7 Cách Trừ Phiền Não - Kinh Tất Cả Lậu Hoặc 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
7 Cách Trừ Phiền Não
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc 1
-Thích Minh Thành-
Ngày 13 tháng 04 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Con đường đoạn trừ các lậu hoặc PAGEREF _Toc70148963 \h 2
II. Giảng cho người biết – người thấy PAGEREF _Toc70148964 \h 3
III. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc70148965 \h 4
VI. Như lý tác ý PAGEREF _Toc70148966 \h 7
V. Tâm từ PAGEREF _Toc70148967 \h 12
VI. Vô minh PAGEREF _Toc70148968 \h 15
I. Con đường đoạn trừ các lậu hoặc
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Xin thưa đại chúng, trong thời gian từ đầu năm học tới nay là tiền phương tiện, là sự chuẩn bị, bây giờ, chúng ta bắt đầu chính thức đi vào kinh tạng. Từ đầu năm tới giờ trang bị cho chúng ta những căn bản trí, những sự thấy biết nền tảng các pháp thân tâm. Sau khi đã nắm được cảm giác toàn thân, thấy biết ngũ uẩn, nhìn nhận một phần tham, sân, si, bản ngã và lậu hoặc, bây giờ chúng ta chính thức bước vào kinh tạng tương đương với Trung A Hàm là Trung Bộ Kinh. Và hôm nay xin mời tất cả đại chúng tập trung lắng tai nghe bài kinh “Tất cả lậu hoặc” – bài kinh số 2 trong Trung Bộ Kinh, chúng ta sẽ nghe một phần trước.
Kinh “Tất cả lậu hoặc” (Sabbāsavasutta)
“Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tô ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo:
Có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.”
Thưa đại chúng, chúng ta thấy có dễ hiểu không ạ? Không phải dễ hiểu, trong khi chúng ta đã có tiền phương tiện, đã có sự sửa soạn, chuẩn bị từ đầu năm tới bây giờ. Chúng ta đã có những bước trang bị, có những tư cụ để có thể mở được cánh cửa của Thánh Pháp tạng, tuy vậy, khi chúng ta vừa chạm tới thôi là đã thấy nhiều lớp ngôn ngữ, nhiều khái niệm, nhiều nghĩa lý thâm sâu. Chính vì vậy, chúng ta học bài kinh này rất chậm, rất kỹ, và bài kinh này là một bài kinh tuyệt đối không thể thiếu đối với một người tu theo đạo Phật.
II. Giảng cho người biết – người thấy
Đây là bảy cách đoạn trừ phiền não, mà chúng ta vừa nghe là cách thứ nhất, do tri kiến mà được đoạn trừ, tức do thấy biết, do thấy đúng mới có thể đoạn trừ phiền não. Khi đó, Đức Thế Tôn ở Xá Vệ, ở rừng Kỳ-đà, vườn ông Cấp Cô Độc. Đây là vô vấn tự thuyết, không có người hỏi, Đức Phật tự nói.
“Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc". Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói".
– "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
Câu này có ý nghĩa gì? Một người mà muốn diệt tận các phiền não tham, sân, si và lậu hoặc thì đó phải là người biết, phải là người thấy thân tâm của mình. Nếu một người muốn nhiếp phục và diệt tận những phiền não, tham, sân, si, lậu hoặc mà người này không biết, không thấy chính mình thì người này không thể nào diệt tận lậu hoặc, phiền não được, không bao giờ điều đó có thể xảy ra.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy? - Có như lý tác ý và không như lý tác ý”.
Người thấy – người biết, thấy biết cái gì? Năm uẩn. Cho nên chúng ta thấy không? Mình học kinh Trung Bộ mà mới vừa vô, mình đọc liền bài kinh là không thể nào hiểu được. Đây là lý do tại sao sáu tháng vừa rồi chúng ta chỉ học phần nhận diện ngũ uẩn. Mình không thấy, không biết tâm mình rồi làm sao mình thanh lọc được cấu nhiễm của tâm? Ta nói cho người thấy, cho người biết, chứ không phải ta nói cho người không thấy, không biết.
Thấy biết cái gì? Thấy biết chính mình, thân tâm của mình. Mà thân tâm của mình là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; là một cục thịt tứ đại này, là những tổ hợp của cảm giác, tổ hợp của hình bóng, của suy nghĩ, của nhận thức. Người thấy như vậy, người biết được điều đó thì ta mới nói cho người đó. Chúng ta thấy không, giữa trước và sau khi nhận diện năm uẩn, sự tu hành trì của chúng ta khác nhau nhiều không? Khi ngồi thiền chúng ta thấy cái nào là thọ không? Thấy cái nào là tưởng trong lúc sinh hoạt hằng ngày không? Có thấy cái nào là hành không? Rồi mình có thấy được tham, sân, si trú ẩn trong ba cảm giác không? Mà trước đó mình không thấy.
“Ta nói cho người thấy, cho người biết”, chúng ta thấy không, một câu đầu trong kinh thôi đó. Nhưng ở đây, có một từ “lậu hoặc” này là một từ mà hôm trước chúng ta có học rồi: “ba lậu hoặc”. Chữ “lậu hoặc” khác với chữ phiền não, khác với chữ tham, sân, si. Chúng ta phải phân biệt được chữ phiền não là sự buồn bực, buồn phiền, buồn lo, nó nhẹ nhẹ. Còn tham, sân, si này, chúng ta đã học rồi – thô tế trong cảm giác của mình. Còn cái lậu hoặc này ta không thấy, nhớ nha, nó ở một cấp độ rất vi tế, chúng ta không thấy, không biết.
III. Nhận diện ngũ uẩn
Nếu chúng ta tu bình thường, không nhận diện ngũ uẩn, không thiền định, không độc cư nhập thất thì không biết lậu hoặc. Thậm chí có nhập thất, có độc cư, nhưng không có người chỉ mình cũng không biết lậu hoặc là gì, vì từ lậu hoặc này mới phát khởi ra những thứ ở trên. Lậu hoặc là một trạng thái tâm hoạt động ngấm ngầm, và trạng thái này hết sức nhỏ nhiệm, sâu kín, vi tế, mà nó điều khiển hết tất cả trong ngũ uẩn mà chúng ta hoàn toàn không thấy, không biết nên chữ “lậu” là rỉ chảy, chữ “hoặc” là mê hoặc, mê lầm. Nhưng chúng ta hiểu danh từ nôm na, thông dụng, lậu này là đi đồ lậu mình dễ nhớ hơn.
Chúng ta thấy những người đi buôn lậu họ giấu đồ giỏi không? Họ giấu rất khéo léo, tinh vi. Chúng ta thấy những người đi qua hải quan, thậm chí họ nhét vô chỗ kín hoặc nuốt vào bụng nhưng người ta vẫn có những máy móc soi chiếu và vẫn phát hiện ra. Lậu hoặc này giống y như vậy, nó trốn, nó len lách, nhỏ nhiệm, vi tế và nó qua mặt mình vù vù mà mình không biết. cho nên, nếu người giữ hải quan đó không có máy móc, công cụ dụng cụ, thiết bị tốt thì những người buôn lậu đi qua vù vù mà họ không hay không biết.
Cũng vậy, tâm chúng ta là một cái tâm uế nhiễm. chữ lậu hoặc này còn có nghĩa rộng là một tâm uế nhiễm, cấu nhiễm, rác bẩn, tâm cấu uế. Giống như một lu nước, chúng ta để quá lâu, không biết hồi nào tới giờ, thì lu này bốc ra một mùi hôi thối, và trong lu nước này sanh ra lăng quăng, nòng nọc, những con vi trùng sinh sôi nảy nở trong đó và nước này là nước cấu bẩn. Thì tâm cấu nhiễm của mình có ba loại: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đây gọi là ba lậu hoặc.
Khi Bồ Tát Tất Đạt Đa ngồi dưới cội bồ đề, đầu tiên Ngài thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn, kế đến là bốn Thánh trí về lậu hoặc. Nếu không thành tựu Thánh trí về ngũ uẩn thì không bao giờ thành tựu Thánh trí về lậu hoặc. Đây là cánh cửa, cho nên phải thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn và Thánh trí về lậu hoặc giống như chúng ta bước vô cửa chùa thì mới nhìn được trong này là cái gì. Mình không bước vô cổng chùa làm sao biết trong này là cái gì. Trí ngũ uẩn là cánh cổng ngôi chùa, sau đó đi vô mới coi thử trong chùa có cái gì.
Cho nên, thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn trước, rồi kế đó, Bồ Tát thành tựu Thánh trí về lậu hoặc, sau đó chứng được tam minh. Bốn Thánh trí về ngũ uẩn là gì? Thế nào là ngũ uẩn? Ngũ uẩn sanh, ngũ uẩn diệt và con đường đưa đến sự chấm dứt về ngũ uẩn. Hổm rày chúng ta đang học bốn Thánh trí về ngũ uẩn, tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tại sao ngũ uẩn sanh khởi? Vô minh và tham ái. Tại sao ngũ uẩn đoạn diệt? Hết vô minh, hết tham ái thì ngũ uẩn chấm dứt, con đường để chấm dứt ngũ uẩn là Bát Chánh Đạo.
Chúng ta mở cuốn Nghi thức tu học Nikāya, mở mục lục tìm Niệm bốn Thánh trí về ngũ uẩn và cùng nhau đọc. Bốn Thánh trí này quan trọng lắm, phải học thuộc lòng. Chúng ta đọc cái này năm lần:
“Niệm THÁNH TRÍ (Bốn Thánh Trí về Ngũ Uẩn)
- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
- Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
- Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
- Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn”.
Ra chơi học bài, cuối tiết đọc lại bốn Thánh trí về ngũ uẩn, dễ ợt, nãy giờ mình đọc năm lần rồi. chúng ta nhớ, Minh Thành cũng không phải là nói lời thừa, năm uẩn là chìa khóa để chúng ta mở kinh tạng Nikāya. Cho nên, từ năm uẩn đó, bây giờ thêm một ví dụ nữa, người ta nói: ở trong chăn mới biết chăn có rận. Như vậy, mình phải đi vào chăn mới biết trong chăn có rận. Cũng vậy, mình phải thành tựu trí năm uẩn mới thấy được lậu hoặc, tham, sân, si, phiền não ở trong năm uẩn.
