Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng KOSALA 4 - Thoát Khỏi Ràng Buộc - Sao Biết Bậc Thánh - Cái Gì Số 1

2026-03-03 00:54:03
Kinh Nikāya Giảng Giải

TƯƠNG ƯNG KOSALA

THOÁT KHỎI RÀNG BUỘC – SAO BIẾT BẬC THÁNH?

CÁI GÌ SỐ 1?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trói buộc PAGEREF _Toc114583374 \h 1

II.Tâm xuất gia – thoát trói buộc PAGEREF _Toc114583375 \h 3

III.Nhận biết bậc chân tu PAGEREF _Toc114583376 \h 7

IV.Tâm chấp thủ PAGEREF _Toc114583377 \h 15

Trói buộc

Chúng ta tiếp tục nghe Đức Phật dạy với vua Pasenadi (vua Ba Tư Nặc), Tương Ưng Kosala phẩm thứ 2, xong bài kinh này là qua phẩm 2, kinh này có tên “Triền Phượt”, tức sự trói cột. Lúc đó vua Ba Tư Nặc bắt trói một số đông người, có người trói bằng dây, có người bằng xích, một số người trói bằng sự kềm kẹp.

Buổi sáng các thầy Tỳ-kheo đắp y, ôm bát đi vào thành, khi khất thực trở về, các Tỳ-kheo trình lên Đức Thế Tôn rằng các con đi vào thành thấy nhà vua bắt trói một số đông người. Một số người bị trói bằng dây, dây xích, một số người bị kềm kẹp. Chúng ta nhớ rằng trình Đức Phật cái gì, cái đó trở thành Pháp, thành kinh, vì Ngài là Pháp chủ, Pháp bổn, Pháp nhãn. Đức Thế Tôn nói bài kệ: Trói vậy không bền chắc, trói bằng sắt, bằng dây gai, bằng kềm kẹp, bằng gỗ mọc. Trói bằng sắt tức bằng dây xích, lúc nãy mình đọc dây chuyền sợ chưa hiểu, không phải sợi dây đeo trên cổ, mà đó là sợi dây xích, nói như vậy cho dễ hiểu.

“Đam mê các dục lạc với châu báu, trang sức với tâm tưởng: tâm tư, tưởng vọng”. Tâm tư tưởng vọng tức là nhớ nhung, trông mong, hướng về vợ về con. Những tưởng nhớ, tư tưởng, suy nghĩ hướng về vợ về con, những suy nghĩ, tâm tư đó, những đam mê trong dục lạc, của cải vật chất, cái trói đó còn chắc hơn những sợi dây xích bằng sắt, chắc hơn cái trói của tài sản, tiền của, của vật chất, cái trói của nhớ nghĩ, tơ tưởng về chồng con, vợ con. Sự trói buộc đó chắc hơn sự trói buộc của dây xích, dây thừng, của những cái còng số tám. “Bậc có trí nói rằng trói như vậy thật là vững chắc, dù trói buộc ghì xuống, tế nhị và khó thoát”.

Sự trói buộc đó làm cho con người trì xuống, kéo xuống, nhận xuống, rơi xuống, thối đọa, mà sự trói buộc này rất tế nhị. Chúng ta thấy những câu chữ của Đức Phật là cả một bầu trời trí tuệ bên trong, những cái này là pháp quán. Dây thừng, dây xích, còng số tám chưa phải là những thứ để trói buộc cứng chắc. Tài sản, sắc đẹp, vợ chồng, con cái, những tâm tư tưởng nhớ, tơ tưởng… đó mới là những sự trói buộc chặt chẽ, chắc chắn. Nó trì xuống, ghì xuống, kéo mình xuống, sự trói buộc đó hết sức tế nhị và khó thoát, khó khăn để thoát ra.

Tại sao lại là tế nhị? Người trói và người bị trói, cái để trói và cái bị trói, họ không biết mình đang bị trói nên gọi là tế nhị. Đơn giản như cái nhà đẹp, người ở trong nhà đẹp đó có biết mình bị trói không ạ? Người ta yêu thích, khoan khoái, đam mê, đó là tế nhị vì người bị trói không biết mình đang bị trói. Họ đi ra khỏi nhà không được, đi lâu không được. Họ nhớ, thương, trông, mong cái nhà, muốn ở trong nhà, muốn ngắm căn nhà, và những hình bóng căn nhà hiện ra, sự tưởng nhớ về căn nhà, sắc tưởng của căn nhà đó.

Như vậy, sự tế nhị khó thoát này là sao? Người ta không biết đó là món đồ để trói mình, người bị trói không biết mình đang bị trói. Và cái tâm bên trong, những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ bị trói cột nhưng người ta không biết căn, trần, thức, đó là tế nhị, đó gọi là khó thoát. Chúng ta thấy tế nhị không ạ? Dễ thoát không? “Đam mê các dục lạc với châu báu, trang sức với tâm tư, tưởng vọng hướng về con, về vợ. Bậc có trí nói rằng: trói như vậy thật vững chắc. Dù trói buộc trì xuống, trói như vậy và khó thoát”.

Đó là mới ví dụ về cái nhà, giờ là vợ con hay chồng con, những hình bóng đó, con người đó, suy nghĩ đó, cảm giác đó, đi tới đâu, dù qua nửa vòng trái đất, tới Mỹ thì những tưởng nhớ, những hình bóng, cảm thọ, cảm xúc, suy nghĩ đó cũng theo sát gót như bóng theo hình, không thoát ra được. Giờ nhà tôi bên Việt Nam không biết ra sao, vợ con thế nào, tiền gửi về… mỗi ngày phải điện thoại về. Đó gọi là cái trói buộc ghì xuống, vững chắc, thật tế nhị và thật khó thoát.

