Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KHÔNG BUÔNG LUNG PHÓNG DẬT 1

2026-03-03 00:54:03
KHÔNG BUÔNG LUNG PHÓNG DẬT

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Sống Phóng Dật” PAGEREF _Toc72135403 \h 1

1.Trú phóng dật PAGEREF _Toc72135404 \h 2

2.An trú không phóng dật PAGEREF _Toc72135405 \h 4

II.Sự nguy hại của buông lung phóng dật PAGEREF _Toc72135406 \h 7

III.Phá tan buông lung phóng dật PAGEREF _Toc72135407 \h 10

Bài kinh “Sống Phóng Dật”

Kính thưa đại chúng, trong sự tu tập chúng ta phải để tâm rất nhiều. Khi phát hiện ra những điều trong giáo pháp Minh Thành rất bất ngờ, vì tất cả không giống như mình nghĩ tưởng trước nay, chúng ta sẽ không biết nếu không đi vào dòng Chánh Pháp. Nếu không có nhiều thời gian soi rọi lại thân tâm, an trú trong pháp thì những nghĩ tưởng của mình không đúng. Thật sự sự tu học rất thâm sâu, rất sâu sắc, rất vi tế, rất là khó, không phải dễ. Nếu không để tâm, không tinh cần, tinh tấn, không nhiệt thành, nhiệt tình, nhiệt tâm, nhiệt huyết thì mình chỉ tu vòng ngoài, tu bề ngoài, tu trên hình thức, tu một chút ít thiện pháp. Còn nếu chúng ta khắc khoải, tha thiết, chân thành tu học thì mình sẽ nhìn thấy những điều hết sức bất ngờ.

Ngày xưa, khi chưa vào vòng pháp này, tu suốt hai mươi mấy năm, Minh Thành vẫn nghĩ rằng buông lung phóng dật là nói lớn, cười lớn, giỡn chơi nhưng không phải vậy, nó hết sức sâu sắc. Bất cứ lúc nào tâm mình không an trú trong Tứ Niệm Xứ, không thực hành pháp thì lúc đó tức là buông lung phóng dật. Dù cho đang ngồi trên bồ đoàn, nhưng nếu tâm mình không an trú trong các pháp thân hành niệm, không quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, không tinh tấn tác ý, không an trú chánh niệm, không cảm giác toàn thân, mình thả ra, không thực hành pháp, không nhìn thấy thân tâm một cách chính xác thì lúc đó tức là buông lung phóng dật, chứ không phải lúc cười lớn, ham chơi mới là buông lung phóng dật. Dù cho đang nghe pháp, đang ngồi thiền, đang đọc kinh Nikāya nhưng trong tâm có những ý niệm về dục tầm, sân tầm, hại tầm, bản ngã hay những ý niệm chống đối với pháp, lúc đó mình không tác ý, không nhiếp phục, cứ để cho nó sanh khởi, suy nghĩ thì lúc đó là buông lung, phóng dật. Cho nên tình hình là chúng ta càng ngày phải càng tu học sâu sắc.

Hai chữ “phóng dật” ghê gớm lắm, nó trùm chiếm hết tất cả thân tâm của chúng sanh. Ngay cả giờ đang nghe pháp, ngồi thiền mà mình không chuyên chú tâm, không để ý hết lòng thì đã là buông lung phóng dật.

Trú phóng dật

Đức Phật có định nghĩa trong bài kinh “Sống Phóng Dật” trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 4 như sau:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?

Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn... ý căn cũng vậy.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b) - Phần II. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, V. Phẩm Từ Bỏ, bài kinh Sống Phóng Dật)

Điều này sâu sắc lắm nên khi đọc phớt qua mình không hiểu được. Hồi đó Minh Thành nghe mười năm mà Minh Thành không hiểu, nếu đọc mà không nhận diện ngũ uẩn thì mình chỉ hiểu trên từ, trên chữ thôi.

Đức Phật định nghĩa một người trú ở trên sự buông lung phóng dật là người này sống không thâu nhiếp, không bảo hộ con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, miệng; sống không thâu nhiếp, không bảo hộ thân, tâm, ý. Cho nên tâm người đó bị ô nhiễm đối với: hình sắc, âm thanh, mùi vị, sự đụng chạm, những pháp trần trong thọ, tưởng, hành, những đối tượng tiếp xúc, do tâm bị ô nhiễm như vậy nên không hân hoan với pháp ly tham – đây là chỗ khó. Người không hiểu, họ nghĩ rằng khi thấy món đồ đẹp thì phải vui, phải thích chứ sao lại không hân hoan? Đối với người không biết tu thì cứ nghĩ tại sao tu mà cứ nhìn xuống, cứ nhìn vô trong cảm giác thân tâm chứ không nhìn người này người kia, không để ý tới món đồ này hay món đồ nọ, tại sao tu thấy buồn vậy? Chính vì cứ nhìn cái này, cái kia, cái nọ thì người đó tâm bị ô nhiễm, cho nên họ không hân hoan với pháp ly tham.

Hãy để ý thử, khi tâm mình giảm nhiệt tình trong sự tu thì sẽ không còn hân hoan với pháp, vì nó bị ô nhiễm bởi các đối tượng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nhận thức. Ví dụ như đang ngồi nghe pháp, bỗng nhiên có người đi ngang qua, người đó khả ái, khả hỷ, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn thì mắt mình nhìn, tai mình nghe, mình không có hộ trì, giữ gìn các căn và bị hình bóng, âm thanh, lời nói đó xâm chiếm vào tâm, mình nghĩ: “Đẹp quá ha, sung sướng quá ha, thoải mái ha!” Khi mình suy nghĩ như vậy thì sẽ đi theo dòng thọ, tưởng, hành nên không còn hân hoan trong pháp nữa. Như vậy, con mắt bị ô nhiễm với các sắc, tâm bị ô nhiễm thì không hân hoan, không sanh ra hỷ lạc đối với các pháp, đối với tâm ly tham, mà không hỷ lạc thì không nhẹ nhàng, tâm nặng nề nên tu nặng nề.