Bây giờ thêm một ví dụ nữa, khi người ta đưa cho mình một ly nước cam tươi. Nếu ly bằng sành và có nắp đậy, mà mình chỉ để đó thôi, không nhìn vô coi thì mình sẽ không thấy rằng trong đó có nhiều hạt cam, hoặc có rớt cái gì trong đó, hoặc có gì dơ trong ly cam vắt đó. Như vậy, do mình cầm ly nước đó lên, mở nắp ra, uống nước mình mới thấy trong đó còn những hạt cam, hay có gì dơ mình mới lấy ra, hoặc quyết định uống hay không uống. Vậy thì việc nhìn lại ngũ uẩn giống như ly cam, mà hạt cam hay cái dơ, rác bẩn gì ở trong ly đó là lậu hoặc. Ví dụ ba lần rồi chúng ta hiểu rõ, thấy rõ được vấn đề này chưa ạ?
Như vậy, ở trong ngũ uẩn mình mới thấy được lậu hoặc, tham, sân, si. Nếu mình không nhìn thấy ngũ uẩn mà nhìn ở ngoài không thì cái đó mình không thể nào thấy được.
“Này, các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy”.
Cho nên, nếu chúng ta không nhận diện ngũ uẩn thường xuyên sẽ không thấy được tham, sân, si, lậu hoặc. Mà không thấy thì làm sao có thể vớt nó ra, gắp nó ra, bỏ nó ra. Chúng ta thấy chưa? Qua đoạn đó rồi, bây giờ đi vào đoạn này:
“Này, các Tỳ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy”.
Những bài kinh chúng ta đọc, cách giảng pháp và trình bày của Đức Phật hết sức thuận thứ, tuần tự, thứ lớp, thứ tự. Chúng ta thấy cách của Đức Phật giảng pháp, mình đừng nghĩ rằng học cách học của ai giảng pháp mà học cách học của Đức Phật là tối thượng. Những bài kinh này chính là cách giảng pháp của Đức Phật. Chúng ta phải để ý, khi Ngài nêu ra một điều gì, nó có thứ lớp, tuần tự, Đức Phật giải thích, cho ví dụ, rồi chứng minh rất cụ thể, đọc bài kinh này sẽ thấy.
VI. Như lý tác ý
Như vậy, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy? Bây giờ chúng ta mới qua tới một vấn đề đã nói rồi. Có Như Lý Tác Ý và không có Như Lý Tác Ý. Cái này là lõi của pháp hành đây:
“Này, các Tỳ-kheo, do không Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này, các Tỳ-kheo, do Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt”.
Đây là tổng các cương lĩnh của Bảy cách diệt trừ phiền não. Chúng ta nhớ, câu này là tóm thâu hết tất cả các pháp hành của bảy phương pháp ở dưới. Như Lý Tác Ý này chúng ta nói rất nhiều lần rồi, trong đây đề chữ “không”, nhưng thường thường trong kinh đề chữ “phi”. Chữ “phi” có nghĩa là không đúng, đây là Như Lý Tác Ý và phi Như Lý Tác Ý, là không đúng. Tại sao sự diệt tận các lậu hoặc cho người thấy người biết? Tại sao người thấy người biết có thể diệt tận các lậu hoặc, các tham, sân, si, các mê lầm? Vì có Như Lý Tác Ý và có sự không Như Lý Tác Ý.
Chữ Như Lý Tác Ý này chúng ta học rồi, ai giải thích giùm chữ này nghĩa là gì? Thế nào gọi là Như Lý Tác Ý, và thế nào gọi là phi Như Lý Tác Ý? Hai từ này tóm thâu cả bài kinh này và cũng là tóm thâu những pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Câu này sẽ hỏi tới hỏi lui hoài, và chúng ta thi sẽ làm bài này. Như Lý là đúng như chân lý, Tác Ý là tác động tâm lý đúng như tâm ý. Tác động tâm ý của mình đúng như chân lý thì gọi là Như Lý Tác Ý. Mà tác động tâm ý là gì? Là sự chủ động suy tư, suy xét, quán sát, tư duy, nhắc nhở, đánh thức, thức tỉnh mình, chính mình làm điều đó.
Chữ “phi” này mình hiểu là tác động tâm ý không đúng như chân lý, nghĩ sai, suy xét, suy tư, diễn dịch sai thì chúng ta có câu bên dưới:
“Này, các Tỳ-kheo, do không Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng”.
Chúng ta thấy không, do suy nghĩ sai sự thật nên phiền não, lậu hoặc, tham, sân, si chưa sanh bây giờ nó sanh, mà nó đã sang thì bây giờ tăng trưởng, phát triển lớn mạnh. Ai cho ví dụ, do mình suy nghĩ sai nên tham dục, sân hận, si mê, mê lầm, lậu hoặc nó sanh. Nếu nó đã sanh rồi mà mình suy nghĩ sai nữa thì nó tăng trưởng, phát triển lớn mạnh, quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo. Suy nghĩ sai, suy xét sai, suy tư sai, nhìn nhận sai, quan điểm sai.
Ví dụ cô này là thiên kim tiểu thư, cô đi chùa, thấy ông thầy làm hương đăng rất hiền lành, từ ái, trẻ trung, đẹp đẽ, viết chữ hết sức đẹp, gặp con người lại càng hảo tướng. Cô vô cô nhìn thấy thì về phi Như Lý Tác Ý. Ái chà, cái này mệt rồi, cô đem lòng thương ông thầy, do cô suy nghĩ sai, người ta là người tu, người xuất gia, hết chỗ thương rồi sao mà thương người tu. Do cô suy nghĩ sai, mà cổ cứ nghĩ như vậy, cái phi Như Lý Tác Ý này cứ lặp tới lặp lui, tăng trưởng, phát triển rồi cô này bị bệnh.
Mà chúng ta dùng chữ tương tư là không đúng, tương tư là chừng nào hai người nhớ nhau mới gọi là tương tư, cái này là cô đơn phương suy nghĩ về ông thầy. Và do suy nghĩ sai này nó lặp tới lặp lui, mà mỗi lần nó tác ý sai như vậy thì có cảm giác, hình bóng sanh không, có suy nghĩ, hành sanh không? Cứ lặp tới lặp lui, những thọ, tưởng, hành đó cứ tới lui, tới lui, những hình ảnh đó cứ hiện ra, những cảm giác, những suy nghĩ cứ như vậy cứ chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển nên có phải rằng do không Như Lý Tác Ý mà các lậu hoặc chưa sanh nay sanh khởi; và các lậu hoặc đã sanh nay phát triển, tăng trưởng quảng đại, bành trướng, áp đảo. Và rồi cô này sụm xuống, nằm trên giường, bị bệnh, đòi chết đòi sống với cha của mình, đó là phi Như Lý Tác Ý.
Đó là nói câu chuyện hồi xưa, bây giờ chuyện ngày nay, thấy chưa. Bây giờ mình đi tu rồi, mình từ bỏ hết tất cả cha mẹ, anh em, ông bà, cô bác, tất cả lục thân quyến thuộc, từ bỏ hết tất cả tuổi thanh xuân, bao nhiêu những danh lợi, tài sắc, sự nghiệp… Mình bỏ hết rồi mình đi tu, tự nhiên đi ngang mình gặp một bóng hồng đó, người ta có một ánh mắt khả ái, rồi khi mình nhìn, tiếp xúc như vậy lúc đó sanh thọ, mà mình phi Như Lý Tác Ý. Mình để cho hình bóng đó, sắc tưởng đó, chúng ta học rồi phải không? Sáu tưởng học chưa?
Hình bóng trong tâm đó nó xâm chiếm, áp đảo, ẩn ẩn hiện hiện, lặp tới lặp lui. Những cảm giác đó sanh khởi, những suy nghĩ đó tiếp tục, nuôi dưỡng, phi Như Lý Tác Ý. Người này cứ suy nghĩ như vậy một thời gian thì muốn gặp, muốn nói chuyện, muốn tiếp xúc, tăng trưởng, phát triển lên, dục lậu chưa sanh nay sanh khởi, dục lậu đã sanh nay tăng trưởng, phát triển, quảng đại, rồi tóc mọc dài ra. Chúng ta thấy chưa? Tóc mọc dài ra thì thầy cô gì cũng y chang, chứ không phải nói thầy không mà cô không có.
Rồi vắng mặt một thời gian, dẫn lại, phía đằng sau lưng, tay bồng tay bế, phía đằng trước nói vô lạy sư ông đi con, đó là phi Như Lý Tác Ý, là dục lậu chưa sanh nó sanh khởi, mà dục lậu đã sanh thì nó tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Bây giờ mà mình Như Lý Tác Ý thì sao? Mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết gia đình, những chí nguyện xuất gia cao thượng, thoát tục, xuất trần. Mình phải tìm cái gì vô thượng, tịch tịnh, tâm tối thắng, an lạc đạo lộ. Đây là những cái đưa đến sự ràng buộc, hệ lụy, trói chăng, đau khổ.
Mình đã từ bỏ, chẳng lẽ mình khạc ra một cục đàm bây giờ mình đi liếm lại hay sao? Đó là cách Như Lý Tác Ý, mình đã hỷ ra một đống nước mũi rồi, bây giờ lại liếm lại hay sao? Từ bỏ đi, vứt bỏ, quăng bỏ, giải thoát đối với tâm niệm tham ái này. Đó là Minh Thành mới cho một ví dụ về Như Lý Tác Ý nhẹ nhẹ, vừa vừa, còn có những cái mà mình phải mạnh hơn nữa. Mình càng mạnh thì tuệ lực của mình càng phát triển, mới đủ sức đánh phi Như Lý Tác Ý này. Cho nên, cái đúng chân lý này đánh cái sai chân lý, nhưng cái đó do sự tác động tâm ý. Mà tác động tâm ý là gì? Là chính mình chủ động suy nghĩ mới được, mình phải làm khơi dậy trong mình một sức mạnh, một nội lực, công lực, một chí nguyện cao thượng.
“Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Và trí và kiến khơi lên nơi Ta: Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.”
(Kinh Thánh Cầu – Trung Bộ Kinh)
Này, các Tỳ-kheo, các ông bị sanh, lại đi tìm cái bị sanh, các ông bị già lại đi kiếm cái bị già, các ông bị bệnh lại đi tìm cái bị bệnh, các ông bị chết lại đi tìm cái bị chết, các ông bị sầu bi khổ ưu não lại đi tìm cái sầu bi khổ ưu não. Tới đây là vừa đủ rồi, tới đây là nhàm chán rồi, tới đây là từ bỏ đế thoát ra khổ uẩn này.