Tâm xuất gia – thoát trói buộc

“Các vị chơn xuất gia cắt đứt chúng làm đôi”, “dứt đao lưỡng đoạn”, người xuất gia phải một dao hai khúc, tức chặt một cái phải đứt. Như thầy Pháp An mà cắt không đứt làm sao ở đây được? Ông phải chạy về coi nhà ở dưới, thành ra “Các vị chơn xuất gia cắt đứt chúng làm đôi”, cắt nhà cửa, cắt của cải, cắt tình thân, cắt sự tưởng nhớ, sự nhớ nhung. Nếu mình không cắt thì hai đầu của mình đều mất, “lưỡng đồ câu thất”, vì ở ngoài mình không hưởng được, trong đạo mình không hưởng được pháp vị.

Giống như con chó lội giữa dòng, đồ ăn bên đây bốc mùi thơm lên, ông chủ bên này kêu, nó lội qua, bên kia cũng bốc mùi thơm, lại lội qua kia, lội qua lội lại, cuối cùng chết giữa dòng nước, không được đồ ăn bên nào cả. Đời, dục lạc không hưởng được, pháp lạc cũng không hưởng được, giống như con chó chết giữa dòng sông. Vì ông chủ nhà bên đây đem đồ ăn ra, mùi bốc lên thơm, ông kêu, ngoắc ngoắc lại. Rồi ông chủ nhà bên kia bờ sông cũng ngoắc lại, nó quay qua đây, nghe bên kia kêu nó quay qua kia… cứ làm vậy hoài, rồi nó chết giữa dòng.

Câu chuyện đó có triết lý rất sâu sắc, hai đường đều mất, chết giữa dòng sông, cuối cùng không được gì cả. Cho nên, “Các vị chơn xuất gia cắt đứt chúng làm đôi”, một đao lưỡng đoạn, hai khúc, “không ước vọng, mong cầu, từ bỏ mọi dục lạc”. Điều quan trọng là chưa nói mình cắt đứt ngay lập tức mà quan trọng là trong tâm mình xác quyết phải cắt. Còn trong suy nghĩ mà mình không xác quyết là nó làm cho mình đứng ngã năm, ngã bảy, không biết quẹo hướng nào. Quẹo qua bên đây một chút, quẹo qua bên kia. Nếu dục, tham, ái còn thì chuyện đó là đương nhiên nhưng ý niệm xác quyết để cắt đứt, từ bỏ mới quan trọng.

Phải thành tựu được ý xác quyết là cắt đứt chúng làm đôi thì từ từ mới cắt, đi đến chỗ đứt đoạn diệt, đoạn tận, đoạn dứt. Còn ý niệm bên trong, một hồi muốn, một hồi không, rất nguy hiểm, sẽ chết giữa dòng, “lưỡng đồ câu thất”, hai đường đều mất với một sự do dự, chần chừ, không xác quyết. Bây giờ chúng ta xuất gia, thì tài sản bỏ được rồi, nói trên cái thô là nhà cửa, gia đình, người thân cũng bỏ được. Rồi giờ tới tâm niệm, tâm tư, đó là cái mà cần phải có sự cắt đứt chúng làm đôi.

Cho nên, những giọt nước mắt mà hôm qua chúng ta chia sẻ phải hướng tới sự nỗ lực tu tập, thành tựu Chánh Kiến mới có thể báo hiếu được cho cha mẹ chứ không phải những giọt nước mắt, sự than thở, tiếc thương của phàm phu tầm thường. Nếu thương kiểu phàm phu tầm thường thì mình chạy về nhà nuôi rồi, mà xót thương ở đây là thương dòng luân hồi sanh tử của chính mình, của cha mẹ, của chúng sanh để mình nỗ lực mong cầu, thành tựu Chánh Kiến, cứu mình, cứu cha mẹ, hữu tình chúng sanh. Đó mới là tình thương của người tu, của người chơn xuất gia – xuất gia chân chánh, không có ước vọng mong cầu từ bỏ mọi dục lạc.

Trong bài kinh này chúng ta thấy không những người tu, mà ngay cả những người cư sĩ, nhất là trong đạo tràng Nikāya của chúng ta, phải tập dần dần. Mà trong thời điểm này, bất cứ lúc nào mình cũng có thể chết, mình phải tập thân chưa xuất gia nhưng tâm phải xuất gia, điều này rất quan trọng. Bổn phận, trách nhiệm mình hiếu thảo với cha mẹ, thương quý anh em trong bổn phận con cháu, nhưng trong tâm phải hướng đến sự xả ly, viễn ly, xuất ly đối với tham ái trong cuộc đời. Cho nên, tuy mình thân là tại gia nhưng tâm phải xuất gia.

“Thân ơi, tâm đã xuất gia rồi,

Dứt lòng ái luyến với đời thôi

Chớ mãi lôi thôi cùng sanh tử

Thân ở tại gia, tâm xuất gia

Thân ơi, tâm đã xuất gia rồi

Xuất lìa tham ái, lìa sân si

Xuất lìa ngã mạn, lìa chấp thủ

Xuất khỏi vô minh, tâm xuất gia

Dạo trong sanh tử thế đủ rồi

Luân hồi thêm nữa cũng vậy thôi

Tham, sân, si mãi rồi chỉ khổ

Nhổ gốc luân hồi lẹ, tâm ơi!

Chớ rời giới hạnh, nhớ phản quang

Nội tâm chánh niệm, định vững vàng

Tỉnh giác chiếu soi năm thủ uẩn

Giới, định, tuệ này thoát tử sanh

Chớ buông lơi trí về năm uẩn

Trí này đâm thủng lưới vô minh

Trí này tẩy dục tham, sân, mạn

Cửa vào bất tử rộng thênh thang

Tỉnh giác nhìn vào dòng cảm giác

Để nhìn thấy rõ tham, sân, si

Tẩy sạch dục tham trong tâm trí

Thâm sâu, trầm lặng ý chẳng hành

Đi đứng, ngồi nằm tâm lặng yên

Nói, nín, thấy, nghe chẳng nhiễm trần

Xuất gia tâm tịnh tham sân diệt

Xuất khỏi vô minh tâm xuất gia”.