Vào tu mà toàn nghe thấy tham, sân, si, bản ngã; ngồi thiền nhìn thấy trong tâm toàn cấu uế, lậu hoặc. Tâm không khinh an tại vì hướng đối tượng ra ngoài, lúc đó khổ an trú, thấy tu là khổ, học khổ, ngồi thiền khổ vì phải đối diện với cái tâm. Trong sự tu thấy chán nản, phóng dật, không hân hoan, không hỷ, như vậy thì làm sao có sự nhẹ nhàng khinh an được. Tâm an trú trong khổ thì nó không thể định tĩnh được, tại vì các tầm hướng về các sắc, các thọ, đối tượng bên ngoài. Tâm không định tĩnh thì các pháp không hiển lộ, hiện rõ, tức là lúc đó sự nhận diện năm uẩn không còn rõ nữa, mình cũng không nhìn thấy được đâu là dục, đâu là ái, đâu là tâm hướng ngoại. Cái khổ nó xâm chiếm mình, nên muốn xuống núi, nghĩ: “Thôi mình tu sao cho nó dễ dễ giống như người ta đi, sao cũng vậy, tu chi khổ như vậy”. Nghĩ vậy là đang trú trong phóng dật.

Có Phật tử chia sẻ với Minh Thành: “Nhiều khi suy nghĩa là tu theo thầy, nghe pháp của thầy con khổ quá! Con khổ quá, con lôi nó ra con khổ quá, con nhức nhối!”, đó là mình giải phẫu thân tâm, cắt bỏ khối u. Giống như người bệnh nặng, phải đi ra xếp hàng, chờ đợi, xét nghiệm, siêu âm, thử máu, chụp X-quang đủ các lớp, cuối cùng được lên bàn mổ là cả một công trình. Khi lên bàn mổ thì mọi người trong gia đình có được vui không? Sắp được hết bệnh, sắp được điều trị, sắp được cắt bỏ khối u đó thì phải vui chứ.

Như vậy, điều cần Như Lý Tác Ý thì mình không Như Lý Tác Ý, cái không cần thì mình lại Như Lý Tác Ý nên lậu hoặc tăng trưởng. Trong bài kinh “Tất Cả Lậu Hoặc”, cái đáng cần tác động tâm ý thì mình không tác động tâm ý, cái không đáng tác động tâm ý mình lại tác động tâm ý nên các lậu hoặc sanh khởi, tăng trưởng, phát triển, nó không đi đến sự chấm dứt, sự diệt tận. Vậy nên các pháp không hiện rõ, không hiển lộ trong tâm của mình và như vậy nên người đó gọi là an trú phóng dật. Khi nào mình tu tinh cần, tinh tấn, hỷ lạc trong pháp thì các pháp hiện rõ. Cho nên đi tu xong thường về sám hối, vì tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm thì các pháp ở trong hiện mở ra. Nếu lúc đó pháp không hiện rõ thì mình phiền não, buồn, giận, hờn mác, trách móc.

Như vậy, khổ trong đạo Phật khác với khổ ở ngoài đời, hai cái khổ này ngược nhau. Khổ của đạo Phật là không hân hoan, không hỷ lạc, không khinh an ở trong pháp ly tham, nhưng phải hân hoan trong sự xa rời năm uẩn, xa rời thân xác vô thường, tứ đại, trống rỗng vì đó là khổ. Còn lúc nào hân hoan, hoan hỷ, khinh an trong pháp thì tâm mình định tĩnh, hỷ lạc. Khi nhìn thấy những người bị nhiễm dịch bệnh, những người chết, còn mình không bị những điều đó thì phải tự thấy hân hoan, hạnh phúc hơn người. Đâu cần đến khi được cái gì thêm thì mình mới hạnh phúc, mình không bị đã là hạnh phúc. Nhớ việc này, tu đặc biệt ở chỗ đó, mình không tìm cầu, không bị dục tham chi phối, không bị sân tâm thiêu đốt, không bị vô minh, si ám xâm chiếm, không bị bản ngã, thì đó là hạnh phúc. Đây là chỗ rất quan trọng, sâu sắc.

Chuyện rất nhỏ như món ăn cũng làm cho tâm mình bị ô nhiễm. Cho nên sự tu của mình là tu đối với những cái hết sức bình thường, gần gũi hàng ngày như vậy. Khi mũi, mắt, tai của mình tiếp xúc với món ăn không vừa lòng hoặc do đến sau nên người ta đã ăn hết món mình thích thì lúc đó mình như thế nào, hay khi ăn món nào đó, mình thấy ưa thích thì tâm mình đã bị nhiễm ô. Lúc ăn thì khoan khoái, thích thú, đam mê, không có chánh quán thọ thực, ăn để hưởng thụ, để vui đùa, ưa thích, đam mê, tăng trưởng thêm những dục, tham, ái, thì không phải ăn để đi đến ly tham. Đó là những ví dụ nhỏ hiện diện hằng ngày, hằng giờ, chúng ta phải xem nó trú hay không trú trong phóng dật.

