Làm An Tâm Người Bệnh 13 - Thân Bệnh Mà Tâm Không Bệnh
Thân Bệnh Mà Tâm Không Bệnh
Thích Minh Thành
Ngày 24 tháng 08 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn chứng bệnh của người xuất gia PAGEREF _Toc114156534 \h 2
II. Kham nhẫn PAGEREF _Toc114156535 \h 5
III. Vị Tỷ-kheo bị rắn cắn PAGEREF _Toc114156536 \h 7
IV. Thân bệnh mà tâm không bệnh PAGEREF _Toc114156537 \h 8
I. Bốn chứng bệnh của người xuất gia
Minh Thành thấy trong đại chúng có nhiều người bệnh nên hôm nay chúng ta sẽ học nhiều bài kinh liên hệ đến bệnh để an ủi các người bệnh, để phấn chấn, dũng mãnh thân bệnh mà tâm không bệnh.
Trong khi dịch bệnh chúng ta đã có học nhưng chưa hết, chủ đề Làm an tâm người bệnh, nên nhân duyên có một số người bệnh nên chúng ta tiếp tục học chủ đề này.
Bài kinh Bệnh trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 2:
“1. - Này các Tỷ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỷ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba … được bốn … được năm … được mười … được hai mươi … được ba mươi … được bốn mươi … tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.”
Tức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo, có những con người, có những loài, những chúng sanh tự cho rằng, Thế Tôn dùng từ là “tự nhận mình” là nhiều khi họ có bệnh mà họ không biết, tự cho rằng mình không có bệnh trong hai năm, ba năm, năm năm hay thậm chí là mười năm, hai mươi, ba mươi năm không có bệnh thân. Thậm chí là suốt đời, trăm năm.
“Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.”
“2. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.”
Bệnh thứ nhất của người tu là người này có tham muốn nhiều, gọi là dục lớn, bực bội, tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật, y phục, thức ăn, phòng ốc, giường và thuốc men để trị bệnh. Đó là bệnh thứ nhất, có ham muốn nhiều, không bằng lòng, bực bội, tức tối, không bằng lòng với tứ sử cúng dường, y phục, thức ăn uống, phòng ốc, giường ghế và những thuốc men trị bệnh.
“Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.”
Thứ hai là việc tiếp nối của bệnh, tiếp theo, tăng thịnh, phát triển lên vì bực bội, tức tối, vì không bằng lòng bốn vật dụng nên người này khởi lên sự thèm khát, sự tham muốn xấu ác, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, tức là muốn được những thứ bị chê trách, những thứ thấp hèn, những thứ không được đúng pháp của một người tu. Muốn được các lợi dưỡng cung kính, danh vọng. Đó là bệnh thứ hai.
“Vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.”
Tức là người này nỗ lực, cố gắng tinh tấn nhưng không để thành tựu trí huệ, không phải tinh tấn để đoạn tham, sân, si, không phải tinh tấn để thoát ra ngũ uẩn, vô thường mà người này lại tinh tấn, nỗ lực, cố gắng để mong những danh vọng, lợi dưỡng, cung kính tầm thường, không đúng pháp, đó là đang bệnh, đó là tâm đang bệnh.
“Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện.”
Là người đó làm gì cũng tính toán, suy nghĩ cách này cách kia, sau khi tính toán rồi đi đến các gia đình, tức là đi đến các nhà Phật tử, đến nhà cư sĩ. Sau khi tính toán, ngồi xuống rồi nghe thuyết pháp. Tất cả mọi sinh hoạt đều là sự tính toán, đều là có mục đích, mục đích đó là thèm khát ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được những thứ đó. Toan tính, suy tư, nghĩ ngợi, lo toan, bất an để đi đến nhà người này người kia, suy tư nghĩ ngợi, lo lắng, tính toán khi ngồi xuống, khi thuyết pháp.
“Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.
3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
- "Ta sẽ không có dục lớn, bực bội tức tối, tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
- Ta sẽ không khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không đáng được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.
- Ta sẽ không nỗ lực, không cố gắng, không tinh tấn để được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.
- Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận.
- Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.”
(Bài kinh Bệnh, Phẩm Các Căn –Chương Bốn Pháp–Tăng Chi Bộ Kinh tập 2)
II. Kham nhẫn
Đây là chỗ Minh Thành muốn nói đến.
“Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận.
Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống.”
Đó là kham nhẫn. Vừa rồi chúng ta có học qua Tương Ưng Sáu Xứ, trong đó Đức Phật dạy điều đầu tiên là thâu nhiếp sáu căn, kế đó là kham nhẫn bằng Thánh trí huệ, đó là pháp hành quan trọng trong kinh Nikāya. Đức Phật dạy mình không nỗ lực, không cố gắng, không tinh cần để được các lợi dưỡng cung kính danh vọng. Đó là tà tinh tấn, siêng sai. Điều này rất sâu sắc đối với các bị xuất gia, hay là các vị cư sĩ, hãy chiêm nghiệm thật kĩ, nhiều khi mình nỗ lực mình học cho nhiều với mục đích gì? Học với bằng cấp để được mục đích gì? Khi mình nỗ lực làm một chùa thật đẹp để được mục đích gì? Suốt ngày mình sân si, chao chuốt, mình đập, mình xây, sửa, suốt ngày mình làm hòn non bộ, mình rất tinh cần, tinh tấn, rất nỗ lực cố gắng, nhưng đó không phải là siêng đúng, chánh tinh tấn, mà đó là sự tinh tấn hướng ngoại. Để được những điều không đáng được tán thán, muốn được lợi dưỡng cung kính danh vọng.
Mình đã bỏ phế đi đạo nghiệp, đạo hạnh, việc cần phải làm là nỗ lực tinh cần, cố gắng, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, bỏ quên chánh sự. Thậm chí mình lấy việc đó làm những việc quan trọng của đời tu mình, như lầm đường, lạc lối, đi vào ngã rẽ vì vị ngọt của nó, nên mình không có trí tuệ, mình không thấy được tham ái che mờ. Nhiều khi mình ngụy biện là đó làm cho Tam Bảo, làm để cho người ta phát tâm đi đến chùa.
Đây là cái mình cần nhìn ra là mình đang bệnh nặng, Đức Thế Tôn gọi là bốn chứng bệnh của người xuất gia. Hiện thực Đức Phật dạy chúng ta: “Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát” thời tiết của chúng ta ở cao nguyên, núi rừng có khi lạnh, chúng ta phải chịu đựng, chịu khó. Thực sự bây giờ so với thời của Đức Phật, thời xưa của các vị cao tăng thì rất đầy đủ, chúng ta có khăn, vớ, nón, áo… Chúng ta phải tác ý như vậy, lúc xưa Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng hay sau này các vị cao tăng khổ hạnh rất nhiều, phải ngủ ngoài trời, lộ thiên, ở dưới gốc cây.
Chúng ta nên nhớ Thánh hạnh, sống ly dục, ly tham, các Ngài để cho chúng ta có sự tác ý, phấn đấu, hướng thượng. Còn nếu chỉ bệnh chút thì mình nghĩ “Thôi, chắc bệnh!” nên mình tưởng nó thêm lên. Nhiều khi mình nghĩ là “bệnh nên nghe pháp không nổi đâu.” Đó cũng chỉ là tưởng, hành, thọ, còn khi mình nghe thì lúc mình nghe xong rồi thì mình mới giảm bệnh, vì pháp hỷ, pháp lạc, thiền việc.
Đó là “sự kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận.”
Phải có sự kham nhẫn thì mới tu được, ăn ít, thức khuya, dậy sớm, ngồi thiền, nghe pháp, kinh hành, chắp tác trong khi bệnh, trong khi những cảm giác khó chịu, những khổ thọ về thân phải chịu đựng, phải là những khổ đau, nhức nhối mãnh liệt, kịch liệt, không vừa lòng thích ý, thậm chí là dứt mạng sống ta phải chịu đựng. Nếu giờ những cảm nhẹ này mà mình không chịu đựng nổi thì những lời nói chỉ trích của người khác mà tâm mình không được an trú rồi khi tai nạn ập tới thì lúc đó bất thình lình xét nghiệm máu và nói mình bị ung thư rồi thì sao? Làm sao mình chịu đựng nổi? Hay bất thình lình có tai nạn giao thông, rắn cắn.