Người tu sĩ là người tu ở tại gia, dù ở tại gia nhưng mình vẫn là người tu. Đó là điều mà người cư sĩ tại gia cần phải tự nhắc nhở để hướng dẫn đời sống tại gia của mình vào con đường chân chánh. Tức vẫn thực hành theo giới, định, tuệ mà Đức Phật đã hướng dẫn, tu tập theo bốn Thánh trí về ngũ uẩn, quán chiếu sự vô thường, phiền não và khổ đau trong sanh tử để nhàm chán đối với ngũ uẩn, tu tập Chánh Niệm, tỉnh giác trong bốn oai nghi và kiểm soát ý hành. “Thân ở tại gia, tâm xuất gia” đó là ý nghĩa của danh từ tu sĩ. Cư sĩ là một người con Phật tại gia, tuy thân tại gia nhưng tâm đã thực sự xuất gia, thực tập xuất khỏi vô minh.

Cho nên: “Thân ơi, tâm xuất gia”, mình lo cho tâm chứ không phải chưa được xuất gia mà mình muốn hiện ra hình tướng xuất gia. Phải lẹ lẹ để mình được mặc bộ đồ nâu, được cạo đầu, mà tâm mình không tẩy, không cạo, là sai trọng tâm là tâm xuất gia để ra khỏi sự triền phượt, trói buộc này. Bài kinh này là “Triền phượt”, trói buộc, hễ nhìn thấy đời sống của vật chất, nhà cửa, tài sản, tình thân và những cảm giác nghĩ tưởng, ái luyến, buộc ràng bên trong là sự triền phượt.

Tập nhìn nó là sự trói buộc, tác ý, quán chiếu, tư duy và ngấm nhìn nó là sự trói buộc. Mà thực sự nó là sự trói buộc, tại mình không hiểu biết, nhìn nó là sự trói buộc để mình tháo từ từ. Bổn phận mình làm tròn, là người mẹ, người vợ, người bà, người con, nhưng tập ở trong tâm: “

“Thân ơi, tâm đã xuất gia rồi

Xuất lìa tham ái, lìa sân si

Xuất lìa ngã mạn, lìa chấp thủ

Xuất khỏi vô minh, tâm xuất gia”

Sau này chúng ta sẽ giải thích những bài này, cởi mở những sự trói buộc, còn mình không biết, đam mê trong những trói buộc đó, muốn giải thoát nhưng tâm lại trói cột thì tới bao giờ mình mới được thảnh thơi. Chúng ta qua phẩm thứ hai là kinh “Bện tóc”.

(37:40 – 44:45 đọc kinh)

Nhận biết bậc chân tu

Bài kinh này tên “Bện tóc”, là cách thức Đức Phật chỉ cho mình chân tu, quán sát như thế nào để biết vị đó có phải bậc chân tu, bậc Thánh nhân. Đức Thế Tôn vào buổi chiều từ chỗ thiền tịnh, độc cư đứng dậy, đến ngồi ở mái hiên, phía cửa ngoài. Chúng ta thấy hình ảnh này sống lại giống như mình được diện kiến Như Lai, buổi chiều Ngài ngồi thiền, rồi đứng dậy ngồi chỗ mái hiên trước cửa, giống như mái hiên này.

Vua Ba Tư Nặc đi đến, đảnh lễ, rồi ngồi một bên trình bày, là gặp bảy người bệnh tóc. Những người Ấn Độ ngày xưa, tóc không hớt, không cạo, cứ để dài hoài rồi bện lại, có khi dài cả thước hay mấy thước. Bảy vị Nigantha, tức bảy vị lõa thể, không mặc quần áo, đạo này tới bây giờ vẫn còn, không mặc đồ, bảy vị mặc chỉ một tấm y, tức tấm vải mỏng. Chúng ta biết rằng khí hậu Ấn Độ rất khắc nghiệt, khi nóng thì nóng dữ lắm mà lạnh cũng vậy. Thành ra mặc đồ có một tấm mỏng như vậy là tu khổ hạnh. Bảy vị tu sĩ thân đầy lông, móng tay dài, lớn như cây lau, tức móng tay họ để rất dài.

Chúng ta có bài kinh “Phạm Chí trường chảo”, tức người đó tu không cắt móng tay, trường chảo là móng tay dài, cứ để móng dài. Mà ở đây lớn như cây lau là chúng ta biết nó dài lắm, cây lau dài khiếp lắm, một thước hoặc hơn. Có một người đạt kỷ lục Guinnes là móng tay dài bao nhiêu thước, không cắt, cũng không làm gì, tối ngày chỉ ngắm nghía bộ móng tay. Những vị này đem những dụng cụ khất sĩ đi ngang qua, cách Thế Tôn không xa.

Mấy vị này là khất sĩ nên cũng đi ăn xin, vua Pasenadi quỳ xuống, đắp y ngang vai, trên đầu gối, tay mặt chắp tay hướng về bảy vị bện tóc đó nói lên ba lần tên mình, con là vua Pasenadi, nước Kosala, trong khi đang ngồi kế bên Đức Thế Tôn. Ngài đang ngồi kế Đức Phật, nhìn thấy một nhóm bảy vị, nhiều bảy vị chứ không phải một, tức mấy chục vị, bảy người bện tóc, bảy người Nigantha, bảy người lõa thể, bảy người mặc một y, bảy vị du sĩ thân đầy lông lá để móng tay dài. Tổng cộng nhóm đó có ba mươi lăm người, chia làm năm nhóm, mỗi nhóm bảy vị.

Đang ngồi chỗ Đức Thế Tôn, vua từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào phía bên vai, quỳ xuống, chắp tay hướng về phía nhóm bảy vị đó, nói lên tên mình: “Thưa chư tôn, con là Pasenadi, vua nước Kosala” ba lần. Chúng ta thấy ngày xưa Ấn Độ rất kính trọng những bậc tu hành, có một truyền thống từ ngàn xưa đến nay, bao nhiêu ngàn năm rồi, hễ gặp người tu hành là họ cung kính. Nhân sự kiện này nên chúng ta mới có được bài kinh, khi nhóm các vị đó đi qua rồi vau Ba Tư Nặc hỏi Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?” Tức là A-la-hán quả và A-la-hán đạo.

