Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KInh Chánh Tri Kiến 3 - Nhổ Tận Gốc Kiến Chấp Tôi là

2026-03-03 00:54:02
Kinh Nikāya Giảng Giải

NHỔ TẬN GỐC KIẾN CHẤP “TÔI LÀ”

KINH CHÁNH TRI KIẾN 3

Thích Minh Thành

Chúng ta đã học một khía cạnh về chánh tri kiến, hôm nay chúng ta sẽ bước qua một phương diện mới. Trong bài kinh này ngài Xá-lợi-phất tóm thâu hết tất cả khía cạnh, phương diện, góc độ của tất cả các pháp về chánh tri kiến trong Thánh Giáo của Đức Như Lai.

"Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Những từ ngữ trong đoạn này rất sâu sắc. Đây là những điểm cốt lõi trong sự tu học của chúng ta, những từ ngữ, những cái pháp gốc rễ trong sự hành trì, tu tập cũng như pháp học, pháp hành. Chúng ta phải nắm thật vững về văn, về nghĩa, về pháp trong đó. Thứ nhất, ngài Xá-lợi-phất nói rằng vị Thánh đệ tử khi biết bằng trí tuệ cái nào là bất thiện, biết bằng trí tuệ gốc rễ của bất thiện, biết bằng trí tuệ cái nào là thiện, biết bằng trí tuệ gốc rễ của thiện, "khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên", những từ này là khẩu quyết, là định lý, là câu sanh phiền não, tức là khi sanh ra nó đã có mặt chung với mình, đó là những gốc rễ, nguyên nhân làm cho mình sầu bi khổ ưu não.

Bình thường khi học chỉ có tham sân si nhưng ở lại đây có chữ "tham tùy miên", nghĩa là cái tham này đi theo chúng ta một cách miên man không bao giờ rời xa mình. Nếu không giản trạch, phân minh chánh kiến cái nào là thiện, cái nào là bất thiện thì mình sẽ tưởng cái đó là thiện nhưng có tham tùy miên trong đó, cho nên cái đó không phải là cái thiện thật sự của Chánh pháp. Hình thức bên ngoài là thiện nhưng sâu bên trong lại chứa đựng ba cái gốc rễ của bất thiện là tham sân si, vì thế cái đó không được xem là thiện pháp trong diệu pháp này.

Cho nên có những việc nhìn bên ngoài là tốt nhưng thật chất lại không tốt, ví dụ như từ thiện nhưng lại sanh ra phiền não, cự cãi, thưa kiện nhau, từ thiện nhưng có danh lợi trong đó, do không tuệ tri thiện và căn bản của thiện, không thành tựu tri kiến chánh trực, không thấy biết đúng thế nào thật sự là thiện và thế nào thật sự là bất thiện, cho nên cái thiện đó nhìn bề ngoài là thiện nhưng gốc rễ bên trong là bất thiện vì có tham sân si tùy miên và kiến mạn vô minh tùy miên. Làm việc từ thiện để tăng trưởng cái tôi, để đánh bóng tên tuổi, để mọi người biết mình tốt thì cái đó là kiến mạn tùy miên "Tôi là", đó là căn bản của bất thiện.

Mình phải biết bằng trí tuệ chứ không thể đánh giá ở bề ngoài, đánh giá bằng hình thức, biểu hiện trên dáng vẻ, chính vì vậy chúng ta mới thấy được chữ "tuệ tri", chính là biết bằng trí tuệ như thế nào mới gọi là thiện lành và biết bằng trí tuệ như thế nào mới là gốc rễ của thiện lành. Thiện lành là từ bỏ mười điều ác nhưng cái gốc của thiện lành là không tham, không sân, không si, không tà kiến, cái đó mới là gốc rễ. Tại sao lại vậy? Vì cái tham này chỗ nào cũng đi theo mình, bất cứ khi nào mình làm gì, nói gì mà không nhận diện năm uẩn, không thấy được thân tâm, không quán thọ trên các cảm thọ, không quán thân trên thân, không quán tâm trên tâm, không quán pháp trên pháp thì cái tham tùy miên này hoạt động, vận hành, xâm chiếm, áp đảo chúng ta và trong cảm giác lạc thọ có tham tùy miên trú ẩn.

"Nếu cảm giác lạc thọ,

Không tuệ tri cảm thọ,

Đây gọi tham tùy miên,

Không thấy rõ xuất ly".

(Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ. Phần Một - Phẩm Có Kệ, III. Đoạn Tận)

Hễ có cảm giác dễ chịu, khoan khoái, thích thú, vui sướng là có tham tùy miên. Mình chạy chiếc xe đời mới sẽ có ngay lạc thọ, chạy nhanh thì bất thiện pháp sanh ra, là tai nạn, chết chóc, tham tùy miên có mặt trong lạc thọ đó nhưng mình không thấy điều này mà chỉ thấy 'đây là xe tôi', 'tôi đang chạy xe tôi, có gì đâu mà nói tôi tham', như vậy là có dục tham ái trong đó. Có một sự thúc giục bên trong nên lên xe thể hiện để mọi người biết mình có xe mới còn chạy bình thường không ai biết, cho nên bên trong là một cảm giác thúc giục là dục, có cảm giác thích thú là ái, muốn chạy nhanh hơn nữa là tham.

Vì thế một bậc thành tựu chánh tri kiến là bậc đã đoạn trừ tất cả tham tùy miên, trong cái ăn cũng có dục tham ái. Tuy là chúng ta chưa làm được nhưng chúng ta phải thấy biết, phải hiểu để biết chúng ta đang đứng ở đâu, nhiều khi mình tưởng là mình tu giỏi nhưng thật ra vẫn chưa có gì hết để mình có sự tăng thượng, hướng thượng, phát triển đối với đức hạnh, thiền định, trí tuệ, đối với thánh giới, thánh định, thánh tuệ và thánh giải thoát.

Trong cái ăn, trong cái ngủ, trong việc chạy xe, trong cái đi, nói chuyện… đều có dục tham ái, chỗ nào cũng có dục tham ái nên mới gọi là tham tùy miên, nhưng vì không có sự nhận diện năm uẩn, không nhìn thấy các cảm giác thúc giục vận hành như thế nào, không thấy những cái tưởng, hình bóng, suy nghĩ nên không thành tựu trí về năm uẩn, không thành tựu trí về cảm thọ, từ đây dẫn đến không thành tựu tuệ tri về cái nào là thiện, cái nào là bất thiện, cái nào là căn bản thiện và thế nào là căn bản bất thiện, cho nên mình sống rất an ổn, nhàn hạ mà không biết rằng mình chưa thành tựu diệu pháp, chưa thành tựu được trí tuệ thấy biết về thân tâm một cách chính xác và sâu sắc.

Ví dụ đến giờ nghỉ giải lao mà thầy giáo thọ không dừng lại, vẫn nói tiếp tục thì mình thấy khó chịu nên sân tùy miên xuất hiện, nó đã ở sẵn trong người rồi nên chỉ cần đúng duyên là nó sẽ bộc phát ra ngoài. Nhiều người cứ nói không thấy tham sân si gì cả, giây phút này chỉ thấy thảnh thơi, an lạc là do không thành tựu chánh kiến. Giả sử thức sáng đêm để lên Cổng Trời săn mây buổi sớm bình minh, Mặt Trời lên mây bay bồng bềnh rất đẹp mình đang chụp hình mà có người đến đuổi đi thì lúc này còn thấy an lạc nữa không? Vì sân tùy miên đã ở sẵn trong người rồi, tiếp duyên xúc cảnh là tự động nó sinh sôi.

Hai cái tham tùy miên và sân tùy miên lúc nào cũng đi theo mình là do kiến mạn tùy miên "tôi là", sở dĩ mình không đoạn trừ được tham tùy miên, mình không tẩy sạch được sân tùy miên là tại vì mình chưa nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "tôi là". Kiến mạn này chính là thân kiến, là sự kiêu mạn, thân kiến là một cái thấy, cái suy nghĩ, nhận thức, hình bóng "tôi đây". Tại sao mình lại bực bội, sân hận khi không được chụp hình săn mây? Vì 'tôi lên trước chiếm chỗ vậy mà lại giành chỗ, không cho tôi chụp', đó là thể hiện kiến mạn "tôi là".