III. Vị Tỷ-kheo bị rắn cắn
Chúng ta thấy có rất nhiều bài kinh như có vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn. Ngài ấy mới nhờ các vị khác là khiêng giường, chõng và đặt câu hỏi: “Tôi là ai mà phải chết ở trong nhà? Tôi muốn được, giờ thân tôi bị rắn cắn, lúc nữa bị rã ra giống như nấm rơm”. Lúc đó các bậc Tôn Giả lớn, Xá-lợi-phất, các vị đại đệ tử đến thăm Ngài và hỏi “Sao Ngài nói thân Ngài bị rắn cắn, bị chất độc ngấm vào một chút thì sẽ rã rời, giống như nấm rơm bị nát mà không thấy Ngài bị đổi sắc mặt.”
Ngài nói: “Thưa Tôn Giả Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu đã không xem sắc này là tôi, của tôi, làm sao tôi có thể thay đổi sắc mặt?
Thưa Tôn Giả Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu đã không xem thọ này là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi, làm sao tôi có thể thay đổi sắc mặt?
Thưa Tôn Giả Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu tôi đã tu tập, đã tác ý, đã thiền quán, đã thâm nhập các tưởng, các hành này, không phải là tôi, của tôi, tự ngã của tôi, thì làm sao tôi phải thay đổi sắc mặt?
Thưa Ngài Xá-lợi-phất, đã từ lâu tôi đã quân tập, quán chiếu, tác ý, thức này không phải tôi, của tôi, tự ngã của tôi, chúc ta thấy việc tu của các bậc ngày xưa có khiếp đảm không? Đó là trước khi sắp chết, còn khi rã rời ra thì các Ngài đã gặp Niết-bàn.”
Chúng ta thấy có dễ sợ không? Thấy sự tu tập của các Ngài về tâm bất động khi thân này đến lúc chấm dứt mạng sống hay sắp sửa chấm dứt mạng sống mà các Ngài không đổi sắc mặt. Cho đến các bậc Thánh nghi ngờ hỏi “Sao Ngài nói Ngài bị rắn độc cắn mà? Ngài sắp chết rồi sao chúng tôi thấy Ngài vẫn không đổi sắc, vẫn hồng hào, tươi nhuận, thân vẫn oai nghiêm, bình thản như vậy? Thưa Ngài Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu, tôi đã không cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi thì làm sao tôi lại đổi sắc?”
Chúng ta lấy đề mục đó quán chiếu xem bữa giờ mình bệnh thì xem trong thọ, tưởng, hành như thế nào?
Ta sẽ chịu được những khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhất đau, mãnh liệt, kịch liệt, nên ta phải nhiếp phục, chế ngự, kham nhẫn, dùng Thánh trí tuệ nhìn sâu vào nó để tác ý, thậm chí có dứt mạng sống hay mất mạng sống này ta cũng không cho tâm mình bị đảo lộn, bị rối loạn.
Lúc trước trên núi mình có sư cô về tu, sư cô này bị bệnh ung thư, cô như khụy xuống, không còn ngồi nổi. Khi nghe pháp cô chỉ có thể nằm tại đó để được nghe pháp, để được tác ý trong những lời Thánh trí huệ của Đức Phật. Sau một hồi nghe thì cô tỉnh lại.
IV. Thân bệnh mà tâm không bệnh
Nên một người yếu đuối bị bệnh nặng thậm chí sắp chết nhưng vì người đó có tâm mạnh mẽ an trú vào pháp thì chính pháp đó làm cho bệnh giảm, tâm an thì bệnh sẽ giảm nên thân bệnh mà tâm không bệnh trong kinh Nakulapita:
“1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.
2) Rồi gia chủ Nakulapità đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bệnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.”
Gia chủ Nakulapità rất lâu mới được gặp Thế Tôn một lần, gặp được chúng Tỳ-kheo đáng kính một lần và chia sẻ: “”Thế Tôn ơi con già nua, ốm yếu, bệnh hoạn, con đi không nổi nữa, rất lâu rồi con mới được thăm Thế Tôn, thăm chúng Tỳ-kheo đáng kính, xin Thế Tôn hãy dạy dỗ, giáo giới, giảng dạy cho con. Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
“4) Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: "Dầu cho thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh". Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.”
Chúng ta thấy được bài kinh này làm sáng tỏ cho bài kinh khi nãy là bài kinh Đức Phật nói có người tự cho rằng mình không bị bệnh thì đó là người ra sao?
“Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu!”
Ý nói ai tự cho rằng thân này không bệnh dù chỉ trong giây phút thì đó phải là người ngu. Như vậy mình đợi tới lúc mình bệnh thì mình mới biết được thân này bệnh thì mình chưa phải là người trí. Đừng để tới lúc bệnh mới thấy bệnh mà trong lúc bình thường không có bệnh thì phải biết rằng đây là ổ chứa nhóm bệnh hoạn.
Chúng ta thấy bệnh này nhìn sâu vào rất dễ, đói một chút có khổ không? No một chút có khó chịu không? Khát một chút có thấy giống bệnh không? Hay bị bắt uống vào no quá thì có mệt không? Bắt mình ngồi hoài thì có thấy giống như bệnh không? Bắt đi hoài có muốn bệnh không? Bắt mình đứng hoài một chỗ rồi mình có thấy mỏi giống như bệnh không?
Chúng ta nên nhìn thấy bản chất bệnh khổ của thân này trong khi mình chưa có bệnh biểu lộ ra. Nên Thế Tôn mới nói:
“Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: "Dầu cho thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh". Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.””
Đó là câu nói Đức Phật dạy cho vị gia chủ Nakulapità tác ý: ai mang thân này thật sự là ốm đau, bệnh hoạn, nhiễm ô, che đậy, ai mang thân này mà cho là không bệnh dù chỉ trong một giây phút thì người đó là người ngu.
Chúng ta có nhớ bài kinh Bệnh Đức Phật đã nói ra sao? “Cái già nằm trong tuổi trẻ, cái tâm bệnh ở trong sức khỏe, cái chết nằm trong sự sống.” Ý nói tuổi già, tánh già nằm ở trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, tánh chết nằm trong sự sống. Mình quán chiếu như vậy, là mình đang bệnh nhưng vẫn hỷ lạc, thân khó chịu nhưng tâm vẫn hỷ lạc trong pháp. Chúng ta có cảm nhận được điều này không? Thân đau, khó chịu, khổ thọ nhưng tâm hỷ lạc khi mình nghe pháp, khi mình tác ý, quán chiếu.
Phải thấy được tính bệnh ngay lúc mình đang khỏe, không nên để tới lúc bệnh, bệnh chỉ là biểu hiện ra ngoài, còn mầm bệnh thì khi mình sanh ra có mặt là mầm bệnh đã đi theo. Khi mình sanh ra thì những tế bào hoại diệt đã ở sẵn trong này rồi, lúc mình mới sinh ra hoặc thậm chí là khi tượng hình trong bào thai thôi. Tánh chết nằm trong sự sống. Nhìn như vậy mình mới không bị lừa gạt, không bị hốt hoảng, mình mới không bất ngờ, bàng hoàng. Đó là cái nhìn thấu đáo, thấu thị, thấu suốt về bản chất, tính chất, thực chất, thực tướng, thân này bản chất là như vậy, không về vượt khỏi tính chất ấy.
“5) Rồi gia chủ Nakulapità sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên.
6) Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Nakulapità đang ngồi một bên:
- Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?”
Ý nói mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của vị gia chủ rất lặng lẽ, “tịch tịnh là các căn của gia chủ”, rất trong sáng, thanh tịnh, sắc diện của ông ấy sáng ngời, tươi tắn, sáng rực lên. Vậy có phải ông ấy được gặp Đức Thế Tôn, được nghe pháp thoại?
“- Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.”
Chúng ta nãy giờ có cảm thấy được nước bất tử đang ngấm vào không? Có cảm nhận, cảm thọ được không? Hằng ngày, mỗi buổi sáng chúng ta được rưới với nước bất tử, chúng ta trùng tiên lại Thánh điển. Vậy thì sau khi nghe pháp rồi thì các căn của mình có tịch tịnh không? Sắc diện chúng ta có thanh tịnh và trong sáng không? Trước khi nghe pháp, trong khi và sau khi nghe pháp? Chúng ta thấy trang nghiêm, thanh tịnh, tịch tịnh. Chúng ta thấy được một sự thanh tịnh, tịch tịnh, một sự trong sáng, mỗi ngày chúng ta đều được rưới với nước bất tử. Chúng ta có thấy hoan hỷ, phấn khởi, an lạc, hạnh phúc không? Có thấy thấm đẫm, thấm nhuần thân tâm với nước bất tử không?
“- Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.
- Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại?”
7) Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế Tôn:
"- Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bệnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài! "Được nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:
"- Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: ‘Dầu thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh! "Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.
Người gia chủ này được lợi ích, được rưới nước bất tử đến hai lần. Ngài Xá-lợi-phất hỏi ông ấy:
“8) Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: "Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bệnh và tâm cũng bị bệnh? Cho đến như thế nào là thân bị bệnh, nhưng tâm không bị bệnh không?”
Ngài Xá-lợi-phất dạy cho vị cư sĩ này là Thế Tôn nói giờ nên học thân bệnh nhưng tâm mình không bệnh, vậy thí chủ có hỏi thêm Thế Tôn như thế nào là thân bị bệnh tâm bị bệnh, như thế nào là thân bệnh mà tâm không bệnh, vậy cư sĩ có hỏi Thế Tôn như vậy không?
“9) Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!
10) Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Gia chủ Nakulapità vâng đáp Tôn giả Sàriputta.”
Vị cư sĩ này muốn nói ông ấy đã đi rất xa để gặp tận mặt Ngài Xá-lợi-phất với ý nghĩ con mong muốn được nghe Tôn giả Xá-lợi-phất giải thích thế nào là thân bệnh, tâm bệnh, thế nào là thân bệnh tâm không bệnh. Thật tuyệt vời thay, tốt lắm thay, lành thay nếu con được Tôn giả Xá-lợi-phất giải thích ý nghĩa của lời nói đó.
“11) Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Thế nào, này Gia chủ, là thân bệnh và tâm bệnh?
12) Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.”
“Quán sắc như tự ngã” là cho rằng thân xác này là mình, là của mình. “Tự ngã như có sắc” là cho rằng mình là thân xác này. Nên các bài kinh nếu chúng ta không hiểu mà đọc thì rất khó vì bên trong đều là chữ nho, chữ Hán Việt. “Quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.” Nên kẻ vô văn phàm phu là người không được học, nghe Nikāya, không gặp các bậc Thánh, tức là không gặp Đức Phật và đệ tử của Ngài, không được nghe Thánh pháp chân truyền, nguyên chất thì người này cho rằng thân xác, tiền của, vật chất này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho rằng mình ở trong sắc này và sắc này ở trong mình, sắc này là mình. Cho rằng thân này, nhà này, những món đồ, đồ vật, tài sản là của tôi, là sở hữu của tôi thì “vị ấy bị ám ảnh sắc là ta, là của ta”.
“Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta!" khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!”
Ý nói vị này bị ám ảnh những hình bóng về tự thân của mình luôn luôn lờ mờ trong tâm. Vị ấy cho rằng thọ, tưởng, hành, thức bị cả năm uẩn ám ảnh, những cảm giác, những hình bóng trong tâm ám ảnh, những suy nghĩ ám ảnh, những nhận thức ám ảnh, tức đồng thời, cùng một lúc năm uẩn này bị chấp thủ.
Nên chúng ta biết được thân kiến chúng ta mới thấy thân kiến thật sự mình tu suốt đời mình cũng không biết. Như mình ngồi bình thường và nói “Chút nữa tôi đi ăn!” thì trong câu nói này có lờ mờ hình bóng của mình đi cầm cái đũa, tô, chén ăn, hình bóng lờ mờ trong tâm mình về tự thân thì đó là thân kiến, bị sắc ám ảnh. Trong khi mình nói câu nói đó thì nó là dị hạch, vừa có ý hành, khẩu hành, có tưởng là hình bóng lờ mờ, cảm giác là thọ, nhận thức rõ ràng trong đó.
Những kẻ vô văn phàm phu bị thọ, sắc ám ảnh, bị những hình bóng trong tâm, suy nghĩ, nhận thức ám ảnh. Nên khi chúng ta nhận diện ngũ uẩn không sâu sắc, không nỗ lực thì không bao giờ chúng ta giờ được dù có biết nhận diện, chỉ là được những cái thô phù bên ngoài. Khi mình nói câu nói vậy thì ngũ uẩn vận hành, ám ảnh trong thân tâm của mình về một tự ngã.
Vậy nên khi thân này biến hoại, đổi khác thì mình bị buồn đau, khổ sầu, vì mình bị biến đổi, bị bệnh, bị tai nạn, bị tan nát, bị chết thì người này sẽ buồn lo, đau khổ. Cảm giác biến đổi một chút thì mình cũng đau khổ “Giờ mình bệnh rồi, giờ mình sắp mất rồi!” Muốn cái khỏe kia là mình còn bệnh này thì không phải mình, mình muốn trở lại cảm giác bình thường hôm trước, mình chống đối với cảm giác bệnh này, mình không chấp nhận, mình muốn triệt tiêu, triệt hạ, muốn diệt tận cảm giác này đi, muốn trở lại cảm giác kia thôi. Đó là mình bị ám ảnh trong cảm giác.
Trong tưởng của mình thì là gương mặt như vậy, nhưng không may nếu đi lỡ trượt viên đá nên ngã đập đầu xuống làm vỡ một miếng hộp sọ, làm thủng một lỗ ở trên đầu thì mình nhìn vô gương mình bị đau khổ vô cùng. Vì ở trong tưởng của “Mình là không phải như vầy, phải như trước kia, tại sao bây giờ mình lại như vầy?” rồi mình lại sầu bi, khổ, ưu não.
Là do sắc biến hoại, thọ biến hoại, tưởng biến hoại, biến đổi, đổi khác thì đó là do sắc biến hoại đổi khác nên khởi lên sầu bi, khổ, ưu não.
Mình đang còn trẻ, khỏe, tươi đẹp như vậy, bỗng nhiên mình bị tai nạn làm cụt hai chân thì tự nhiên muốn tự vẫn, không muốn sống nữa, mình đau khổ vì nó biến hoại, đổi khác, tan nát, là pháp tiêu ma, hoại diệt, đoạn tận, diệt tận ngũ uẩn này. Nhưng mình cứ cho rằng đó là tôi, của tôi.
“13) Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: " Thọ là ta, thọ là của ta ". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta " khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!”
14) Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta ". Do bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta " khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
15) Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta ". Do bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!
16) Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: " Thức là ta, thức là của ta " khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
17) Như vậy, này Gia chủ, là thân có bệnh và tâm có bệnh.”
Tức là bệnh thân và bệnh tâm.
“18) Thế nào, này Gia chủ, là thân có bệnh nhưng tâm không có bệnh?
19) Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta " khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
20) Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: " Thọ là ta, thọ là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Thọ là ta, thọ là của ta " khi thọ biến hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
21) Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta " khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
22) Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta " khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
23) Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: " Thức là ta, thức là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Thức là ta, thức là của ta " khi thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.”
Không cho rằng thân xác, nhà cửa, tài sản này, tất cả những thứ này là tôi, là của tôi, không cho như vậy, không nhìn hay suy nghĩ, nhận thức như vậy, không tư tưởng như vậy nên vị ấy không bị ám ảnh bởi sắc là ta, là của ta. Vị ấy luôn luôn suy nghĩ, tác ý, quán chiếu, nghiền ngẫm sắc này không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.
