Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Tám Pháp Đưa Đến Chứng Đắc

2026-03-03 00:54:02
Kinh Nikāya Giảng Giải

TÁM PHÁP ĐƯA ĐẾN CHỨNG ĐẮC

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.An trú tàm quý PAGEREF _Toc112944422 \h 1

II.Vấn biện, an tịnh và giới đức PAGEREF _Toc112944423 \h 5

III.Nghe nhiều Chánh Pháp PAGEREF _Toc112944424 \h 9

IV.Gánh nặng người tu PAGEREF _Toc112944425 \h 11

An trú tàm quý

Hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh “Tuệ” trong Tăng Chi bộ kinh tập III: “Tám nhân duyên làm cho chứng đắc”.

Này các Tỳ kheo, có tám nhân này, có tám duyên này, khiến căn bản Phạm hạnh chưa chứng được có thể chứng được với trí tuệ, nếu chứng được thời đưa đến tăng trưởng, tăng rộng, được tu tập, được viên mãn.

Thế nào là tám? Ở đây, này các Tỳ kheo, Tỳ kheo sống dựa trên bậc Ðạo sư hay bậc đồng phạm hạnh đóng vai trò y chỉ sư, ở đây được an trú tàm quý một cách sắc sảo, được ái mộ, được kính trọng. Này các Tỳ kheo, đây là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất khiến căn bản Phạm hạnh chưa chứng được có thể chứng được với trí tuệ, nếu chứng được thời đưa đến tăng trưởng, tăng rộng, được tu tập, được viên mãn” (Kinh Tăng Chi Bộ - Tập III, Chương Tám Pháp, Phẩm Từ, bài kinh Tuệ).

Bài kinh này dài, Minh Thành chỉ chia sẻ những ý chính.

Thứ nhất, “sống dựa vào bậc Đạo sư”, bậc thầy. Đạo sư là nhằm chỉ cho Đức Phật, Đức Thế Tôn. Trong kinh Nikāya nói bậc đạo sư thường là chỉ về Đức Thế Tôn, chỉ trừ khi nói về đạo sư của ai đó. Còn bây giờ, mình cách xa Đức Phật thì gọi là bậc thầy, mà bậc thầy ở đây nhiều nghĩa thâm sâu lắm, thầy phải là bậc thành tựu Chánh Tri Kiến. Nếu không, người đó sẽ dẫn mình đi sai đường. Mình hoàn toàn không biết, mà người thầy đó nếu không thành tựu Chánh Tri Kiến thì họ cũng không biết là mình đang sai. Vậy nên chỗ này hết sức sâu sắc. Thành tựu Chánh Tri Kiến là từ bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Phật. Tức là từ Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu trở lên. Hướng Dự Lưu, Nhập Lưu là gì? Là thấy được ngũ uẩn và có hướng đi ra khỏi ngũ uẩn. Như vậy “nương tựa vào bậc thầy, bậc đồng phạm hạnh cùng tu đóng vai trò y chỉ sư”, tức là nương tựa với thầy hoặc là những bậc đồng tu, những vị đó là những bậc để mình nương tựa, y chỉ. “Ở đây được nương tựa tàm quý một cách sắc sảo”, là sao? Đối với những vị đó, mình phải có sự an trú tàm quý một cách sắc sảo. Đức Phật dùng chữ không dư, không thiếu. Tại sao an trú tàm quý rồi mà còn phải một cách sắc sảo? Minh Thành mời đại chúng nghe bài “Từ nhục nhã đi đến Thánh quả” trên trang Linh Quy Pháp Ấn. Nếu chỉ một bài tàm quý thôi thì mình học một tháng có thể chưa hết. Ở đây mình chỉ giới thiệu tương đối thôi.