Cái suy nghĩ "tôi là" luôn luôn ám ảnh trong tâm, tại sao cảm giác thúc giục cứ thúc chạy cho nhanh, có xe đời mới vì muốn thể hiện cái tôi. Trong tâm mình có một hình bóng của tự ngã, ví dụ mình nghĩ trưa nay về đi cúng Trai Tăng hoặc là mình đi làm công việc gì đó thì hình bóng của mình mờ mờ ảo ảo trong tâm hiện ra một hình bóng về tự thân của mình thì đó là thân kiến, là một sự ảo tưởng về tự ngã, ảo tưởng về một cái tôi, đó là nằm trong tưởng uẩn. Hoặc chúng ta có suy nghĩ tôi sẽ làm cái này, tôi sẽ làm cái kia, tôi sẽ trở thành như vậy thì suy nghĩ đó là hành uẩn, cho nên bản ngã ở ngay trong năm uẩn. Lúc nào cũng có suy nghĩ tôi thế này, tôi thế nọ, xe của tôi, áo của tôi, giày của tôi, cái đãi của tôi, tiền của tôi, cái phòng của tôi, ngôi chùa của tôi… cái gì cũng của tôi, đó là thân kiến, những suy nghĩ liên hệ đến tôi, bất cứ lúc nào cũng thấy "tôi", tức là cái chấp ngã này đã trở thành thâm căn cố đế trong chúng ta, đi vào thịt, xuyên qua xương vào trong tủy chúng ta, bậc Thánh giả Tu-đà-hoàn là bậc phá vỡ thân kiến này mới Nhập Lưu.

Những cảm giác "của tôi" có biểu hiện ưỡn ngực lên, hất mặt lên, kiêu căng, kiêu ngạo, ta đây, hống hách, mình cho rằng cảm giác này là tôi, là của tôi. Mình cho những hình bóng ẩn hiện đó là tôi, là của tôi. Mình cũng cho những suy nghĩ đó là tôi, là của tôi chứ mình không thấy đó là thọ; tưởng; hành; thức, thân thể mấy chục kí lô này cũng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, không cần đụng vào thân thể này mà chỉ cần nhìn đểu là sẽ bị đâm chết tại chỗ, đã có không biết bao nhiêu vụ án xảy ra chỉ vì cái nhìn bị gọi là đểu này, điều này thể hiện sự chấp ngã đã lên đến đỉnh điểm cùng cực, một ánh nhìn thôi cũng có thể giết người, mời uống rượu mà không uống là đâm chết ngay bàn nhậu vì không nghe lời mời, tức là bản ngã này là kẻ giết người, bản ngã này làm cho chúng sanh sầu bi ưu não, đầy rẫy nước mắt và máu, chỉ toàn là sự khẩu tranh, cạnh tranh, chiến tranh bùng nổ trên toàn thế giới cũng chỉ vì cái tôi, cái chấp ngã, nó là thứ ác độc nhất trên đời và nó ở ngay trong người mình mà mình không thấy không biết nên mới gọi là vô minh, nhưng vô minh mà cứ tưởng là thông minh nên mới gọi là đại vô minh.

Vô minh là không thấy được năm uẩn, không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức mà chỉ thấy một đại uẩn của thân kiến, ngã kiến, chấp thủ, cho rằng nguyên khối tưởng chỉ là một cái nhưng không ngờ thân thể này là do năm uẩn kết hợp lại cho nên phải chiếu kiến năm uẩn, soi rọi, dò xét. Quán sát sắc này là tứ đại, chúng ta không biết sắc này do tứ đại tạo thành mà nhìn vào sắc chất chỉ thấy đó là tôi nên chúng ta vô minh đối với sắc. Có ba loại cảm giác, tất cả cảm giác dù là dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu đều là pháp duyên sanh, do tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, nó là pháp vô thường, là pháp biến hoại, hủy hoại, tan nát, hoại diệt nhưng chúng ta lại nhận cảm giác này là tôi, 'tôi đang sướng', 'tôi đang khổ', 'tôi thấy bình thường', có một cái tôi trong đó, trong năm uẩn này cái nào mình cũng chấp là mình. Hình bóng trong tâm hiện ra thì hình bóng nào mình cũng nói đó là mình, có tổng cộng sáu tưởng: Sắc tưởng; thanh tưởng; hương tưởng; vị tưởng; xúc tưởng; pháp tưởng.

Tất cả những hình bóng trong tâm được Đức Phật phân thành sáu loại và không đi ra ngoài sáu loại này, những hình bóng về sắc, những hình bóng về âm thanh tức là mình thấy người đó hoặc món đồ đó rồi sau này không thấy nữa nhưng hình bóng đó lại hiện ra trong tâm gọi là sắc tưởng, hình bóng của sắc chất, sắc pháp đó lưu lại trong tâm ám ảnh mình, cho nên Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu bị sắc ám ảnh, làm cho người này sầu bi khổ ưu não.

"Có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy bị ám ảnh: 'Sắc là ta, sắc là của ta'. Do bị ám ảnh: 'Sắc là ta, sắc là của ta'. Khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!"