An trú không phóng dật

Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?

Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ. Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh, các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người ấy được gọi là người trú không phóng dật... nhĩ căn... tỷ căn... thiệt căn... thân căn.... ý căn cũng vậy.” (Tương Ưng Bộ Kinh – Tập 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b) - Phần II. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, V. Phẩm Từ Bỏ, bài kinh Sống Phóng Dật)

Đức Phật nói ngược lại thế nào là trú không phóng dật: ai sống nhiếp hộ các căn, tâm không bị nhiễm ô đối với các sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, do tâm không bị nhiễm ô thì hân hoan sanh, vì hân hoan sanh nên hỷ sanh, nên tâm được nhẹ nhàng, khinh an và do thân khinh an nên cảm giác lạc thọ, an lạc. Một sự vui nhẹ nhàng của tâm viễn ly, xuất ly, thoát ly, tâm đi ra khỏi các dục, các tham ái. Với người an lạc nên tâm được định tĩnh, do tâm định tĩnh nên các pháp được hiển lộ. Tức là có dục, có tham, có ái, có sân, có si, có bản ngã thì mình thấy, khi thấy rồi thì nhiếp phục, tác ý, trừ diệt, như vậy gọi là người trú không buông lung phóng dật.

Như vậy, khi sáu căn của mình tiếp xúc với sáu trần thì cần phải luôn luôn có sự đề phòng, tỉnh giác, chánh niệm, hộ trì như vậy gọi là trú không phóng dật, không để bị ô nhiễm bởi các đối tượng mà mình tiếp xúc. Mỗi một ngày mình phóng dật vô số lần, tất cả chúng sanh không thành tựu chánh kiến đều ở trong phóng dật, dù cho đó là thiện pháp hoặc là bất thiện pháp, vì khi tiếp xúc với sáu trần thì họ dính mắc liền trong tham, sân, si.

Thế nên, tâm giữa các bậc Thánh và tâm phàm khác nhau ở chỗ là tâm phàm hướng đến tham, hướng đến dục, hướng đến sự dính mắc của ngũ uẩn, còn bậc Thánh thì tâm hướng đến sự xa lìa. Trong tâm chúng ta mỗi ngày đều có phàm thánh, lúc tâm mình hướng đến sự viễn ly, từ bỏ, nhàm chán, không ưa thích thì lúc đó là tâm Thánh, là Thánh trí, Thánh đạo, Thánh Pháp. Còn lúc: “Ngán quá, thấy mệt, buông thả ra chút xíu cho khỏe!” thì đó là ý hành từ cảm thọ, dục, ái, tham nói, mình thấy dễ nghe, dễ thương là chết với nó ngay. Cho nên, Đức Thế Tôn từng nói “Này các Tỳ-kheo, sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma.”

Trong sự tu chúng ta phải cố gắng dần dần, chứ thật ra mình biết dục, ái, tham, chấp thủ, bản ngã trong ngũ uẩn khủng khiếp lắm, không phải tu dạng vừa vừa, chút chút mà có thể xuất ly năm uẩn. Mình đang tập từ những bước căn bản nhất, chúng ta còn cả một công trình, cần phải trường kì kháng chiến để chống giặc vô minh, tham ái và chấp thủ. Sự tu không phải trong mấy thời khóa là xong, tuy rằng thời khóa của mình ở đây nhiều nhưng cũng chưa thể tự hào được, khi nào đánh thắng mấy tên này mới được.

Cho nên chừng nào trong ý của mình có những cảm thọ, những suy nghĩ, những tưởng luôn luôn hướng về sự ly tham, viễn ly năm uẩn thì mới gọi là trú trong không phóng dật. Sự tu vi tế, nhỏ nhiệm, phải dụng tâm như vậy. Nhưng không phải nói vậy rồi mình nghĩ là khó, không làm, hoặc làm không được thì không phải. Mình đang làm và làm rất được. Nếu nghĩ không làm được thì sẽ không có ai làm ruộng, làm lúa vì những hạt lúa chỉ có chút xíu, biết chừng nào được một vạ lúa. Ví dụ một ngàn vạ lúa mới mua được một chiếc xe, nếu như suy nghĩ “Khó quá, thôi đừng làm!” thì biết bao giờ có được chiếc xe, và những người nông dân không ai làm ruộng hết, vì một hột lúa chỉ có chút thôi.

Cũng vậy, sự tu tập thiện pháp của mình cũng chất chứa từng hạt, từng bao, từng vạ, sau đó lên thành trăm, ngàn, mười ngàn, trăm tấn, nhiều ngàn tấn, triệu tấn xuất khẩu ra thế giới và gạo của Việt Nam mình ngon nhất thế giới. Hôm trước có Phật tử cô cúng ba bao gạo “Thưa thầy, gạo này được công nhận là gạo ngon nhất thế giới nên con cúng dường đến cho thầy.” Khi nghe mình thấy hơi sợ, phải ráng tu, ăn rồi mà buông lung phóng dật là không được. Minh Thành cúng chùa Bửu Liên một bao, chia ra. Minh Thành nghĩ tới người đáng cúng dường nhất thì cúng một bao, đem về núi một bao thôi. Như vậy từng hạt, từng hạt chất chứa dần dần thành lớn.