Vị ấy cũng không cho thọ này, những cảm giác này, những hình bóng trong tâm này là tôi, là của tôi. Vị ấy biết được nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, sự tập khởi, sự đoạn diệt của nó, biết được vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của nó. Vị ấy không cho các hành, những suy nghĩ là tôi, là của tôi, không cho nhận thức này là tôi, là của tôi. Ngược lại với vô văn phàm phu, là bậc Đa văn Thánh đệ tử, vị ấy không bị ám ảnh bởi ngũ uẩn, không cho ngũ uẩn là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Nên khi ngũ uẩn bị biến hoại, đổi khác thì vị này không khởi lên sầu bi, khổ, ưu não vì bản chất của nó là vô thường, khổ vô ngã, là biến hoại nên nó biến hoại là đúng.
Vị ấy không bị ám ảnh sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Nên khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến hoại, đổi khác thì không do nó bị biến hoại đổi khác đó mà khởi lên sầu bi, khổ, ưu não, không khổ đau về tâm. Nhưng thân thì có biến hoại, bệnh hoạn nên thọ thân là có, thân có bệnh nhưng tâm không bị bệnh.
Nên đó là Ngài Xá-lợi-phất giải thích “Thế nào là thân có bệnh nhưng tâm không có bệnh”, không phải gọi là bậc Thánh là thân không bệnh, vẫn bị bệnh bình thường như mọi người nhưng tâm này không khổ. Vì thân thể này tứ đại đều giống nhau, ai cũng là tứ đại, không phải thân của các bậc Thánh không phải làm từ tứ đại.
Nhưng tâm của các Ngài đã gỡ ra, đã từ bỏ, đã không có chấp thủ, đã nhổ sạch ái căn, gốc ái, đã diệt tận vô minh, cắt đứt kiết sử, tiêu diệt kiêu mạn, đã không còn chấp thủ nên thân bệnh mà tâm không bệnh. Nên khi sắc, thọ, tưởng, hành thức này biến hoại, đổi khác mà vị này không khởi lên sầu bi, khổ, ưu não vì vị này biết nó là như vậy.
Nên Minh Thành thường nói khi chúng ta chưng bông, tới năm bảy ngày sau nó héo thì chúng ta đem đi bỏ thùng rác thì chúng ta có khóc không? Có khổ không? Vì chúng ta biết nó sẽ như vậy, pháp nó là như vậy, pháp nhĩ như thỉ, tính chất nó là như vậy, bản tánh nó là như vậy, không thể vượt nổi tính chất ấy. Tính chất của hoa là héo tàn, bản chất của hoa là héo tàn, không thể vượt khỏi tính chất ấy, nên lúc đó mình mới bỏ thùng rác bình thường.
Cũng vậy, các vị đã thành tựu Chánh tri kiến rồi thì họ nhìn thân này như đóa hoa đó, bản chất của nó là héo tàn, là hoại diệt, là tan nát, rồi nó sẽ bị quăng thùng rác, thùng rác đó là cái hòm, nó sẽ bị quăng bỏ vào lò thiêu, vào cái hòm.
Nên khi nãy vị Thánh tăng kia nói “Từ lâu tôi đã không xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì làm sao tôi có thể đổi sắc mặt được thưa Ngài Xá-lợi-phất”
Chúng ta thấy tuyệt vời không? Đó chính là kết quả tối thượng của sự tu hành, chúng ta muốn được vậy không? Cố gắng lên, mạnh mẽ lên, tiến bước lên.
“24) Như vậy, này Gia chủ, là thân có bệnh, nhưng tâm không có bệnh.
25) Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapità hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta thuyết.”
(Bài kinh Nakulapità, Phẩm Nakulapità – Chương I. Tương Ưng Uẩn – Tập III. Thiên Uẩn – Tăng Chi Bộ Kinh)
Chúng ta nên mạnh mẽ lên, hùng dũng lên, thường xuyên như lý tác ý, tác ý thường xuyên.
62:48-76:44: Phật tử trình pháp
Chúng ta trong khi tụng mình cố gắng để ý cảm thọ, không phải một mực la rầy, quở mắng không mà có lúc mình cũng nên xoa dịu và ngọt ngào với tâm của mình. Song song với sự quán chiếu về khổ, về bệnh, chúng ta phải tác ý về tâm hỷ lạc, khi nãy Minh Thành lăp tới, lặp lui từ “rưới với nước bất tử” thì chúng ta tác ý tâm hỷ lạc, hạnh phúc thì mình gặp được Chánh pháp, mình thấy được ngũ uẩn, mình thấy được sự giả tạo, vô thường, bệnh khổ của đời sống này, tác ý hỷ lạc.
Quý thầy cho các quý Phật tử các buổi ngồi thiền để tác ý thêm về hỷ lạc. Như khi nãy có một vị Phật tử trình pháp thì có hơi cực đoan, nếu mình hành nó quá thì có thể quỵ, mình phải biết dung hòa ở trong tâm của mình. Lúc nào cần cho thuốc đắng và lúc nào cần cho ăn kẹo. Nên phải tác ý thêm hỷ lạc, hạnh phúc trong sự tu, sự hoan hỷ trong sự tu và các Ni sư nên sắp xếp thời gian khi bệnh thì nên giảm bớt lại thời khóa, tập trung hướng dẫn cho các vị mới, các vị trong chúng thì có thể giảm bớt thời khóa chung để tu riêng, để được tịnh dưỡng.
Đây cũng là sự tu tập ở một khía cạnh mới để cho chúng ta trải nghiệm, chúng ta nghỉ ở phòng của mình để tu. Không nên căng quá mà nên khéo léo, thiện xảo, quán chiếu về được “tưới nước bất tử” cho thân tâm của mình.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Thích Minh Thành
Ngày 24 tháng 08 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn chứng bệnh của người xuất gia PAGEREF _Toc114156534 \h 2
II. Kham nhẫn PAGEREF _Toc114156535 \h 5
III. Vị Tỷ-kheo bị rắn cắn PAGEREF _Toc114156536 \h 7
IV. Thân bệnh mà tâm không bệnh PAGEREF _Toc114156537 \h 8
I. Bốn chứng bệnh của người xuất gia
Minh Thành thấy trong đại chúng có nhiều người bệnh nên hôm nay chúng ta sẽ học nhiều bài kinh liên hệ đến bệnh để an ủi các người bệnh, để phấn chấn, dũng mãnh thân bệnh mà tâm không bệnh.
Trong khi dịch bệnh chúng ta đã có học nhưng chưa hết, chủ đề Làm an tâm người bệnh, nên nhân duyên có một số người bệnh nên chúng ta tiếp tục học chủ đề này.
Bài kinh Bệnh trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 2:
“1. - Này các Tỷ-kheo, có hai loại bệnh này. Thế nào là hai? Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Này các Tỷ-kheo, chúng ta thấy có chúng sanh tự nhận mình là không thân bệnh được một năm, tự nhận mình là không thân bệnh được hai năm, được ba … được bốn … được năm … được mười … được hai mươi … được ba mươi … được bốn mươi … tự nhận mình là không thân bệnh được năm mươi năm, tự nhận mình là không thân bệnh được một trăm năm. Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.”
Tức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo, có những con người, có những loài, những chúng sanh tự cho rằng, Thế Tôn dùng từ là “tự nhận mình” là nhiều khi họ có bệnh mà họ không biết, tự cho rằng mình không có bệnh trong hai năm, ba năm, năm năm hay thậm chí là mười năm, hai mươi, ba mươi năm không có bệnh thân. Thậm chí là suốt đời, trăm năm.
“Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, rất khó tìm được ở đời là những chúng sanh tự nhận mình là không tâm bệnh dầu chỉ trong một khoảnh khắc, trừ những vị đã đoạn trừ các lậu hoặc.”
