Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Từ Vô Lượng Tâm 1

2026-03-03 00:54:03
Từ Vô Lượng Tâm 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khuyến tân tu tập tâm từ PAGEREF _Toc77082699 \h 1

II. Thương chính mình PAGEREF _Toc77082700 \h 2

III. Thận trọng quán xét tự thân PAGEREF _Toc77082701 \h 3

IV. Khuyến tấn tu thiền PAGEREF _Toc77082702 \h 6

V. Hiểu về bài trải tâm từ PAGEREF _Toc77082703 \h 8

I. Khuyến tân tu tập tâm từ

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tu tập dần dần, ta càng thấy tới giá trị quyết định của tâm từ, tu bao nhiêu cũng chưa thấy đủ đối với tâm từ. Cho nên chúng ta để tâm thật nhiều vào tâm từ này, tâm hiền này. Tối hôm qua Minh Thành qua Cô Phong Đảnh một chút, khi trở về Linh Quy thì cả cánh tay nổi lên mẩn đỏ, không biết dính sâu lúc nào, sau đó cả người cũng nổi lên.

Cũng vậy, mình nhìn chỗ nào cũng thấy “sâu” hết, đi chỗ nào cũng thấy “sâu” hết. Rất nhiều sự việc khi tiếp xúc hay trong suy nghĩ, nếu mình có sư nhận diện, ta sẽ thấy trong tâm khởi lên không ít những ý nghĩ hay những cảm xúc khó chịu, bực bội. Những tâm sân giận, cảm thọ khó chịu, suy nghĩ khó chịu này rất là nhỏ nhiệm, cực kỳ nhỏ nhiệm, vi tế. Nếu không tu tập tâm hiền, tâm an tịnh, lắng dịu, tâm từ, tình thương hay lòng bi mẫn thì rất dễ sanh ra những cảm thọ bức xúc, khó chịu, bực bội. Khi sanh khởi như vậy là tự mình làm cho mình khổ, tự mình hại mình trước, cho nên trước khi tu tập an lạc thì chúng ta nên tu tập tâm từ để giúp cho những người chung quanh mình có được sự an lạc. Chúng ta cần tu tập tâm từ, tâm hiền rộng lớn, trải đến khắp tất cả hữu tình chúng sanh.

Chính vì sự thực tập tâm hiền, tâm từ này tuyệt đối quan trọng nên chúng ta phải học thuộc bài mỗi khi hồi hướng, hoặc là học tâm từ trong bài Cửa vào bất tử, học được bài đó thì quá tuyệt vời. Đối với người lớn tuổi học khó nhớ thì có thể học những bài ngắn, tác dụng của nó không thể nào nói hết được.

Ví dụ như mình đi gặp một người, nhưng người đó sân hận, đang trong trạng thái bực dọc, cộc cằn, thì lúc đó mình nên lan tỏa cho người hoặc là có những lúc mình thấy huynh đệ, rồi mở bài tâm từ lên thì người đó sẽ được thấm đượm, lan tỏa. Ví dụ như mình nói ngắn gọn nhưng cũng phải học thuộc lòng, mình đọc bài ngắn gọn: Đây là phương trước mặt, rộng lớn và bao la, hòa lẫn khắp phương này là tâm từ của ta. Tâm từ này rộng lớn, vô lượng và vô biên. Đọc chậm, dần dần sẽ sanh khởi theo lời đọc của mình. Tiếp theo, Đây là phương bên phải… Rồi mình hướng tâm, nhìn về bên phải …hòa lẫn khắp phương này, là tình thương của ta. Tình thương này rộng lớn, vô lượng và vô biên.

Cứ đọc một bài thì mình sẽ áp dụng được mười phương, đó là bài ngắn nhất.

II. Thương chính mình

Chúng ta thấy tâm từ cứu giúp được mình rất nhiều, bớt tạo nghiệp, hóa giải nghiệp, tẩy sạch nghiệp. Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu bài từ vô lượng tâm trong quyển Cửa Vào Bất Tử. Trước giờ chúng ta chỉ đọc, thực tập nhưng chưa có giải thích, chúng ta hiểu càng sâu, càng rộng, càng vững bài này thì khi chúng ta tác ý, quán tâm từ, trải tâm từ thì lúc đó mới hiểu ra tác dụng, kết quả của nó sẽ đến.

Đầu tiên, tác dụng của tâm từ là tình thương, thương xót chúng sanh còn đang lặc hụp trong biển sanh tử khổ đau, đang bị tham sân si hành hạ, đang bị bản ngã, ngã mạn, được mất, hơn thua, đúng sai, yêu ghét làm cho phiền não, khổ đau, tâm từ là tâm thương xót, thương tưởng.

Mà cái quan trọng nhất ở đây mà chúng ta cần nhấn mạnh ở thương mình trước, lâu nay chúng ta đã quen truyền thống là tâm từ là thương người khác, có lòng từ bi đi làm từ thiện, giúp người này người kia, nhưng trong kinh Nikāya là thương mình trước, thương xót cho mình trước.

Mỗi khi mình sanh khởi lên tham muốn, thì mình thấy là mình thương mình, mỗi khi mình sanh khởi lên sự tham ái thì “mình thấy sao mình thương mình quá! Tội nghiệp cho mình quá! Mỗi khi sanh khởi lên tham dục thì mình thấy mình xót thương cho mình quá!” Mỗi khi mình sanh khởi lên sự bực bội, thì “mình thấy là thật thương xót cho nhà mi quá, tạo nghiệp nhiều quá.”

Như sáng nay Minh Thành suy nghĩ hay là thôi không lên? Minh Thành nghĩ lại sâu sắc chính là cảm thọ dẫn đến buồn chán rồi mình thấy thương xót mình hơn. Tại sao đi theo cảm thọ dẫn dắt mà không đi theo thiện pháp? Chúng ta thấy những việc đơn giản dù đã dặn dò nhưng làm cũng sai, nhiều khi chán không muốn nói gì hết, không muốn làm gì nữa, rồi sau đó nằm yên tĩnh lại hiểu ra đó là dẫn dắt của cảm thọ, mình không làm theo cảm thọ này mà làm theo thiện pháp, theo Chánh Pháp. Nhiếp phục được cảm thọ này, phải đi lên.