Lúc đó, do mình có học pháp, do mình có một số vốn liếng, do mình có những trầm tư, suy tư về những lời Thánh ngôn của Đức Phật thì mình mới móc hết tất cả ra để đánh phá cái phi Như Lý Tác Ý, cái suy nghĩ sai, suy nghĩ trật, suy nghĩ theo chiều mê, theo dục, tham, ái, suy nghĩ theo thói quen của nghiệp, theo tập khí, theo vô minh, theo lậu hoặc. Mình phải đánh phá nó, như vậy, dục lậu chưa sanh không sanh khởi, còn dục lậu đã sanh sẽ được trừ diệt. Chúng ta thấy chưa?
Đó là bí kíp Chánh Pháp, và đây là tổng cương lĩnh pháp hành của kinh Nikāya, thuần túy là Như Lý Tác Ý cộng với thiền định, tức chỉ và quán. Quán chính là cái nãy giờ chúng ta nói, là Như Lý Tác Ý, là tuệ lực, tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, hung hãn lực, là tinh cần, nhiệt tâm, Chánh Niệm, tỉnh giác, mạnh mẽ, oai hùng, đại hùng đại lực. Đại hùng đại lực là sự Như Lý Tác Ý đó.
Còn nếu như mình gặp, mình chỉ đi theo thọ, tưởng, hành. Hình bóng đó hiện ra là mình đi theo, suy nghĩ đó, cảm giác đó, mình bị đắm chìm trong đó, đi ra không được, đi theo phi Như Lý Tác Ý này, chìm đắm trong biển khổ, đi theo nghiệp, đi theo thói quen, theo tập khí, theo dục, theo tham, theo ái. Chúng ta thấy không? Nãy giờ mình nói cái dục lậu, còn cái sân cũng giống y như vậy. Mình đang nhẹ nhàng thảnh thơi, đi kinh hành chung quanh chùa, tự nhiên điện thoại reng lên, mình bắt máy, trong này vang lên xối xả, giống như tạt gáo nước lạnh trong mặt mình, nói mình thậm tệ không còn gì hết.
Lúc đó có hai trường hợp xảy ra, mình phi Như Lý Tác Ý, là sẽ bực bội, sân hận. Mình đi theo cảm thọ do nhĩ xúc sanh, mình không biết do duyên có điện thoại, có âm thanh, do sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, gặp gỡ, giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của đôi tai, gọi là nhĩ xúc. Từ nhĩ xúc sanh ra thọ, tạo thành thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư, suy nghĩ những âm thanh đó. Những lời nói cứ dội dội, vang vang trong tâm mình, rồi những cảm giác cứ bừng bừng lên.
Lúc đó chúng ta không nhìn thấy các pháp vận hành mà chỉ nhìn thấy một cái tôi chần dần – tôi đang giận, đó là tà kiến, vô minh, chấp thủ, không phải người tu. Lúc đó mình phải thấy, do duyên có lỗ tai, duyên có tiếng trong điện thoại, trước khi nghe mình đâu có bừng bừng. Khởi ra sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ âm thanh tạo thành nhĩ xúc. Khi nhĩ xúc như vậy rồi tạo thành thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó là thanh tưởng, thanh tư, những âm vang đó vang lại trong tâm, mình suy nghĩ về những âm thanh đó, rồi bắt đầu những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác của mình bực lên, bừng lên, bốc lên, cháy lên, đốt lên, rồi mình bị nhiệt não, thiêu đốt trong thọ do nhĩ xúc sanh đó.
Chúng ta thấy các pháp vận hành rõ không? Rất rõ, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu, đó là Chánh Pháp, chỉ cho mình thấy rõ ràng căn nguyên, nguồn cội của tham dục, sân hận sanh khởi, vận hành, an trú trong thân tâm mình và cách nào để sanh khởi, cách nào để cho nó chấm dứt, Đức Phật đều giải thích rõ, chúng ta thấy không?
Bây giờ, mình phi Như Lý Tác Ý rồi mà cơn giận nó cứ tiếp tục, không phải ngay lúc đó giận mà ngày mai nó giận, tối ngủ không được, sáng ăn sáng không vô. Rồi ba bữa sau, bảy bữa sau, một tháng sau mà thanh tưởng, thanh tư ở trong này cứ dội dội, vang vang mà nó cứ suy nghĩ triền miên. Có những người vì một câu nói, vì một hành động mà mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, năm mươi năm, và cho đến sống để dạ, chết mang theo, đau khổ vô cùng. Chúng ta thấy không, có gì đâu, chỉ là thọ do nhĩ xúc sanh thôi chứ có gì đâu?
Hoặc là thọ do nhãn xúc sanh, nhưng vô văn phàm phu, ít nghe, không học Chánh Pháp, không gặp bậc Thánh, không gặp bậc chân nhân, không thuần thục pháp không tu pháp của bậc Thánh, bậc chân nhân, cho nên bị ngũ uẩn này khống chế, dẫn dắt, nhận chìm, áp đảo, hành hạ, sai khiến, trói cột, chúng ta thấy rõ ràng vấn đề không? Còn nếu như bây giờ mình Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý một cách ngược chiều lại, các pháp này duyên sanh. Trước khi mình nghe mình đâu có bừng bừng như vậy, cảm thọ này là cảm thọ vô thường, sanh khởi rồi diệt, cảm thọ này là tan biến, là lắp ráp, là duyên sanh.
Mà bây giờ mình đi theo cảm thọ này để thiêu đốt, để đau khổ mà mình đâu muốn khổ, nên giờ mình phải tác động tâm ý của mình, Như Lý Tác Ý, tác ý thương thay cho ta, đau xót thay cho ta, ta đi tu mười năm, ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, tàu hũ tương rau, trưa không ngủ đặng đi học khổ sở, nhịn sắc nhịn dục, bây giờ chút sân này nhịn không được thì làm cái gì, phải không?
V. Tâm từ
Rồi mình trách mắng tâm mình, quở trách, huấn luyện, tác động tâm mình để cho nó nhả ra, mửa ra, khạc ra, ói ra, vứt bỏ những cảm giác sân hận đó, rồi bắt đầu mình trải tâm từ, mình an trú cảm giác toàn thân, làm cho từ đỉnh đầu của mình tới gót chân, mỗi tế bào, mỗi gót chân, mỗi huyết quản, mỗi mạch máu của mình thấm nhuần là một lòng từ, một sự bi mẫn, xót thương, một sự từ tâm đối với cảm giác sân hận của chính mình. Thương mình, mình đã khổ với cảm giác này bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, mình đã bị nó đốt bao nhiêu ngàn vạn năm rồi mà giờ mình còn tiếp tục bỏ củi vô nữa đặng đốt hay để làm gì?
Mình tác động tâm ý như vậy, rồi bắt đầu trải tâm từ, mình sẽ thấy người mình rần rần, toàn bộ cơ thể, từng lỗ chân lông của mình thấm lòng từ trong sự thực tập cảm giác toàn thân hằng ngày nhuần nhuyễn của mình. Lúc đó từ chỏm tóc cho đến gót chân không có một chỗ nào nhỏ bằng một sợi lông mà không có cảm giác của từ tâm, của bi mẫn, của xót thương, của tình thương. Và lúc đó, từ cảm giác từ tâm này, tình thương này, lan tỏa cùng khắp toàn thân này, mình trải tâm từ đó lan tỏa, bao trùm đối tượng mà mình sân hận.
Trong bài kinh “Cái cưa” của Trung Bộ Kinh, Đức Phật nói là “giống như một người cầm một tấm vải đẹp phủ lên người kia, bao trùm người này từ đỉnh đầu tới gót chân. Cũng vậy, tâm từ của mình lan tỏa, bao trùm đối tượng sân đó.
“Ở đây, chư Tỷ-kheo các Ông phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy”.
Giờ mình làm cho đối tượng sân hận đó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tan biến một cách hoàn toàn. Mình lan tỏa cảm giác thương yêu, từ bi, tình thương, từ tâm của mình, bao trùm và thấm nhuần đối tượng kia, giống như mình đi tắm bằng vòi sen, nó chảy nước tuôn xuống từ đỉnh đầu cho tới gót chân, không chỗ nào mà không thấm ướt. Từ tâm của mình, cảm giác thương yêu của mình lan tỏa đến đối tượng kia, thương người đó giống như thương mình, thương mình giống như thương người đó.
Tại vì sao? Vì chúng ta đều là nạn nhân của sân hận, nạn nhân của sự nhiệt não, nóng bức, của những tham, sân, si, phiền não, lậu hoặc. Chúng ta cùng là những chúng sanh đang khổ đau, đó là sự trải tâm từ, mà cũng là sự tác động tâm ý đúng như chân lý. Lúc đó, chúng ta lập tức làm cho an tịnh cảm giác sân hận, và chúng ta xóa sạch sân hận đó, bứng tận gốc rễ nó và sanh khởi lên một cảm giác từ tâm. Đức Phật dạy rằng tu tâm từ như thế nào? Thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách vững trú, vững chắc.
Thế nào gọi là tu tâm từ giống như cỗ xe? Là chiếc xe của mình bất cứ lúc nào đề máy lên là nó sẽ nổ, mình leo lên xe, muốn đi tới đâu là chiếc xe sẽ đi đến đó, đúng như ý muốn của mình. Cũng vậy, mình tu tâm từ đến mức tâm từ này nó thành một công cụ để mình sử dụng. Và bất cứ lúc nào mình chỉ cần đề khởi lên: tình thương ơi, tình thương ơi! Bắt đầu trong này nó tuôn trào, giống như mạch nước, mạch nguồn tuôn ra và cảm giác từ tâm của mình nó lan tỏa cùng khắp. Và mình muốn đưa từ tâm đó đến người nào là dòng cảm thọ, cảm xúc đó sẽ lan tỏa tới người đó.