Nhân câu hỏi này mà chúng ta có được bài kinh rất tuyệt vời, cách quán sát những bậc chân tu. Chúng ta thấy không, Đức Phật không trả lời một chiều như mình, hỏi mình thì mình chỉ trả lời phải hay không phải. Ví dụ giờ ai hỏi mình vị ấy có phải chân tu không, mình nói đúng rồi, hay nói không phải, thấy phàm phu khác không? Bây giờ Đức Phật trả lời, câu tổng quát là câu này:

“Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ, trong khi còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả”.

Đây là câu trả lời tổng quát, sau đó mới phân tích, tại sao vậy? Vì mình còn ở trong dục làm sao mình biết được các bậc ly dục? Nhìn bên ngoài đánh giá không đúng, nên Đức Phật nói: “Thưa Ðại vương, chính phải cọng trú mới biết được giới đức của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ”. Cộng trú là ở chung, cộng là chung, trú là ở, cư trú, tức phải ở chung mới biết được giới đức của một người

Chúng ta thấy bài kinh này như vậy nhưng có rất nhiều pháp bên trong, thứ nhất là còn sống hưởng thụ các dục thật khó biết được thật sự các bậc đã ly dục. Thứ hai, muốn biết được phải ở chung, mà phải ở trong một thời gian dài, không có cách nào khác, mà ở thời gian dài cũng chưa, phải có tác ý. Để ý, chứ không phải không để ý, chúng ta thấy không, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. Trí tuệ ở đây là gì? Sự thông minh lanh lợi của thế gian gọi là ác tuệ chứ không phải Thánh trí. Với sự thông minh lanh lợi của thế gian làm sao biết được? Phải có trí tuệ, trí tuệ là gì? Là có sự thấy biết về Chánh Kiến, mình phải có cái đó mới biết được.

Chúng ta thấy không, cả một vấn đề, thứ nhất là ở chung, thứ hai là ở chung một thời gian dài, phải tác ý và trí tuệ, trong này có tất cả ba pháp. Bây giờ thêm nữa, “Thưa Ðại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ”.

Đây gọi là đồng nghiệp, đồng sự, mình mới hiểu được người đó làm ăn có chân chánh không, nếu mình khác nghề thì đâu biết họ làm gì, mánh khóe ra sao. Ví dụ giờ bán ximang mà họ trộn phân lân vô, rồi bây giờ vắc xin lỡ làm bể rồi lấy nước muối chích cho người ta, hay bán thuốc tây giả. Tức phải cùng trong một nghề mới biết được sự trong sạch của một người, chúng ta thấy chưa. Cho nên Thánh trí huệ của Đức Phật, hỏi tới đâu mình được học nhiều tới đó.

Phải là bác sĩ cùng chung với bác sĩ, mình mới biết được bác sĩ đó chân chánh, đàng hoàng, có y đức. Còn nếu giờ mình là dân nhà quê làm ruộng, làm sao biết được ông bác sĩ đó tốt hay không tốt? Phải là bác sĩ đồng nghiệp, cùng làm chung với nhau trong một bệnh viện, trong một khoa, một thời gian dài, và để ý người bác sĩ đó, phải có trí tuệ, chứ không phải ác tuệ, không hiểu biết, thì mình mới biết được. Chúng ta thấy không, lời của Đức Phật tuyệt diệu vô cùng

“Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ”. Chúng ta thấy không, “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn kiến trung thần”, nhà nghèo mới biết đứa con nào thật sự hiếu thảo, đất nước loạn lạc rồi mới biết bề tôi nào thật sự trung thành. Khi mình sa cơ thất thế, lỡ vận, làm ăn thất bại, nghèo nàn, mà lúc đó con mình, em mình hay bạn mình, vợ chồng mình vẫn đối xử với mình một cách chân thật, không thay đổi, vẫn thương mình như thuở nào, như ngày mình còn thành đạt thì chính trong thời gian bất hạnh đó mới biết được sự trung kiên của một người.

Lúc mình còn tại vị, còn đương thời, nhiều người nâng niu, tán dương, đưa mình lên, tới khi hết thời, họ dập mình tả tơi, điện thoại không thèm bắt máy, lại kiếm đóng cửa nói không có nhà.

“Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa một mình”

Thật phũ phàng cho cuộc đời, nhưng muốn biết người đó là một người trung kiên thì sao? Chính thời gian mình gặp những điều bất hạnh, cũng như bây giờ đang đại dịch, những người vẫn còn quý mến mình, còn hỏi thăm sức khỏe, giúp đỡ mình, đó mới là chân nhân, còn không, thì giống như bài kệ “Cúng vong”: “Đại nạn lai thời cát tự phi”, vợ chồng giống như chim chung tổ, nhưng gặp đại nạn mỗi con tự bay đi.

Thành ra, Đức Phật đưa ra nhiều hình ảnh, thứ nhất là làm chung nghề, thứ hai là trong thời gian bất hạnh, khó khăn, “phải trong một thời gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ”.

“Thưa Ðại vương, chính phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ”. Phải đàm đạo, tức phải nói chuyện, người đó phải nói ra cái thấy, cái biết, tri kiến của họ chứ không phải nhìn phớt mặt qua được. Nhìn phớt thấy mang kiến dày, trí thức, tới hỏi mới thấy toàn chơi game, thành ra cận bảy độ, giả dạng tri thức. Mình đâu có nhìn cái mắt kiếng dày đó mà cho là tri thức được. Phải có trí tuệ trong Chánh Pháp chứ không phải không có sự thấy biết.

Chúng ta thấy chỉ với một câu hỏi của nhà vua mà Đức Phật đã giảng giải. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đã khéo nói như sau: " Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ... ... không phải không với ác tuệ"! Thế Tôn nói thật khéo, thật hay, thật đầy đủ các phương diện, khía cạnh để quán xét một bậc thật sự là chân tu hay không.