III. Thận trọng quán xét tự thân

Chúng ta xem sự tu này sâu sắc, hết sức sâu sắc, vi tế, mình phải luôn luôn nhìn lại mình. Nếu như mình không nhìn lại mình, chỉ cần tích tắc thôi là xong, tham, sân, si, bản ngã phóng ra ngoài ngay, chỉ cần mình hướng tâm ra ngoài thôi là tham, sân, si, là hơn thua, đúng sai, phải quấy, nhân ngã, hống hách, khổ đau, phiền não, bực bội, là sầu bi khổ ưu não. Vậy nên hướng ngoại rất ghê gớm, hướng ngoại trong kinh Nikāya nói làm mình bất ngờ, “sắc là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi” là hướng ngoại là định nghĩa trong kinh Nikāya. Hướng ngoại trong kinh Nikāya đó không phải là định nghĩa. Nhận ngũ uẩn là mình tức là hướng ngoại.

Chúng ta thấy chỉ một suy nghĩ sanh khởi lên và chúng ta nắm bắt suy nghĩ đó là hướng ngoại, mình không trụ trong Chánh Kiến mà mình chạy theo suy nghĩ. Một bực bội, sân hận sanh khởi lên rồi mình chạy theo sân hận đó là hướng ngoại, mà mình lại không trú trong thân hình niệm, trong chánh quán. Vậy nên sự tu này hết sức vi tế, nhỏ nhiễm, từng vấn đề, từng suy nghĩ, từng cảm giác, từng hình bóng, nếu không nhận ra là chết ngay, là ma đưa lối quỷ đưa đường hay vào những chỗ đoạn trường mà đi.

Chỉ cần lúc đó mình không sát suốt, mình vô minh, nhận suy nghĩ đó là mình thì bực bội sân hận không được giải tỏa, mình không dùng tâm từ hóa giải ý niệm bực bội, sân hận đó, thì lúc đó sân đó được tồn chỉ, tồn đọng, tồn kho, tồn tại bên trong. Vì lúc đó mình hướng ngoại, mình nhìn cái này cái kia bên ngoài mà mình không xem lại tâm mình.

Nên tại sao bây giờ mình hiểu rằng, các bậc thiện tri thức nhắc nhở mình, thật sự điều này quá sức là vi diệu, Minh Thành sẽ tìm lại bài kinh đọc xem, bên trong đó Đức Phật có nói mình trách mắng tâm mình thì đúng là những gì tác ý mà mình đang thực hành. Nếu như mình không trách mắng tâm mình một cách mãnh liệt thì nó sẽ đi theo chiều hướng theo đường của tâm, ngựa quen đường cũ, thì sẽ đi hoài theo lối mòn năm mười năm hay năm chục năm nữa cũng vậy, một trăm năm nữa cũng vậy và đời sau nữa cũng vậy. Vì đi theo lối mòn của tư duy, lối mòn của suy nghĩ, lối mòn của cảm thọ, lối mòn của tưởng, của hành, của thức.

Vậy nên phải hết sức nhạy bén, tinh anh, sáng suốt ở trong tâm mình, với một người cẩu thả, thô thiển, qua loa thì không thể nào thành tựu với pháp này được. Nên đầu tiên phải thương mình trước, thương cái tham, sân si hành hạ mình, cái bản ngã, cái ta tôi, tao mày nó hành hạ mình. Mình thấy mối khi nổi bản ngã lên thì “Tội nghiệp quá, tội nghiệp cho nhà ngươi quá, thật là tội nghiệp, thật là đáng thương, thật khờ dại, thật ngu si, thật vô minh cho cái bản ngã này!”

Cứ tác ý đến bật gốc, không chỉ tác ý một ít rồi thôi như vậy, tác ý đến một mức độ nào đó là mình luân chuyển nó, tức chấp thủ rồi luân chuyển, chấp thủ vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sự chấp thủ đó bị rung chuyển, chuyển động, chấn động, rung chấn cho đến bật cả gốc, tức là dùng tuệ bật gốc nó. Mà muốn vậy thì tuệ này phải sâu vô tận thiền, tuệ này mới mạnh, còn tuệ tác ý là chặn cái thô, rồi dần dần sâu bên trong là cái nhìn của mình trong cái thiền, là như lý quán sát, dùng như lý tác ý.

Sự quán sát đúng với chân lý, sự thật của pháp đó, không đơn giản ngũ uẩn là ngũ uẩn vì bên trong ngũ uẩn rất khủng khiếp. Trong thọ có bao nhiêu mặt, bao nhiêu hướng, trong tưởng, trong suy nghĩ thì có bao nhiêu suy nghĩ và trong mỗi chiều hướng đó mình phải thấy sự hoạt động của nó, sự manh trá, sự ranh mãnh, sự tinh vi, xảo quyệt của nó.

Chỉ trong một sự việc thôi, mình phải truy cả nguồn gốc, nguồn cội tại sao lại có suy nghĩ như vậy, tại sao lại có cảm thọ như vậy, tại sao chiều hướng tâm của nó như vậy? Mình phải tìm ra rồi mình thấy được ngọn ngành, nguyên nhân, sự an trú, sự chấp thủ của nó, khi mình thấy được hết như vậy tức là mình Chánh Kiến tâm của sự việc đó. Không phải Chánh Kiến là chỉ nói chung Chánh Kiến là nói về năm uẩn vậy thôi, đó chỉ là tổng quát, còn sâu sắc chi tiết thì nó nhỏ nhiễm từng cái, từng sự, từng việc, từng trường hợp, từng hoàn cảnh mà tâm trí mình bị phiền não, bị tham, sân hay bị bản ngã thì mình phải tìm ra, nhìn cho ra được cái nguồn cơ trong vấn đề đó. Chánh Kiến đó là cái thấy đúng trong khía cạnh, hoàn cảnh, trong trường hợp, sự việc đó, trong lúc đó, đó chính là Chánh Kiến, là thấy đúng như nó đang vận hành, đó chính là như lý quán sát rồi sau đó mình tác ý.