Chúng ta chiêm nghiệm trong đời sống thì thấy hay lắm, như vòi nước trong thất của Minh Thành bị lỏng, bị nhỏ giọt, tối ngủ kêu lớn lắm vì xung quanh yên tĩnh. Minh Thành lấy ca hứng, tuy chỉ có một giọt chút xíu vậy nhưng chút xíu thì đã đầy tràn ca. Đó là “khoát nhiên đại ngộ”, thiện pháp tích lũy ngày giảng một buổi, ba ngày thuộc một bài kinh. Như vậy ba tháng thuộc bao nhiêu bài? Một năm học được bao nhiêu bài, giảng bao nhiêu bài kinh Nikāya? Rồi đến ba năm là bao nhiêu? Mười năm là bao nhiêu? Nếu sống trăm năm thì được bao nhiêu? Như vậy thì mình có nên tu không? Có làm ruộng không? Có ăn cơm, có “bỏ ống” khôn? Hay nói ăn một hạt vậy lâu quá, đừng ăn, hạt cơm phải to bằng trái dừa để ăn một lần một hạt thôi cho no. Đó là tham chứ không phải tu. Vậy nên phải tích lũy các thiện pháp, hân hoan với các thiện pháp, ngày đêm tinh tấn tu học. Hân hoan, hoan hỷ, vui thích, sung sướng trong sự tu, dầu cho mình thấy khó nghe, khó hiểu nhưng rồi từ từ sẽ hiểu, biết đây là Chánh Pháp, chắc chắn tốt cho mình, từ từ tu học chẳng sao. Bây giờ hiểu ít thì từ từ mình sẽ hiểu thêm, cứ chất chứa như vậy.

Như thầy Pháp An dạy con cháu trong tập thứ năm Pháp Hóa Thân Tộc, thầy nói định lý kinh Nikāya, các thầy cao đẳng, cao cấp, giảng sư đều hết hồn, khen ngợi. Lúc đó xúc sanh thọ, tưởng, hành, các ông học cao cấp giảng sư, học các trường lớn, tốt nghiệp đại học Phật giáo, đi nước ngoài về đều hết hồn vì có được học các bài này đâu. Đó đều nhờ mỗi ngày tích lũy từng chút. Cho nên trong sự tu, mình đừng chán với thiện pháp nhỏ. Quán chiếu mỗi bữa pháp, bữa thiền, bữa đọc tụng thời khóa là mình nhặt được kim cương. Mỗi buổi như vậy quý hơn kim cương, từng viên kim cương mới kết thành chuỗi ngọc Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo.

Vì vậy làm sao phải phát khởi được sự hân hoan, hỷ lạc, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, không phóng dật trong sự tu học, trong khi làm việc, lúc học kinh. Không tu học là uổng lắm, nên mình cứ nhặt từng chút từng chút. Mỗi ngày nhặt một chút, tu tập từng pháp, như pháp sám hối, pháp không phóng dật.

Sự nguy hại của buông lung phóng dật

Không phóng dật, đường sống,

Phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết,

Phóng dật như chết rồi.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Không buông lung, đó chính là con đường đưa đến sự sống, còn buông lung là đường đi đến chết. Không buông lung là mình không bị chết, không đi đến chết mà đi đến cảnh giới bất tử. Còn buông lung phóng dật dù cho thân có đi, đứng, nói, cười nhưng mà là một kẻ chết rồi, là thây ma, tử thi, giống như một xác chết trong Phật giáo, trong chùa, xác chết này mình nhìn thấy rất nhiều. Tự thân mình cũng vậy, nếu không nhiếp phục, không hộ trì, không tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm thì mình cũng giống như thây chết biết di động, không có ước muốn sắc bén, hướng thượng mà chỉ là thây chết thôi.

Chúng ta thử nhìn xem đang có bao nhiêu thây chết? Ví dụ những cái thô thiển nhất ngoài đời rồi từ từ vào trong đạo để đại chúng nhìn thấy. Có người lái xe mà nói chuyện điện thoại, cười giỡn, nhắn tin nên xảy ra tai nạn nhưng không phải chết một mình mà chết 5-7 người cùng ngồi trên xe, vậy thì có phải buông lung phóng dật là đường chết không? Không biết việc mình đang làm, không có thân hành niệm thì hằng ngày rất nhiều người chết, phần lớn đều do buông lung phóng dật. Đi qua đường không nhìn trước nhìn sau nên gây ra tai nạn.

Vừa có một tin đau lòng lắm, giờ nói tới cũng thấy xót xa, một bà cụ 70 tuổi nhặt ve chai, phế liệu, có một cậu chạy xe tải tông chết bà rồi chạy luôn. Hằng ngày có biết bao nhiêu chuyện đau xót, có vô số những cảnh ngộ trên cuộc đời này nên mình phải tu. Đừng buông lung phóng dật, cố gắng nhiều chừng nào, càng tốt chừng đó, đừng nghĩ mình có thời gian nhiều, bất cứ lúc nào hay thời gian nào, chỗ nào cũng có thể ra đi. Như bà cụ 70 tuổi đó phải đi nhặt các vỏ chai nước đã bỏ đi, nhưng rồi chết một cách đau đớn, khổ sở, quằn quại và xe cán chết người cũng bỏ đi luôn. Cho nên, mình nhìn thấy các tai nạn đại đa số, phần lớn là do buông lung phóng dật, không cẩn thận. Đi đứng lỡ trượt thì ngã đập đầu rồi bán thân bất toại, nằm một chỗ cũng là do sự không cẩn thận, không chánh niệm, sự phóng dật, sự buông thả. Đốt rác mà làm cháy hàng ngàn mẫu rừng, chỉ vì đốt một đống rác thôi. Mới ngày rằm tháng bảy ở Sài Gòn cúng rằm, đốt giấy tiền vàng bạc mà cháy cả ngôi nhà ba tầng.