Nhiều khi bình thường có bạn bè đông đủ, rượu chè, nhưng tới khi hữu sự, phá sản rồi không ai dòm ngó tới. Đó là tình đời, sự phũ phàng, cay đắng của cuộc đời, khi hữu sự sẽ biết người nào chân thành với mình, có thương, có quý mình không. Cho nên, tại sao chúng ta hay nói lúc hữu sự, biến động mới thấy được sức định lực của mình mà bình thường không thấy hết. Chẳng hạn lúc gió thổi tốc ni xá này, mình coi tâm mình mới thấy sức định lực bao nhiêu. Còn bình thường, thấy im im lại tưởng đâu êm rồi, khi hữu sự mới biết được. Bình thường thấy mình an an ổn ổn, nhưng bỗng có ai đó lại đưa mình một cục vàng, hay ai lại chửi mắng, đánh mình, mình coi lại tâm mình như thế nào. Cho nên, tu là để khi hữu sự dùng tới.

Nhà vua mới nói: “Bạch Thế Tôn, có những người trinh thám này của con, những người trinh sát, sau khi đi trinh sát một nước, họ đến con. Trước hết họ báo cáo rồi con mới đúc kết”. Đức Thế Tôn khen Đức Phật, đúng là phải có người đi trinh sát, theo dõi, tìm hiểu, tìm tòi, để ý rồi sau đó mới về báo cáo nhiều góc độ, khía cạnh. Sau đó nhà vua mới đúc kết, kết luận lại nó như thế nào, nhà vua khen Đức Thế Tôn:

“Không phải do sắc tướng

Biết rõ được con người”

Nên đừng thấy khổ hạnh liền nói đó là A-la-hán,

“Không phải nhìn thoáng qua,

Ðặt được lòng tin cậy”

Những câu này mình nghe liền cảm thấy rất xấu hổ.

“Dưới bộ áo đạo đức,

Với hình tướng tự chế,

Những kẻ sống buông thả,

Sống phây phây đời nà

Như bông tai bằng đất,

Giả dạng bông tai thật,

Như nửa tiền bằng đồng ,

Ðược sơn phết lớp vàng.

Một số sống che đậy,

Ẩn kín dưới bề ngoài,

Nội thân thật bất tịnh,

Mặt ngoài giả mỹ diệu”

Thế Tôn nói rằng không phải sắc tướng bên ngoài mà biết rõ được một con người, không phải nhìn thoáng qua mà đặt được lòng tin cậy. Dưới bộ áo đạo đức, dưới hình dáng tự chế, đây là một người tu, nhiều khi thấy đi chầm chậm, mắt nhìn xuống, nói chuyện nhẹ nhàng, dịu dàng nhưng trong tâm họ tính gì mình chưa biết được, mới dáng hình hộ trì bên ngoài thôi. Mình chưa biết trong tâm họ như thế nào? Nó sâu sắc trong sự tu, những kẻ sống buông thả, sống phây phây ở đời này, Đức Phật đưa ra những hình ảnh ví dụ như đôi tai bằng đất vậy, khi thổi lớp vàng giả bên ngoài rồi mới thấy đó là lớp đất, rớt xuống sẽ bể. Giống như nửa đồng tiền bằng đồng được sơn phết lớp vàng.

“Một số sống che đậy,

Ẩn kín dưới bề ngoài,

Nội thân thật bất tịnh,

Mặt ngoài giả mỹ diệu”

Chính tự thân mình che đậy có thấy nhiều không? Bên ngoài nhìn cũng ngon lành lắm, nhưng bên trong đụng tới là thấy tham, sân, si, bản ngã. Thành ra, chúng ta đọc để có sự tàm quý, hổ thẹn để chúng ta cố gắng tu. Nhưng những lời nói này làm ta đau cũng giống như bị điểm trúng huyệt. Ở đây con cũng xin thưa có một số Phật tử cung kính quý thầy quá nhiều, gọi con là Thánh tăng, con xin sám hối vì con cũng đang tu, cũng còn tham, sân, si, bản ngã nhiều, đang hướng tới, đang tu tập nên quý vị đừng thần tượng con quá. Chúng ta cùng nhau tu tập, con không dám nhận những lời tán thán quá cao lớn của các Phật tử.

Mình nhìn lại nội tâm của mình, cũng còn những dục tham, sân hận, bản ngã, mình đang hướng đến con đường để mình nhiếp phục, cùng tu trong Chánh Pháp. Mình không có chưa được mà nói được, chưa thành tựu mà nói là thành tựu, điều này rất nguy hiểm, đó gọi là ác dục, tham muốn xấu ác. Chúng ta cùng nhau hướng tới trên con đường hướng đến sự nhiếp phục và đoạn tận dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Chúng ta chưa hoàn thành, thật sự xong công việc của mình cho nên mỗi người cố gắng sống cho phù hợp.

Người xuất gia sống phù hợp với chiếc y của mình, cố gắng hết sức mình, người cư sĩ sống phù hợp với chiếc áo giới, áo tràng của mình, với đức hạnh của người cư sĩ. Người tu tập theo dòng pháp này mình cố gắng chân thành, chân thật, tha thiết trong sự tu hành, có lỗi mình nhận lỗi, có sai nhận sai. Còn cấu uế, còn lậu hoặc thì mình trình bày mình còn cấu uế, còn lậu hoặc.

Chúng ta nhớ ở đây, Đức Phật dạy mình muốn quán xét một vị đó chân tu, một bậc Thánh thì thứ nhất là phải ở chung một thời gian dài, phải để ý, có trí tuệ. Thứ hai, nói rộng ra những người cư sĩ, phải chung một nghề, phải trong quãng thời gian mình gặp bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người và mình phải đàm đạo mới biết được trí tuệ của người đó.