Và tại sao chúng ta thấy không đúng là tại vì mình thấy tham ái thì luôn luôn bênh vực chính mình, trong suy nghĩ của mình có bênh vực mình không? Khi có một sự việc gì xảy ra thì mình suy nghĩ gì? Như người thân của mình, anh em ruột của mình hay con mình, cha mẹ mình nhiều khi đánh nhau thì lúc đó mình bênh ai? Thì tất nhiên là mình bênh người nhà của mình. Khi người ở ngoài là mình bênh ba của tôi, anh, em, con của tôi, còn tới sâu bên trong, có một sự việc xảy ra thì mình suy nghĩ theo chiều hướng nào? Là mình đúng hay mình sai? Thì chiều hướng mà mình bênh mình gọi là tham ái, đó là ở trong suy nghĩ.

Chính vì bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc thì khi đó suy nghĩ không suy nghĩ ra được Chánh Kiến, dù cho đã học nhận diện ngũ uẩn nhưng suy nghĩ lại nhìn ra tham ái. Chúng ta thấy có sâu sắc không? Vậy nên suy nghĩ của mình, mình biết suy tính nhưng nghĩ như vậy là sản phẩm của tham ái, sản phẩm của bản ngã, suy nghĩ là sản phẩm từ vô minh, không ai biết được vấn đề.

Nên khi mình bị sai, bị lỗi thì mình chỉ cho mình rồi mình lại sân thì tại vì tham ái sân, trong kinh nói do tham nên lúc đó sân, thì đó là tham ái, là tự ngã. Chúng ta thấy có những chuyện mình biết là mình lỗi, người ta chỉ rõ cho mình lúc đó mình vẫn giận, có như vậy không? Lúc đó là tại sao? Mình biết rõ mình như vậy nhưng mình không nhận? Thì đó là gì? Đó là cái tôi, rồi phản ứng ra thân hành, hành vi, ngôn ngữ nhưng tính thì ở ngoài im ru, không có một phản ứng gì nhưng bên trong là một sự ngấm ngầm chống đối, hoặc là sân, biện bạch, biện minh, ngụy biện, quanh co che giấu lỗi lầm.

Chính là bên trong hay kêu bên ngoài không nói nhưng bên trong nói luyên thuyên nhưng kêu đến thì lại nói không biết, sợ đưa ra tính xấu thì người ta chê còn bên trong là liên tục, ngày đêm đủ lý do, đủ sự ngụy biện, đủ sự quanh co, lươn lẹo, luồn lánh, uốn éo.

Nên thật sự khủng khiếp, không có gì khủng khiếp cho bằng tâm thức này, chính vì vậy mà từ giờ, sau một thời gian lâu dài mình tu tập thì mình thấy được rằng nếu người mới vào học mà học thẳng trong tương ưng uẩn thì thật sự chỉ học theo khái niệm thôi, không phải là chuyện đơn giản.

IV. Khuyến tấn tu thiền

Những câu nói là do những vị đã trải qua trình độ rất sâu sắc mới hiểu ra được tâm còn giờ mình nghe và hiểu vậy thì chỉ là hiểu trên ngôn ngữ, từ nghĩa thôi, chứ mình không thấy được thọ, tưởng, hành nó ghê gớm như thế nào. Khi cảm thọ sanh khởi lên là mình vuốt ve, như con mèo con, thú cưng của mình thì cảm thọ của mình cũng chịu vuốt ve như vậy, những êm ái nên Khổng Tử từng nói “Ngô vị tà kiến, hiếu đức như hiếu sắc giả giả” tức ta chưa từng thấy một ai thương mến đạo đức giống như là thương mến sắc đẹp, đó là thánh nhân của nhân, tức là tâm thức của mình nó ghê gớm lắm. Mình cần sự định tĩnh, nhìn vào trong nên bài thiền của chúng ta, mình chọn để thiền mỗi ngày tu:

“1) Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi...

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: " Này các Tỷ- kheo ". - " Thưa vâng, bạch Thế Tôn ". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỷ- kheo có Thiền định, này các Tỷ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

3) Hiểu biết gì một cách như thật?

Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

4) Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

6) Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.”

(Bài kinh Thiền Định, Phẩm Nakulapita, Chương I. Tương Ưng Uẩn, Tập III. Thiên Uẩn, Tương Ưng Bộ Kinh)

Hãy tu tập thiền định thì tâm yên tịnh để nhìn thấy, thấy biết một các đúng sự thật sanh tử. Nếu không tu tập chánh pháp, không tu tập thiền định để nhìn năm uẩn thì mình không biết đến sắc, thọ, tưởng, hành, thức chứ đừng nói đến biết được một cách đúng như thật về sự tập khởi và đoạn diệt bảy trí, sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Chúng ta thấy cả một công trình tâm linh vĩ đại, không phải đơn giản mà định nghĩ sơ sài, định nghĩa ngũ uẩn sơ sài như vậy, nhiếp phục một vài cái thô đó. Ai hoan hỷ hoan nghênh, nắm trước, an trú năm uẩn, chấp thủ, tạo nghiệp sanh khởi lên, già chết, sầu bi, khổ ưu não sanh khởi lên thì như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Nên để thành tựu một trí tuệ trong chánh, liêm minh, trung thực thì rất hãnh diện. Vì khi mình nhìn tâm mình thì mình không trong chánh, khi nhìn những suy nghĩ, những cảm giác, những tưởng thì mình không trong chánh là mình bị vô minh che đậy, tham ái chi phối. Mình thương mình nên những suy nghĩ đó mình sẽ cho qua. Những suy nghĩ mình biết đó là không đúng, đó là bản ngã, đó là tham ái nhưng mình có cho qua không? Thì khi đó ai hoan hỷ hoan nghênh, nắm trước, an trú trong suy nghĩ của mình chấp thủ trên cảm giác của mình rồi tạo nghiệp, thì sầu bi, khổ, ưu não khởi lên. Sự tụ tập, tập khởi, sanh khởi toàn bộ đau khổ này tiếp diễn, quay trở về hiện tại và đời sống tương lai.