(Tương Ưng Bộ, tập III – Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)

Nó làm cho người này sân hận điên đảo, tham dục, tham ái. Hoặc người này bị âm thanh ám ảnh, tiếng nói đó đã diễn ra từ mấy ngày trước rồi nhưng cứ nhớ đến lời nói rồi sân giận, tức giận hoặc nghĩ lại tiếng nói đó thì nhớ nhung thì đó là thanh tưởng. Hương tưởng, vị tưởng là đã ăn món đó rồi nhưng sau này ngồi nhớ lại hương vị, màu sắc của món ăn đó, đó là mình bị sắc; hương; vị ám ảnh, không thoát ra được. Xúc tưởng là hình bóng của sự đụng chạm, tiếp xúc, tất cả chúng sanh trong dục giới không thoát ra khỏi xúc tưởng này, bị hình bóng của sự tiếp xúc ám ảnh, áp đảo trong tâm làm mình không thể yên tịnh để ngồi thiền.

Kinh Nikāya chỉ cho mình thấy hết tất cả sự vận hành trong thân tâm của mình mà trước nay mình không biết, mình bị đồng hóa với năm uẩn, mình cho cái thân thể này, cái bao thịt, lớp da này là tôi, là của tôi, cảm giác vui khổ hoặc cảm giác không vui không khổ đều là tôi, hình bóng nào sanh khởi trong tâm cũng cho là tôi, suy nghĩ nào cũng là tôi, biết cái gì cũng là tôi biết, kiến thức của tôi, nhận thức của tôi, tất cả đều là vô minh, đó là chúng ta đang chấp thủ vào năm uẩn, bản ngã này dính mắc trong năm uẩn làm chúng ta khổ đau trong vô lượng vô biên kiếp, đi ra không được vì bị tham sân si bao bọc, vô minh, kiến mạn trùm phủ.

Chúng ta chỉ có thể dùng minh trí để phá vô minh. Minh là nhìn thấy năm uẩn là năm uẩn, không ngộ nhận năm uẩn là tôi là của tôi mà biết năm uẩn là pháp vô thường, đau khổ, là pháp vô ngã, trống rỗng, là pháp sầu bi khổ ưu não, chính vì những thứ này mà chúng sanh tham lam, sân hận, kiến chấp, vô minh, khổ đau, nhìn thấy được điều này và có sự nhàm chán đối với năm thứ sắc; thọ; tưởng; hành; thức.

Tất cả suy nghĩ của mình được Đức Phật phân ra thành sáu dạng khác nhau: Sắc tư; thanh tư; hương tư; vị tư; xúc tư; pháp tư. Có tất cả sáu thức, một vị thành tựu minh là vị này chiếu kiến năm uẩn, chiếu kiến sắc, chiếu kiến thọ, chiếu kiến tưởng, chiếu kiến hành, chiếu kiến thức. Vị này không thấy có một cái tôi trong này mà vị này không thấy có một cái tôi bằng trí tuệ tự thân của chính vị này chứ không phải chỉ nghe nói trên từ ngữ, vị này cảm nhận, nhận thức, thấy biết bằng chính trí tuệ tự thân của mình do sự nhận diện năm uẩn thường xuyên và liên tục, do công phu quán chiếu minh sát tuệ, do công phu soi rọi bên trong thân xác này, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức luôn được nội soi, nội quán và vị này phát hiện ra không có một tự thể, tự ngã, không có một nguyên khối tưởng, vị này phá sự chấp thủ trong đây.

Vì thế vị này thành tựu minh, thành tựu quang, thành tựu trí, thành tựu chánh kiến, vị này có thể đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc rễ kiến mạn tùy miên "tôi là", đoạn trừ vô minh để khiến cho minh sanh khởi, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại và thành tựu diệu pháp này. Cho nên sự tu học không hề đơn giản như mình nghĩ trước nay, để phá sự chấp thủ trong năm uẩn này phải ra công rất lớn, tâm lực, nghị lực, trí lực, sức lực, hạnh lực, nguyện lực, dốc toàn lực và đánh đổi bằng sinh mạng mới có thể Nhập Lưu được, mới có thể vào được Thánh trí tuệ của các bậc Thánh, mới có thể minh kiến được. Chúng ta đang học để thành tựu được chánh tri kiến, cái thấy đúng về thân tâm.

"Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".

(Trung Bộ Kinh, 9. Kinh Chánh tri kiến)

Chúng ta vừa học về một phương diện chánh tri kiến thiện và bất thiện. Xin đại chúng nắm thật vững những giáo nghĩa này để chúng ta có chìa khóa đi vào mở cánh cửa Thánh pháp tạng – kho tàng Thánh pháp của Đức Phật.

./.