Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

4 SỰ TINH CẦN 3_Kinh Mười Lực- Tương ưng bộ

2026-03-03 00:54:01
23.11.2020. 4 SỰ TINH CẦN 3_Kinh Mười Lực

Tương ưng bộ_R.mp3

Thích Minh Thành

Kính thưa đại chúng, hiện tại chúng ta đang học chuyên đề về tinh cần, mọi người thường nói Tứ Chánh Cần là nói danh từ hiện tại thường dùng, trong kinh Nikāya thường dùng chữ "tinh cần". Riêng về Tứ Chánh Cần mình đã học 4 buổi, bốn chánh cần này có rất nhiều phương diện và khía cạnh.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.

Khổ thay, này các Tỳ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỳ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!

Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Đáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Đạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.

Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỳ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỳ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỳ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực)

Chúng ta thấy thấm thía làm sao, từ bi làm sao, gần gũi và thiết thực là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Rất gần gũi, rất rõ ràng, đánh động và chạm vào trái tim sau 2600 năm của người xuất gia. Này các Tỳ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho những người con trai có tấm lòng tốt lành, tin tưởng xuất gia để bắt đầu tinh tấn, nỗ lực để thực hiện cái pháp cắt đứt hết tất cả sự ràng buộc, tức là giải thoát đạo. Dù cho máu, da thịt có trở thành khô kiệt thì cũng mong rằng sức mạnh của sự tinh tấn nơi tự thân chúng ta sẽ được giữ vững, kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng. Chứng đắc những điều chưa chứng đắc, chứng đạt những điều chưa chứng đạt và chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ. Đau khổ thay là người xuất gia mà sống biếng nhác, giải đãi, buông lung phóng dật, dính đầy ác pháp, đau khổ vì những ác và bất thiện pháp làm mục đích lớn bị suy giảm. An lạc thay, vui sướng thay, hạnh phúc thay là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn. Không phải với cái thấp hèn, kém cỏi mà có thể đạt được cái cao thượng, với một đời sống buông lung phóng dật, không tăng thượng giới – định – tuệ thì làm sao có thể đạt được thượng trí? Đó là pháp thượng nhân tri kiến thù thắng xứng đáng bậc thánh cho nên không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng.

Thật sự rất thấm thía!

Những điều này để cho mình quán chiếu, suy tư và nghiền ngẫm. Tứ sự cúng dường để phục vụ sống qua ngày với những nhu cầu vật chất khiêm tốn nhưng tự thân chúng ta lại được quả báo lớn, lợi ích lớn và người cúng dường cũng được quả báo lớn, lợi ích lớn. Do vậy các ông cần phải học tập để thấy được lợi ích cho chính mình vừa đủ để tinh tấn, không buông lung phóng dật, thấy được lợi ích cho người như vậy là vừa đủ để mình nỗ lực tinh tấn, không buông lung phóng dật và thấy được lợi ích cho cả mình và người để tinh tấn, không buông lung phóng dật. Bài kinh này là một trong những bài kinh huyết lệ của Đức Thế Tôn, con đã đọc nhiều lần bài kinh này và lần nào đọc cũng xúc động, nhân mùa Nhà giáo Việt Nam chúng ta phải tuyên dương công đức vĩ đại của Đức Thế Tôn, đây là tấm lòng của bậc đại Đạo sư. Chúng ta phải nghe kinh bằng cả tấm lòng chân thành, cung kính, tha thiết, khát ngưỡng thì chúng ta sẽ có lợi ích lớn, có sự thu hoạch lớn. Bài kinh này thực sự rất hay và đầy ý nghĩa, chúng ta nên học, chiêm nghiệm và tự hỏi bản thân nhiều hơn.

 Dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.

Những lời này chúng ta phải nhìn trên tự thân Đức Phật, chúng ta nhớ Thái tử Tất-đạt-đa lúc tu khổ hạnh chạm vào bụng sẽ đụng vào xương vì không còn thịt nữa, chỉ còn da bọc xương. Những lời này là những lời Đức Phật đã trải qua, đã thực nghiệm, đã chứng nghiệm.

Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. (Trung Bộ Kinh, 12. Đại kinh Sư tử hống)

Thành ra nhìn lại mới thấy sự tu của chúng ta ngày nay chỉ tu gieo duyên chứ nếu tu theo đúng tinh thần của Đức Phật phải là đời sống viễn ly, ly tham, xuất ly. Khi Minh Thành qua trung tâm thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah phải đi 2 lần máy bay và thêm 1 chuyến xe, trung tâm nằm trong thôn quê ở trong rừng, trong trung tâm có khoảng hơn 30 vị trên 30 nước, tức là mỗi nước chỉ có 1-2 người tu hành trong đó, một ngày ăn một bữa, 5h sáng phải đi khất thực, những vị này đa số là người phương Tây và bản thân Minh Thành đã được trải nghiệm trong một ngày. Buổi sáng đi khất thực chung với các sư, do họ là người phương Tây rất cao lớn, bước chân của họ rất xa nên mình phải cố gắng theo sau. Đi khất thực thì đầu trần chân đất và quấn y, bước lên đá sỏi rất đau. Khi đau có khổ thọ nên phải tác ý "nhiều khi suốt đời xuất gia mình chỉ đi khất thực có một lần, ở đây người ta đi mỗi ngày mà mình làm không được nữa thì chết đi". Mình thấy có những điều rất hay để học hỏi, khi đi trong sự chánh niệm, hộ trì căn thì mình thấy mình đúng là người ăn xin, một "khất sĩ" thực thụ, mình bưng bình bát vào làng để xin, khi trở về thọ trai có một số người bốc bằng tay theo đúng thời Đức Phật, số khác thì dùng muỗng đũa nhưng đa số bốc ăn bằng tay. Người ta cố gắng giữ hết mức có thể giống thời Đức Phật và thực sự mình rất nể phục, kính phục, người phương Tây không làm thì thôi mà làm thì phải làm cho tới cùng. Đối với y áo người ta cũng làm giống theo giới luật, họ đi tìm vỏ cây về đâm, dằm ra để lấy nước đó nhuộm y. Khi con vào lạy sư trụ trì thì sư trụ trì quỳ lạy trở lại, con lạy các sư nhỏ thì các sư nhỏ không lạy lại, đó là sự khác biệt giữa lớn và nhỏ, người càng đức độ thì càng khiêm cung, khác nhau ở sự nhiếp phục bản ngã. Sau khi thọ trai xong thì mỗi người trở về thất của mình để ngồi thiền, xem như mình vào đó vắng hoe, lạnh tanh, im ru, một trung tâm thiền quốc tế mà im như tờ, sau khi khất thực về thọ trai xong là mỗi người tự trở về thất của mình để ngồi thiền tụng kinh. Điều ấn tượng là có một ông sư là người phương Tây da trắng bệnh, ốm tong teo chỉ còn xương với da, tuy người ta chỉ mới Sa-di lạy mình nhưng mình lạy lại vì thật sự rất kính trọng, một người ở đất nước phát triển, có đầy đủ tri thức, không có nghèo thiếu mà lại có thể đi tu như vậy. Nói ra để chúng ta thấy rằng không phải chỉ trong thời Đức Phật mà ngay cả trong thời hiện đại vẫn có những vị tu tập như vậy, có một thầy ở chùa Vạn Phật Thánh Thành khi Minh Thành mới lên núi được vài năm thì thầy ở lại đó tu, lúc đó thầy còn là cư sĩ còn giờ đã xuất gia, thầy ăn một ngày một bữa mà thầy là võ sư Thái Cực Quyền, nói để chúng ta thấy rằng không phải chúng ta làm không được, không phải không có người làm được mà do chúng ta không muốn làm cho nên bây giờ học những điều này lại thấy đây là những chuyện thời xa xưa của Phật, vì sự tác ý, sự đặt tâm của mình không tha thiết, không quyết liệt chân thành trong sự tu học nên không nỗ lực, không kiên trì. Chúng ta thấy những người ngoại đạo, ngay cả bên Ấn Độ bây giờ cũng còn những người tu khổ hạnh, họ lõa thể hoặc đứng một chân, trong nhiều ngày mới ăn… họ làm rất nhiều điều khổ hạnh nhưng họ vẫn có thể chịu đựng được, sở dĩ ngày nay có ít người tu hành thành tựu theo lời Đức Phật nói là do phần giới, nhất là phần phát triển quá mạnh nên làm mất gốc, phát triển theo kiểu thích sao làm vậy, hỏi đến thì trả lời đó là phương tiện vì thế hai chữ "phương tiện" đó giết người, dần dần bản sắc đặc chất của Phật giáo bị mai một cho nên hiện nay để học được những lời dạy gốc của Đức Phật đã là một điều khó khăn chứ chưa nói đến pháp hành. Vì sao lại vậy? Vì lời của Phật đánh thẳng vào dục tham ái nhưng chúng sanh lại ưa dục, tham dục, ái dục cho nên nói cái gì hợp với lòng dục, lòng tham, lòng ái thì người ta mới ưa thích, chỗ này gọi là chánh pháp khó nghe.