Không phải nhìn sắc diện bên ngoài, nhìn hình dáng, hình tướng, chiếc áo ở bên ngoài, không phải nhìn thoáng qua vẻ mặt, lớp áo đạo đức, mà hãy nhìn sâu vào bên trong trí tuệ, tri kiến của họ khi họ trình bày về pháp có đúng với những lời Đức Phật dạy trong pháp ấn hay không? Nó có đưa đến sự nhàm chán, ly tham, yếm ly, từ bỏ, chấm dứt, hướng đến sự diệt tận tham, sân, si hay không, đó mới là điều quan trọng. Cho nên những kẻ sống buông thả, sống phây phây ở đời này:

“Như bông tai bằng đất,

Giả dạng bông tai thật,

Như nửa tiền bằng đồng ,

Ðược sơn phết lớp vàng.

Một số sống che đậy,

Ẩn kín dưới bề ngoài,

Nội thân thật bất tịnh,

Mặt ngoài giả mỹ diệu”

Những bài kinh mà Đức Phật giảng cho mình, có khi ở ngoài chín mà bên trong sống, có khi trong chín ngoài sống. Đức Phật ví dụ như những loại xoài vậy, thành ra mình phải trong ngoài thanh tịnh, tương ứng, gọi là ứng pháp hành. Thành ra, chúng ta không vội kết luận một người nào, nhất là những người mình chỉ nhìn thấy và nghe tên tuổi, mình phải có sự quán xét sâu sắc về pháp trong sự tu.

Tâm chấp thủ

Bài kinh “Năm vua” giải quyết được vấn đề rất quan trọng cho chúng ta, lúc đó có năm vị vua, mà vua Ba Tư Nặc đứng đầu trong năm vị vua đó.

“Một thời, năm vị vua, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng thủ đang thọ hưởng, được cung cấp và được đoanh vây với năm dục công đức. Câu chuyện sau đây được khởi lên giữa các vị ấy: "Dục lạc nào tối thượng?

Ở đây, có người nói: "Sắc là dục tối thượng"; có người nói: "Tiếng là dục tối thượng"; có người nói: "Hương là dục tối thượng"; có người nói: "Vị là dục tối thượng"; có người nói: "Xúc là dục tối thượng". Và các vua ấy không thể thuyết phục nhau về vấn đề này”.

Có người nói sắc ở đây chỉ về đàn bà, phụ nữ; có người nói là lâu đài, cung điện, châu báu, ngọc ngà, nhà cửa; có người nói là tiếng, âm thanh du dương, tiếng nhạc hơn hết; có người nói là hương, mùi thơm; có người nói là vị; có người nói là xúc, sự tiếp xúc, từ sự đụng chạm tới sự đi đây đi đó, tiếp xúc cái này cái kia. Năm ông vua này không thể thuyết phục nhau về vấn đề này, không ngã ngũ.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với các vua ấy:

-Chư Tôn giả, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến hãy hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

Thưa vâng, Tôn giả.

Các vua ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala.

Rồi năm vua ấy, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng thủ, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

Ở đây, bạch Thế Tôn, năm vua chúng con đang thọ hưởng, được cung cấp, được đoanh vây với năm dục công đức, câu chuyện sau đây được khởi lên giữa chúng con: "Dục nào là tối thượng?". Có người nói: "Sắc là dục tối thượng". Có người nói:"Tiếng là dục tối thượng". Có người nói:"Hương là dục tối thượng". Có người nói: "Vị là dục tối thượng". Có người nói: "Xúc là dục tối thượng".

- Bạch Thế Tôn, dục nào là tối thượng?

- Thưa Đại vương, tùy theo cùng độ ưa thích mà

Ta nói rằng dục ấy là tối thượng trong năm dục công đức. Và thưa Đại vương, các sắc ấy đối với một số người được ưa thích, các sắc ấy đối với một số người không được ưa thích. Thưa Đại vương, nếu một ai ưa thích đối với các sắc pháp, tâm viên ý mãn, không có muốn các sắc pháp nào khác hơn, các sắc pháp nào tốt đẹp hơn các sắc pháp ấy, thời đối với vị này, các sắc pháp ấy là tối thượng, đối với vị này, các sắc pháp ấy là vô thượng”.

Nếu là mình, khi được hỏi như vậy thì mình trả lời ra sao? Mình thích cái gì thì mình trả lời cái đó là số một. Ví dụ mình thích ăn, ham ăn thì nó là số một, còn người mê dục lạc thì dục lạc là số một, không có gì khác hơn. Một người mê âm nhạc, họ nói âm nhạc là số một, không có cái nào hơn âm nhạc. Còn người ưa thích tĩnh lặng, lúc nào họ cũng muốn ở trong trạng thái yên lặng họ lại ưa thích một đời sống nội tâm. Cái này thuộc về pháp, thành ra như vậy cuối cùng cái nào là số một? Nếu bây giờ những người đó ngồi lại với nhau cãi thì cũng giống như năm ông vua này.

Ví dụ thầy Pháp Nghĩa thích ăn mì, thầy nói mì là số một, mì Hàn Quốc, mì cay; còn ông Năm thích ăn cháo trắng, cháo với dưa muối hay nấm rơm kho chẳng hạn, ông nói cháo trắng là số một. Như Minh Thành thích ăn bún riêu thì cho rằng bún riêu là số một, người kia thích ăn bánh mì, nói bánh mì số một. Vậy cuối cùng món nào số một, mà cãi nhau là không có ngày nào dừng nghỉ.

Chúng ta thấy không, đây là điều quan trọng để giải quyết tất cả sự tranh luận trong dục lạc, thấy rõ vấn đề không? Còn người thích đi chơi lại nói đi chơi là số một, không có gì bằng, tối ngày dắt chiếc xe chạy đi phượt, đi lang thang, đi hết chỗ này chỗ kia rồi té chết, cũng là số một chết cũng được nữa. Họ đi tìm cái dục lạc đó, chúng ta thấy không, nhiều người chết vì cái dục của họ, vì sự ham muốn của họ mà họ chết.