Các pháp đầy rẫy trong đời sống này, vậy nên tất cả đều phải chánh niệm, phải hộ trì, phải cẩn thận trước sau suy xét trong mỗi suy nghĩ, lời nói, hành động, nó sẽ giúp cho mình rất nhiều. Bí quyết của sự bình an là chỗ này, tức là chỗ phòng hộ, hộ trì thân tâm của mình được bình an, ít xảy ra những tai nạn, những chuyện đáng tiếc, bất thường, bất ngờ, thế nên phải cẩn thận, chánh niệm. Có những chuyện xảy ra thậm chí nhà tan cửa nát do bắt đầu từ chút chuyện nhỏ, chẳng hạn nói qua nói lại không giữ gìn lời nói dù là anh em ruột, vợ chồng, cứ buông thả, cứ việc nói. Không biết cẩn thận, không biết hộ trì lời nói, giữ gìn cái miệng, không biết suy xét nên nói hay không nên nói, nói ở mức độ nào mà cứ việc nói cho đã, bung ra hết, phóng dật buông lung hết xong rồi ra tòa ly dị, con đau khổ. Đây mới chỉ là xét lời nói.

Huynh đệ cũng vậy, cũng vì một hành động rồi bao nhiêu vụ án đều do buông lung phóng dật. Như karaoke, nhà của mình thì mở vừa nghe thôi, mở một cái là bung cả xóm làng nên người ta qua cự, rồi chửi lộn, rồi đem dao ra lụi chết. Như vậy có phải buông lung phóng dật không? Mà nếu đưa đến phóng dật là đường chết, Như Lai đã nói điều này từ 3.000 năm trước. Hay như ăn nhậu, nói qua nói lại rồi đem dao xử nhau chứ có việc gì lớn đâu. Ở ngoài đời có bao nhiêu cái khổ là đều do buông lung phóng dật hết. Chữ phóng dật này trùm hết thế và xuất thế pháp, Thánh - Phàm. Ai đi theo phóng dật là Phàm, mà không đi theo phóng dật là đi đến chỗ Thánh.

Pháp này là pháp thực hành, pháp tu, phải được thường xuyên, liên tục học tập hàng ngày trong sinh hoạt của mình. Ngồi thiền hoài mà không ngồi được trên một tiếng là do buông lung phóng dật, cứ đau một chút rồi bung, đau thì bung, không đau không bung. Có nhiều người vô chùa 5-10 năm mà không ngồi thiền được là do đau quá chịu không nổi nên không ngồi, đó là buông lung. Ở trong chùa tu mà không ngồi thiền được thì coi như xong, vậy thì tu cái gì, Đức Phật tu cái gì mà giờ mình tu nhưng không ngồi thiền được. Cho nên buông lung phóng dật nó giết hết tất cả.

Huynh đệ hay tỉ muội cũng vậy, nói chuyện với nhau không cẩn thận, không phòng hộ, không giữ gìn lời nói, nói rồi làm người ta buồn giận. Nhiều khi chỉ nói chơi nhưng rồi phiền não, phóng dật rồi làm cho khổ mình, khổ người. Người ta giận vậy mình có khỏe không, có vui không hay nhìn mặt mình cũng khó chịu? Thủ phạm là buông lung, nói chơi nhưng vô tình chạm tự ái người ta. Đó là hý luận, là buông lung phóng dật, Đức Phật có dạy các đề tài câu chuyện, mọi người nên học thuộc bài kinh này. Cho nên phóng dật là đường chết, trong tâm mình khởi lên thọ, tưởng, hành xem mọi chuyện không có gì là khó nhưng đến khi làm thì trật hết, hư hết. Đó là phóng dật trong suy nghĩ, trong lời nói, buông lung trong hành động đưa đến sự thất bại mãi mãi và vĩnh viễn trong vòng luân hồi vô thỉ kiếp. Suy nghĩ của mình buông lung, không suy nghĩ nghiêm túc, không suy nghĩ cẩn thận hay không suy nghĩ một cách chín chắn, sâu sắc mọi mặt mà lại suy nghĩ một cách đơn giản, không có gì quan trọng. Từ suy nghĩ đó dẫn tới lời nói buông thùa, tới hành động cẩu thả, qua loa, xem thường, như vậy là cả cuộc đời mình không ra cái giống gì rồi hoàn toàn sụp đổ vì phóng dật trong suy nghĩ, trong ngôn ngữ, trong hành động. Cứ suy nghĩ không có chuyện gì hết là mình chết, mãi mãi chết.

Có những chuyện nhỏ xíu, nhưng không được soi thường mà phải lấy kính hiển vi soi, phóng đại nó ra để nhìn rõ những cái nhỏ nhiệm bên trong nó, đó là nội soi lậu hoặc. Tại vì tâm của mình là một tâm vô minh cộng với một tâm phóng dật nên nó dễ dàng bỏ qua xem thường, chính vì vậy mà mình tu không tiến bộ, không thay đổi gì đáng kể hết. Một người kiểm tra hải quan trên sân bay, một người giữ gìn biên ải mà họ qua loa, xem thường như vậy là mất nước. Đó không phải là chuyện bình thường. Có người đi hàng lậu, họ nhét áp phiện hay thuốc vào trong những chỗ kín làm sao mình suy nghĩ ra được, ngày xưa họ nhét vô giày, những chỗ kín, trong các bộ phận cơ thể mà người ta vẫn phát giác, phát hiện ra và bắt hết. Như vậy người kiểm tra phải hết sức kĩ mà sự kĩ đó ứng dụng trong sự tu còn hơn gấp trăm lần.