Tàm quý là gì? Chữ “tàm” là hổ thẹn, “quý” là sợ hãi. Khi mình giải thích chữ “tàm quý” mà chỉ giải thích là hổ thẹn là chỉ có phân nửa, không đầy đủ. Phải là hổ thẹn và sợ hãi, nếu không có cả hai, người này không tu được. Có một bài kinh Đức Phật nói nếu không có pháp tàm quý này thì con không ra con, vợ không ra vợ, chồng không ra chồng, cha không ra cha, thế giới này sẽ hỗn loạn. Ngày hôm nay mình được nghe, được chứng kiến nhiều chuyện rất rùng rợn. Sự kiện một ông già 70-80 tuổi xâm hại đứa trẻ 1-2 tuổi thôi. Đó là Đức Thế Tôn nói nếu không có hai pháp tàm quý này che chắn, che chở cho thế giới thì thế giới này sẽ hỗn độn, hỗn loạn. Nhờ sợ xấu hổ, biết xấu hổ mà con người ta mới không làm những chuyện tồi bại. Đó là mình nói ngoài đời. Người tu mà biết xấu hổ thì mới biết mình phạm giới, làm những điều không tương ứng với luật nghi là một sự xấu hổ, nhục nhã. Nếu một người trơ trơ giữa ác và bất thiện pháp thì người này không bao giờ tu tiến được, mãi mãi không có cơ hội. Cho nên, một người còn biết sợ tội, sợ lỗi, sợ hãi đối với ác bất thiện pháp thì mới có khả năng tu tiến, còn một người mà không còn sợ gì nữa hết thì vĩnh viễn không có cơ hội. Ví dụ, bây giờ nói những điều nhỏ, mình thấy trái cây ngon mà không có chủ ở đó, mình thích, mình thèm nên mình lượm bỏ vào đãi rồi bỏ đi. Tuy chỉ là chuyện nhỏ nhưng khi về mình ray rứt, mình không có xin thì chuyện này là phạm giới, là ăn trộm, là có tội, là lấy của không cho. Mình ray rứt, khó chịu, lạy sám hối hoặc là có cơ hội gặp lại người chủ thì mình xin lỗi vì khi không có mặt họ mà mình thích nên mình xin. Sau khi mình lạy xám hối, xin lỗi rồi thì tâm mình nhẹ nhõm ra, đó là người biết tàm quý. Một người làm lỗi xong mà về họ thấy trơ trơ, bình thường, không có gì hết thì người này hết thuốc chữa, chai sạn, không có cơ hội thăng tiến trong pháp và luật của Như Lai. Đó là cái thô ở ngoài, bây giờ mình nói cái tế trong tâm.

Cái tế trong tâm là khi thấy nội tâm có những pháp dục, ái dục sanh khởi. Mình thấy được cái này là xấu hổ, trái ngược với phạm hạnh, thấy đau khổ, nhục nhã. Người này ray rứt, giày xéo, nhức nhối trong tâm can, tha thiết, cần cầu bậc đạo sư, với những bậc y chỉ sư, những bậc giới sư sám hối những tội lỗi thì người này có khả năng khôi phục lại tâm thanh tịnh tu hành. Đó là công năng, tác dụng của tàm quý. Người này cảm thấy sợ hãi khi rơi vào những pháp ác bất thiện, những pháp trái ngược với đời sống phạm hạnh. Hay khi mình sân hận, bực giận mình la lên rồi khi quay trở về phòng mình nhận ra: “Ôi nhục nhã, xấu hổ quá. Tại sao mình tu mà lại có những hành vi như vậy? Người xuất gia mà lại có những hành động thô, ác ngữ, lời nói nặng nề, mình không đáng là người xuất gia, người tu”. Mình thấy như vậy nên ray rứt, xấu hổ, sám hối, sợ hãi với ác nghiệp thì đó là một trong những yếu tố, nhân duyên đưa mình đến thành tựu chứng đắc. Nếu không có được cảm giác đó thì mình không thể nào đi đến sự thành tựu trong tu hành. Chúng ta phải có tàm và quý. Khi mình sai quấy, tội lỗi, cảm thấy xấu hổ, sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp, sợ hãi khi mình phá trai, phạm giới. Mình sẽ sợ hãi, đời sống tiếp theo của mình là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Mình cảm thấy run sợ, sợ hãi, khiếp sợ, mình thấy đây là tội lỗi. Đó là pháp tàm quý. Cái nhục nhã, cái hổ thẹn, cái sợ hãi càng nhiều chừng nào thì người này càng có khả năng đi đến sự thanh tịnh, thành tựu phạm hạnh chừng đó. Mình phải nhớ kĩ, cho nên mới nói là “từ nhục nhã đi đến Thánh quả”. Dầu cho đó là một tội lỗi rất nhỏ nhặt, nhỏ xíu thôi, mình cũng phải lo sợ. Đó là pháp tu tập hết sức quan trọng, căn bản của một người xuất gia hay bất cứ một người tu nào.

Lúc nãy vào phòng giáo thọ tầng dưới, Minh Thành thấy có một bao khẩu trang bằng vải, thường để và đó là cho tất cả các giáo thọ cùng sử dụng. Minh Thành có xin 2-3 cái mà không có ai ở đó. Minh Thành lên hỏi lại thầy phó văn phòng xem coi số khẩu trang đó có phải là cho các giáo thọ dùng hay không. Thầy nói phải, được nên lấy đi. Lúc đó con mới an tâm. Chứ nếu mình không hỏi, lúc mình lấy mình sẽ tự hỏi không biết như vậy có phạm giới, có phải ăn trộm, là lấy của không cho không. Vậy nên mình phải tập thấy sợ hãi, thấy nhục nhã, thấy tội lỗi. Vào mỗi lần nửa tháng sám hối thì mình phải lạy trong sự thấm thía, bày tỏ, thậm chí là lạy trong nước mắt. Những cảm giác đó mới gột rửa được những cấu nhiễm tập khí, những ô trược, lậu hoặc, chứ không lấy gì mà rửa?