Khó thay, được làm người,

Khó thay, được sống còn,

Khó thay, nghe diệu pháp,

Khó thay, Phật ra đời!

(Kinh Pháp Cú 14 – Phẩm Phật Đà, kệ 182)

Vì chúng sanh ưa dục, thích dục, say đắm trong dục, chìm nổi trong dục trong khi pháp của Thế Tôn là ly dục, đoạn dục, nhiếp phục dục, xuất ly khỏi dục thành ra người ta sẽ không thích. Ăn là sướng vì nó là một trong những cái dục vậy mà bây giờ chỉ cho ăn một ngày một bữa thì có chịu không? Ngủ là sướng vậy mà giờ bắt buộc ngủ ít, đầu hôm, giữa đêm đều phải ngồi thiền, đi kinh hành để tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp.

Ban ngày đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh giữa, chúng ta phải nằm dáng nằm con sư tử, nghiêng bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy lại. Ban đêm canh đầu thức dậy, đi kinh hành (hay) trong lúc ngồi, chúng ta phải tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Còn bây giờ đi đây đi đó ra ngoài để hưởng thụ, buông thả cười nói, giỡn hớt, du sơn ngoạn thủy thì đó là buông lung phóng dật, là hướng ngoại nhưng không khéo người ta lại nghĩ điều đó là hay. Tối ngày cứ đi lang thang chỗ này chỗ kia thì đó là vất vơ vất vưởng, sau này sẽ thành cô hồn, đó là dục dẫn đi, sự tu mà Đức Phật dạy là nhiếp phục buông lung phóng dật, chế ngự và đoạn tận. Có những người ở một chỗ tu không được mà phải chạy chỗ này chỗ kia mà không biết đó là sự thúc giục phải chạy chứ ngồi yên không được. Vì thế tu là trở lại lời dạy của Đức Phật thì đó là nghịch lưu, là ngược dòng chảy, đi ngược lại với những điều mình suy nghĩ, mình nghĩ là mình giỏi, là hay thì chưa chắc, mình đang bị dục chi phối, bị dục áp đảo, đang bị dục giam hãm, mình đang bị lửa sân thiêu đốt, mình đang bị bản ngã hành hạ. Những người tu càng cao chừng nào thì bản ngã càng thấp chừng đó, giống như cây lúa mới mọc lên lúc nào cũng thẳng đứng, còn khi đã nặng trĩu hạt sẽ quằn xuống, vì thế trong sự tu mình phải để ý rất nhiều, đây cũng là đề tài của thiền quán. Một đời sống buông lung, buông trôi, làm biếng, không nỗ lực cố gắng tăng trưởng thiện pháp là đó là đau khổ thay, mục đích lớn bị suy giảm. Những lúc thấy bản thân buông lung, biếng nhác thì tự nhắc nhở bản thân "Này kẻ xuất gia kia, đau khổ thay cho mi, khốn khổ thay cho mi, tội lỗi thay cho mi", đây là Như lý tác ý chánh tư duy Đức Phật đã dạy. Trong lúc Thế Tôn đang thuyết pháp mà có người ho thì người này vỗ đầu gối của vị Tỳ-kheo ho nói rằng bậc Đạo sư đang thuyết pháp, tôn giả chớ có làm ồn.

Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: "Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp".

Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì". (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)

Khi Đức Phật giảng pháp không khí rất trang nghiêm thanh tịnh, tiếng thở của người kế bên có thể nghe được.