Thậm chí mình đưa tâm từ đó bao trùm đầy cả giảng đường này, bao trùm hết chùa này, trùm hết quận Bình Thạnh, lan tỏa ra quận nhất, quận hai, quận ba, quận năm, lan toả ra Tân Phú, Tân Bình, cùng khắp hết mấy chục quận huyện, lan xuống miền Tây, lan ra miền Trung, miền Bắc, bao hết tất cả dải đất hình chữ S này là một tâm từ bao trùm toàn quốc, cả nước Việt Nam. Không dừng lại ở đó, chúng ta bung tâm từ lan tỏa khắp cả khu vực châu Á, Đông Nam Á, trải dài qua các nước, châu Mỹ, châu Âu, châu Úc, châu Phi và cùng khắp, là một tâm từ bao trùm khắp năm châu.
Và mình ngồi đó để mình mở tâm từ vô lượng, đó là công phu tu tập tâm từ của chúng ta, mà phải rèn luyện, chứ không phải nói không, phải thực tập mỗi ngày, làm cho tâm từ này thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách. Và bất cứ lúc nào, chúng ta leo lên cỗ xe, chúng ta muốn đi đâu là tâm từ đưa mình tới đó. Cũng vậy, mình muốn đưa tới ai thì người đó sẽ nhận được từ tâm lan tỏa của mình. Tu vậy, từ tâm như vậy, và cho đến một lúc, chúng ta thực hành nhuần nhuyễn thì tâm từ đó sẽ trở thành từ vô lượng tâm, nó không còn là một tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhít nữa mà nó là một cái tâm rộng mở, rộng lớn, vô lượng, vô tận, vô biên, không gì chướng ngại, “Pháp lực bất tư nghì, từ bi vô chướng ngại”.
Đó là một sức mạnh không phải chỉ nói trên miệng thôi, mà đó là một sức mạnh nội lực của thiền định tâm từ, phải được thực tập, phải nhuần nhuyễn, phải lão luyện, phải thuần thục, phải làm cho nó thành cỗ xe, phải làm cho ngay cả những người hại mình, người nói xấu mình, người làm cho mình đau khổ, là người trải tâm từ nhiều nhất đối với người đó. Đó là chủ nợ của chúng ta, hãy trân trọng những chủ nợ của chúng ta, những đối tượng kiếm chuyện, sanh sự, gây sự với mình hoài thì mình biết đó là chủ nợ đấy.
Hãy trải tâm từ nhiều, mỗi ngày trải ba cử cho họ, trải tâm từ rộng ra, lớn ra, khắp ra, khắp phương trên, phương dưới, bề ngang, bề dọc, cùng khắp hư không giới, vô biên giới, là câu hữu với lòng từ, lan tỏa cùng khắp, vô biên khắp mười phương hư không. Và một bữa nào đó, Minh Thành sẽ hướng dẫn cho đại chúng Từ vô lượng tâm, chịu không? Chúng ta sẽ để dành một bữa, khoảng một tiếng đồng hồ hơn, ta sẽ tập trải tâm từ ngay tại trong lớp.
Nếu có thầy nói lên Linh Quy Pháp Ấn tập trải tâm từ thì quá tuyệt vời rồi, mình đứng trên đó thì không gian rộng, mình dễ trải hơn. Khi chúng ta lấy được thọ, lấy được không gian đó vô rồi, ta cất trong tâm, khi trở về chùa, khi thực tập trải tâm từ, mình lấy cái tưởng đó ra. Khi mình trải nó mình trải hết tất cả tường quách và chướng ngại vật thì tâm lực của mình sẽ không bị những vật gì làm chướng ngại.
VI. Vô minh
Chúng ta thêm một ví dụ về vô minh, hồi nãy đã có tham, sân, giờ thêm cái ví dụ về vô minh. Mình không có tác động tâm ý, không suy xét, suy tư, quán xét, quán chiếu một cách đúng với sự thật, mình lại đi suy nghĩ sai với sự thật thì vô minh chưa sanh nó sẽ sanh, mà vô minh đã sanh rồi nó sẽ tăng trưởng, phát triển, bành trướng, xâm chiếm trong thân tâm mình. Vô minh như thế nào? Mình không nhìn thấy năm uẩn, chỉ thấy một cái tôi, cho nên chúng ta sẽ gặp những từ trong này rất nhiều, chúng ta coi những từ này không phải dễ hiểu.
“Này, các Tỳ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phượt”. Những từ này không phải đơn giản, dễ hiểu “Do không Như Lý Tác Ý, ta có mặt trong thời quá khứ hay ta không có mặt trong thời quá khứ”. Ở đây, nếu đọc sẽ rất khó hiểu, Minh Thành sẽ nói tiếng Việt luôn bây giờ cho đại chúng dễ hiểu. Mình nghĩ rằng, không biết hồi xưa mình có hay không có, hồi thuở xa xưa mình có mặt hay là không có mặt, mà mình có mặt như thế nào, hình hài vóc dáng của mình ra sao, rồi sau này mình là cái gì, mình có mặt hay không có mặt, rồi sau này mình có mặt như thế nào? Hình dáng, vóc dáng của mình sau này sẽ ra sao? Rồi mình nghi ngờ mình ở trong hiện tại là có mặt hay không có mặt, ta có mặt như thế nào, ngay bây giờ ta làm sao? Hình dáng, vóc dáng của ta như thế nào? Chúng sanh từ đâu đến, rồi sau khi chết sẽ đi về đâu? Rất nhiều.
Rồi ta có tự ngã hay ta không có tự ngã, nhưng nói chung, tất cả những từ ở đây đều là sự chấp ngã, cho rằng có một cái tôi trước kia, bây giờ hay mai sau tôi sẽ trở thành như vầy, tôi sẽ ra sao, rồi cứ lòng vòng lòng vòng mà không ra khỏi được cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cứ xoay vòng ở chỗ đó. Những suy nghĩ đó sẽ tạo thành cái gì? “Như vậy, này các Tỳ-kheo, gọi đây là tà kiến” tức cái nhìn sai lầm về ngũ uẩn này. Như vậy gọi là kiến trù lâm, là rừng rậm, là kiến chấp giống như rừng rậm, hoang vu, và những kiến chấp này sẽ tranh luận hoài, nói hoài, sẽ là bao nhiêu những chủ thuyết, bao nhiêu những tư tưởng, bao nhiêu những lời nói, lời nói hoài hoài không bao giờ kết thúc gọi là hý luận phù phiếm.
Hễ còn trong bản ngã đó là cứ như vậy hoài không đi đến kết thúc, nó sẽ tranh chấp, trói buộc, trói chăng. Đó là kiến chấp về bản ngã, nó sẽ là sai lầm, là rừng rậm, hoang vu, là sự tranh luận vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày kết cuộc, tranh chấp, trói buộc, ràng buộc, kiết phượt, kiết sử một khi đã dính vô thân kiến, kiến chấp về thân, chúng ta đã nói rất nhiều lần. Đó là phi Như Lý Tác Ý, cứ nghĩ tôi hoài, vô minh chưa sanh nay sanh khởi, vô minh đã sanh thì sẽ tăng trưởng, phát triển quảng đại.
Còn bây giờ mình Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý, suy xét cho đúng. Có gì là tôi đâu, thân này là do tứ đại, đất nước gió lửa. Mình phải học thuộc lòng những bài kinh, thân này do cha mẹ sanh, do tứ đại tác thành, cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Học thuộc lòng những câu Như Lý Tác Ý đó để khi hữu sự mình lấy ra để tác ý mình mới đánh đuổi được vô minh trong suy nghĩ mình, sự không hiểu biết ở trong cảm giác, trong hình bóng tư tưởng, trong nhận thức mà mình phải có những Thánh trí này, đuổi những tà kiến ra.
Còn nếu không, những tà kiến đó nó xâm chiếm, áp đảo mình, trù dập, đè đầu cỡi cổ mình, mình không thoát ra được, mình bị bát quái trận, thập diện mai phục, trùng trùng lớp lớp. Mình có sáu căn, con mắt cũng nói là của tôi, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, thân, ý của tôi. Rồi sáu trần, sắc này của tôi, âm thanh, mùi vị này là tôi, của tôi; rồi xúc này là tôi, pháp này, thọ, tưởng, hành trong tâm cũng của tôi. Rồi sáu thức, rõ biết sắc này là tôi; rõ biết âm thanh này là nhĩ thức, là tôi; rồi rõ biết mùi vị, tỷ thức, thiệt thức cũng là tôi; rồi cái đụng chạm rõ biết được thân thức cũng là tôi; rồi biết được những thọ, tưởng, hành trong tâm mình, những hình bóng, những cảm giác, suy nghĩ, ý thức cũng là tôi. Rồi sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc là cái nào cũng tôi.
Xong rồi sáu thọ: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, cái nào cũng tôi, vui cũng là tôi vui, buồn cũng tôi buồn, hay tôi thấy đâu có vui buồn gì, bình thường. đó là kiến trù lâm – tà kiến, hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phượt. Sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tầm, sáu tư, sáu tưởng mình cũng nói là mình. Một chùm như vậy mà chỗ nào cũng tôi và ta, mày, nhân ngã bỉ thử. Coi như ngô ngã bỉ thử, ta người, kia đây, nhân ngã hoài như vậy là tà kiến, là cái nhìn thấy của rừng rậm, cái thấy biết của hoang vu, hý luận gọi là khẩu tranh, cạnh tranh, chiến tranh.
Nó sẽ sanh khởi hoài không có ngày kết thúc – kiết phượt, kiết sử, ràng buộc, trói cột cho đến khi nào bị đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy con mắt này, lỗ tai này, lỗ mũi này, thân này, ý này, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp này không phải là tôi cho đến khi nào bị đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức này không phải là tôi cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử tuệ tri – biết bằng trí tuệ một cách như thật. Nhãn xúc này, nhĩ xúc này, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc này không phải là tôi, cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ, thấy biết một cách chân chánh, đúng như thật.
Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh này không phải là tôi cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử tuệ tri đúng như thật với Thánh trí. Sắc ái, thân ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái không phải là tôi, cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ, biết một cách chân chánh như thật. Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng không phải là tôi, và tiếng chuông đó cũng không phải là tôi, là của tôi. Chúng ta vẫn ngồi thanh thản, bình an, thư thới, bất động, là vị đệ tử đó nhập lưu, vào được dòng trí tuệ của bậc Thánh.