Người muốn nổi tiếng, leo lên tòa nhà mấy chục tầng như vậy mà không bảo họ, không dây, không buộc, nhảy lên đó quay phát trực tuyến cho người ta xem, mấy chục ngàn người, mấy trăm ngàn người rồi bị té xuống. Với những người đó, nổi tiếng là số một, chỉ cần nổi tiếng thôi rồi chết cũng được. Rốt cuộc cái gì là số một? Thưa đại vương, tùy theo cùng độ ưa thích mà ta nói rằng dục ấy là tối thượng trong năm dục. Tùy theo độ ưa thích của người đó đối với loại dục đó mà ta nói đó là bậc nhất, “Và thưa Đại vương, các sắc ấy đối với một số người được ưa thích, các sắc ấy đối với một số người không được ưa thích”.

Thưa đại vương, nếu một ai ưa thích đối với các sắc pháp, tâm ý đặt trọn vẹn ở đó rồi, không muốn một món nào khác hơn món đó nữa, thậm chí có cái đẹp hơn nhưng họ cũng không muốn, họ chỉ muốn cái đó, thì đó là tối thượng đối với họ. Ai cho ví dụ này xem, mời cô, ví dụ về món đồ và con người, cái nào cũng được.

[1:32:15 – 1:33:50 Phật tử cho ví dụ]

Mình thấy đây là tối thượng, vô thượng, thù thắng, nhưng khách du lịch, họ nhìn cảnh đẹp để xem được mấy hình đẹp. Đối với những người không thích, người ta nói ở đây có gì đâu mà lên, đường dốc trơn trợt, khó đi, sâu bọ, sình bùn. Bây giờ mình ví dụ cho sát vào trong kinh: đối với Điệp, Lan là số một, ngoài ra có nhiều người đẹp hơn Lan nhưng chỉ cần Lan thôi, ở đây, bài kinh đang nói về điều này; đối với ông Năm, bà Năm là số một.

Thành ra chỗ Đức Phật trả lời, chúng ta mới thấy thật sự là do kiến chấp của chúng sanh chứ không có cái nào số một. Do tâm người đó, độ ưa thích, tùy theo độ ưa thích mà người ta nói dục đó là tối thượng. Độ ưa thích là gì? Sự quân tập, chấp trước ở trong cảm thọ, trong suy nghĩ của mình, kiến chấp trong đó. Điều đó trở thành tối thượng trong tâm mình chứ thật ra không có cái nào tối thượng.

Ví như một món đồ, như bờ sông đó hay cảnh trí đó đối với người ta bình thường, nhưng ngay tại bờ sông đó mẹ mình chết, thì đối với mình, ấn tượng về bờ sông đó hết sức thâm sâu. Mỗi lần ngang tới bờ sông đó mình xót xa, đau nhói, rơi lệ, nghẹn ngào, nhưng đối với người ta không có gì hết. Hay đối với những người nam nữ, họ quen nhau, chỗ gặp lần đầu hay quán cà phê, chỗ đó là quan trọng, là sống chết trong khi với người khác không có gì, bình thường. Như vậy, cái nào là tối thượng? Tùy theo độ ưa thích là tâm chấp trước, nắm giữ vô cảm xúc đó sẽ khiến người ta đau khổ.

“Thưa Đại vương, các tiếng ấy...Các hương ấy... Các vị ấy... Thưa Đại vương, các xúc ấy đối với một số người được ưa thích, các xúc ấy đối với một số người không được ưa thích. Thưa Đại vương, nếu một ai ưa thích đối với xúc pháp, tâm viên ý mãn, không có ý muốn các xúc pháp nào khác hơn, các xúc pháp nào tốt hơn các xúc pháp ấy, thời đối với vị này, các xúc pháp ấy là tối thượng, các xúc pháp ấy là vô thượng”.

Bây giờ một số người thích ăn sầu riêng, người kia nói sầu riêng thối, vậy rốt cuộc sầu riêng như thế nào, ngon hay không ngon. Tại sao người kia quay clip người nước ngoài ăn sầu riêng và trứng vịt lộn, họ sợ khủng khiếp, mà mình mê sầu riêng, vậy rốt cuộc sầu riêng thơm hay là hôi. Đối với người này họ ưa thích nhưng đối với người kia họ không ưa thích. Cũng món đồ này, cũng loại trái cây đó, cũng căn nhà đó…

Qua điều này chúng ta thấy được gì? Cái đẹp trên thế gian này không có một tiêu chuẩn cố định. Có những dân tộc họ cà răng, căng tai, đeo những vòng cổ càng cao chừng nào càng đẹp chừng đó, giống như hươu cao cổ, vậy cái nào là đẹp? Chỗ này để mình nhìn vào, phá vỡ sự chấp trước, tham đắm trong cuộc đời này, vì nó không có thật.

Ngày xưa, có thời điểm mặc quần tây phải bó sát vô, bây giờ hình như cũng trở lại kiểu đó, rồi có những lúc phải may cho rộng, thụng xuống mới đẹp. Còn hớt tóc kiểu Hàn Quốc, cạo trọc đầu, để chỏm ở trên rồi buộc lại cho có đuôi gà, mà đó là con trai, rồi hớt riết hết kiểu, cạo trọc đầu là thành đẹp. Tất cả những cái là số một trên cuộc đời này thực ra chỉ là tương đối, do tâm tham đắm, chấp thủ của người đó thôi. Có người chỉ thích người mập, không thích ốm, lại có người chỉ thích người ốm, không thích mập; có người thích lực lưỡng, sáu múi…

Tất cả những điều đó do tâm chấp thủ của con người và chấp thủ đó làm cho họ khổ đau. Cũng như mình thấy, bây giờ những đồ lưu niệm, chẳng hạn như chiếc nhẫn hay món đồ bình thường ở ngoài tiệm, đâu có gì nhưng nó là món quà mẹ mình cho, mà mẹ mất rồi nên lúc nào nhìn vô cũng thấy mẹ mình trong đó. Mà món đồ đó trước đây hay bây giờ nó cũng vậy, nhưng mỗi lần nhìn món đồ đó lại khóc. Tâm mình chấp trước, dính mắc vô trong đó.