Điều này rất hay, mình biết điều đó sai, biết là quấy, biết là không đúng nhưng mình cho qua. Tại sao vậy? Là vì tham ái, tham ái đối với suy nghĩ đó, mình không diệt, không thẳng tay diệt nó, mình thương cảm thọ đó, mình thích cảm giác đó. Tham ái mình phải hiểu sâu ở mức độ như vậy còn những cái sâu là im ru vậy nên mình mới tu tập tâm hiền, nên nhiều khi nhìn ở ngoài người đó hiền khô vậy nhưng chưa chắc hiền, trong suy nghĩ, cảm thọ của họ tính gì thì mình chưa biết. Quý vị có thấy người rất hiền, dễ thương, nói chuyện dạ thưa ngọt lịm như vậy, nhưng bên trong đựng gì mình chưa biết.

Vậy nên tâm hiền vi tế và sâu xa như vậy thì sự tu cũng vậy. Nên chúng ta nên học bài kinh Niệm … của Đức Phật nói về tâm, tại sao sanh ra loài bò sát, rắn rết trườn uốn, sanh ra thân nên học tiếp bài niệm tiếp theo. Nên không đơn giản nhận diện ngũ uẩn này, từ từ nhận diện nó và phải có thời gian, một người tu là phải kiên trì, bền chí, lập trường kiên định, vững chắc còn nếu tu vài ba ngày rồi buông xuôi luôn hay một tháng là buông xuôi thì sẽ rất khó.

V. Hiểu về bài trải tâm từ

Từ từ thâm trầm, sâu sắc, nhìn ra từ từ các khía cạnh, khi mình nhìn thấy rồi thương nó, mình niệm do tham sân, si hành hạ, bản ngã, ngã mạn, được mất, hơn thua, đúng sai, thương ghét làm cho buồn phiền, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, sầu bi.

Tâm từ vô lượng là sự tu tập để khai mở tình thương, khai mở lòng từ mẫn với chính mình, với mọi người, với mọi loài, làm cho tâm trở nên rộng lượng, bao dung, thông cảm, với tất cả chúng sanh.

Mình tu tâm từ thì tâm mình càng ngày rộng mở ra, rộng lượng ra, cảm thông. Còn nếu mình không tu tâm từ thì rất khó cảm thông với người khác, mà mình cũng không thương được mình nói chi người vì mình không hiểu mình. Mình không hiểu mình đang bị tham, sân si, vô minh và bản ngã hành hạ, phải hiểu cái đó, thấy đó, cảm nhận được sự đau khổ của cái đó thì lúc đó mới có từ. Tức là chúng ta thấy tham, dục, sân, si mê, bản ngã hoạt động rồi mình thấy nó chi phối, dẫn dắt, xâm chiếm, áp đảo, nó làm cho mình sầu bi, khổ, ưu não, làm cho mình “trầy da tróc vảy”, “mũi ăn trầu đầu xỉa thuốc”, “thân tàn ma dại”, đau khổ đủ kiểu, mình thấy rồi, hiểu rồi, thấy được sự đau khổ tột cùng thì cái thấy đó là mình thương mình, tức là có tâm từ, từ tâm của chính mình.

Nên sáng giờ câu này cứ vang lên trong tâm hoài: “thương ai tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay”

Chúng ta phải tập không khó chịu với người chung quanh, dù cho người ta làm sai cái gì đó, hay người ta chỉ trích mình rồi mình đọc câu “thương ai tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay”. Tâm mờ tối không thấy gì thì phải làm sao.

Ví dụ, mình có người thân như anh em, cha mẹ mình bị mù rồi họ cầm tô chén bằng sành, sứ làm rơi bể, đó lại là đồ giá trị, đắt tiền, đồ quý mà mình rất ưa thích nhưng khi nghe thì mình khó chịu, bực mình nhưng mình nghĩ lại là do họ mù, thương thay người thân của mình bị mù “thương ai tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay”.

Ví dụ đó minh chứng được tâm từ, tâm bị mù, những câu rất hay, thấm vào da, đi vào thịt, nhói trong xương, ngấm tận vào tủy mình, là những câu này. Mỗi ngày mình thiền tâm từ giống như mình ăn cơm, tối thiểu là một ngày một lần, hoặc bài đầy đủ bài ngắn phải thiền tâm từ thì mới nuôi lớn được, tưới tẩm được.

Ví dụ như người thân bị mù rồi đi đụng đầu vào cột thì mình không trách được, không trách “tại sao đi làm sao mà đụng đầu vào cột?” mình không trách được vì họ không thấy đường nên không nói “ẩu tả, sao không thấy đường” nên “thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay”.

Những người kế bên mình họ sân si, bản ngã, mình hướng dẫn người ta mình thấy vậy thì tác ý “thương thay cho cái tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay”, tức là thay vì giận dỗi thì mình thương, nên tu tập tâm này để mình khai mở tình thương, giống như trong tâm mình có mạch nước ngầm, như trên Linh Quy có mạch nước ngầm mà mình không biết chỗ thì giờ mình rà đúng mạch đó, đào lên thì nước tung bắn lên và cứ xài hoài như vậy hết đời này đến đời khác. Nên tâm từ này, nguồn mạch tâm linh của từ bi cũng giống vậy, là vô tận.