7 Cách Trừ Phiền Não
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc 1
-Thích Minh Thành-
Ngày 13 tháng 04 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Con đường đoạn trừ các lậu hoặc PAGEREF _Toc70148963 \h 2
II. Giảng cho người biết – người thấy PAGEREF _Toc70148964 \h 3
III. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc70148965 \h 4
VI. Như lý tác ý PAGEREF _Toc70148966 \h 7
V. Tâm từ PAGEREF _Toc70148967 \h 12
VI. Vô minh PAGEREF _Toc70148968 \h 15
I. Con đường đoạn trừ các lậu hoặc
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Xin thưa đại chúng, trong thời gian từ đầu năm học tới nay là tiền phương tiện, là sự chuẩn bị, bây giờ, chúng ta bắt đầu chính thức đi vào kinh tạng. Từ đầu năm tới giờ trang bị cho chúng ta những căn bản trí, những sự thấy biết nền tảng các pháp thân tâm. Sau khi đã nắm được cảm giác toàn thân, thấy biết ngũ uẩn, nhìn nhận một phần tham, sân, si, bản ngã và lậu hoặc, bây giờ chúng ta chính thức bước vào kinh tạng tương đương với Trung A Hàm là Trung Bộ Kinh. Và hôm nay xin mời tất cả đại chúng tập trung lắng tai nghe bài kinh “Tất cả lậu hoặc” – bài kinh số 2 trong Trung Bộ Kinh, chúng ta sẽ nghe một phần trước.
Kinh “Tất cả lậu hoặc” (Sabbāsavasutta)
“Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tô ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
Này các Tỷ-kheo:
Có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ,
Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.”
Thưa đại chúng, chúng ta thấy có dễ hiểu không ạ? Không phải dễ hiểu, trong khi chúng ta đã có tiền phương tiện, đã có sự sửa soạn, chuẩn bị từ đầu năm tới bây giờ. Chúng ta đã có những bước trang bị, có những tư cụ để có thể mở được cánh cửa của Thánh Pháp tạng, tuy vậy, khi chúng ta vừa chạm tới thôi là đã thấy nhiều lớp ngôn ngữ, nhiều khái niệm, nhiều nghĩa lý thâm sâu. Chính vì vậy, chúng ta học bài kinh này rất chậm, rất kỹ, và bài kinh này là một bài kinh tuyệt đối không thể thiếu đối với một người tu theo đạo Phật.
II. Giảng cho người biết – người thấy
Đây là bảy cách đoạn trừ phiền não, mà chúng ta vừa nghe là cách thứ nhất, do tri kiến mà được đoạn trừ, tức do thấy biết, do thấy đúng mới có thể đoạn trừ phiền não. Khi đó, Đức Thế Tôn ở Xá Vệ, ở rừng Kỳ-đà, vườn ông Cấp Cô Độc. Đây là vô vấn tự thuyết, không có người hỏi, Đức Phật tự nói.
“Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc". Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói".
– "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”
Câu này có ý nghĩa gì? Một người mà muốn diệt tận các phiền não tham, sân, si và lậu hoặc thì đó phải là người biết, phải là người thấy thân tâm của mình. Nếu một người muốn nhiếp phục và diệt tận những phiền não, tham, sân, si, lậu hoặc mà người này không biết, không thấy chính mình thì người này không thể nào diệt tận lậu hoặc, phiền não được, không bao giờ điều đó có thể xảy ra.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy? - Có như lý tác ý và không như lý tác ý”.
Người thấy – người biết, thấy biết cái gì? Năm uẩn. Cho nên chúng ta thấy không? Mình học kinh Trung Bộ mà mới vừa vô, mình đọc liền bài kinh là không thể nào hiểu được. Đây là lý do tại sao sáu tháng vừa rồi chúng ta chỉ học phần nhận diện ngũ uẩn. Mình không thấy, không biết tâm mình rồi làm sao mình thanh lọc được cấu nhiễm của tâm? Ta nói cho người thấy, cho người biết, chứ không phải ta nói cho người không thấy, không biết.
Thấy biết cái gì? Thấy biết chính mình, thân tâm của mình. Mà thân tâm của mình là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; là một cục thịt tứ đại này, là những tổ hợp của cảm giác, tổ hợp của hình bóng, của suy nghĩ, của nhận thức. Người thấy như vậy, người biết được điều đó thì ta mới nói cho người đó. Chúng ta thấy không, giữa trước và sau khi nhận diện năm uẩn, sự tu hành trì của chúng ta khác nhau nhiều không? Khi ngồi thiền chúng ta thấy cái nào là thọ không? Thấy cái nào là tưởng trong lúc sinh hoạt hằng ngày không? Có thấy cái nào là hành không? Rồi mình có thấy được tham, sân, si trú ẩn trong ba cảm giác không? Mà trước đó mình không thấy.
“Ta nói cho người thấy, cho người biết”, chúng ta thấy không, một câu đầu trong kinh thôi đó. Nhưng ở đây, có một từ “lậu hoặc” này là một từ mà hôm trước chúng ta có học rồi: “ba lậu hoặc”. Chữ “lậu hoặc” khác với chữ phiền não, khác với chữ tham, sân, si. Chúng ta phải phân biệt được chữ phiền não là sự buồn bực, buồn phiền, buồn lo, nó nhẹ nhẹ. Còn tham, sân, si này, chúng ta đã học rồi – thô tế trong cảm giác của mình. Còn cái lậu hoặc này ta không thấy, nhớ nha, nó ở một cấp độ rất vi tế, chúng ta không thấy, không biết.
III. Nhận diện ngũ uẩn
Nếu chúng ta tu bình thường, không nhận diện ngũ uẩn, không thiền định, không độc cư nhập thất thì không biết lậu hoặc. Thậm chí có nhập thất, có độc cư, nhưng không có người chỉ mình cũng không biết lậu hoặc là gì, vì từ lậu hoặc này mới phát khởi ra những thứ ở trên. Lậu hoặc là một trạng thái tâm hoạt động ngấm ngầm, và trạng thái này hết sức nhỏ nhiệm, sâu kín, vi tế, mà nó điều khiển hết tất cả trong ngũ uẩn mà chúng ta hoàn toàn không thấy, không biết nên chữ “lậu” là rỉ chảy, chữ “hoặc” là mê hoặc, mê lầm. Nhưng chúng ta hiểu danh từ nôm na, thông dụng, lậu này là đi đồ lậu mình dễ nhớ hơn.
Chúng ta thấy những người đi buôn lậu họ giấu đồ giỏi không? Họ giấu rất khéo léo, tinh vi. Chúng ta thấy những người đi qua hải quan, thậm chí họ nhét vô chỗ kín hoặc nuốt vào bụng nhưng người ta vẫn có những máy móc soi chiếu và vẫn phát hiện ra. Lậu hoặc này giống y như vậy, nó trốn, nó len lách, nhỏ nhiệm, vi tế và nó qua mặt mình vù vù mà mình không biết. cho nên, nếu người giữ hải quan đó không có máy móc, công cụ dụng cụ, thiết bị tốt thì những người buôn lậu đi qua vù vù mà họ không hay không biết.
Cũng vậy, tâm chúng ta là một cái tâm uế nhiễm. chữ lậu hoặc này còn có nghĩa rộng là một tâm uế nhiễm, cấu nhiễm, rác bẩn, tâm cấu uế. Giống như một lu nước, chúng ta để quá lâu, không biết hồi nào tới giờ, thì lu này bốc ra một mùi hôi thối, và trong lu nước này sanh ra lăng quăng, nòng nọc, những con vi trùng sinh sôi nảy nở trong đó và nước này là nước cấu bẩn. Thì tâm cấu nhiễm của mình có ba loại: dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đây gọi là ba lậu hoặc.
Khi Bồ Tát Tất Đạt Đa ngồi dưới cội bồ đề, đầu tiên Ngài thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn, kế đến là bốn Thánh trí về lậu hoặc. Nếu không thành tựu Thánh trí về ngũ uẩn thì không bao giờ thành tựu Thánh trí về lậu hoặc. Đây là cánh cửa, cho nên phải thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn và Thánh trí về lậu hoặc giống như chúng ta bước vô cửa chùa thì mới nhìn được trong này là cái gì. Mình không bước vô cổng chùa làm sao biết trong này là cái gì. Trí ngũ uẩn là cánh cổng ngôi chùa, sau đó đi vô mới coi thử trong chùa có cái gì.
Cho nên, thành tựu bốn Thánh trí về ngũ uẩn trước, rồi kế đó, Bồ Tát thành tựu Thánh trí về lậu hoặc, sau đó chứng được tam minh. Bốn Thánh trí về ngũ uẩn là gì? Thế nào là ngũ uẩn? Ngũ uẩn sanh, ngũ uẩn diệt và con đường đưa đến sự chấm dứt về ngũ uẩn. Hổm rày chúng ta đang học bốn Thánh trí về ngũ uẩn, tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tại sao ngũ uẩn sanh khởi? Vô minh và tham ái. Tại sao ngũ uẩn đoạn diệt? Hết vô minh, hết tham ái thì ngũ uẩn chấm dứt, con đường để chấm dứt ngũ uẩn là Bát Chánh Đạo.
Chúng ta mở cuốn Nghi thức tu học Nikāya, mở mục lục tìm Niệm bốn Thánh trí về ngũ uẩn và cùng nhau đọc. Bốn Thánh trí này quan trọng lắm, phải học thuộc lòng. Chúng ta đọc cái này năm lần:
“Niệm THÁNH TRÍ (Bốn Thánh Trí về Ngũ Uẩn)
- Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
- Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
- Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
- Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn”.
Ra chơi học bài, cuối tiết đọc lại bốn Thánh trí về ngũ uẩn, dễ ợt, nãy giờ mình đọc năm lần rồi. chúng ta nhớ, Minh Thành cũng không phải là nói lời thừa, năm uẩn là chìa khóa để chúng ta mở kinh tạng Nikāya. Cho nên, từ năm uẩn đó, bây giờ thêm một ví dụ nữa, người ta nói: ở trong chăn mới biết chăn có rận. Như vậy, mình phải đi vào chăn mới biết trong chăn có rận. Cũng vậy, mình phải thành tựu trí năm uẩn mới thấy được lậu hoặc, tham, sân, si, phiền não ở trong năm uẩn.