“2. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại bệnh này cho người xuất gia. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người có dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.”
Bệnh thứ nhất của người tu là người này có tham muốn nhiều, gọi là dục lớn, bực bội, tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật, y phục, thức ăn, phòng ốc, giường và thuốc men để trị bệnh. Đó là bệnh thứ nhất, có ham muốn nhiều, không bằng lòng, bực bội, tức tối, không bằng lòng với tứ sử cúng dường, y phục, thức ăn uống, phòng ốc, giường ghế và những thuốc men trị bệnh.
“Người ấy vì nhiều dục lớn, bực bội tức tối, không tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.”
Thứ hai là việc tiếp nối của bệnh, tiếp theo, tăng thịnh, phát triển lên vì bực bội, tức tối, vì không bằng lòng bốn vật dụng nên người này khởi lên sự thèm khát, sự tham muốn xấu ác, ác dục, muốn được các điều không được tán thán, tức là muốn được những thứ bị chê trách, những thứ thấp hèn, những thứ không được đúng pháp của một người tu. Muốn được các lợi dưỡng cung kính, danh vọng. Đó là bệnh thứ hai.
“Vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.”
Tức là người này nỗ lực, cố gắng tinh tấn nhưng không để thành tựu trí huệ, không phải tinh tấn để đoạn tham, sân, si, không phải tinh tấn để thoát ra ngũ uẩn, vô thường mà người này lại tinh tấn, nỗ lực, cố gắng để mong những danh vọng, lợi dưỡng, cung kính tầm thường, không đúng pháp, đó là đang bệnh, đó là tâm đang bệnh.
“Vị ấy sau khi tính toán, đi đến các gia đình; sau khi tính toán, ngồi xuống; sau khi tính toán, thuyết pháp; sau khi tính toán, ngưng nín tiểu tiện, đại tiện.”
Là người đó làm gì cũng tính toán, suy nghĩ cách này cách kia, sau khi tính toán rồi đi đến các gia đình, tức là đi đến các nhà Phật tử, đến nhà cư sĩ. Sau khi tính toán, ngồi xuống rồi nghe thuyết pháp. Tất cả mọi sinh hoạt đều là sự tính toán, đều là có mục đích, mục đích đó là thèm khát ác dục, muốn được các điều không được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, vị ấy nỗ lực, cố gắng, tinh tấn để được những thứ đó. Toan tính, suy tư, nghĩ ngợi, lo toan, bất an để đi đến nhà người này người kia, suy tư nghĩ ngợi, lo lắng, tính toán khi ngồi xuống, khi thuyết pháp.
“Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bốn chứng bệnh của người xuất gia.
3. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:
- "Ta sẽ không có dục lớn, bực bội tức tối, tự bằng lòng với các đồ vật như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
- Ta sẽ không khởi lên thèm khát, ác dục, muốn được các điều không đáng được tán thán, muốn được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.
- Ta sẽ không nỗ lực, không cố gắng, không tinh tấn để được các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng.
- Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận.
- Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống".
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.”
(Bài kinh Bệnh, Phẩm Các Căn –Chương Bốn Pháp–Tăng Chi Bộ Kinh tập 2)
II. Kham nhẫn
Đây là chỗ Minh Thành muốn nói đến.
“Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận.
Ta sẽ chịu đựng các khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đứt mạng sống.”
Đó là kham nhẫn. Vừa rồi chúng ta có học qua Tương Ưng Sáu Xứ, trong đó Đức Phật dạy điều đầu tiên là thâu nhiếp sáu căn, kế đó là kham nhẫn bằng Thánh trí huệ, đó là pháp hành quan trọng trong kinh Nikāya. Đức Phật dạy mình không nỗ lực, không cố gắng, không tinh cần để được các lợi dưỡng cung kính danh vọng. Đó là tà tinh tấn, siêng sai. Điều này rất sâu sắc đối với các bị xuất gia, hay là các vị cư sĩ, hãy chiêm nghiệm thật kĩ, nhiều khi mình nỗ lực mình học cho nhiều với mục đích gì? Học với bằng cấp để được mục đích gì? Khi mình nỗ lực làm một chùa thật đẹp để được mục đích gì? Suốt ngày mình sân si, chao chuốt, mình đập, mình xây, sửa, suốt ngày mình làm hòn non bộ, mình rất tinh cần, tinh tấn, rất nỗ lực cố gắng, nhưng đó không phải là siêng đúng, chánh tinh tấn, mà đó là sự tinh tấn hướng ngoại. Để được những điều không đáng được tán thán, muốn được lợi dưỡng cung kính danh vọng.
Mình đã bỏ phế đi đạo nghiệp, đạo hạnh, việc cần phải làm là nỗ lực tinh cần, cố gắng, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã, bỏ quên chánh sự. Thậm chí mình lấy việc đó làm những việc quan trọng của đời tu mình, như lầm đường, lạc lối, đi vào ngã rẽ vì vị ngọt của nó, nên mình không có trí tuệ, mình không thấy được tham ái che mờ. Nhiều khi mình ngụy biện là đó làm cho Tam Bảo, làm để cho người ta phát tâm đi đến chùa.
Đây là cái mình cần nhìn ra là mình đang bệnh nặng, Đức Thế Tôn gọi là bốn chứng bệnh của người xuất gia. Hiện thực Đức Phật dạy chúng ta: “Ta sẽ kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát” thời tiết của chúng ta ở cao nguyên, núi rừng có khi lạnh, chúng ta phải chịu đựng, chịu khó. Thực sự bây giờ so với thời của Đức Phật, thời xưa của các vị cao tăng thì rất đầy đủ, chúng ta có khăn, vớ, nón, áo… Chúng ta phải tác ý như vậy, lúc xưa Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng hay sau này các vị cao tăng khổ hạnh rất nhiều, phải ngủ ngoài trời, lộ thiên, ở dưới gốc cây.
Chúng ta nên nhớ Thánh hạnh, sống ly dục, ly tham, các Ngài để cho chúng ta có sự tác ý, phấn đấu, hướng thượng. Còn nếu chỉ bệnh chút thì mình nghĩ “Thôi, chắc bệnh!” nên mình tưởng nó thêm lên. Nhiều khi mình nghĩ là “bệnh nên nghe pháp không nổi đâu.” Đó cũng chỉ là tưởng, hành, thọ, còn khi mình nghe thì lúc mình nghe xong rồi thì mình mới giảm bệnh, vì pháp hỷ, pháp lạc, thiền việc.
Đó là “sự kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm với ruồi và muỗi, với gió và mưa và các vật bò sát, (kham nhẫn) các hình thức nói phô khó chịu, khó chấp nhận.”
Phải có sự kham nhẫn thì mới tu được, ăn ít, thức khuya, dậy sớm, ngồi thiền, nghe pháp, kinh hành, chắp tác trong khi bệnh, trong khi những cảm giác khó chịu, những khổ thọ về thân phải chịu đựng, phải là những khổ đau, nhức nhối mãnh liệt, kịch liệt, không vừa lòng thích ý, thậm chí là dứt mạng sống ta phải chịu đựng. Nếu giờ những cảm nhẹ này mà mình không chịu đựng nổi thì những lời nói chỉ trích của người khác mà tâm mình không được an trú rồi khi tai nạn ập tới thì lúc đó bất thình lình xét nghiệm máu và nói mình bị ung thư rồi thì sao? Làm sao mình chịu đựng nổi? Hay bất thình lình có tai nạn giao thông, rắn cắn.
III. Vị Tỷ-kheo bị rắn cắn
Chúng ta thấy có rất nhiều bài kinh như có vị Tỳ-kheo bị rắn độc cắn. Ngài ấy mới nhờ các vị khác là khiêng giường, chõng và đặt câu hỏi: “Tôi là ai mà phải chết ở trong nhà? Tôi muốn được, giờ thân tôi bị rắn cắn, lúc nữa bị rã ra giống như nấm rơm”. Lúc đó các bậc Tôn Giả lớn, Xá-lợi-phất, các vị đại đệ tử đến thăm Ngài và hỏi “Sao Ngài nói thân Ngài bị rắn cắn, bị chất độc ngấm vào một chút thì sẽ rã rời, giống như nấm rơm bị nát mà không thấy Ngài bị đổi sắc mặt.”