Không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Câu này là nhân quả, một cái tâm không hướng thượng, không tha thiết chân thành cung kính pháp để hướng đến sự giác ngộ thì tâm đó làm sao đạt được giác ngộ, làm sao đạt được thánh pháp? Chỉ có thể đạt được phàm phu pháp, là thiện pháp của thế gian chứ không thể đạt được thánh pháp xuất thế. Một cái tâm không vượt lên chính mình thì làm sao có thể đạt được thánh định uẩn, thánh tuệ uẩn, thánh giới uẩn, thánh giải thoát uẩn và thánh giải thoát tri kiến uẩn? Phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng, ngày xưa mình đọc trong truyện hoặc trong phim thì những vị cao Tăng đắc đạo trên núi chỉ có vài đệ tử hoặc 1-2 người thôi, các ngài chọn đệ tử rất kĩ càng, những người đó sau này sẽ tiếp nối tổ vị, người thầy sẽ đem hết tâm tư để đào luyện cho người đệ tử và người đệ tử có thể phát dương quang đại cả công đức, sự nghiệp to lớn của bậc thầy. Điều này xuất phát từ cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng, người thầy đó phải nhìn ra được phẩm chất, khí chất của người học trò chứ không phải ai cũng nhận làm đệ tử, nếu không khéo có khi lại làm ngược, hơn nữa thời đại bây giờ chúng ta nhìn thấy cái tâm chân chánh cầu pháp thực tu rất ít ỏi mặc dù xuất gia thọ giới rất nhiều, xét lại cho kĩ sẽ thấy rất ít. Phải là người có tâm chân chánh, chân thành, tha thiết muốn giải thoát thì tự động họ sẽ đi vào trong đạo lộ của chánh pháp, còn một tâm hướng về tà kiến, dục vọng, danh lợi thì đương nhiên họ sẽ tu theo hướng đó, chỉ là mượn chiếc áo thôi chứ không phải là người chân tu, hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ của họ sẽ biểu hiện ra điều đó cho mình thấy, cái thấp hèn như vậy thì làm sao đạt được cao thượng? Phải là một tâm thức cao thượng mới đạt được chỗ cao thượng cho nên có những cái cứ nói là đào luyện, huấn luyện, dạy dỗ để họ tiến lên nhưng có những cái không thể đào tạo được vì bản chất của họ là như vậy, vì thế bậc thầy phải có con mắt thâm sâu và tinh anh, nhận đệ tử phải kĩ càng, cẩn thận, điều này rất quan trọng, đừng thấy ai vào xin xuất gia cũng cạo đầu cho họ, nếu con cạo thì trên núi phải có 50 người, 5 năm mới cạo mà cuối cùng cũng không chịu được phải xuống núi. Vì thế càng về sau con càng kĩ đối với đệ tử xuất gia vì mình phải xem mình có khả năng giúp họ không, và người đó có đủ tiêu chuẩn đức độ, có tâm chân chánh cầu pháp không cho nên phải hết sức kĩ, đó là nói vòng ngoài còn tự thân mình phải xem lại mình đang ở trong tâm thế cao thượng hay hạ liệt, chính ngôn ngữ, hành vi làm cho mình thấp hèn và cũng chính ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, suy nghĩ làm cho mình cao thượng. Suy nghĩ của mình người ta không biết nhưng họ dựa vào ngôn ngữ, hành vi để đánh giá mình, chính mình làm cho mình thấp kém và cũng chính mình làm cho mình cao thượng.

Thật là khó khăn trong sự tu tập này!

Để nhận thức sâu sắc về mục đích của Sa-môn hạnh là của một quá trình, cả một tâm huyết, cả một sự hi sinh, đầu tư. Để hiểu được người xuất gia là như thế nào, việc làm của người xuất gia là gì và mục đích để người xuất gia đạt đến là cả một sự khổ tâm, huyết lệ và đầu tư.