Bên trong chúng ta ai nấy cũng đầy tham, sân, si, dục ái, bản ngã, cảm giác đó làm sao rửa? Chính những cảm giác đó giúp tẩy rửa, thanh tẩy, thanh lọc, tẩy sạch thanh tâm của mình. Như ngài Xá-lợi-phất khi còn tại thế, khi đắp y mà chiếu y của Ngài chỉ cần chấm xuống đất thôi là Ngài đã thấy hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã, tàm quý. Đó là một bậc tướng quân của Chánh Pháp, một bậc thánh A-la-hán, vì những lỗi hết sức nhỏ nhặt như vậy mà Ngài đã cảm thấy tàm quý, xấu hổ, có như vậy mới trở thành lậu tận A-la-hán được. Tức là luôn luôn nội soi thân thể, những cảm giác trong thân tâm của mình, những hành động, những ngôn ngữ của mình. Phải kiểm soát, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán, kiểm điểm an trú tàm quý một cách sắc sảo. Nghĩa là sự kiểm tra của các Ngài trong sự tu học hết sức khít khao, chặt chẽ, miên mật, liên tục, tỉ mỉ, nhỏ nhiệm, tinh vi. Cho nên lậu hoặc mới không qua mặt được các Ngài và mới đi đến chỗ lậu tận.

Còn mình tội lỗi đầy đầu mà trơ trơ, bởi vậy nên mới phàm phu hoài. Nhiều khi nói ra còn xem thường, còn có những thái độ, hành động chống đối, kháng cự lại. Điều này hết sức nguy hiểm, đọa vào ba đường ác như chơi, giống như một cái khảy móng tay thôi là rơi xuống địa ngục ngạ quỷ, súc sanh ngay lập tức. Một khi mất thân mạng này là mình không biết mình đi đâu. Chúng ta nhìn thấy trên 600.000 người chết vì dịch bệnh như vậy rồi họ đi đâu? Không ai biết hết. Thành ra phải hết sức cẩn thận đối với thân, miệng, ý, những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong của mình. Chúng sẽ giết mình chết.

“Này các Tỳ kheo, tất cả chúng sanh chết ở trong tư tưởng này”. Chúng ta chết không phải ở ngoài mà ở trong suy nghĩ, suy tưởng sẽ giết mình chết. Chính suy nghĩ sẽ giết mình, chính cảm giác sẽ dìm mình xuống vực sâu nếu mình không kiểm soát ngũ uẩn, thân tâm. Người tu thật sự đúng Chánh Pháp thì người tu đó lúc nào cũng cúi xuống xấu hổ, tại vì nhìn lại trong này mình còn dục, còn tham, còn ái, còn sân si, hở ra chút là bản ngã. Mình nhìn thấy mình nhục, xấu hổ mà người thường an trú trong sự nhục nhã, xấu hổ và cúi thấp mình xuống thì người đó đang hướng tới bậc Thánh. Nhớ kĩ, điều này quan trọng lắm. Mình tưởng Thánh là một ông to lớn, xẹt hào quang tùm lum nhưng không phải. Thánh là một người hết sức khiêm cung, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm nhường, khiêm nhã. Thánh là một người luôn luôn nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm xem coi trong đó có gì. Nếu mà có cấu uế là người này tẩy rửa ngay lập tức, trừ diệt, đoạn tận, làm cho nó tẩy sạch. Đó là bậc Thánh. Chứ không phải là người hất mặt lên, ưỡn ngực lên, ta đây, vênh váo. Càng Chánh Kiến chừng nào, càng Trí Tuệ chừng nào thì người đó càng khiêm cung, hạ mình, nhún nhường. Đó là bậc Đại Trí Huệ. Dầu cho tu bao lâu, tới chức gì không biết mà bản ngã to lớn thì đều ở ngoài cửa chùa thôi. Dầu cho ở trong chùa suốt đời, nhưng dục, tham, ái, sân, si, bản ngã không được nhiếp phục, không được nhìn thấy, không làm cho giảm thiểu, diệt tận thì tất cả những cái tu đó chỉ là hình thức, màu sắc, trong khi sầu bi, khổ não vẫn đầy dẫy khổ đau. Đây là chuẩn mực, là thước đo của sự tu tập Chánh Pháp trong kinh tạng Nikāya. Người nhìn thấy phiền não, nhìn thấy dục, ái, sân, bản ngã càng nhiều thì sức tàm quý của họ càng mạnh. Cho nên gọi là quý lực, tàm lực.