Bây giờ thêm một ví dụ nữa, khi người ta đưa cho mình một ly nước cam tươi. Nếu ly bằng sành và có nắp đậy, mà mình chỉ để đó thôi, không nhìn vô coi thì mình sẽ không thấy rằng trong đó có nhiều hạt cam, hoặc có rớt cái gì trong đó, hoặc có gì dơ trong ly cam vắt đó. Như vậy, do mình cầm ly nước đó lên, mở nắp ra, uống nước mình mới thấy trong đó còn những hạt cam, hay có gì dơ mình mới lấy ra, hoặc quyết định uống hay không uống. Vậy thì việc nhìn lại ngũ uẩn giống như ly cam, mà hạt cam hay cái dơ, rác bẩn gì ở trong ly đó là lậu hoặc. Ví dụ ba lần rồi chúng ta hiểu rõ, thấy rõ được vấn đề này chưa ạ?
Như vậy, ở trong ngũ uẩn mình mới thấy được lậu hoặc, tham, sân, si. Nếu mình không nhìn thấy ngũ uẩn mà nhìn ở ngoài không thì cái đó mình không thể nào thấy được.
“Này, các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy”.
Cho nên, nếu chúng ta không nhận diện ngũ uẩn thường xuyên sẽ không thấy được tham, sân, si, lậu hoặc. Mà không thấy thì làm sao có thể vớt nó ra, gắp nó ra, bỏ nó ra. Chúng ta thấy chưa? Qua đoạn đó rồi, bây giờ đi vào đoạn này:
“Này, các Tỳ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy”.
Những bài kinh chúng ta đọc, cách giảng pháp và trình bày của Đức Phật hết sức thuận thứ, tuần tự, thứ lớp, thứ tự. Chúng ta thấy cách của Đức Phật giảng pháp, mình đừng nghĩ rằng học cách học của ai giảng pháp mà học cách học của Đức Phật là tối thượng. Những bài kinh này chính là cách giảng pháp của Đức Phật. Chúng ta phải để ý, khi Ngài nêu ra một điều gì, nó có thứ lớp, tuần tự, Đức Phật giải thích, cho ví dụ, rồi chứng minh rất cụ thể, đọc bài kinh này sẽ thấy.
VI. Như lý tác ý
Như vậy, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy? Bây giờ chúng ta mới qua tới một vấn đề đã nói rồi. Có Như Lý Tác Ý và không có Như Lý Tác Ý. Cái này là lõi của pháp hành đây:
“Này, các Tỳ-kheo, do không Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này, các Tỳ-kheo, do Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt”.
Đây là tổng các cương lĩnh của Bảy cách diệt trừ phiền não. Chúng ta nhớ, câu này là tóm thâu hết tất cả các pháp hành của bảy phương pháp ở dưới. Như Lý Tác Ý này chúng ta nói rất nhiều lần rồi, trong đây đề chữ “không”, nhưng thường thường trong kinh đề chữ “phi”. Chữ “phi” có nghĩa là không đúng, đây là Như Lý Tác Ý và phi Như Lý Tác Ý, là không đúng. Tại sao sự diệt tận các lậu hoặc cho người thấy người biết? Tại sao người thấy người biết có thể diệt tận các lậu hoặc, các tham, sân, si, các mê lầm? Vì có Như Lý Tác Ý và có sự không Như Lý Tác Ý.
Chữ Như Lý Tác Ý này chúng ta học rồi, ai giải thích giùm chữ này nghĩa là gì? Thế nào gọi là Như Lý Tác Ý, và thế nào gọi là phi Như Lý Tác Ý? Hai từ này tóm thâu cả bài kinh này và cũng là tóm thâu những pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Câu này sẽ hỏi tới hỏi lui hoài, và chúng ta thi sẽ làm bài này. Như Lý là đúng như chân lý, Tác Ý là tác động tâm lý đúng như tâm ý. Tác động tâm ý của mình đúng như chân lý thì gọi là Như Lý Tác Ý. Mà tác động tâm ý là gì? Là sự chủ động suy tư, suy xét, quán sát, tư duy, nhắc nhở, đánh thức, thức tỉnh mình, chính mình làm điều đó.
Chữ “phi” này mình hiểu là tác động tâm ý không đúng như chân lý, nghĩ sai, suy xét, suy tư, diễn dịch sai thì chúng ta có câu bên dưới:
“Này, các Tỳ-kheo, do không Như Lý Tác Ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng”.
Chúng ta thấy không, do suy nghĩ sai sự thật nên phiền não, lậu hoặc, tham, sân, si chưa sanh bây giờ nó sanh, mà nó đã sang thì bây giờ tăng trưởng, phát triển lớn mạnh. Ai cho ví dụ, do mình suy nghĩ sai nên tham dục, sân hận, si mê, mê lầm, lậu hoặc nó sanh. Nếu nó đã sanh rồi mà mình suy nghĩ sai nữa thì nó tăng trưởng, phát triển lớn mạnh, quảng đại, bành trướng, xâm chiếm, áp đảo. Suy nghĩ sai, suy xét sai, suy tư sai, nhìn nhận sai, quan điểm sai.
Ví dụ cô này là thiên kim tiểu thư, cô đi chùa, thấy ông thầy làm hương đăng rất hiền lành, từ ái, trẻ trung, đẹp đẽ, viết chữ hết sức đẹp, gặp con người lại càng hảo tướng. Cô vô cô nhìn thấy thì về phi Như Lý Tác Ý. Ái chà, cái này mệt rồi, cô đem lòng thương ông thầy, do cô suy nghĩ sai, người ta là người tu, người xuất gia, hết chỗ thương rồi sao mà thương người tu. Do cô suy nghĩ sai, mà cổ cứ nghĩ như vậy, cái phi Như Lý Tác Ý này cứ lặp tới lặp lui, tăng trưởng, phát triển rồi cô này bị bệnh.
Mà chúng ta dùng chữ tương tư là không đúng, tương tư là chừng nào hai người nhớ nhau mới gọi là tương tư, cái này là cô đơn phương suy nghĩ về ông thầy. Và do suy nghĩ sai này nó lặp tới lặp lui, mà mỗi lần nó tác ý sai như vậy thì có cảm giác, hình bóng sanh không, có suy nghĩ, hành sanh không? Cứ lặp tới lặp lui, những thọ, tưởng, hành đó cứ tới lui, tới lui, những hình ảnh đó cứ hiện ra, những cảm giác, những suy nghĩ cứ như vậy cứ chất chứa, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển nên có phải rằng do không Như Lý Tác Ý mà các lậu hoặc chưa sanh nay sanh khởi; và các lậu hoặc đã sanh nay phát triển, tăng trưởng quảng đại, bành trướng, áp đảo. Và rồi cô này sụm xuống, nằm trên giường, bị bệnh, đòi chết đòi sống với cha của mình, đó là phi Như Lý Tác Ý.
Đó là nói câu chuyện hồi xưa, bây giờ chuyện ngày nay, thấy chưa. Bây giờ mình đi tu rồi, mình từ bỏ hết tất cả cha mẹ, anh em, ông bà, cô bác, tất cả lục thân quyến thuộc, từ bỏ hết tất cả tuổi thanh xuân, bao nhiêu những danh lợi, tài sắc, sự nghiệp… Mình bỏ hết rồi mình đi tu, tự nhiên đi ngang mình gặp một bóng hồng đó, người ta có một ánh mắt khả ái, rồi khi mình nhìn, tiếp xúc như vậy lúc đó sanh thọ, mà mình phi Như Lý Tác Ý. Mình để cho hình bóng đó, sắc tưởng đó, chúng ta học rồi phải không? Sáu tưởng học chưa?
Hình bóng trong tâm đó nó xâm chiếm, áp đảo, ẩn ẩn hiện hiện, lặp tới lặp lui. Những cảm giác đó sanh khởi, những suy nghĩ đó tiếp tục, nuôi dưỡng, phi Như Lý Tác Ý. Người này cứ suy nghĩ như vậy một thời gian thì muốn gặp, muốn nói chuyện, muốn tiếp xúc, tăng trưởng, phát triển lên, dục lậu chưa sanh nay sanh khởi, dục lậu đã sanh nay tăng trưởng, phát triển, quảng đại, rồi tóc mọc dài ra. Chúng ta thấy chưa? Tóc mọc dài ra thì thầy cô gì cũng y chang, chứ không phải nói thầy không mà cô không có.
Rồi vắng mặt một thời gian, dẫn lại, phía đằng sau lưng, tay bồng tay bế, phía đằng trước nói vô lạy sư ông đi con, đó là phi Như Lý Tác Ý, là dục lậu chưa sanh nó sanh khởi, mà dục lậu đã sanh thì nó tăng trưởng, phát triển, quảng đại. Bây giờ mà mình Như Lý Tác Ý thì sao? Mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ hết gia đình, những chí nguyện xuất gia cao thượng, thoát tục, xuất trần. Mình phải tìm cái gì vô thượng, tịch tịnh, tâm tối thắng, an lạc đạo lộ. Đây là những cái đưa đến sự ràng buộc, hệ lụy, trói chăng, đau khổ.
Mình đã từ bỏ, chẳng lẽ mình khạc ra một cục đàm bây giờ mình đi liếm lại hay sao? Đó là cách Như Lý Tác Ý, mình đã hỷ ra một đống nước mũi rồi, bây giờ lại liếm lại hay sao? Từ bỏ đi, vứt bỏ, quăng bỏ, giải thoát đối với tâm niệm tham ái này. Đó là Minh Thành mới cho một ví dụ về Như Lý Tác Ý nhẹ nhẹ, vừa vừa, còn có những cái mà mình phải mạnh hơn nữa. Mình càng mạnh thì tuệ lực của mình càng phát triển, mới đủ sức đánh phi Như Lý Tác Ý này. Cho nên, cái đúng chân lý này đánh cái sai chân lý, nhưng cái đó do sự tác động tâm ý. Mà tác động tâm ý là gì? Là chính mình chủ động suy nghĩ mới được, mình phải làm khơi dậy trong mình một sức mạnh, một nội lực, công lực, một chí nguyện cao thượng.
“Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn;
Tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn.
Và trí và kiến khơi lên nơi Ta: Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa.”
(Kinh Thánh Cầu – Trung Bộ Kinh)
Này, các Tỳ-kheo, các ông bị sanh, lại đi tìm cái bị sanh, các ông bị già lại đi kiếm cái bị già, các ông bị bệnh lại đi tìm cái bị bệnh, các ông bị chết lại đi tìm cái bị chết, các ông bị sầu bi khổ ưu não lại đi tìm cái sầu bi khổ ưu não. Tới đây là vừa đủ rồi, tới đây là nhàm chán rồi, tới đây là từ bỏ đế thoát ra khổ uẩn này.