Còn ở ngoài mà thất tình thì thôi khỏi nói nữa, bao nhiêu những hình ảnh trong đó. Điều làm cho người ta khổ quay quanh năm dục này, không biết bao nhiêu khổ trong đó. “Thưa Đại vương, nếu một ai ưa thích đối với xúc pháp, tâm viên ý mãn, không có ý muốn các xúc pháp nào khác hơn, các xúc pháp nào tốt hơn các xúc pháp ấy, thời đối với vị này, các xúc pháp ấy là tối thượng, các xúc pháp ấy là vô thượng”.

Đặt hết cả tấm lòng họ vô món đồ đó, con người đó thì dù cho có một món đồ, con người nào đẹp hơn cái đó đi nữa, đối với họ họ cũng không thích, chỉ muốn món đó thôi. Phải dùng phương diện tình cảm mới giải thích hết được điều này, ái dục nam nữ, chỉ có người đó, không có người đó là chết, nên tự vận. Cha mẹ không đồng ý là nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông, uống thuốc ngủ chết, nên pháp đó, con người đó là tối thượng, với một tâm chấp thủ, tham ái trong đó.

Như vậy, trên thế gian này chúng ta nhìn thấy cái nào là số một? Do tâm tham ái, chấp thủ khiến mình đau khổ. Thầy Pháp An nãy giờ thấy cười cười, gật gật đầu, mời thầy chia sẻ xem sao.

[1:43:45 – 1:54:45 trình pháp]

Cảm nhận bầu trời rộng, sương mây, không khí trong mát, tiếng chim hót, việc cuối cùng, ý của bài kinh này là gì? Đức Thế Tôn rất khéo léo, vua Ba Tư Nặc hỏi gì Ngài trả lời đó, nhưng mình phải hiểu ý của Đức Phật, ở phía sau không dừng lại ở đó. Tất cả ham muốn của con người, cái con người đeo đuổi, tìm cầu, khao khát, tranh giành, giành giật, tranh đấu là vì tham dục, chấp thủ của họ. Và những đối tượng đó đều tan nát, bại hoại, hoại diệt, nhưng vì ham muốn, sự bám chấp làm cho người ta tới chết cũng không nhả ra được. Họ ngộ nhận, lầm tưởng những điều đó là tối thượng, nhưng đối với người khác nó không là gì cả, cho nên chúng ta thấy câu kinh:

“Đối với người này là ưa thích nhưng đối với một số người khác không ưa thích”.

Thành ra năm dục, cái mà người khác nghĩ là tối thượng, nó là thứ tan nát, hủy hoại, hoại diệt, biến động, trống không. Chỉ do không thấy, không biết sự tham muốn, sự chấp thủ trong lòng làm cho người ta đau khổ. Thành ra điều trọng yếu của người tu là nhiếp phục những tham muốn đó, thấy được những tính chất của những tham muốn đó là bại hoại, giảm tham muốn, bớt tham muốn, dừng tham muốn, lập tức mình liền có được hạnh phúc tối thượng bên trong bằng cách phải thoát ra, tức là phải xuất gia.

Tâm mình hướng đến sự thoát ra năm dục đó, sự tối thượng của mình là gì? Là ly dục, đó mới là tối thượng thật sự, còn năm điều đó không có cái nào là tối thượng. Tối thượng là do tham ái chấp thủ, ảo tưởng của người đó, còn tối thượng thật sự là thoát ly được năm điều đó.

“Thân ơi, tâm đã xuất gia rồi

Xuất lìa tham ái, lìa sân si

Xuất lìa ngã mạn, lìa chấp thủ

Xuất khỏi vô minh, tâm xuất gia”

Chỉ có lìa năm điều đó mới là tối thượng, lìa bằng cách nào? “Xuất lìa tham ái, lìa sân si”, nổi trong một ý niệm của mình. “Xuất lìa ngã mạn, lìa chấp thủ”, vì chấp thủ nên mới cho đó là tối thượng. “Xuất khỏi vô minh, tâm xuất gia”, thân xuất gia chưa đủ, tâm phải xuất gia. Còn những vị cư sĩ thân tuy chưa xuất gia nhưng tâm hãy xuất gia khỏi ràng buộc giống như bài kinh đầu tiên mình học, thoát khỏi ràng buộc…

Mấy chú chim nói đúng rồi thầy, Phật nói đúng rồi, thầy nói đúng rồi, quý thầy, quý cô, đại chúng Linh Quy rất hạnh phúc, tuyệt vời, an lạc. Chúng ta cùng nhau học bài này:

“Thân ơi tâm đã xuất gia rồi

Xuất lìa tham ái, lìa sân si

Xuất lìa ngã mạn, lìa chấp thủ

Xuất khỏi vô minh, tâm xuất gia

Dạo trong sanh tử thế đủ rồi

Luân hồi thêm nữa cũng vậy thôi

Tham, sân, si mãi rồi chỉ khổ

Nhổ gốc luân hồi lẹ, tâm ơi”.

Kính bạch chư tăng ni và quý Phật tử, có một số vị hỏi thăm về vấn đề làm lễ Vu Lan cũng như một số vị gửi về cúng dường cho cha mẹ hiện tiền và quá khứ. Cho nên, Minh Thành có một buổi lễ vào ngày rằm tháng bảy cũng như buổi lễ thứ hai vào ngày mười tám âm lịch, cúng cho Cửu huyền thất tổ, ông nội, bà nội cũng như gia quyến Minh Thành, Phật tử ở dưới quê nên Linh Quy có hai ngày: lễ Vu Lan vào ngay ngày rằm tháng bảy, buổi sáng và ngày mười tám. Minh Thành thông báo cho các Phật tử biết để khỏi mất công từng người hỏi. Rằm tháng bảy chúng ta sẽ cúng lễ trai tăng cho các thầy, các cô cũng như các vị nhập thất tại đây để mừng quý vị tăng thêm một tuổi đạo, một tuổi hạ.

./.

.