Gia tài của bậc Thánh, Thất Thánh Tài – bảy gia tài của bậc Thánh là: tín, giới, tàm, quý, văn, thí, huệ. Gia tài của bậc Thánh là những điều đó chứ không phải là chùa lớn hay những tài sản vật chất. Trong đó có từ mà sau này mình sẽ học là “tàm lực”, “quý lực”, nghĩa là sức mạnh của người tu. Người càng hổ thẹn nhiều chừng nào thì sức mạnh càng lớn chừng đó. Do hổ thẹn nhiều nên họ kiêng dè đối với những cái tiêu cực, sai quấy. Do họ sợ hãi và sự sợ hãi đó càng mạnh chừng nào thì họ càng ít tội lỗi chừng đó. Đó là mình nói an trú tàm quý một cách sắc sảo. Người như vậy sẽ được các đạo sư và các đồng phạm hạnh “ái mộ, kính trọng”, rõ ràng là như vậy. Một người luôn quay lại thấy lỗi lầm, mình lo sợ, xấu hổ tự thân của mình thì người đó chắc chắn sẽ được mọi người ái kính, kính trọng.

Vấn biện, an tịnh và giới đức

Điều thứ hai là gì?

Vị ấy thường đi đến họ hỏi đi hỏi lại: "Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Ý nghĩa cái này là gì? " Các Tôn giả ấy mở rộng cái gì không được mở rộng, phơi bày những gì không được phơi bày, và đối với những pháp còn đang nghi vấn, họ giải tỏa những nghi vấn.

Đây là nhân thứ hai, duyên thứ hai. Người này sau khi an trú tàm quý rồi thì người này thường hỏi đi hỏi lại các bậc thầy, các bậc thiện tri thức, các bậc đạo sư từng ý nghĩa trong sự tu tập. Ví dụ hỏi rằng: nóng giận của con như vậy mà sao con nhiếp phục hoài không được, con hỏi để chỉ cách cho con nhiếp phục. Còn cái si của con, con ngồi thiền nghe pháp con cứ buồn ngủ hoài, con trị không được nên hỏi. Hỏi cái ái, dục của con sao nặng nề quá, muốn lìa xa nó nhưng không được. Phải hỏi, phải thưa, hỏi tới hỏi lui, đi qua đi lại, trình bày hoài để họ chỉ mình. Những bậc này “mở rộng cái gì không được mở rộng, phơi bày những gì không được phơi bày”. Đối với pháp còn nghi vấn thì họ sẽ giải tỏa những nghi vấn đó. Như vậy cái thứ hai là hỏi đi hỏi lại, hỏi tới hỏi lui để tu. Trong Thiền Lâm Bảo Huấn có câu: “Học phi vấn biện, vô do phát minh” – Học mà không hỏi, không biện luận để cho nó rõ ràng ra thì không thể nào sáng tỏ vấn đề được. Cho nên học phải hỏi, gọi là học hỏi. Người ta gọi là học vấn, tức là học phải hỏi. Tại sao mình không hỏi? Tại vì mình không để tâm, không để ý nhiều nên không thắc mắc, nghi vấn mà hỏi. Học phải hỏi, đó là yếu tố thứ hai đưa đến thành tựu.

Pháp thứ ba:

Vị ấy sau khi nghe pháp, cố gắng thành tựu hai sự an tịnh: Thân an tịnh và tâm an tịnh.

Cái này hết sức quan trọng. Đầu giờ chúng ta đã thực tập thân an tịnh, tâm an tịnh đó. Mỗi buổi học của chúng ta đều có thực tập. Minh Thành không mong muốn lớp học chúng ta chỉ là vào đây để lấy kiến thức mà những kiến thức đó không dính dáng gì đến đời sống tu tập của mình. Đó là cái học của phàm phu, cái học thế gian. Cái học là phải thực dụng ngay tại chỗ ngồi của mình, học và hành diễn ra song song cùng một lúc. Đó là lí do tại sao trước khi vào học chúng ta tập lắng dịu, an tịnh, trầm lặng, thực tập yên lặng của bậc Thánh.

Chúng ta phải thực tập thân an tịnh. Thân chúng ta luôn luôn dao động, chúng ta bị một sợi dây trói cột hết sức chặt mà chúng ta không biết, đó là sợi dây Trạo Cử. Lúc nào nó cũng lăng xăng, miệng lúc nào cũng phải nói, không nói chịu không nổi. Thân lúc nào cũng muốn dao động, làm này làm kia, tâm lúc nào cũng nghĩ, suy, tưởng. Đó là một trong những kiết sử hết sức nặng nề mà mình không biết. Mình tưởng là bình thường nhưng trong pháp và luật của Như Lai nó là một sự đáng hổ thẹn, nhục nhã. Người tu là gì? Thân an tịnh, tâm an tịnh, các căn của mình phải tịch, tịnh. Dáng đi của người tu khác, cách nói chuyện của người tu cũng khác, cử chỉ, hành động, cái quay người của người tu cũng phải khác. Đó là sự thực tập sâu sắc trong sự an tịnh các dòng cảm thọ, cảm xúc. Chứ không phải muốn nói là nói, xăng tay áo lên là chỉ trỏ. Hồi nãy trong phòng giáo thọ con mới nhắc nhở mấy sư cô. Có các bậc giáo thọ đang ngồi đó mà lăng xăng, lộn xộn, ồn ào, không thấy ai trước mặt mình hết, không thực hành pháp cung kính, không biết là sợi dây trạo cử đang trói cột, xâm chiếm, hành hạ mình. Ở trong vô minh nên không biết. Đó là sự đáng thương xót cho chúng ta, chúng ta có ai dạy, ai chỉ đâu. Nhìn hấy huynh đệ mình vậy là bình thường, mình cũng giống vậy là mình chết. Phải tha thiết cầu học Thánh Pháp. Mình còn rất nhiều điều phải học, rất nhiều điều phải tu chỉnh, thực tập.