Ngũ uẩn là chìa khóa của kinh tạng Nikāya, nếu không nắm được điều này sẽ không mở được tạng kinh Nikāya và cũng không thực hành được, riêng bản thân Minh Thành nghe kinh Nikāya 15 năm chỉ hiểu trên chữ nghĩa dù con đã dịch mấy chục tác phẩm của Hán tạng, đọc thẳng vào Đại Chánh Tân Tu, nếu biết chữ Hán và đọc thẳng vào kinh Nikāya rất dễ vì trên 70% trong đó là Hán Việt. Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, sắc tư, sắc tưởng, thanh tư, nhãn thức, nhĩ thức, thọ, tưởng, hành, thức… tất cả cái này đều là từ Hán Việt, nếu không biết chữ Hán mà đi vào tạng kinh là cực kì khó khăn vậy mà con đọc 15 năm không hiểu nên làm sao có thể thực hành. Nhưng khi có người hướng dẫn nhận diện được năm uẩn thì mới thấy được cái lõi thật sự trong kinh tạng Nikāya là năm uẩn. Nếu nói đầy đủ là ngũ thủ uẩn, trong đó sắc thủ uẩn là cực kì nặng nề vì Như Lai chỉ tuyên bố có hai điều là khổ và con đường tiêu diệt khổ đau.

Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Có 8 cái khổ nhưng trong kinh Nikāya nói tóm lại ngũ thủ uẩn là khổ (chấp thủ vào năm uẩn), câu này làm nên lịch sử của kinh tạng Nikāya. Nếu không biết điều này thì cái khổ mình hiểu không tới, mình chỉ biết sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương nhau mà xa lìa là khổ, oán ghét nhau là khổ, mong cầu mà không được là khổ thì những cái này chỉ nằm bên ngoài sắc uẩn vì thế tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Tại sao khổ? Vì vô minh và tham ái đối với năm thủ uẩn, vô minh là không biết năm uẩn mà cho đó là tôi, sắc này là tôi, mấy chục kí lô thịt này là tôi, những đồ vật xung quanh này là của tôi. Mình nắm chặt vào sắc (thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại) cho đó là tôi, là của tôi thì trở thành sắc thủ uẩn, tức là ngã trong sắc, trong sắc có ngã, lấy sắc làm ngã, lấy vật chất làm cái tôi, làm cái của tôi, làm tự ngã của tôi. Cảm giác mình cũng cho là tôi, hình bóng trong tâm cũng là tôi, suy nghĩ nào cũng nói là tôi suy nghĩ, nhận thức nào cũng cho là tôi nhận thức, nghĩa là cái nào trong ngũ uẩn cũng có "tôi" đi theo sau đó vì thế trong sắc có ngã, thọ có ngã, tưởng có ngã, hành có ngã và thức có ngã cho nên trong kinh Đức Phật đã nói:

Ở đây, này Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có sắc, hay quán sắc ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong sắc... thọ... tưởng.. hành... quán thức như là tự ngã, hay quán tự ngã như là có thức, hay quán thức ở trong tự ngã, hay quán tự ngã ở trong thức. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Như vậy khi sắc biến đổi, biến hoại thì sầu, bi, khổ, ưu, não, bứt tóc, đấm ngực, chết và gần như chết. Vậy sự khác biệt của người tu là người không tu ở chỗ nào?

Ở đây, này Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử thấy rõ các bậc Thánh, khéo thuần thục pháp các bậc Thánh, khéo tu tập pháp các bậc Thánh; thấy rõ các bậc Chân nhân, khéo thuần thục pháp các bậc Chân nhân, khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có sắc, hay không quán sắc ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong sắc, không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay không quán tự ngã như là có thức, hay không quán thức ở trong tự ngã, hay không quán tự ngã ở trong thức. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Muốn biết được sắc này không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi thì phải như thế nào? Thông thường khi tu thiền dừng lại ở hơi thở, oai nghi, hành động, đa số thực tập thiền lấy hơi thở vào ra, ngoài ra thêm oai nghi, hành động. Vì thế 32 thể trược và 9 giai đoạn tử thi dùng để phá sắc uẩn. Nếu không quán bất tịnh (32 thể trược) thì làm sao có thể phá được sự chấp thủ vào trong sắc? Nếu không quán 9 giai đoạn tử thi thì làm sao gỡ được cái tôi và của tôi trong thân xác này? Vì thế không tu cái này thì vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày giác ngộ, không có con đường thứ hai. Không tu nhưng phải nhận thức được, nhận thức mình vẫn còn đứng ngoài cửa chùa, nếu không quán bất tịnh, 32 thể trược và 9 giai đoạn của một tử thi thì không bao giờ có thể phá nổi sắc thủ uẩn, vĩnh viễn và mãi mãi kể cả trong mơ, nằm mơ vẫn thấy hình bóng của mình đó vì mình bị sắc ám ảnh. Ví dụ mình nói "chút nữa tôi về đi ăn đám giỗ", khi nói câu này trong tâm mình có hình ảnh mình đi đến đó thì đó là sắc tưởng mà đó cũng chính là thân kiến, tức là hình bóng về tự thân ám ảnh trong tâm, lúc nào cũng có hình bóng đó, nếu trong đời này là người thì ám ảnh hình dáng con người, nếu đời sau bị đọa vào thân con chó thì ám ảnh sắc tưởng con chó đó và lấy hình ảnh con chó đó làm tự ngã cho nên mới gọi là sắc thủ uẩn.

Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta." khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não! (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)

Nếu sanh lên làm chư thiên thì sắc tưởng đó ám ảnh, cho đó là nó, là của nó và tự ngã của nó. Nếu sanh lên làm con giòi thì hình bóng con giòi ám ảnh trong tâm, gọi là thân kiến. Sắc thủ uẩn khủng khiếp như vậy thì làm sao có thể phá nổi nếu không quán chiếu những phương pháp đã nói ở trên? Ví dụ con chó nghĩ về nó thì hình bóng, dáng vẻ hiện tại là nó, là tự ngã của nó, cái tưởng là hình bóng trong tâm, thành ra để phá được sắc thủ uẩn là cả một công trình khủng khiếp, phá được sắc uẩn hay còn gọi là thân kiến thì người đó sẽ Nhập lưu thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn, trong mười sợi của thập triền thì sợi dây đầu tiên khó công phá nhất là thân kiến, mà phá được sợi này thì chín sợi kia sẽ tự động mở ra không sớm thì muộn, vì thế khó nhất chính là phá được sắc uẩn. Khi phá được thân kiến rồi thì tất cả những thứ bên ngoài không còn ý nghĩa gì nữa, vì những thứ đó nhằm phục vụ cho thân này mà giờ thân này không còn nữa thì những thứ đó cũng chẳng là gì, cho nên công phu quán chiếu nằm ở chỗ phá sắc thủ uẩn, muốn vậy thì phải thâm nhập trí quán bất tịnh. Khi nghĩ về bản thân chỉ thấy đó là một cái đầu lâu, một bộ xương thì mới đem hình ảnh này để đổi lấy hình ảnh đẹp đẽ, da trắng, dáng cao của mình, dùng tưởng để diệt tưởng, cho nên Đức Phật đã nói:

Tu tập cốt tưởng, này các Tỳ-kheo, làm cho sung mãn, được quả lớn, được lợi ích lớn.

Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, đưa đến quả lớn, đưa đến lợi ích lớn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập xả giác chi câu hữu với cốt tưởng liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

Này các Tỳ-kheo, cốt tưởng được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, có quả lớn, có lợi ích lớn. (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (b), VII. Phẩm Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra, I. Bộ Xương, I. Quả Lớn, Lợi Ích Lớn)

Tu tập cốt tưởng là sự quán tưởng về bộ xương vì tu tập những cái này đưa đến ly tham, không còn tham muốn nữa. Có lớp da phủ ngoài mới dám ôm ấp chứ bộ xương thấy ghê làm sao ôm ấp, nâng niu được? Quán chiếu đến vậy mới phá được sắc tưởng, phá được sắc thủ uẩn, thân kiến vì thế đây là tổng cương lĩnh của sự tu tập trong kinh tạng Nikāya.

Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy biết lạc thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy biết khổ thọ vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết thọ ấy vô thường, vị ấy biết không nên tham đắm, vị ấy biết không nên hoan hỷ.

Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm giác với niệm thoát ly (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, I. Tư Lường)

Qua đây chúng ta sẽ thấy sự tu thâm sâu như thế nào? Đương nhiên chúng ta tu không phải là cứng đờ như khúc gỗ, khi có cảm giác vui thì hành giả phải biết cảm giác này là vô thường, lát sau sẽ tan mất vì thế không nên tham đắm cảm giác này và cảm giác cảm thọ ấy với ý niệm thoát ly, không ưa thích, không khoan khoái, say đắm, biết nó là vô thường nên không hoan hỉ, ưa thích mà có ý niệm muốn đi ra khỏi. Các vị cao Tăng, thánh Tăng gặp trường hợp được người ta thương mến, không chỉ ngoài nước mà ngay cả Việt Nam cũng có, một vị thầy được người con gái thương mến, thậm chí thầy này đóng cửa nhập thất mà cô gái này cũng đến khóc lóc, năn nỉ, đòi tự vẫn, mong muốn vị thầy đó đưa bàn tay ra để được nắm lấy thôi. Các vị Chân tu vẫn biết có cảm giác vui sướng nhưng các vị quán nó là vô thường, không đáng để ưa thích, ham muốn mà chỉ muốn thoát ra khỏi nó vì các ngài biết nó là vô thường, khổ, dính vào sẽ bị buộc ràng.

Ngọc Lâm quốc sư bắt buộc phải thành hôn với tiểu thư nhưng trước khi đi Hòa Thượng có dặn dò "Chuyến đi này là vì làm rạng rỡ cho Đạo, quí lắm! quí lắm!". Sau lễ thành hôn, Ngọc Lâm ngẩng đầu nhìn tiểu thư đang ngồi bên cạnh giường: yêu kiều, diễm lệ, tưởng đâu một nàng tiên giáng trần. Bất giác Ngọc Lâm cũng phải ngây ngất cảm thán trong lòng: "Ghê gớm thay nữ sắc!". Ngọc Lâm lấy lại bình tĩnh và lòng nói với lòng: "Tiểu thư, nét mặt như bông hoa phù dung của nàng chẳng qua cũng chỉ là một khối thịt, xương; vẻ yêu kiều, diễm lệ của nàng chỉ là một lợi khí giết người mà thôi." Lúc đó lòng chàng phẳng lặng như mặt biển dưới ánh chiêu dương sau một đêm sóng gió, bão táp. Bầu không khí yên lặng bao trùm gian phòng bên ngoài cũng không còn một tiếng động.

- Tiểu thư, cô thật sung sướng và cũng thật thông minh! Cô biết tìm đến tôi để đưa cô ra khỏi bể khổ.

- Đúng vậy, tiểu thư khẽ gật đầu mong chàng đừng bỏ em, em cảm động vô cùng!

- Vậy có làm theo việc tôi chỉ bảo không?

- Dạ. Xin theo!

- Thế còn điều kiện của tôi?

- Em đã sung sướng nhận rồi!

- Thế thì tốt lắm, vậy bây giờ chúng ta bắt đầu đi niệm hương nhé?

-...? Tiểu thư ngơ ngác nhìn Ngọc Lâm.

- Tôi nói là bây giờ chúng ta đi niệm một tuần hương! Ngọc Lâm nói nhấn mạnh lại một lần nữa.

- Em chả hiểu "niệm hương" là gì cả!

- Đó là một phương pháp tu hành trong các chùa, Ngọc Lâm giải thích.

- Chúng ta lấy một nén hương thắp lên rồi đi vòng quanh, đợi khi nào nén hương ấy cháy hết thì nghỉ. Đó cũng là một cách vận động bổ ích.

Tiểu thư tỏ vẻ khó chịu.

- Tôi mong cô phải tôn trọng lời hứa!

Tiểu thư không biết làm cách nào, bất đắc dĩ phải đứng dậy.

- Tôi đi trước, cô đi sau, phải trông tôi và theo đúng như tôi mà đi.

Sau một thời gian khá lâu, tóc trên đầu nàng xổ ra, rối bù, những bông hoa gài trên tóc cũng lần lượt rơi xuống, tàn tạ, lớp phấn trên má nàng gợn thành ngấn vì những giọt mồ hôi, ngoằn ngoèo như những con giun. Ngọc Lâm biết là nàng không thể đi được nữa, chàng mới bảo nàng dừng lại bên cạnh một tấm gương. Lòng tiểu thư khấp khởi mừng thầm. Nàng đứng sát vào Ngọc Lâm.