Lúc đó, do mình có học pháp, do mình có một số vốn liếng, do mình có những trầm tư, suy tư về những lời Thánh ngôn của Đức Phật thì mình mới móc hết tất cả ra để đánh phá cái phi Như Lý Tác Ý, cái suy nghĩ sai, suy nghĩ trật, suy nghĩ theo chiều mê, theo dục, tham, ái, suy nghĩ theo thói quen của nghiệp, theo tập khí, theo vô minh, theo lậu hoặc. Mình phải đánh phá nó, như vậy, dục lậu chưa sanh không sanh khởi, còn dục lậu đã sanh sẽ được trừ diệt. Chúng ta thấy chưa?
Đó là bí kíp Chánh Pháp, và đây là tổng cương lĩnh pháp hành của kinh Nikāya, thuần túy là Như Lý Tác Ý cộng với thiền định, tức chỉ và quán. Quán chính là cái nãy giờ chúng ta nói, là Như Lý Tác Ý, là tuệ lực, tinh tấn lực, dũng mãnh lực, mãnh hổ lực, hung hãn lực, là tinh cần, nhiệt tâm, Chánh Niệm, tỉnh giác, mạnh mẽ, oai hùng, đại hùng đại lực. Đại hùng đại lực là sự Như Lý Tác Ý đó.
Còn nếu như mình gặp, mình chỉ đi theo thọ, tưởng, hành. Hình bóng đó hiện ra là mình đi theo, suy nghĩ đó, cảm giác đó, mình bị đắm chìm trong đó, đi ra không được, đi theo phi Như Lý Tác Ý này, chìm đắm trong biển khổ, đi theo nghiệp, đi theo thói quen, theo tập khí, theo dục, theo tham, theo ái. Chúng ta thấy không? Nãy giờ mình nói cái dục lậu, còn cái sân cũng giống y như vậy. Mình đang nhẹ nhàng thảnh thơi, đi kinh hành chung quanh chùa, tự nhiên điện thoại reng lên, mình bắt máy, trong này vang lên xối xả, giống như tạt gáo nước lạnh trong mặt mình, nói mình thậm tệ không còn gì hết.
Lúc đó có hai trường hợp xảy ra, mình phi Như Lý Tác Ý, là sẽ bực bội, sân hận. Mình đi theo cảm thọ do nhĩ xúc sanh, mình không biết do duyên có điện thoại, có âm thanh, do sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, gặp gỡ, giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của đôi tai, gọi là nhĩ xúc. Từ nhĩ xúc sanh ra thọ, tạo thành thọ do nhĩ xúc sanh, thanh tưởng, thanh tư, suy nghĩ những âm thanh đó. Những lời nói cứ dội dội, vang vang trong tâm mình, rồi những cảm giác cứ bừng bừng lên.
Lúc đó chúng ta không nhìn thấy các pháp vận hành mà chỉ nhìn thấy một cái tôi chần dần – tôi đang giận, đó là tà kiến, vô minh, chấp thủ, không phải người tu. Lúc đó mình phải thấy, do duyên có lỗ tai, duyên có tiếng trong điện thoại, trước khi nghe mình đâu có bừng bừng. Khởi ra sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ âm thanh tạo thành nhĩ xúc. Khi nhĩ xúc như vậy rồi tạo thành thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó là thanh tưởng, thanh tư, những âm vang đó vang lại trong tâm, mình suy nghĩ về những âm thanh đó, rồi bắt đầu những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác của mình bực lên, bừng lên, bốc lên, cháy lên, đốt lên, rồi mình bị nhiệt não, thiêu đốt trong thọ do nhĩ xúc sanh đó.
Chúng ta thấy các pháp vận hành rõ không? Rất rõ, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không trải qua thời gian, có hiệu quả tức thời, được người trí tự mình giác hiểu, đó là Chánh Pháp, chỉ cho mình thấy rõ ràng căn nguyên, nguồn cội của tham dục, sân hận sanh khởi, vận hành, an trú trong thân tâm mình và cách nào để sanh khởi, cách nào để cho nó chấm dứt, Đức Phật đều giải thích rõ, chúng ta thấy không?
Bây giờ, mình phi Như Lý Tác Ý rồi mà cơn giận nó cứ tiếp tục, không phải ngay lúc đó giận mà ngày mai nó giận, tối ngủ không được, sáng ăn sáng không vô. Rồi ba bữa sau, bảy bữa sau, một tháng sau mà thanh tưởng, thanh tư ở trong này cứ dội dội, vang vang mà nó cứ suy nghĩ triền miên. Có những người vì một câu nói, vì một hành động mà mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, năm mươi năm, và cho đến sống để dạ, chết mang theo, đau khổ vô cùng. Chúng ta thấy không, có gì đâu, chỉ là thọ do nhĩ xúc sanh thôi chứ có gì đâu?
Hoặc là thọ do nhãn xúc sanh, nhưng vô văn phàm phu, ít nghe, không học Chánh Pháp, không gặp bậc Thánh, không gặp bậc chân nhân, không thuần thục pháp không tu pháp của bậc Thánh, bậc chân nhân, cho nên bị ngũ uẩn này khống chế, dẫn dắt, nhận chìm, áp đảo, hành hạ, sai khiến, trói cột, chúng ta thấy rõ ràng vấn đề không? Còn nếu như bây giờ mình Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý một cách ngược chiều lại, các pháp này duyên sanh. Trước khi mình nghe mình đâu có bừng bừng như vậy, cảm thọ này là cảm thọ vô thường, sanh khởi rồi diệt, cảm thọ này là tan biến, là lắp ráp, là duyên sanh.
Mà bây giờ mình đi theo cảm thọ này để thiêu đốt, để đau khổ mà mình đâu muốn khổ, nên giờ mình phải tác động tâm ý của mình, Như Lý Tác Ý, tác ý thương thay cho ta, đau xót thay cho ta, ta đi tu mười năm, ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, thức khuya dậy sớm, tàu hũ tương rau, trưa không ngủ đặng đi học khổ sở, nhịn sắc nhịn dục, bây giờ chút sân này nhịn không được thì làm cái gì, phải không?
V. Tâm từ
Rồi mình trách mắng tâm mình, quở trách, huấn luyện, tác động tâm mình để cho nó nhả ra, mửa ra, khạc ra, ói ra, vứt bỏ những cảm giác sân hận đó, rồi bắt đầu mình trải tâm từ, mình an trú cảm giác toàn thân, làm cho từ đỉnh đầu của mình tới gót chân, mỗi tế bào, mỗi gót chân, mỗi huyết quản, mỗi mạch máu của mình thấm nhuần là một lòng từ, một sự bi mẫn, xót thương, một sự từ tâm đối với cảm giác sân hận của chính mình. Thương mình, mình đã khổ với cảm giác này bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, mình đã bị nó đốt bao nhiêu ngàn vạn năm rồi mà giờ mình còn tiếp tục bỏ củi vô nữa đặng đốt hay để làm gì?
Mình tác động tâm ý như vậy, rồi bắt đầu trải tâm từ, mình sẽ thấy người mình rần rần, toàn bộ cơ thể, từng lỗ chân lông của mình thấm lòng từ trong sự thực tập cảm giác toàn thân hằng ngày nhuần nhuyễn của mình. Lúc đó từ chỏm tóc cho đến gót chân không có một chỗ nào nhỏ bằng một sợi lông mà không có cảm giác của từ tâm, của bi mẫn, của xót thương, của tình thương. Và lúc đó, từ cảm giác từ tâm này, tình thương này, lan tỏa cùng khắp toàn thân này, mình trải tâm từ đó lan tỏa, bao trùm đối tượng mà mình sân hận.
Trong bài kinh “Cái cưa” của Trung Bộ Kinh, Đức Phật nói là “giống như một người cầm một tấm vải đẹp phủ lên người kia, bao trùm người này từ đỉnh đầu tới gót chân. Cũng vậy, tâm từ của mình lan tỏa, bao trùm đối tượng sân đó.
“Ở đây, chư Tỷ-kheo các Ông phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy”.
Giờ mình làm cho đối tượng sân hận đó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, tan biến một cách hoàn toàn. Mình lan tỏa cảm giác thương yêu, từ bi, tình thương, từ tâm của mình, bao trùm và thấm nhuần đối tượng kia, giống như mình đi tắm bằng vòi sen, nó chảy nước tuôn xuống từ đỉnh đầu cho tới gót chân, không chỗ nào mà không thấm ướt. Từ tâm của mình, cảm giác thương yêu của mình lan tỏa đến đối tượng kia, thương người đó giống như thương mình, thương mình giống như thương người đó.
Tại vì sao? Vì chúng ta đều là nạn nhân của sân hận, nạn nhân của sự nhiệt não, nóng bức, của những tham, sân, si, phiền não, lậu hoặc. Chúng ta cùng là những chúng sanh đang khổ đau, đó là sự trải tâm từ, mà cũng là sự tác động tâm ý đúng như chân lý. Lúc đó, chúng ta lập tức làm cho an tịnh cảm giác sân hận, và chúng ta xóa sạch sân hận đó, bứng tận gốc rễ nó và sanh khởi lên một cảm giác từ tâm. Đức Phật dạy rằng tu tâm từ như thế nào? Thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách vững trú, vững chắc.
Thế nào gọi là tu tâm từ giống như cỗ xe? Là chiếc xe của mình bất cứ lúc nào đề máy lên là nó sẽ nổ, mình leo lên xe, muốn đi tới đâu là chiếc xe sẽ đi đến đó, đúng như ý muốn của mình. Cũng vậy, mình tu tâm từ đến mức tâm từ này nó thành một công cụ để mình sử dụng. Và bất cứ lúc nào mình chỉ cần đề khởi lên: tình thương ơi, tình thương ơi! Bắt đầu trong này nó tuôn trào, giống như mạch nước, mạch nguồn tuôn ra và cảm giác từ tâm của mình nó lan tỏa cùng khắp. Và mình muốn đưa từ tâm đó đến người nào là dòng cảm thọ, cảm xúc đó sẽ lan tỏa tới người đó.