Con người của mình từ đỉnh đầu cho đến gót chân toàn là lậu hoặc, cấu nhiễm, đầy dẫy tham, ái, dục, sân si, vô minh và bản ngã, đụng tới là nó bung càng ra, trời gầm không nhả, không phải vừa đâu, dữ dằn lắm. Đừng nhìn hình tướng bên ngoài như vậy mà cho là hiền, trong đó là yêu tinh, rắn độc. Giống y như trong Tây Du Kí, tức là bên ngoài nhìn như vậy nhưng bên trong là bạch tốt tinh, là ma quái. Bên trong của chúng ta rất là khủng khiếp. Trong đó là một bãi rác hôi thối vô lượng kiếp tích tụ. Nó sẵn sàng bung ra, phóng ra những nộc độc bất kể là ai, miễn là động đến xúc cảm của nó là nó bung ra, phình ra, phóng ra khủng khiếp lắm. Khi chúng ta thành tựu trí huệ rồi sẽ thấy trong nội tâm của mình ghê gớm, không phải thường, nó đầy dẫy lậu hoặc, tham đắm và chấp thủ ghê gớm lắm. Chỉ cần một tiếng gọi trùng tên mình thôi là mình sân si liền, bỏ ăn bỏ ngủ, tới chừng hỏi ra thì mới biết trùng tên. Ghê gớm lắm, cái chấp thủ trong ngũ uẩn này siêu khủng lắm. Siêu to, khổng lồ là bản ngã này nè. Nếu mình thấy được thì sẽ sốc toàn tập. Tâm của mình không đơn giản giống như mình nghĩ.

Giống như Đường Tăng thấy: “Ơ tội nghiệp thằng nhỏ, nó bị treo lên cái cây kêu cứu” nhưng Tôn Ngộ Không thấy rằng: “Đừng, sư phụ, nó là yêu quái”. Đường Tăng bảo: “Yêu quái đâu mà yêu quái, thằng bé dễ thương, tội nghiệp”. Đến đó rồi biết mặt, bụng nó toàn lửa tam muội. Vậy mà Đường Tăng đâu có thấy, con mắt thường không nhìn thấy. Cho nên tuệ nhãn mới thấy được tâm lậu hoặc. Con mắt thịt là không thấy, nhục nhã không thấy. Nếu không thành tựu tuệ nhãn, chưa mở được con mắt pháp thì mình không thể thấy. Mình sẽ thấy: “Ôi chao, thằng nhỏ dễ thương, tội nghiệp” nhưng trong bụng nó là lửa, phun ra là đốt hết tất cả, khủng khiếp như vậy. Trong bụng mình là sự sân si khủng khiếp. Hồng Hài Nhi nằm trong người của mình chứ không phải trong Tây Du Kí đâu. Bạch Cốt Tinh – dục, ái nằm trong đây. Ngưu Ma Vương, con trâu lì – si nằm trong này. Sân ví như Hồng Hài Nhi, còn tham ví như con heo. Những cái biểu trưng đó nằm trong đây hết trơn. Phải là mắt lửa tròng vàng của Tôn Ngộ Không mới nhìn ra, mắt bình thường nhìn không được.

Có nhiều cô lại bảo: “Sư phụ ơi, con hiền lành, hết tham rồi, con đâu có tham gì đâu”. “Thưa thầy bây giờ con hết bản ngã rồi, con sợ gì nữa?”. Con thấy bản ngã của họ còn lớn hơn núi Tu Di mà bảo không còn bản ngã. Tại sao? Mù. Tất cả chúng ta đều bị mù nên không thấy được. Nếu mình không thường trực quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp, mình không nhận diện ngũ uẩn liên tục thì mình không phát giác, phát hiện ra được. Chữ “giác ngộ” là phát giác, phát hiện ra những lậu hoặc, cấu nhiễm trong thân tâm. Chữ giác ngộ của đạo Phật không phải là giác ngộ ở đâu xa, mà là giác ngộ tham, sân, si, vô minh, bản ngã đang ùn ứ, tồn kho khủng khiếp bên trong, nó đang vận hành, hoạt động bên trong. Đó là giác ngộ của đạo Phật. Bây giờ mình không an tịnh thì mình không thể nào nhìn vào bên trong. Cho nên đại chúng vào ngồi yên lặng như vậy con thấy hạnh phúc lắm. Vì sao? Vì miệng mình cứ bép xép, thân mình cứ dao động, tâm mình cứ lăng xăng nghĩ hoài thì làm sao mình nhìn thấy được bên trong có cái gì. An tịnh là bước ban đầu rất quan trọng, nhưng an tịnh thôi chưa đủ mà phải nhìn vào trong. An tịnh rồi Giới Đức, an tịnh chỉ mới phá dao động, trạo cử thôi.