Khi mình tu thì như đem cái mày rà từ từ tìm mạch, vào đến được bên trong và mình khai mở được thì rất tuyệt vời, rất vi diệu. Còn nếu có mạch mà mình không biết thì vẫn chết khát, vẫn thiếu nước xài, vì mình không mở được mạch nguồn tình thương chân thật, từ tâm. Nên tu tập tâm từ là khai mở tình thương, khai mở lòng từ mẫn với chính mình, với mọi người với mọi loài, làm cho tâm của mình rộng lượng, bao dung, thông cảm đến tất cả chúng sanh.

Tại sao mình thông cảm cho tất cả chúng sanh? Hồi xưa nói việc này như nói khoác, nói trên môi thôi nhưng bây giờ mình cảm nhận được vì mình thấy mình bị tham, sân, si, vô minh hành hạ, giờ mình học thì đã thấy, thì khi mình đã cảm nhận, đã thấy biết, đã cảm thọ thì những người khác đều như vậy, tất cả chúng sanh đều vậy hết thì có một sự hiểu và thương, cảm thông, đó là bắt đầu khai mở được từ tâm. Ánh chớp lóe của từ tâm bắt đầu xuất hiện trên bầu trời tâm thức của mình, nên tất cả chúng sanh đều như vậy, nhìn thử khắp hành tinh này đều là tham, sân si, vô minh, bản ngã đối với ngũ uẩn, nên đó gọi là làm cho tâm trờ nên rộng lượng, bao dung và thông cảm tới tất cả chúng sanh. Thông cảm thật sự, thấu hiểu thật sự, từ đó sự bao dung, độ lượng rộng lớn của mình mới được lan tỏa.

Diệt trừ những tâm nóng giận, cáu gắt, quạu quọ, những cảm thọ bực bội, bức xúc, khó chịu, không hài lòng về nhau, không thông cảm nhau, thì tu như vậy mới có thể diệt trừ những tâm nóng giận, cáu gắt, quạo quọ. Những việc này có rất nhiều, hở ra là có. Cảm thọ bực bội bức xúc khó chịu đó, không hài lòng về nhau, không thông cảm nhau. Tâm này không hiểu về những người này, cảm nhận đồng cảm, cảm nhận được nỗi khổ của mình, sự đau thương trong lòng của họ, sự mù lòa của tâm mình, một cái tâm rất thương, một tâm cứng cỏi, một tâm bóng đêm, một tâm ta đây, của bản ngã rồi mình thông cảm, hiểu, thương, tha thứ như thế nào, thì rất tuyệt vời, đó chính là tâm từ.

Tâm từ này giải quyết được tất cả, mọi vấn đề trên cuộc đời này, tu tâm từ này viên mãn là thành Phạm thiên, là vua trời cấp cao, không phải bình thường, cộng với thánh trí ngũ uẩn nữa là thành Đa văn Thánh đệ tử, Thánh đệ tử thiên.

Đó là chúng ta nói về tác dụng của tâm từ. Khai mở tâm từ của mình, trước khi đi vào bài tập thì chúng ta hít vào thở ra nhẹ nhàng bốn lần và thầm đọc các câu sau đây để khơi gợi cho tâm, để cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng khai mở tình thương và sự cảm thông. Chúng ta thấy trước giờ đọc một bài kinh trải tâm từ chỉ nghĩ đơn giản là đọc bài kinh tâm từ, không chỉ vậy mà mình phải có động tác khởi động, giống như mình lên chiếc xe, phải đạp hay đề máy mới nổ.

Cũng vậy, đầu tiên mình khơi gợi tâm và cảm thọ của mình sanh khởi theo chiều hướng là khai mở tình thương. Vì tâm của mình có nhiều tầm, nếu hướng tới dục tầm, sân tầm, hại tầm thì khai mở những việc đó, nhiều người còn đưa đến bi tầm, từ tầm làm cho tâm của mình khơi gợi và sanh khởi theo chiều hướng của tình thương. Như vậy gọi là khai mở tâm từ.

Đầu tiên làm cho thân tâm của mình nhẹ nhàng, thân làm cho yên, tâm nhẹ nhàng hơn, thở ra nhẹ nhàng hơn. Đầu tiên phải nhẹ nhàng trước, thinh an, nhẹ nhàng, thoải mái trước rồi sau đó là hít vào an lạc, thở ra an lạc, nhẹ nhàng, an vui, an lạc, thoải mái rồi hít vào “Tình thương ơi”, làm cho cả người “nổi da gà” khi đọc:

Tình thương ơi, cảm thông ơi!

Chúng ta nhớ khi đọc thì mình hướng tâm vào trong cảm thọ, vào lồng ngực, cảm giác toàn thân của mình, hướng vào giữa lồng ngực rồi kêu nó “Tình thương ơi!”, giống như một người đang ngủ mà mình đánh thức. Tình thương của mình đã ngủ quên mấy chục năm, mấy trăm năm, mấy ngàn năm, vô lượng vô tỉ kiếp ở trong vô minh và tham ái, thì giờ mình được chánh pháp, được trí tuệ từ lời dạy của Đức Phật thì giống như một tiếng chuông, một sự lay động để cho tâm mình tỉnh thức, tỉnh theo chiều hướng của tình thương, của từ tâm

Tình thương ơi! Cảm thông ơi!

Giống như khi đi đâu về kêu “Má ơi!” thì rất ngọt ngào, êm ái, thấm thía, thì cũng vậy, ở đây mình kêu ngọt hơn như vậy, “Tình thương ơi dậy đi, Hãy thức dậy đi tình thương ơi! Đừng ngủ nữa! Đừng làm kẻ vô cảm, vô tình, vô nghĩa nữa, đừng làm kẻ ngu si, si ám nữa. Hãy thức dậy tình thương ơi!” Kêu đến đâu thì mình nghe câu kêu đó thấm thía, dào dạt, trào dâng hết cảm thọ.