- Ấy chớ! Cô hãy đứng thẳng lên!

- Tiểu thư, mời cô hãy đến trước tấm gương xem!

Tiểu thư lắc đầu.

- Cô hãy nhìn lại dung nhan một chút.

- Thôi....

Không soi gương thì thôi, chứ nếu soi tiểu thư cũng phải ngán, cái thân yêu kiều, diễm lệ của nàng lúc này trông như một con ma trơi: đầu bù tóc rối, những vệt phấn loang lổ đầy mặt, mồ hôi nhễ nhãi, thật nàng không tưởng tượng được rằng, đêm tân hôn, trước mặt người chồng, thân hình nàng bỗng trở nên khó coi đến thế. (Truyện cổ Phật giáo, Thoát Vòng Tục Lụy)

Không phải ngài không thích nhưng ngài biết vẻ đẹp đó là vô thường nên ngài có ý niệm muốn thoát ra khỏi nó. Suốt đời ngài không gặp lại tiểu thư, có gì thì viết thư để tránh tiếp duyên xúc cảnh, tiếp xúc sẽ sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp. Tức là tiếp xúc sẽ sanh ra cảm thọ, cảm giác, tiếp xúc sẽ sanh ham muốn, tiếp xúc sẽ sanh nghiệp, thói quen là như thế nên tiếp xúc giống như tiếng sét ái tình, gặp sẽ đem lòng yêu mến, vì nghiệp trong quá khứ của hai người này là như vậy, 500 đời đã từng làm vợ chồng nên chỉ cần nhìn một cái thôi là thích nhau ngay. Khi tiếp xúc những cảm thọ cũ, những thói quen cũ, những cái tưởng, hành, suy nghĩ hiện khởi lại ngay làm mình thích người đó lập tức. Vì vậy phải quán chiếu cảm thọ nếu muốn thoát ra khỏi nó, dù cho đó là cảm thọ sung sướng, ví dụ người ta đi xe đời mới đến chở thầy đi cúng, mình lên xe đó ngồi thấy êm, sung sướng không? Lúc đó mình phải biết cảm giác này vô thường, đừng hoan hỉ cảm giác này mà phải có ý niệm thoát ly, không có muốn dính mắc vào đây, chỉ muốn đi ra. Ngoài ra Đức Phật dạy quán khổ thọ là mũi tên, quán lạc thọ là khổ, quán cảm giác không khổ không vui là vô thường.

Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường. Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)

Phải nhìn vào cảm thọ để quán chiếu, từ đó không bị cảm giác đó ràng buộc, trói cột. Có đến 6 tưởng, không chỉ có sắc mà những hình bóng của âm thanh đó vang trở lại, đã ăn món đó rồi mà khi trở về mùi đó vẫn bay ngang mũi, gọi là hương tưởng. Những suy nghĩ đã qua bây giờ hiện khởi trở lại gọi là pháp tưởng, thọ; tưởng; hành. Những cảm giác, nghĩ tưởng đã có bây giờ gợi trở lại gọi là pháp tưởng. Tất cả suy nghĩ của mình được Đức Phật gom thành 6 loại: Sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư, tất cả suy nghĩ đều nằm trong đó, không đi ra khỏi 6 nhóm đó. Suy nghĩ về sắc, suy nghĩ về âm thanh, suy nghĩ về mùi vị, suy nghĩ về sự đụng chạm, suy nghĩ về những cảm giác, nghĩ tưởng, gọi là 6 tư. Khi đối duyên xúc cảnh có biết bao suy nghĩ, hình sắc bên ngoài, nhận thức rõ biết vận hành làm mình điên đảo trong đó, 6 tư, 6 tưởng, 6 tầm, 6 tứ, 6 căn; 6 trần; 6 thức; 6 thọ; 6 ái; 6 xúc tổng tấn công đánh mình là vô lượng vô biên kiếp không thoát ra nổi, làm rối ren như cuộn chỉ. Nó vận hành hằng ngày hằng giờ mà do vô minh nên mình không biết, không biết cái nào là sắc tưởng, không biết cái nào là thanh tư, vì vậy bước đầu tiên phải học nhận diện các pháp.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.