Vị ấy có giới đức, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp.

Đây là nhân duyên thứ tư, làm cho giới đức, giới hạnh, đức độ, đạo hạnh, đời sống của mình thanh tịnh. Với một sự an tịnh, giới đức như vậy:

Nghe nhiều Chánh Pháp

Vị ấy nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe; những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh; những pháp ấy, vị ất đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thể nhập chánh kiến. Này các Tỳ kheo, đây là nhân thứ năm, duyên thứ năm để đưa đến chứng đắc, viên mãn.

Phải nghe nhiều về kinh tạng Nikāya, phải nghe nhiều về ngũ uẩn, phải nghe thật nhiều về lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya. phải nhớ nghe thật là nhiều, thưa hỏi thật nhiều, chất chứa những điều đã nghe, nắm giữ, ghi nhớ những điều đã nghe, ghi nhớ và đọc tụng nhiều lần những điều đã nghe chứ không phải nghe xong rồi thôi. “Chuyên ý quán sát, khéo thể nhập Chánh kiến”. Cái này sâu sắc lắm. Không những nghe, không những nhớ, không những nắm giữ, không những đọc tới đọc lui nhiều lần mà còn phải chuyên ý quán sát.

Ví dụ, chúng ta đã học cách nhận diện ngũ uẩn, về nhà chúng ta có nhận diện không hay học xong là thôi. Về nhà ngồi thiền phải xem cảm thọ, xem cái tưởng có đúng như Đức Phật nói không, coi cái tưởng nó có cái gì. Trong cái hành, trong suy nghĩ của mình mỗi khi giận lên, tham lên, bản ngã sanh khỏi mình đọc liền, nhìn kĩ liền: “Đây, nó đây”, rồi đập đầu nó, xử lí nó, giải quyết nó, tẩy sạch nó thì như vậy mới thành công, khéo thể nhập. Chứ còn nghe hiểu xong rồi bỏ qua, trả lại thầy rồi tới chừng làm bài thi lấy ra kiếm, hỏi, chép, tìm đoạn ghi âm,... Học đó là học của phàm phu, của thế gian. Còn học này là đưa đến bậc Thánh, Thánh trí tuệ, đưa đến thể nhập tri kiến của bậc Thánh, sự thấy biết siêu việt phàm phu. Đây đâu phải là sự học bình thường. Phải để tâm thật nhiều trong sự tu học, dầu cho có chết cũng kệ nó, phải biết hy sinh, xả phủ cầu bần, xả thân cầu đạo, xả mạng này để chứng đắc giáo pháp, phải tu bằng tinh thần dũng sĩ, chiến sĩ, vô thượng sĩ. Chứ không phải tu học theo kiểu có giờ, có giấc, tu cho có hình, có thức, không phải. Uổng lắm, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết trơn hết trọi, cuối cùng đời cũng không được hưởng, mà đạo cũng không được dự phần, “lưỡng đồ câu thất”, cả hai đều mất. Thà là mình ra đời, mình hưởng ngũ dục, còn nếu trong đạo thì phải thành tựu Thánh trí tuệ, tối thiểu Chánh tri kiến. Nếu không thì đời không ra đời, đạo không ra đạo, có hưởng được gì đâu, đầu trọc này mà hưởng được gì? Có hưởng được gì đâu.

Cần phải làm, nên làm

Làm cùng tận khả năng

Xuất gia sống phóng đãng,

Chỉ tăng loạn bụi đời.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Địa Ngục)

Phải nghe thật nhiều giáo pháp, “Vị ấy tinh cần tinh tấn, để đoạn tận các pháp bất thiện, đề làm sanh khởi các pháp thiện, nỗ lực kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các pháp thiện”. Đó là nhân duyên thứ sáu, hết sức quan trọng.