Đó mới gọi là thiền quán, không phải là vô đọc ào ào, làm cho trái tim của mình trào dâng, thấm thía, thấm đượm, rung cảm, thậm chí kích động toàn thân, như vậy mới khai mở cảm thọ, làm vậy cảm thọ mới dâng lên nên tất cả sự thực tập thiền quán không chỉ riêng tâm từ mà các tâm khác đều như vậy hết. Là quay ngược về cảm thọ toàn thân, hướng vào trong lồng ngực, làm cho chiều hướng đó sanh khởi lên, chiều hướng của tình thương “Tình thương ơi, tình thương ơi! Cảm thông ơi, cảm thông ơi!”

Thì khi đó mới sanh ra cảm thọ đó, mình không thể chỉ đọc bằng miệng thôi “Tình thương ơi, dậy trong ta!” Đó là mình kêu rồi thì bắt đầu như làm cho người ngủ đó ngồi dậy:

Ta khơi dậy trong ta, tình thương và từ tâm.

Đó là sự khởi động của từ tâm. Giống như lên xe phải đề hay đạp khởi động thì máy mới nổ. Nên khi hướng dẫn thiền quán thì mình có cảm thọ ra sao thì lời đọc diễn tả cái hồn bên trong đó, phải có sự ngọt ngào, thấm đượm, nhuần thấm dào dạt ở trong sự diễn tả để khơi dậy tình thương.

Ta khơi dậy trong ta từ tâm và tình thương. Tình thương sống trong ta, từ tâm sống trong ta.

Lúc này toàn thân của chúng ta có một sự cảm thọ, cảm chấn, rung động đến từng lỗ chân lông của mình, giống như tự mổ từng lỗ chân lông của mình để chứa đựng tình thương, để sống dậy tình thương, dào dạt từ đỉnh tóc đến lòng bàn chân. Cảm thọ của thương, của từ tràn ngập hết, sanh khởi lên.

Ta khơi dậy trong ta từ tâm và tình thương. Tình thương sống trong ta, từ tâm sống trong ta. Tình thương đang có trong ta, từ tâm đang có trong ta. Ta có nhiều tình thương. Tình thương cảm thân này.

Khi đọc đến câu này cảm xúc thật rung động vì tình thương, thương cảm cho thân này.

Tình thương cảm thọ này. Thọ này ta hiểu thương.

Ta có nhiều tình thương, tình thương này như thế nào? Là thương cảm cho tấm thân này, hình hài này, thể xác này, rất tội nghiệp. Tội nghiệp cho thân xác này lắm, tội nghiệp cho thể xác này lắm, tội nghiệp cho hình hài này lắm, xót thương lắm, thương cảm lắm.

Ta có nhiều tình thương. Tình thương cảm thân này. Tình thương cảm thọ này, thọ này ta hiểu thương.

Ta thương cảm thọ này lắm, cảm thọ này đáng thương lắm, tội nghiệp lắm.

Thương lâu rồi. Ta sống trong sự quên lãng mình, ta bỏ quên cảm thọ, nên để mình khổ đau.

Bao nhiêu lâu rồi? Mấy chục năm qua, mấy trăm năm, mấy nagfn năm qua, vô thỉ kiếp vừa qua ta sống như thế nào? Sống trong sự quên lãng chính mình, ta bỏ quên, quên lãng, quên mình, ta bỏ quên cảm thọ, ta không biết cảm thọ này, ta không biết cảm xúc, cảm giác, không thấu hiểu, không thấy biết về nó, ta không biết là do hội tụ các cảm thông, là kho của tâm thức.

Ta sống trong sự lãng quên mình, trong sự bỏ quên cảm thọ, ta để cho sanh ra những cảm thọ bực bội, cộc cằn, cau có, tức giận, ta để cho sanh ra những cảm thọ hơn thua, vênh váo, cống cao, ngã mạn, dương dương, tự đắc, để sống trong những cảm thọ ngu si, mê muội, giận hờn, thù ghét, sống trong những cảm thọ thúc giục, dục vọng, khao khát, điên đảo, ngu si, đê hèn, hạ tiện, hay những cảm thọ lo lắng, sợ hãi, bất an, nổi loạn, cộc cằn, hơn thua, ganh tị, tập đố. Ta sống trong sự quên lãng mình, ta bỏ quên cảm thọ nên để mình khổ đau.

Thương lâu rồi ta hiểu, ta hiểu cảm thọ này, bị tham sân hành hạ. Ta để mình khổ đau.

Rất thương xót, tội nghiệp không biết bao lâu rồi ta không thương hiểu cảm thọ của chính mình. Ta không biết thương mình, ta thương mà ta lại làm khổ cho mình, ta thương mà ta lại hành hạ chính mình, bằng những dục vọng, bằng những sự khao khát, thèm thuồng, ta lại giày xéo, chà đạp trái tim của ta bằng những sự tức giận, cộc cằn, ta thương mình nhưng ta lại hủy hoại những cảm giác nhẹ nhàng, bình an, ta lại để cho tham sân hành hạ, ta để cho mình phải khổ đau.

Nay hiểu rồi thọ à. Ta nhớ thọ rồi. Thôi thọ đừng sân giận, thọ thương mình nhiều nha.

Nay hiểu rồi, thấy rồi, biết rồi, bắt đầu cảm nhận được, nhớ đến cảm thọ rồi nên thọ đừng sân giận, thọ thương mình nhiều nha. Chúng ta kêu, gọi, thỏ thẻ, thì thầm, dặn dò, nhắc nhở như vậy, giống như lời ngọt ngào của mẹ, giống như lời từ ái của mẹ, giống như lời khuyên nhủ của từ mẫu. Để chúng ta huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ cảm giác hơn thua, cứng cỏi, cộc cằn, ngang bướng, khó nghe, chúng ta dùng những bài thiền quán này để giáo dục, dạy dỗ tâm của mình, không phải chỉ đọc cho hết bài.

Phải đi sâu vào bên trong để có sự chuyển hóa, thay đổi bên trong, thay đổi chiều hướng của tâm.