Phá tan buông lung phóng dật

Biết rõ sai biệt ấy,

Người trí không phóng dật,

Hoan hỷ, không phóng dật,

An vui hạnh bậc Thánh.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Không phóng dật là hạnh của bậc Thánh. Biết rõ sự khác nhau giữa buông lung phóng dật là chết và không phóng dật là bất tử. Người trí biết rõ sự khác biệt như vậy nên người trí không phóng dật, người này lại hoan hỷ, thích thú, vui sướng khi không phóng dật, như vậy là an vui hạnh của bậc Thánh.

Minh Thành thật sự cẩn thận lắm, thực tập sự cẩn thận mà Minh Thành thích thú, hoan hỷ, vui sướng và hạnh phúc. Làm cái gì mà cẩn thận là Minh Thành thích lắm. Vân Thủy Đường xếp đặt như thế này là cần thời gian lâu lắm. Ngay cả cái đèn để soi tượng Phật cũng phải chỉnh sửa mấy tiếng đồng hồ, sửa qua sửa lại, chỉnh tới chỉnh lui, đặt đủ thứ góc hết. Cuối cùng khi xong rồi là mười năm nữa cũng không thay trừ khi nào nó hư sụp thì đổi thôi. Cho nên cái kĩ của mình không uổng, kĩ đến tận cùng luôn, rủi như sau này có thất bại thì không có hối hận vì tôi đã kĩ hết mức, thất bại thì đành chịu. Còn nếu ẩu thì sau này có chuyện gì thì mình hối hận. Đây là cách làm của người xưa, kĩ hết mức đi rồi rủi có thất bại thì cũng không hối hận, nhưng mình làm ẩu thì sẽ hối hận. Nghĩ cái gì cũng phải nghĩ cho kĩ, nói gì cũng phải nghĩ thiệt kĩ rồi nói, làm gì cũng nghĩ thiệt kĩ rồi làm, thì đó là hạnh của bậc Thánh. Khi nói cái gì Minh Thành cũng dặn ba lần, xong rồi trở ra mọi người làm trật lất, không biết sao cứ bị hoài. Kêu làm gì là cũng dặn kĩ, rồi dặn lần thứ hai, thậm chí kêu ghi âm, viết ra giấy nhưng cuối cùng làm lại trật lất. Vì tâm của con người hiện tại suy ám nặng, vô minh dày, cộng với sự buông lung phóng dật, tháo động dữ dội nên pháp rất khó học, khó tu. Tâm động, không an trú, mới nói đó rồi quên liền mà chuyện đời, chuyện thế gian thì lại không quên, nhớ kĩ lắm, những điều này là những cái mình phải tu tập.

Người hằng tu thiền định,

Thường kiên trì tinh tấn.

Bậc trí hưởng Niết Bàn,

Ðạt an tịnh vô thượng.

***

Nỗ lực, giữ chánh niệm,

Tịnh hạnh, hành thận trọng

Tự điều, sống theo pháp,

Ai sống không phóng dật,

Tiếng lành ngày tăng trưởng

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Phật kêu mình nỗ lực để giữ gìn chánh niệm, đây không phải là chuyện đơn giản. Giữ chánh niệm là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp. Trong niệm thân đã có sáu phương diện. Trong niệm thọ phải nhìn các dòng cảm thọ. Trong niệm tâm phải thấy được tưởng, hành, thức, phải thấy được tâm mình thuộc tâm nào, nhỏ hẹp hay rộng lớn, có tham hay không tham, có sân si bản ngã không, những cấu nhiễm như thế nào phải thấy phải biết và phải nỗ lực tinh tấn đoạn trừ. Trong phần niệm pháp là những thiện pháp, có tu tập Thất Giác Chi không, có an trú trong trí ngũ uẩn hay không? Đó là “Nỗ lực giữ chánh niệm – Tịnh hạnh hành thận trọng”.

Một phần của không phóng dật là thận trọng, là cẩn thận. “Tịnh hạnh” là hạnh trong sạch, hành thận trọng là thực hành một cách thận trọng, cẩn trọng nên những cái hết sức là nhỏ mà mình không để ý thì không làm được. Thiền đường lúc tu thì khi ngồi phải nhìn người ở trên, người ở dưới thẳng một hàng. Nếu mình vào không nhìn ai, cứ ngồi đại thì sẽ xéo, khi đứng lên thì mình sửa bồ đoàn ngay chính giữa, các kệ kinh. Khi đi ngang, Minh Thành thấy và sửa hoài. Cho nên đó là mình không thận trọng, không chánh niệm về việc hiện đang làm. Phải từng chút, từng chút như vậy, những hạnh nhỏ tích tụ thành hạnh của Thánh Hiền. Còn vào ngồi mà mình không biết gì hết, cứ ngồi đại xuống, không biết nhìn ai hết thì không được. Hoặc suy nghĩ rồi cứ nói đại, không biết lúc đó là nên nói hay không, nói với ai, nói trong thời điểm nào là phù hợp, còn nếu cứ muốn nói là nói, muốn làm là làm thì không được.