Ngài nói: “Thưa Tôn Giả Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu đã không xem sắc này là tôi, của tôi, làm sao tôi có thể thay đổi sắc mặt?
Thưa Tôn Giả Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu đã không xem thọ này là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi, làm sao tôi có thể thay đổi sắc mặt?
Thưa Tôn Giả Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu tôi đã tu tập, đã tác ý, đã thiền quán, đã thâm nhập các tưởng, các hành này, không phải là tôi, của tôi, tự ngã của tôi, thì làm sao tôi phải thay đổi sắc mặt?
Thưa Ngài Xá-lợi-phất, đã từ lâu tôi đã quân tập, quán chiếu, tác ý, thức này không phải tôi, của tôi, tự ngã của tôi, chúc ta thấy việc tu của các bậc ngày xưa có khiếp đảm không? Đó là trước khi sắp chết, còn khi rã rời ra thì các Ngài đã gặp Niết-bàn.”
Chúng ta thấy có dễ sợ không? Thấy sự tu tập của các Ngài về tâm bất động khi thân này đến lúc chấm dứt mạng sống hay sắp sửa chấm dứt mạng sống mà các Ngài không đổi sắc mặt. Cho đến các bậc Thánh nghi ngờ hỏi “Sao Ngài nói Ngài bị rắn độc cắn mà? Ngài sắp chết rồi sao chúng tôi thấy Ngài vẫn không đổi sắc, vẫn hồng hào, tươi nhuận, thân vẫn oai nghiêm, bình thản như vậy? Thưa Ngài Xá-lợi-phất, tôi từ rất lâu, tôi đã không cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, của tôi, là tự ngã của tôi thì làm sao tôi lại đổi sắc?”
Chúng ta lấy đề mục đó quán chiếu xem bữa giờ mình bệnh thì xem trong thọ, tưởng, hành như thế nào?
Ta sẽ chịu được những khổ thọ về thân, khởi lên khổ đau, nhất đau, mãnh liệt, kịch liệt, nên ta phải nhiếp phục, chế ngự, kham nhẫn, dùng Thánh trí tuệ nhìn sâu vào nó để tác ý, thậm chí có dứt mạng sống hay mất mạng sống này ta cũng không cho tâm mình bị đảo lộn, bị rối loạn.
Lúc trước trên núi mình có sư cô về tu, sư cô này bị bệnh ung thư, cô như khụy xuống, không còn ngồi nổi. Khi nghe pháp cô chỉ có thể nằm tại đó để được nghe pháp, để được tác ý trong những lời Thánh trí huệ của Đức Phật. Sau một hồi nghe thì cô tỉnh lại.
IV. Thân bệnh mà tâm không bệnh
Nên một người yếu đuối bị bệnh nặng thậm chí sắp chết nhưng vì người đó có tâm mạnh mẽ an trú vào pháp thì chính pháp đó làm cho bệnh giảm, tâm an thì bệnh sẽ giảm nên thân bệnh mà tâm không bệnh trong kinh Nakulapita:
“1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.
2) Rồi gia chủ Nakulapità đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bệnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.”
Gia chủ Nakulapità rất lâu mới được gặp Thế Tôn một lần, gặp được chúng Tỳ-kheo đáng kính một lần và chia sẻ: “”Thế Tôn ơi con già nua, ốm yếu, bệnh hoạn, con đi không nổi nữa, rất lâu rồi con mới được thăm Thế Tôn, thăm chúng Tỳ-kheo đáng kính, xin Thế Tôn hãy dạy dỗ, giáo giới, giảng dạy cho con. Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
“4) Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: "Dầu cho thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh". Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.”
Chúng ta thấy được bài kinh này làm sáng tỏ cho bài kinh khi nãy là bài kinh Đức Phật nói có người tự cho rằng mình không bị bệnh thì đó là người ra sao?
“Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu!”
Ý nói ai tự cho rằng thân này không bệnh dù chỉ trong giây phút thì đó phải là người ngu. Như vậy mình đợi tới lúc mình bệnh thì mình mới biết được thân này bệnh thì mình chưa phải là người trí. Đừng để tới lúc bệnh mới thấy bệnh mà trong lúc bình thường không có bệnh thì phải biết rằng đây là ổ chứa nhóm bệnh hoạn.
Chúng ta thấy bệnh này nhìn sâu vào rất dễ, đói một chút có khổ không? No một chút có khó chịu không? Khát một chút có thấy giống bệnh không? Hay bị bắt uống vào no quá thì có mệt không? Bắt mình ngồi hoài thì có thấy giống như bệnh không? Bắt đi hoài có muốn bệnh không? Bắt mình đứng hoài một chỗ rồi mình có thấy mỏi giống như bệnh không?
Chúng ta nên nhìn thấy bản chất bệnh khổ của thân này trong khi mình chưa có bệnh biểu lộ ra. Nên Thế Tôn mới nói:
“Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: "Dầu cho thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh". Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập.””
Đó là câu nói Đức Phật dạy cho vị gia chủ Nakulapità tác ý: ai mang thân này thật sự là ốm đau, bệnh hoạn, nhiễm ô, che đậy, ai mang thân này mà cho là không bệnh dù chỉ trong một giây phút thì người đó là người ngu.
Chúng ta có nhớ bài kinh Bệnh Đức Phật đã nói ra sao? “Cái già nằm trong tuổi trẻ, cái tâm bệnh ở trong sức khỏe, cái chết nằm trong sự sống.” Ý nói tuổi già, tánh già nằm ở trong tuổi trẻ, tánh bệnh ở trong sức khỏe, tánh chết nằm trong sự sống. Mình quán chiếu như vậy, là mình đang bệnh nhưng vẫn hỷ lạc, thân khó chịu nhưng tâm vẫn hỷ lạc trong pháp. Chúng ta có cảm nhận được điều này không? Thân đau, khó chịu, khổ thọ nhưng tâm hỷ lạc khi mình nghe pháp, khi mình tác ý, quán chiếu.
Phải thấy được tính bệnh ngay lúc mình đang khỏe, không nên để tới lúc bệnh, bệnh chỉ là biểu hiện ra ngoài, còn mầm bệnh thì khi mình sanh ra có mặt là mầm bệnh đã đi theo. Khi mình sanh ra thì những tế bào hoại diệt đã ở sẵn trong này rồi, lúc mình mới sinh ra hoặc thậm chí là khi tượng hình trong bào thai thôi. Tánh chết nằm trong sự sống. Nhìn như vậy mình mới không bị lừa gạt, không bị hốt hoảng, mình mới không bất ngờ, bàng hoàng. Đó là cái nhìn thấu đáo, thấu thị, thấu suốt về bản chất, tính chất, thực chất, thực tướng, thân này bản chất là như vậy, không về vượt khỏi tính chất ấy.
“5) Rồi gia chủ Nakulapità sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên.
6) Tôn giả Sàriputta nói với gia chủ Nakulapità đang ngồi một bên:
- Này Gia chủ, tịch tịnh là các căn của Gia chủ; thanh tịnh và trong sáng là sắc diện của Gia chủ. Có phải hôm nay Gia chủ đối diện với Thế Tôn, được nghe pháp thoại?”
Ý nói mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của vị gia chủ rất lặng lẽ, “tịch tịnh là các căn của gia chủ”, rất trong sáng, thanh tịnh, sắc diện của ông ấy sáng ngời, tươi tắn, sáng rực lên. Vậy có phải ông ấy được gặp Đức Thế Tôn, được nghe pháp thoại?
“- Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.”