Thôi thọ đừng sân giận, thọ thương mình nhiều nha.

Chúng ta thấy từng lời rất ngọt ngào, thấu tận tim gan, là Thánh từ, là tinh hoa, tinh túy của tạng kinh Nikāya. Tất cả những gì về tâm từ đều thể hiện trong bài này. Đầy đủ thiền trí, bi trí bên trong nên khi đọc mình ngấm rồi thấm bên trong, rồi làm cho sung mãn cảm giác dào dạt, tràn ngập hết tất cả châu thân của mình. Không phải chỉ đọc lướt qua mà mỗi chữ phải thấm, phải dào dạt, sung mãn.

Chúng ta thấy những người nghiện café, họ chờ nó nhiễu từng giọt, họ chỉ có một ít để uống thôi nên họ thưởng thức từng chút li ti như vậy. Thì cũng như vậy, từng chữ, từng câu bên trong để mình thưởng thức, gặm nhấm để thấm đượm, thấm thía, thấm sâu vào trong tim, trong tủy mình, trong não mình.

Nên giờ chúng ta mới thấy kinh Nikāya mình cứ đọc tới đọc lui mà mình cầu mong việc đọc tới đọc lui đó thì mới thấm, còn nếu đọc tới hoài thì gió thoảng mây bay đi hết. Là vì mình không cảm, không hiểu được Thánh trí tuệ, đại bi tâm của Đức Phật, mình cứ đọc như vậy thì cứ như nước đổ đầu vịt, nước đổ lá môn. Nên khi mình thấm vào từng chữ đó rồi thì khi mình đọc tới đọc lui, đọc qua đọc lại, đọc đến khi nhuần cuốn sách và phải đọc trong tâm, phải đọc đến thấm như vậy.

Khi mình đọc tới, mình nhắc tâm mình hoài thì từ bi như trúng mạch sẽ tuôn ra, phun ra, thì lúc đó chúng ta mới sử dụng được từ tâm. Từ tâm của mình nhỏ và rất dễ mất, chỉ cần có chút chuyện là mình làm mất luôn tâm từ, lại thành vô minh, không thể vững chắc, kiên cố được. Không phải đọc một hai là xong, thiền quán là đọc cho hết như vậy, đọc khoảng một tiếng rồi hết nhưng còn đây là học.

Đừng tìm đau khổ, trái ý nghịch lòng.

Câu này thật vô giá vì lúc đầu bực bội thì đọc lên cảm thấy lập tức lắng dịu “Đừng tìm đau khổ, trái ý nghịch lòng!” Vì khi trái ý nghịch lòng thì mình bực, giận, tức, sân thì mình khổ. Một đời người có bao nhiêu lần như vậy? Một ngày chúng ta bị bao nhiêu lần? Chỉ nghe, thấy là bực, gặp là khó chịu rồi, đó chính là tìm đau khổ trong trái ý nghịch lòng. Nói chung chúng ta cần thuộc lòng, đến chỗ nào thì mình đọc chỗ đó lên. Học bài này như mình đang học kinh Nikāya vậy, mỗi ngày đọc ba câu, đọc hết trong bài của mình mỗi ngày, học phải như vậy.

Tu được tâm này thì sẽ hiền lắm, được hiền trí, hiền từ, hiền lương, hiền hậu, hiền hòa, hiền đức, không bao giờ có sự cãi nhau, trở thành hội chúng tinh ba thù thắng nếu như học được bài này. Vậy nên phải tối thiểu có bốn ngày học tâm thiền, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, vì tâm xả này đến 2 buổi. Mỗi tuần phải tu bốn tâm vô lượng này, lấy tâm từ là chủ lực, trong đại chúng thời trung và riêng buổi trưa phải nuôi lớn tâm từ.

Có tâm này rồi an lạc, lúc nào cũng mát mẻ, thanh lương, tâm nào tới cũng bình an, nếu không có cái này thì rất khổ.

Đừng tìm đau khổ, trái ý nghịch lòng. Đừng làm ác nghiệp, ta thương mình nhiều nha.

Câu này rất ngọt, ngọt hơn cả đường phèn, sữa mẹ, câu này là kim cương, là vàng bốn số chín, phải quý trọng, mỗi chữ như là một viên hột xoàn, là Thánh trí huệ. Ta đừng làm ác nghiệp, ta thương mình nhiều nha. Hai câu này lúc bực bội mà đọc lên thì lắng dịu, mát, ngọt lịm xuống, ngọt như đường cát, mát như đường phèn.

Ta đừng tìm đau khổ vì trái ý nghịch lòng. Ta đừng làm ác nghiệp, ta thương mình nhiều nha.

Đừng để mình đau khổ, này thọ giận thọ hờn. Đừng để mình tạo nghiệp rồi chẳng kịp ăn năn.

Đây là những câu nhắc trong tâm mình, tho thẻ, thì thầm, rót vào tai mình, rót tận trong tim mình là những lời ngọt ngào, những lời từ ái của người mẹ. Mình phải thấy Đức Thế Tôn, bậc Thánh đang thỏ thẻ bên tai của mình khi mình đọc.

Đừng để mình đau khổ này cảm thọ giận hờn, đừng để mình đau khổ nữa, cứ giận hoài, hờn hoài thì khổ hoài. Thay vì chửi khó được chấp nhận nhưng ngọt này thì được nhiều người chấp nhận, nên tâm từ này có thể phổ biến cùng khắp thế giới. Ai tu được bài này viên mãn cùng với Chánh Tri Kiến là tối thiểu phải nhập luân, còn giờ chưa thành tựu được Chánh Tri Kiến mà tu tập được tâm từ này thì tối thiểu sẽ sanh lên thiên giới nên tu bài này không phải chuyện đơn giản.