Thậm chí mình đưa tâm từ đó bao trùm đầy cả giảng đường này, bao trùm hết chùa này, trùm hết quận Bình Thạnh, lan tỏa ra quận nhất, quận hai, quận ba, quận năm, lan toả ra Tân Phú, Tân Bình, cùng khắp hết mấy chục quận huyện, lan xuống miền Tây, lan ra miền Trung, miền Bắc, bao hết tất cả dải đất hình chữ S này là một tâm từ bao trùm toàn quốc, cả nước Việt Nam. Không dừng lại ở đó, chúng ta bung tâm từ lan tỏa khắp cả khu vực châu Á, Đông Nam Á, trải dài qua các nước, châu Mỹ, châu Âu, châu Úc, châu Phi và cùng khắp, là một tâm từ bao trùm khắp năm châu.
Và mình ngồi đó để mình mở tâm từ vô lượng, đó là công phu tu tập tâm từ của chúng ta, mà phải rèn luyện, chứ không phải nói không, phải thực tập mỗi ngày, làm cho tâm từ này thành cỗ xe, thành căn cứ địa, thành thành quách. Và bất cứ lúc nào, chúng ta leo lên cỗ xe, chúng ta muốn đi đâu là tâm từ đưa mình tới đó. Cũng vậy, mình muốn đưa tới ai thì người đó sẽ nhận được từ tâm lan tỏa của mình. Tu vậy, từ tâm như vậy, và cho đến một lúc, chúng ta thực hành nhuần nhuyễn thì tâm từ đó sẽ trở thành từ vô lượng tâm, nó không còn là một tâm nhỏ hẹp, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhít nữa mà nó là một cái tâm rộng mở, rộng lớn, vô lượng, vô tận, vô biên, không gì chướng ngại, “Pháp lực bất tư nghì, từ bi vô chướng ngại”.
Đó là một sức mạnh không phải chỉ nói trên miệng thôi, mà đó là một sức mạnh nội lực của thiền định tâm từ, phải được thực tập, phải nhuần nhuyễn, phải lão luyện, phải thuần thục, phải làm cho nó thành cỗ xe, phải làm cho ngay cả những người hại mình, người nói xấu mình, người làm cho mình đau khổ, là người trải tâm từ nhiều nhất đối với người đó. Đó là chủ nợ của chúng ta, hãy trân trọng những chủ nợ của chúng ta, những đối tượng kiếm chuyện, sanh sự, gây sự với mình hoài thì mình biết đó là chủ nợ đấy.
Hãy trải tâm từ nhiều, mỗi ngày trải ba cử cho họ, trải tâm từ rộng ra, lớn ra, khắp ra, khắp phương trên, phương dưới, bề ngang, bề dọc, cùng khắp hư không giới, vô biên giới, là câu hữu với lòng từ, lan tỏa cùng khắp, vô biên khắp mười phương hư không. Và một bữa nào đó, Minh Thành sẽ hướng dẫn cho đại chúng Từ vô lượng tâm, chịu không? Chúng ta sẽ để dành một bữa, khoảng một tiếng đồng hồ hơn, ta sẽ tập trải tâm từ ngay tại trong lớp.
Nếu có thầy nói lên Linh Quy Pháp Ấn tập trải tâm từ thì quá tuyệt vời rồi, mình đứng trên đó thì không gian rộng, mình dễ trải hơn. Khi chúng ta lấy được thọ, lấy được không gian đó vô rồi, ta cất trong tâm, khi trở về chùa, khi thực tập trải tâm từ, mình lấy cái tưởng đó ra. Khi mình trải nó mình trải hết tất cả tường quách và chướng ngại vật thì tâm lực của mình sẽ không bị những vật gì làm chướng ngại.
VI. Vô minh
Chúng ta thêm một ví dụ về vô minh, hồi nãy đã có tham, sân, giờ thêm cái ví dụ về vô minh. Mình không có tác động tâm ý, không suy xét, suy tư, quán xét, quán chiếu một cách đúng với sự thật, mình lại đi suy nghĩ sai với sự thật thì vô minh chưa sanh nó sẽ sanh, mà vô minh đã sanh rồi nó sẽ tăng trưởng, phát triển, bành trướng, xâm chiếm trong thân tâm mình. Vô minh như thế nào? Mình không nhìn thấy năm uẩn, chỉ thấy một cái tôi, cho nên chúng ta sẽ gặp những từ trong này rất nhiều, chúng ta coi những từ này không phải dễ hiểu.
“Này, các Tỳ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phượt”. Những từ này không phải đơn giản, dễ hiểu “Do không Như Lý Tác Ý, ta có mặt trong thời quá khứ hay ta không có mặt trong thời quá khứ”. Ở đây, nếu đọc sẽ rất khó hiểu, Minh Thành sẽ nói tiếng Việt luôn bây giờ cho đại chúng dễ hiểu. Mình nghĩ rằng, không biết hồi xưa mình có hay không có, hồi thuở xa xưa mình có mặt hay là không có mặt, mà mình có mặt như thế nào, hình hài vóc dáng của mình ra sao, rồi sau này mình là cái gì, mình có mặt hay không có mặt, rồi sau này mình có mặt như thế nào? Hình dáng, vóc dáng của mình sau này sẽ ra sao? Rồi mình nghi ngờ mình ở trong hiện tại là có mặt hay không có mặt, ta có mặt như thế nào, ngay bây giờ ta làm sao? Hình dáng, vóc dáng của ta như thế nào? Chúng sanh từ đâu đến, rồi sau khi chết sẽ đi về đâu? Rất nhiều.
Rồi ta có tự ngã hay ta không có tự ngã, nhưng nói chung, tất cả những từ ở đây đều là sự chấp ngã, cho rằng có một cái tôi trước kia, bây giờ hay mai sau tôi sẽ trở thành như vầy, tôi sẽ ra sao, rồi cứ lòng vòng lòng vòng mà không ra khỏi được cái tôi, cái ta, cái bản ngã, cứ xoay vòng ở chỗ đó. Những suy nghĩ đó sẽ tạo thành cái gì? “Như vậy, này các Tỳ-kheo, gọi đây là tà kiến” tức cái nhìn sai lầm về ngũ uẩn này. Như vậy gọi là kiến trù lâm, là rừng rậm, là kiến chấp giống như rừng rậm, hoang vu, và những kiến chấp này sẽ tranh luận hoài, nói hoài, sẽ là bao nhiêu những chủ thuyết, bao nhiêu những tư tưởng, bao nhiêu những lời nói, lời nói hoài hoài không bao giờ kết thúc gọi là hý luận phù phiếm.
Hễ còn trong bản ngã đó là cứ như vậy hoài không đi đến kết thúc, nó sẽ tranh chấp, trói buộc, trói chăng. Đó là kiến chấp về bản ngã, nó sẽ là sai lầm, là rừng rậm, hoang vu, là sự tranh luận vĩnh viễn và mãi mãi không có ngày kết cuộc, tranh chấp, trói buộc, ràng buộc, kiết phượt, kiết sử một khi đã dính vô thân kiến, kiến chấp về thân, chúng ta đã nói rất nhiều lần. Đó là phi Như Lý Tác Ý, cứ nghĩ tôi hoài, vô minh chưa sanh nay sanh khởi, vô minh đã sanh thì sẽ tăng trưởng, phát triển quảng đại.
Còn bây giờ mình Như Lý Tác Ý, tác động tâm ý, suy xét cho đúng. Có gì là tôi đâu, thân này là do tứ đại, đất nước gió lửa. Mình phải học thuộc lòng những bài kinh, thân này do cha mẹ sanh, do tứ đại tác thành, cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Học thuộc lòng những câu Như Lý Tác Ý đó để khi hữu sự mình lấy ra để tác ý mình mới đánh đuổi được vô minh trong suy nghĩ mình, sự không hiểu biết ở trong cảm giác, trong hình bóng tư tưởng, trong nhận thức mà mình phải có những Thánh trí này, đuổi những tà kiến ra.
Còn nếu không, những tà kiến đó nó xâm chiếm, áp đảo mình, trù dập, đè đầu cỡi cổ mình, mình không thoát ra được, mình bị bát quái trận, thập diện mai phục, trùng trùng lớp lớp. Mình có sáu căn, con mắt cũng nói là của tôi, lỗ tai, lỗ mũi, miệng, thân, ý của tôi. Rồi sáu trần, sắc này của tôi, âm thanh, mùi vị này là tôi, của tôi; rồi xúc này là tôi, pháp này, thọ, tưởng, hành trong tâm cũng của tôi. Rồi sáu thức, rõ biết sắc này là tôi; rõ biết âm thanh này là nhĩ thức, là tôi; rồi rõ biết mùi vị, tỷ thức, thiệt thức cũng là tôi; rồi cái đụng chạm rõ biết được thân thức cũng là tôi; rồi biết được những thọ, tưởng, hành trong tâm mình, những hình bóng, những cảm giác, suy nghĩ, ý thức cũng là tôi. Rồi sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc là cái nào cũng tôi.
Xong rồi sáu thọ: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh, cái nào cũng tôi, vui cũng là tôi vui, buồn cũng tôi buồn, hay tôi thấy đâu có vui buồn gì, bình thường. đó là kiến trù lâm – tà kiến, hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phượt. Sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tầm, sáu tư, sáu tưởng mình cũng nói là mình. Một chùm như vậy mà chỗ nào cũng tôi và ta, mày, nhân ngã bỉ thử. Coi như ngô ngã bỉ thử, ta người, kia đây, nhân ngã hoài như vậy là tà kiến, là cái nhìn thấy của rừng rậm, cái thấy biết của hoang vu, hý luận gọi là khẩu tranh, cạnh tranh, chiến tranh.
Nó sẽ sanh khởi hoài không có ngày kết thúc – kiết phượt, kiết sử, ràng buộc, trói cột cho đến khi nào bị đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy con mắt này, lỗ tai này, lỗ mũi này, thân này, ý này, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp này không phải là tôi cho đến khi nào bị đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức này không phải là tôi cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử tuệ tri – biết bằng trí tuệ một cách như thật. Nhãn xúc này, nhĩ xúc này, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc này không phải là tôi, cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ, thấy biết một cách chân chánh, đúng như thật.
Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh này không phải là tôi cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử tuệ tri đúng như thật với Thánh trí. Sắc ái, thân ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái không phải là tôi, cho đến khi nào bậc đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ, biết một cách chân chánh như thật. Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng không phải là tôi, và tiếng chuông đó cũng không phải là tôi, là của tôi. Chúng ta vẫn ngồi thanh thản, bình an, thư thới, bất động, là vị đệ tử đó nhập lưu, vào được dòng trí tuệ của bậc Thánh.