Cho nên, sự “hành thận trọng” mình học ba tháng cũng chưa hết, ba chữ này thôi là phải học suốt đời. Minh Thành thấy người ta chưng bông, họ tuốt tuốt rồi để hai ba bó vô một bình cho đến không còn chỗ nhét nữa. Nhưng những người chưng bông thượng thặng, đẳng cấp thì nhiều khi chỉ chưng 1-2 bông, với 1-2 chiếc lá thôi, như chưng bông kiểu thiền Nhật Bản. Làm đồ ăn cũng vậy, không phải làm cho nhiều món, rồi để cho nhiều thiệt nhiều là ngon, mà quan trọng là chất lượng, chánh niệm. Nếu Vân Thủy Đường mà Minh Thành đem đèn màu vàng, màu đỏ, màu xanh, màu tím… rồi sẽ ra cái gì? Ra cái sạp cải lương hay sao? Sự tu học của mình cũng giống vậy, tinh hoa, tinh anh, tinh túy, tinh tủy, thận trọng, không phải chạy tùm lum mà hay. Làm có liên hệ đến mục đích không? Nói có liên hệ tới mục đích không? Tất cả đều phải thận trọng.

“Tự điều sống theo Pháp – Ai sống không phóng dật – Tiếng lành ngày tăng trưởng”, tự mình phải điều phục chính mình, không cho nó buông lung phóng dật, phải trị nó, trị cho bằng được, ít nhất cũng phải nhiếp phục được 50-60%. Lấy đó làm chủ đề thiền quán, ngày đêm tác ý, tư duy mỗi ngày. Buổi tối vạch tộ, hành tội ra, trước khi ngủ nhắc nhở, khiển trách, chỉ trích. Hoặc viết vào tờ giấy xem mình buông lung, phóng dật ở chỗ nào, tai họa đưa tới như thế nào, sự ẩu tả, cẩu thả của mình đưa đến sự phóng dật như thế nào, đưa đến tai hại gì? Viết ra rồi đem mấy cuốn sách đó ra trước Phật rồi lạy, dập đầu xuống, nói: “Con không muốn làm người cẩu thả, buông lung, không muốn thành kẻ phóng dật. Con phải tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, phải cẩn thận, thận trọng”, và sám hối phát nguyện. Trị hoài liên tục như vậy trong ba tháng xem có hết không? Thật ra làm một ngày thôi đã có kết quả rồi, một tuần hay một tháng sẽ thấy khác vì hiện tại mình không chịu làm. Mình cứ học chơi chơi, nghe rồi để đó, vẫn trở về sống với thói quen, tập khí buông lung phóng dật, không làm nhiệt tình, nhiệt tâm, không làm tận cùng.

Cho nên phải điều sống theo pháp, sống không phóng dật là tiếng lành ngày càng tăng trưởng. Người ta ngoài đời tìm kiếm giả danh, chức này chức kia chức nọ nhưng bên trong thân tâm của người ta là một sự đau khổ, ê chề. Còn tiếng lành trong đạo Phật là do đức hạnh, do trí tuệ thì tự động đèn sáng, hương thơm, do có thật bên trong thì sẽ tỏa ra. Cho nên trong sự tu không có cần tiếng tăm, không cần nổi tiếng, tự mình tu thôi. Cũng như cảnh Linh Quy Pháp Ấn tự nhiên đẹp nên dù nó ở trong rừng thì cũng đẹp, người ta cũng đi tìm tới nó. Trong sự tu học, đức hạnh của mình cũng vậy, có đức hạnh rồi thì tự động người ta quý mình, kính phục mình. Còn không có đức hạnh mà muốn làm cho ra vẻ đức hạnh đó là Đức Phật gọi là ác dục.

Nỗ lực, không phóng dật,

Tự điều, khéo chế ngự.

Bậc trí xây hòn đảo,

Nước lụt khó ngập tràn.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Mình có một hòn đảo, trong sự tự điều, sự khéo chế ngự thân tâm, phải để ý từ từ, quán chiếu từ từ thì trí huệ của mình mới sanh. Từ từ trí huệ sanh lại chút chút giống như hạt lúa khi nãy đã ví dụ.

Chúng ngu si, thiếu trí,

Chuyên sống đời phóng dật.

Người trí, không phóng dật,

Như giữ tài sản quý.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Người sống buông lung phóng dật, ngu si, không trí tuệ nên những suy nghĩ của họ buông lung, những lời nói bung thùa, những hành động bung thả. Người trí không buông lung mà họ giữ sự không buông lung đó như là giữ tài sản quý, đó là tài sản quý giá của bậc Thánh. Thánh tài - tài sản của bậc Thánh là không buông lung, đây cũng là tài sản quý giá của người tu.

Chớ sống đời phóng dật,

Chớ mê say dục lạc.

Không phóng dật, thiền định,

Ðạt được an lạc lớn.

***

Người trí dẹp phóng dật,

Với hạnh không phóng dật,

Leo lầu cao trí tuệ,

Không sầu, nhìn khổ sầu,

Bậc trí đứng núi cao,

Nhìn kẻ ngu, đất bằng.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Người có trí tuệ sống trong sự tinh cần, tinh tấn, phòng hộ, không buông lung phóng dật giống như người leo lên lầu cao. Những người sống buông lung, bung thùa, buông thả giống như những kẻ ở dưới đất bằng, tầng trệt thấp dưới đường. Bậc trí không buông lung phóng dật, không bị sầu, bi, khổ, ưu, não hoặc rất là ít đứng trên lầu cao trí tuệ nhìn xuống. Còn người buông lung thì dễ giận, dễ buồn, dễ khổ. Cho nên người không buông lung nhìn những người buông lung – tức là “không sầu nhìn khổ sầu”. Ngoài đời người ta nói “nhất túy giải thiên sầu”, một chầu nhậu giải hết được ngàn nỗi buồn, nhưng không có, nhậu vào là buồn thêm do đánh nhau. Nhà hết gạo, vợ bệnh con đau mà còn đi nhậu, buông lung.