Nên đừng để mình tạo nghiệp rồi chẳng kịp ăn năn, ngày nào cũng nhắc vậy nên câu vang lên thì mình sợ, câu này thấm nhuần, là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, có câu này chặn đứng lại tái sanh tử của luân hồi, chặn đứng lại vực thẳm mà mình có thể lao xuống.

Đừng để mình đau khổ, này thọ giận thọ hờn. Đừng để mình tạo nghiệp rồi chẳng kịp ăn năn.

Đọc đến đâu ngấm đến đó, đọc đến đâu cảm thấy trào dâng một cảm thọ dào dạt, sung mãn từng lỗ chân lông toàn thân của mình.

Trôi trong dòng sanh tử, khi nổi khi chìm, khổ đau nhiều vô lượng, nước mắt đầy đại dương.

Đó là Khổ Thánh Để hiển thị. Khi đọc trôi trong dòng sanh tử là một biển lớn rộng mênh mông vô tận hiện ra trong tâm mình, mình ở bên trong đó có khi nổi khi chìm, mình thấy những đợt sóng làm chìm nổi khiến mình hoảng loạn, sợ hãi trong đó là mình đang gặp tai nạn. Giống như mình đi biển trượt chân rơi xuống vòng xoáy thì mình kêu la rồi trôi nổi và cuốn trong dòng xoáy đó, thì mình thấy mình cũng giống như vậy.

Đau khổ nhiều vô lượng, nước mắt đầy đại dương.

Mình nên dừng lại quán xem lại những khổ mà trước nay mình chịu đựng, mình lấy những hình bóng của quá khứ đó ra hiện lên những cái khổ mà mình đã chịu đựng, như vậy gọi là thiền quán. Nếu đọc nhanh quá mình chưa kịp quán thì thọ sanh khởi đã qua câu mới. Rồi mình xem lại bao nhiêu lần mình đã chảy nước mắt, bao nhiêu lần mình đã tuôn rơi nước mắt, bao nhiêu lần đã giàn giụa nước mắt, bao nhiêu lần nước mắt đã đầy mặt mình, khóc than?

Đau khổ nhiều vô lượng, nước mắt đầy đại dương.

Đọc đến đó Khổ Thánh Đế rực sáng trong trí não của mình phóng ra, có thể nước mắt của mình tràn ra, thấm thía cái khổ cuộc đời từ nhỏ tới lớn, lôi hết những cái khổ ra, cho những cái khổ trong quá khứ hiện về trong tâm của mình. Rồi mình thấy mình đã chạy theo dục, tham, ái, sân si, để rồi khổ như vậy thì mình đã thấy được chưa?

Có hình ảnh một người mẹ lấy nội tạng, tự trong tâm hiện ra hình ảnh đó, người mẹ làm vậy để cứu sống đứa con thơ, nhưng sau này đứa con lớn lên lại mắng chửi, có hành vi nghịch tử, ngỗ nghịch, người mẹ tuôn hai hàng nước mắt nhưng nó thì chỉ sỉ vào mặt chửi. Người mẹ không biết nói sao thì người mẹ mới mở chiếc áo ra, đưa ra vết mổ đại phẫu “Đây con nhìn đi, đây là vết mổ cứu con trong lúc nguy kịch!”.

Cũng vậy, mình nói với tâm mình, sân hận cái gì, sân hận với ai, tất cả chúng sanh là cha mẹ mình, là người thân, ân nhân của mình, vì mình mà họ đau khổ, giờ mình sân hận với ai, với cha mình, chửi mẹ mình, hơn thua với anh em ruột của mình? Nước mắt lại tiếp tục tuôn xuống đầy đại dương nữa hay sao?

Tâm từ này rất vi diệu, nó hóa giải tất cả những sân hận, nghiệp chướng, những oan gia trái chủ, những nội kết trong tâm, tháo gỡ, cắt hết, mở ra hết, từ tâm giải thoát. Nếu không tu tập tâm này thì rất mệt mỏi, rất sân hận, oán thù, phiền hận ngay cả những ân nhân của mình, cha mẹ, anh em, thầy bạn, huynh đệ, con cháu, thậm chí oán hận chính mình. Cứ hờn dỗi, trách móc vì mình không tu tập tâm từ.

Vô thường là đời sống, nay còn rồi mai không. Giận hờn là thuốc độc, đổ vào dòng tái sanh.

Thôi mình đừng sân giận, đừng làm hại chính mình. Thôi mình đừng làm khổ, đừng làm hại mình nha.

Thương thọ nhiều nha thọ, thương mình quá khổ rồi. Thương thọ nhiều nha thọ, thương mình quá khổ rồi. Thương tham sân hành hạ, thôi thương mình nhiều nha.

Thương thân già bệnh chết, thương thọ giận quên mình, thương các nghiệp rục rịch, thương mình sanh tử mãi.

Thương cái thân già nua, bệnh tật, chết chóc, giận lên là quên mất mình, thương các nghiệp cứ đang rình rập mình, hở là tấn công, mình nào biết các ác nghiệp cứ luôn rình rập mình từng giờ từng phút, từng giây rình phía sau lưng, núp lùm. Những ác nghiệp hở ra là nhảy vào ngay, cứ rình rập trong hốc, trong xó, kẹt, bụi, chỉ cần mình sơ hở là ác nghiệp nhảy ra.

Thương các nghiệp rục rịch, thương mình sanh tử mãi.

Chúng ta thường nhìn thấy chúng sanh hằng ngày trên mặt báo, nổi cơn giận lên là ác nghiệp nhảy ra như: vài ngày lại có chuyện như con giết cha mẹ, anh giết em, vợ giết chồng, đó là ác nghiệp rập rình, thương mình sống chết hoài.

Tình thương này rộng rãi, đến các loài hữu tình. Tình thương này rộng mở đến hữu tình gần xa.

Tình thương này rộng rãi đến các loài chúng sanh. Tình thương này rộng mở đến hữu tình gần xa.

Xin chúng ta an trú luôn trong cảm thọ từ tâm này suốt ngày.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.