Chúng ta nãy giờ có cảm thấy được nước bất tử đang ngấm vào không? Có cảm nhận, cảm thọ được không? Hằng ngày, mỗi buổi sáng chúng ta được rưới với nước bất tử, chúng ta trùng tiên lại Thánh điển. Vậy thì sau khi nghe pháp rồi thì các căn của mình có tịch tịnh không? Sắc diện chúng ta có thanh tịnh và trong sáng không? Trước khi nghe pháp, trong khi và sau khi nghe pháp? Chúng ta thấy trang nghiêm, thanh tịnh, tịch tịnh. Chúng ta thấy được một sự thanh tịnh, tịch tịnh, một sự trong sáng, mỗi ngày chúng ta đều được rưới với nước bất tử. Chúng ta có thấy hoan hỷ, phấn khởi, an lạc, hạnh phúc không? Có thấy thấm đẫm, thấm nhuần thân tâm với nước bất tử không?
“- Làm sao không thể như vậy được, thưa Tôn giả? Hôm nay, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.
- Như thế nào, này Gia chủ, Gia chủ được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại?”
7) Ở đây, thưa Tôn giả, con đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thưa Tôn giả, con bạch Thế Tôn:
"- Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bệnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các Tỷ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng dạy cho con! Nhờ vậy con được hạnh phúc, an lạc lâu dài! "Được nghe nói vậy, thưa Tôn giả, Thế Tôn nói với con:
"- Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bệnh hoạn, ốm yếu, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bệnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: ‘Dầu thân tôi có bệnh, tâm sẽ không bị bệnh! "Như vậy, thưa Tôn giả, con được rưới với nước bất tử, nhờ Thế Tôn giảng cho pháp thoại.
Người gia chủ này được lợi ích, được rưới nước bất tử đến hai lần. Ngài Xá-lợi-phất hỏi ông ấy:
“8) Nhưng này Gia chủ, Gia chủ có hỏi thêm Thế Tôn như sau: "Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là thân bị bệnh và tâm cũng bị bệnh? Cho đến như thế nào là thân bị bệnh, nhưng tâm không bị bệnh không?”
Ngài Xá-lợi-phất dạy cho vị cư sĩ này là Thế Tôn nói giờ nên học thân bệnh nhưng tâm mình không bệnh, vậy thí chủ có hỏi thêm Thế Tôn như thế nào là thân bị bệnh tâm bị bệnh, như thế nào là thân bệnh mà tâm không bệnh, vậy cư sĩ có hỏi Thế Tôn như vậy không?
“9) Thưa Tôn giả, con có thể đi đến thật xa để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta ý nghĩa của lời nói này. Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!
10) Vậy này Gia chủ, hãy lắng nghe và khéo suy nghiệm, ta sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
Gia chủ Nakulapità vâng đáp Tôn giả Sàriputta.”
Vị cư sĩ này muốn nói ông ấy đã đi rất xa để gặp tận mặt Ngài Xá-lợi-phất với ý nghĩ con mong muốn được nghe Tôn giả Xá-lợi-phất giải thích thế nào là thân bệnh, tâm bệnh, thế nào là thân bệnh tâm không bệnh. Thật tuyệt vời thay, tốt lắm thay, lành thay nếu con được Tôn giả Xá-lợi-phất giải thích ý nghĩa của lời nói đó.
“11) Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Thế nào, này Gia chủ, là thân bệnh và tâm bệnh?
12) Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.”
“Quán sắc như tự ngã” là cho rằng thân xác này là mình, là của mình. “Tự ngã như có sắc” là cho rằng mình là thân xác này. Nên các bài kinh nếu chúng ta không hiểu mà đọc thì rất khó vì bên trong đều là chữ nho, chữ Hán Việt. “Quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc.” Nên kẻ vô văn phàm phu là người không được học, nghe Nikāya, không gặp các bậc Thánh, tức là không gặp Đức Phật và đệ tử của Ngài, không được nghe Thánh pháp chân truyền, nguyên chất thì người này cho rằng thân xác, tiền của, vật chất này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho rằng mình ở trong sắc này và sắc này ở trong mình, sắc này là mình. Cho rằng thân này, nhà này, những món đồ, đồ vật, tài sản là của tôi, là sở hữu của tôi thì “vị ấy bị ám ảnh sắc là ta, là của ta”.
“Vị ấy bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta!" khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!”
Ý nói vị này bị ám ảnh những hình bóng về tự thân của mình luôn luôn lờ mờ trong tâm. Vị ấy cho rằng thọ, tưởng, hành, thức bị cả năm uẩn ám ảnh, những cảm giác, những hình bóng trong tâm ám ảnh, những suy nghĩ ám ảnh, những nhận thức ám ảnh, tức đồng thời, cùng một lúc năm uẩn này bị chấp thủ.
Nên chúng ta biết được thân kiến chúng ta mới thấy thân kiến thật sự mình tu suốt đời mình cũng không biết. Như mình ngồi bình thường và nói “Chút nữa tôi đi ăn!” thì trong câu nói này có lờ mờ hình bóng của mình đi cầm cái đũa, tô, chén ăn, hình bóng lờ mờ trong tâm mình về tự thân thì đó là thân kiến, bị sắc ám ảnh. Trong khi mình nói câu nói đó thì nó là dị hạch, vừa có ý hành, khẩu hành, có tưởng là hình bóng lờ mờ, cảm giác là thọ, nhận thức rõ ràng trong đó.
Những kẻ vô văn phàm phu bị thọ, sắc ám ảnh, bị những hình bóng trong tâm, suy nghĩ, nhận thức ám ảnh. Nên khi chúng ta nhận diện ngũ uẩn không sâu sắc, không nỗ lực thì không bao giờ chúng ta giờ được dù có biết nhận diện, chỉ là được những cái thô phù bên ngoài. Khi mình nói câu nói vậy thì ngũ uẩn vận hành, ám ảnh trong thân tâm của mình về một tự ngã.
Vậy nên khi thân này biến hoại, đổi khác thì mình bị buồn đau, khổ sầu, vì mình bị biến đổi, bị bệnh, bị tai nạn, bị tan nát, bị chết thì người này sẽ buồn lo, đau khổ. Cảm giác biến đổi một chút thì mình cũng đau khổ “Giờ mình bệnh rồi, giờ mình sắp mất rồi!” Muốn cái khỏe kia là mình còn bệnh này thì không phải mình, mình muốn trở lại cảm giác bình thường hôm trước, mình chống đối với cảm giác bệnh này, mình không chấp nhận, mình muốn triệt tiêu, triệt hạ, muốn diệt tận cảm giác này đi, muốn trở lại cảm giác kia thôi. Đó là mình bị ám ảnh trong cảm giác.
Trong tưởng của mình thì là gương mặt như vậy, nhưng không may nếu đi lỡ trượt viên đá nên ngã đập đầu xuống làm vỡ một miếng hộp sọ, làm thủng một lỗ ở trên đầu thì mình nhìn vô gương mình bị đau khổ vô cùng. Vì ở trong tưởng của “Mình là không phải như vầy, phải như trước kia, tại sao bây giờ mình lại như vầy?” rồi mình lại sầu bi, khổ, ưu não.
Là do sắc biến hoại, thọ biến hoại, tưởng biến hoại, biến đổi, đổi khác thì đó là do sắc biến hoại đổi khác nên khởi lên sầu bi, khổ, ưu não.
Mình đang còn trẻ, khỏe, tươi đẹp như vậy, bỗng nhiên mình bị tai nạn làm cụt hai chân thì tự nhiên muốn tự vẫn, không muốn sống nữa, mình đau khổ vì nó biến hoại, đổi khác, tan nát, là pháp tiêu ma, hoại diệt, đoạn tận, diệt tận ngũ uẩn này. Nhưng mình cứ cho rằng đó là tôi, của tôi.
“13) Vị ấy quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy bị ám ảnh: " Thọ là ta, thọ là của ta ". Do bị ám ảnh: "Thọ là ta, thọ là của ta " khi thọ biến hoại, đổi khác; nên do thọ biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!”