Cho nên bậc trí tu không phóng dật là không sầu. Muốn không sầu thì đừng buông lung phóng dật; tự chánh niệm, tinh cần, tinh tấn hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; phòng hộ, bảo vệ khi tham dục hay sân khởi lên thì phải dập tắt, khi si bản ngã khởi lên thì đánh phá, phải hạ gục. Như vậy gọi là bậc trí không phóng dật, không sầu nhìn khổ sầu, đứng trên núi cao nhìn kẻ ngu dưới đất bằng. Chúng ta lâu lâu đứng nhìn xuống, thấy phía dưới lăng xăng, mình cần phải quán chiếu để viễn ly các dục tham, có đời sống không sầu, còn họ chạy theo dục tham họ sẽ sống trong sầu khổ.

Vì vậy, chúng ta phải vui với sự viễn ly, vui với sự rời xa thành phố, phải tác ý để thêm hỷ lạc. Chúng ta có một đời sống viễn ly, một đời sống rời xa phố thị, rời xa thế tục, gia đình, mình phải hỷ lạc, hạnh phúc, hoan hỷ như bậc trí đứng núi cao, nhìn kẻ ngu đất bằng. Khi nhớ về gia đình, nhớ bạn bè thì mình nói “Họ đang sầu khổ”, còn mình đang đi đến chỗ vô sầu, ly sầu, diệt sầu, bi, khổ, ưu, não. Thế nên, cần tác ý hân hoan và hạnh phúc, mình cứ tu hoài, lên núi tu một tháng, rồi ba tháng, lần sau tăng lên năm, sáu tháng rồi lên nữa xong là tóc rụng, tám mươi bốn ngàn sợi phiền não rơi rụng xuống hết. Còn tóc chưa rụng nhưng trong tâm phiền não rụng thì cũng được, không nhất thiết phải rụng tóc, mà muốn vậy thì phải tinh cần tinh tấn.

Tinh cần giữa phóng dật,

Tỉnh thức giữa quần mê.

Người trí như ngựa phi,

Bỏ sau con ngựa hèn.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Chúng ta đang ngồi đây bây giờ có nhiều người còn trùm trong chăn, lăn lộn trong đó, say ngủ trong đó. Vì vậy, phải tỉnh thức giữa quần mê, phải là tuấn mã, thiên lý mã, bỏ sau lưng những con ngựa yếu hèn. Hãy nhìn lại bạn bè của mình, anh chị em bà con của mình, cha mẹ mình ở nhà có được thanh tịnh, tỉnh thức, trí tuệ giống như mình đang được ngồi đây không? Phải tác ý như vậy, phải hân hoan, hỷ lạc, tinh tấn, nỗ lực ngày đêm tu tập thiện pháp.

Ðế Thích không phóng dật,

Ðạt ngôi vị Thiên chủ.

Không phóng dật, được khen ;

Phóng dật, thường bị trách.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Sở dĩ thành được vua Trời là không bị buông lung, luôn cẩn trọng nên đạt được ngôi vị Thiên chủ của ba mươi ba tầng trời.

Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Bước tới như lửa hừng,

Thiêu kiết sử lớn nhỏ.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Người tu là người luôn vui thích, hân hoan trong cái không phóng dật, rất sợ phóng dật, thấy phóng dật là sợ hãi. Người tu là phải đi tới, bước tới, giống như lửa đốt hết tất cả những rác bẩn, những kiết sử, lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái… tất cả đều bị ngọn lửa trí huệ này thiêu đốt. Mình phải quán chiếu như vậy.

Vui thích không phóng dật,

Tỷ kheo sợ phóng dật,

Không thể bị thoái đọa,

Nhất định gần Niết-bàn.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Không Phóng Dật)

Đức Phật cứ nói tới nói lui cho mình thấy là phải vui thích, hoan hỷ, an lạc trong sự không phóng dật, vì có thể mình nghĩ không phóng dật thì buồn: “Lúc trước sao thấy thầy cười nói, thầy giỡn mà sao giờ không thấy, thấy im re ngồi đó hoài.” Không phải buồn, như vậy đó mà vui, còn cứ cà rỡn, tu không ra tu, đời không ra đời, không oai nghi, không tế hạnh, không có dáng dấp của một người tu thì không thành cái gì hết. Đời không ra đời, đạo không ra đạo, không biết gọi là gì. Chẳng qua cạo đầu người ta kêu bằng thầy thôi, kêu gượng ép như vậy chứ trong bụng người ta không muốn kêu bằng thầy vì có đức hạnh, giới hạnh, đạo hạnh gì đâu. Đi, đứng, nói, hành vi, cử chỉ không có phép tắt, không có oai nghi, không có đức hạnh, không có phòng hộ căn, không hộ trì, không có uy nghiêm của một người xuất gia. Xuất gia như vậy là nhục nhã, là hèn hạ, là tồi bại, xấu hổ với dòng họ, cho nên phải thành tựu các đức hạnh, nhất là hạnh không phóng dật, phải thực hành ngay từ bây giờ. Phải thực tập từ từ thì mới tích tụ, lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, quảng đại trong thân tâm của mình.

“Vui thích không phóng dật – Tỷ kheo sợ phóng dật”, không thể nào không phóng dật mà lại bị thối đọa trong tu học, điều này không thể giải ra. Vì vậy, người không phóng dật nhất định sẽ gần Niết-bàn, gần với mục đích tối thượng cứu cánh của phạm hạnh./.