Gánh nặng người tu

Rất nhiều người nghĩ đi tu là khỏe, là nhẹ, là ngon rồi, khỏi cần lo gì nữa hết, trật lất. Ngay cả người xuất gia còn quan niệm như vậy là trật, không đúng. Tu là gánh nặng đối với thiện pháp. Mình bỏ gánh nặng của dục, ái, danh lợi, tài sắc để vào đây thì phải gánh cho được một gánh là thiện pháp. Tín, tấn, niệm, định, tuệ, văn, thí, tàm, quý. Mình phải gánh được một gánh hết sức nặng của thiện pháp. Trong kinh Nikāya Đức Phật nói “Bứt tóc, đấm ngực, nước mắt ràn rụa đầy mặt” là đối với người đời, còn người tu không còn tóc nên không có bứt, cho nên gọi là nước mắt đầy mặt, đau đớn, khổ sở, quằn quại. Tại vì nhẫn dục, li sắc, phải xoay lại nội tâm của mình để chiến đấu với những cái dục, sân, si, bản ngã thì đâu có chuyện dễ ăn, đâu có chuyện dễ dàng. Chỉ có người tu lơ tơ mơ, tu hình thức, tu cho có thì họ thấy khỏe chứ người chân tu không khỏe.

Người chân tu là cả một sự chiến đấu suốt cuộc đời. Và mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây là trên trận tuyến, là chiến đấu với những dục, tham, ái, bản ngã, những cảm giác, nghĩ tưởng của mình trong nội tâm. Đó là người chân tu trong Thánh Pháp. Mình có thấy được suy nghĩ của mình không? Những suy nghĩ tham của mình mà mình không lo nhìn, chỉ lo nhìn bên ngoài, đi theo nó luôn mà không thấy. Nhưng người quay vào nhìn mình thì người ta thấy. Tại sao mình tu mà mình lại nghĩ như vậy? Tại sao đi tu mà mình muốn chiếc xe đẹp, thích người đẹp, thích áo đẹp, còn tham, còn ái, còn dục. Đó chỉ là những cái nhỏ, trong tâm này còn phải chiến đấu, phải kiên trì, nỗ lực, tinh cần, tinh tấn. Vậy thì tu như thế là khỏe hay là mệt?

Tu phải rất dụng công. Một người tu thật sự không dễ dàng chút nào, còn khó hơn chiến sĩ ngoài sa trường, tại vì giặc bên ngoài thì dễ thấy, giặc bên trong thì thật khó khăn để phát hiện. Giặc trong tâm êm ái, dễ chịu lắm, mình nhận nó là bạn chứ không biết là giặc. Những cái dục, ái, tham, sự vuốt ve bản ngã, những suy nghĩ mình khoái là mình nhập cuộc liền. Mình đâu biết nó là kẻ thù của mình. Nó giết mình trong vô lượng vô biên kiếp, mình làm đầy tớ, nô lệ phục dịch cho nó mà mình không biết. Nó nói trong đó, rù quến, thỏ thẻ, thủ thỉ, thì thầm, thở than lôi kéo rủ mình đi vào trong vực sâu, trong hầm lửa. Hình thức là người tu nhưng cái tâm còn tệ hơn người đời. Đó là sự nhục nhã, đau khổ cho tự thân, đau khổ cho cha mẹ. Thật đau đớn cho một đời tu như vậy. Đau đớn, cay đắng! Cha mẹ ở nhà mong ngóng, tựa cửa trông con, bệnh mà không dám cho con hay để con tu. Cha ở nhà thiếu nợ, đi mượn tiền, nói giấu mình, gửi cho mình đi ăn học. Bao nhiêu gười thân của mình trông đợi rằng tôi có đứa con đứa cháu đi tu, sau này nó độ tôi nhưng không ngờ mình đi tu là đầy dẫy tội lỗi, tham dục càng phát triển quảng đại hơn lúc chưa đi tu, bản ngã còn to lớn hơn lúc chưa cạo đầu. Đây là một sự nhục nhã, ô nhục cho dòng tộc. Mình phụ cha mẹ, tất cả thân quyến của mình, nếu họ biết được những tham, sân, si uế nhiễm trong tâm của mình thì sẽ như thế nào? Phải xét nét, thấy xấu hổ, tội lỗi, sợ hãi và phải tinh cần, tinh tấn, nỗ lực để cứu mình, thương mình và thương những người thân của mình.

Người tu chúng ta rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là chỉ trong tích tắc, nhanh hơn người bình thường. Chúng ta thử nghĩ đi, đức hạnh mình bao nhiêu, mình có tăng thượng giới định tuệ chưa hay mình ngồi đó rồi người ta đáng ông nội, bà nội mình, họ không dám ăn, không dám mặc, quỳ lạy dâng bao thơ cho mình. Người ta quỳ ở dưới lạy, tóc bạc trên đầu mà quỳ xuống lạy mình như vậy. Nếu không có giới hạnh, không có thiền định, không có trí huệ thì mình nhận nổi những cái đó không? Những cái đó là gông cùm, những thức ăn dâng lên cho mình sau này sẽ biến thành đầm sôi sắt đỏ, những cung kính đảnh lễ cúng dường sau này mình sẽ muôn kiếp ở trong địa ngục, súc sanh. Phải lo sợ, hết sức lo sợ trong sự tu tập, sợ hãi, mỗi ngày phải quán chiếu. Không cho phép bản thân sống một đời sống vất vơ vất vưởng, ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng. Sống trong một cảm giác bình an không biết lo lắng, không biết sợ hãi, không biết nỗ lực, tinh tấn, nhìn lại toàn bộ nội tâm là đầy dẫy dục, tham, ái, sân, si, bãn ngã. Đau khổ lắm, cay đắng lắm! Tội lỗi là một đời tu như vậy! Bây giờ được mấy người nói cho chúng ta?