14) Vị ấy quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta ". Do bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta " khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên do tưởng biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
15) Vị ấy quán các hành như là tự ngã hay tự ngã như là có các hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta ". Do bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta" khi các hành biến hoại, đổi khác; do các hành biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu não!
16) Vị ấy quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy bị ám ảnh: " Thức là ta, thức là của ta " khi thức biến hoại, đổi khác; nên do thức biến hoại, đổi khác, vị ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
17) Như vậy, này Gia chủ, là thân có bệnh và tâm có bệnh.”
Tức là bệnh thân và bệnh tâm.
“18) Thế nào, này Gia chủ, là thân có bệnh nhưng tâm không có bệnh?
19) Ở đây, này Gia chủ, vị đa văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Sắc là ta, sắc là của ta " khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
20) Không quán thọ như là tự ngã, hay tự ngã như là có thọ, hay thọ ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thọ. Vị ấy không bị ám ảnh: " Thọ là ta, thọ là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Thọ là ta, thọ là của ta " khi thọ biến hoại, đổi khác; nên không do thọ biến hoại, đổi khác, mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
21) Không quán tưởng như là tự ngã, hay tự ngã như là có tưởng, hay tưởng ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong tưởng. Vị ấy không bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Tưởng là ta, tưởng là của ta " khi tưởng biến hoại, đổi khác; nên không do tưởng biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
22) Không quán các hành như là tự ngã, hay tự ngã như là có hành, hay các hành ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong các hành. Vị ấy không bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Các hành là ta, các hành là của ta " khi các hành biến hoại, đổi khác; nên không do các hành biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
23) Không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không bị ám ảnh: " Thức là ta, thức là của ta ". Do vị ấy không bị ám ảnh: " Thức là ta, thức là của ta " khi thức biến hoại, đổi khác; nên không do thức biến hoại, đổi khác mà khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não.”
Không cho rằng thân xác, nhà cửa, tài sản này, tất cả những thứ này là tôi, là của tôi, không cho như vậy, không nhìn hay suy nghĩ, nhận thức như vậy, không tư tưởng như vậy nên vị ấy không bị ám ảnh bởi sắc là ta, là của ta. Vị ấy luôn luôn suy nghĩ, tác ý, quán chiếu, nghiền ngẫm sắc này không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.
Vị ấy cũng không cho thọ này, những cảm giác này, những hình bóng trong tâm này là tôi, là của tôi. Vị ấy biết được nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, sự tập khởi, sự đoạn diệt của nó, biết được vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của nó. Vị ấy không cho các hành, những suy nghĩ là tôi, là của tôi, không cho nhận thức này là tôi, là của tôi. Ngược lại với vô văn phàm phu, là bậc Đa văn Thánh đệ tử, vị ấy không bị ám ảnh bởi ngũ uẩn, không cho ngũ uẩn là mình, là của mình, là tự ngã của mình. Nên khi ngũ uẩn bị biến hoại, đổi khác thì vị này không khởi lên sầu bi, khổ, ưu não vì bản chất của nó là vô thường, khổ vô ngã, là biến hoại nên nó biến hoại là đúng.
Vị ấy không bị ám ảnh sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Nên khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức biến hoại, đổi khác thì không do nó bị biến hoại đổi khác đó mà khởi lên sầu bi, khổ, ưu não, không khổ đau về tâm. Nhưng thân thì có biến hoại, bệnh hoạn nên thọ thân là có, thân có bệnh nhưng tâm không bị bệnh.
Nên đó là Ngài Xá-lợi-phất giải thích “Thế nào là thân có bệnh nhưng tâm không có bệnh”, không phải gọi là bậc Thánh là thân không bệnh, vẫn bị bệnh bình thường như mọi người nhưng tâm này không khổ. Vì thân thể này tứ đại đều giống nhau, ai cũng là tứ đại, không phải thân của các bậc Thánh không phải làm từ tứ đại.
Nhưng tâm của các Ngài đã gỡ ra, đã từ bỏ, đã không có chấp thủ, đã nhổ sạch ái căn, gốc ái, đã diệt tận vô minh, cắt đứt kiết sử, tiêu diệt kiêu mạn, đã không còn chấp thủ nên thân bệnh mà tâm không bệnh. Nên khi sắc, thọ, tưởng, hành thức này biến hoại, đổi khác mà vị này không khởi lên sầu bi, khổ, ưu não vì vị này biết nó là như vậy.
Nên Minh Thành thường nói khi chúng ta chưng bông, tới năm bảy ngày sau nó héo thì chúng ta đem đi bỏ thùng rác thì chúng ta có khóc không? Có khổ không? Vì chúng ta biết nó sẽ như vậy, pháp nó là như vậy, pháp nhĩ như thỉ, tính chất nó là như vậy, bản tánh nó là như vậy, không thể vượt nổi tính chất ấy. Tính chất của hoa là héo tàn, bản chất của hoa là héo tàn, không thể vượt khỏi tính chất ấy, nên lúc đó mình mới bỏ thùng rác bình thường.
Cũng vậy, các vị đã thành tựu Chánh tri kiến rồi thì họ nhìn thân này như đóa hoa đó, bản chất của nó là héo tàn, là hoại diệt, là tan nát, rồi nó sẽ bị quăng thùng rác, thùng rác đó là cái hòm, nó sẽ bị quăng bỏ vào lò thiêu, vào cái hòm.
Nên khi nãy vị Thánh tăng kia nói “Từ lâu tôi đã không xem sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì làm sao tôi có thể đổi sắc mặt được thưa Ngài Xá-lợi-phất”
Chúng ta thấy tuyệt vời không? Đó chính là kết quả tối thượng của sự tu hành, chúng ta muốn được vậy không? Cố gắng lên, mạnh mẽ lên, tiến bước lên.
“24) Như vậy, này Gia chủ, là thân có bệnh, nhưng tâm không có bệnh.
25) Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy, gia chủ Nakulapità hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta thuyết.”
(Bài kinh Nakulapità, Phẩm Nakulapità – Chương I. Tương Ưng Uẩn – Tập III. Thiên Uẩn – Tăng Chi Bộ Kinh)
Chúng ta nên mạnh mẽ lên, hùng dũng lên, thường xuyên như lý tác ý, tác ý thường xuyên.
62:48-76:44: Phật tử trình pháp
Chúng ta trong khi tụng mình cố gắng để ý cảm thọ, không phải một mực la rầy, quở mắng không mà có lúc mình cũng nên xoa dịu và ngọt ngào với tâm của mình. Song song với sự quán chiếu về khổ, về bệnh, chúng ta phải tác ý về tâm hỷ lạc, khi nãy Minh Thành lăp tới, lặp lui từ “rưới với nước bất tử” thì chúng ta tác ý tâm hỷ lạc, hạnh phúc thì mình gặp được Chánh pháp, mình thấy được ngũ uẩn, mình thấy được sự giả tạo, vô thường, bệnh khổ của đời sống này, tác ý hỷ lạc.
Quý thầy cho các quý Phật tử các buổi ngồi thiền để tác ý thêm về hỷ lạc. Như khi nãy có một vị Phật tử trình pháp thì có hơi cực đoan, nếu mình hành nó quá thì có thể quỵ, mình phải biết dung hòa ở trong tâm của mình. Lúc nào cần cho thuốc đắng và lúc nào cần cho ăn kẹo. Nên phải tác ý thêm hỷ lạc, hạnh phúc trong sự tu, sự hoan hỷ trong sự tu và các Ni sư nên sắp xếp thời gian khi bệnh thì nên giảm bớt lại thời khóa, tập trung hướng dẫn cho các vị mới, các vị trong chúng thì có thể giảm bớt thời khóa chung để tu riêng, để được tịnh dưỡng.
Đây cũng là sự tu tập ở một khía cạnh mới để cho chúng ta trải nghiệm, chúng ta nghỉ ở phòng của mình để tu. Không nên căng quá mà nên khéo léo, thiện xảo, quán chiếu về được “tưới nước bất tử” cho thân tâm của mình.
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.