng dụng khi ăn cơm trong Đạo tràng Nikāya, những khóa tu mà trước khi ăn cơm là đọc bài này: “Cảm giác hơi thở, cảm giác cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm giác sự an tịnh của thân tâm, cảm giác sự an tịnh của không gian nơi này, vùng trời đất này. Cảm giác dễ chịu đối với không gian này, vùng đất này và trời đất này.”

Khi ngồi ăn như vậy, mình trải tâm của mình rộng khắp không gian, vùng trời đất chỗ đó chứ không phải nhìn vào miếng ăn không. Đây là mở, tu tập tâm rộng lớn ra, bắt đầu Trải tâm từ: “Trong tâm thương rộng lớn này, mong tất cả các loài hữu tình đều được an lạc và bình an, tìm được niềm an vui cho mình. Tâm thương mình thật nhiều và thương muôn loài hữu tình trong trời đất rộng lớn này”.

Trải từ vô lượng tâm khi mình ăn cơm, lúc đó mình trải tâm thương đến những người nghèo đói, cơ hàn cùng khắp thế giới chứ không phải chỉ nhìn thấy món ăn trước mặt. Mở tâm ra rộng lớn khắp trời đất, cả thế giới, chúng sanh. Tâm thương rộng lớn rõ biết tâm thương rộng lớn, cảm giác tâm thương rộng lớn. Đó là Trải tâm từ sau đó mới tới ăn cơm.

Chúng ta an trú trong tâm từ này 15 phút, trải tâm thương của mình cùng khắp rộng lớn vùng trời đất này, không gian này; tình thương của ta lan tỏa cùng khắp những chúng sanh đang đói lạnh, cơ hàn, thiếu thốn, khổ sở. Chúng ta kết hợp phần Chánh quán thọ thực để quán chiếu về Đoàn thực. Con mời quý Thầy an trú tâm từ 15 phút. Sống trong tâm thương bao la, rộng lớn cùng khắp Đồng Nai, Sài Gòn, cùng khắp ra miền Trung, miền Bắc, trải dài xuống Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá, trải dài Nam, Trung, Bắc; trải rộng ra Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc, cùng khắp Châu Á rồi sau đó mới ăn cơm.