Minh Thành nói bằng cả trái tim của mình. Con coi các cô ở đây còn hơn anh em ruột. Anh em ruột ở nhà con đâu có nói như vậy, họ đâu có tu. Con muốn đem tất cả những gì con tu học được để cho các cô có lợi ích dầu gặp con bữa nay là bữa cuối cùng. Biết đâu một hồi con ra rồi con nhiễm dịch hoặc bị tai nạn giao thông hay lên tăng xông, đủ thứ chuyện vô thường, đừng cười, đó là sự thật. Không ai tin lát nữa là mình chết, không ai tin hết, 500-600 ngàn người chết đó người ta có tin người ta chết không, có tin người ta bị nhiễm dịch không? Họ nghĩ rằng ai bị chứ họ không bị nhưng rồi cuối cùng họ bị. Phải tha thiết tu học. Con nói bằng tất cả trái tim đối với các cô. Các cô ngồi đây là người thân thương nhất của con, chúng ta cùng một dòng họ Thích. Chúng ta có bổn phận thương nhau, cùng nhau thức tỉnh để tu, đó mới là thực sự thương bằng trí huệ. Còn thương bằng tham ái chỉ càng thêm trói cột, làm cho chúng ta sầu, bi, ưu, não. Phải phân biệt cho rõ giữa “ái” và “từ” là khác nhau.

Vì phần tinh cần, tinh tấn sâu sắc quá nên Minh Thành sẽ chia sẻ nhiều một chút. Minh Thành chia sẻ mà muốn rưng rưng nước mắt. Dầu biết có người hiểu lầm con nhưng mà không sao hết, con vẫn thương. Vì tất cả chúng ta ngồi đây vì vô minh, vì tham ái đối với ngũ uẩn nên chúng ta mới mang thân xác này. Ở ngoài mặt mình vậy thôi chứ trong lòng mình đau khổ lắm. Khi chúng ta đối diện với chính mình, mình có những lỗi lầm, có những sai quấy làm mình ray rứt lắm. Mình không muốn nhưng vì cái tập khí, thói quen, cái nghiệp của mình nên bị lún vào trong, muốn thoát ra mà thoát không được. Chúng ta cũng đau khổ, ray rứt nhưng chúng ta không gặp được những bậc Chánh Kiến chỉ cho mình phương pháp. Con là người may mắn được gặp Thánh nhân, được gặp bậc thành tựu trí huệ thật sự của giáo pháp hướng dẫn cho con. Cho nên bằng tất cả tấm lòng con chia sẻ lại cho các cô, nếu ai có tâm thì sẽ nhận được.

Hiện tại Chánh Pháp của chúng ta đã mai một hơn 2.000 năm rồi. Những lời này thật sự khó có người nói, ít được nghe. Chúng ta tu học đều đều trên hình thức như vậy, chúng ta thấy hài lòng mà không biết rằng mình đang nuôi dưỡng cho những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã. Chúng ta đều là nạn nhân hết, con trước kia cũng vậy. Con cũng tưởng mình tu hay, tu giỏi lắm, cho đến khi con nhận được pháp này, nhìn ra ngũ uẩn rồi thì con nhục nhã vô cùng. Một bản ngã to lớn, một cái tôi rất xấu hổ. Nhìn những người tu, Tăng, Ni, con thấy thương vô cùng, thương bằng một tình thương của lòng từ. Chúng ta ngồi đây không có người nào là ý chí thấp kém, đều là những người có tâm hồn cao thượng, cao quý. Mong rằng tất cả chúng ta giữ gìn cái cao đẹp đó, cố gắng thực hành. Chúng ta sẽ lần lần bước lên, đạt được những điều chúng ta muốn đạt, thành tựu.

Điều thứ bảy đưa đến chứng đắc viên mãn là:

Vị ấy đi đến chư Tăng, không là người nói nhiều, không nói chuyện phù phiếm, tự mình nói pháp hay mời người khác nói, không khinh thường sự im lặng của bậc Thánh.

Điều thứ tám đưa đến chứng đắc viên mãn là:

Vị ấy sống tùy quán sanh diệt trong năm thủ uẩn: "Đây là sắc, đây là sắc tập khởi; đây là sắc chấm dứt; Đây là thọ, đây là thọ tập khởi; đây là thọ chấm dứt; đây là tưởng … đây là hành … Đây là thức, đây là thức tập khởi; đây là thức chấm dứt".

./.