Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí Năm Uẩn 2 - Ba Pháp Tuyệt Diệu

2026-03-03 00:54:04
Kinh Nikāya Giảng Giải

THÁNH TRÍ NĂM UẨN 2

BA PHÁP TUYỆT DIỆU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc114232728 \h 1

II. Dục PAGEREF _Toc114232729 \h 4

III. Trình pháp PAGEREF _Toc114232730 \h 11

Thực hành ba pháp và nhận diện ngũ uẩn

Thực hành Ba pháp là pháp hành rất quan trọng trong sự tu này.

Đầu tiên, chánh niệm trước mặt: nhìn xuống về phía trước, không trụ vào bất cứ một điểm nào, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, trong kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật gọi là chánh niệm ở trước mặt.

Trở về hơi thở, cảm nhận ba chỗ chuyển động của hơi thở: chóp mũi, lồng ngực, bụng. Từ ba chỗ chóp mũi, lồng ngực và bụng, chúng ta mở rộng cảm giác, cảm nhận cảm giác trên đỉnh đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể. Đây là pháp thứ hai gọi là cảm giác toàn thân. Trong Mười sáu hơi thở, Đức Phật dạy phải ghi nhận tất cả những cảm giác đang có mặt trong toàn bộ cơ thể.

Trong tâm phải tỉnh táo, tỉnh giác, rõ biết các pháp – đây pháp thứ ba, gọi là nội tâm tỉnh giác.

Trong lúc ngồi thiền, khi đi đứng bên ngoài, hay trong mọi lúc sinh hoạt… nếu có sự thực hành ba pháp này thì chúng ta sẽ có được sự định tâm ở trên thân, ba pháp này như một điểm tựa, một chỗ dựa, một cù lao, một hòn đảo rất là vững chắc. Khi tiếp xúc với sáu trần hay những ngoại cảnh, nếu bị chúng xâm chiếm, tác động thì mình vẫn có một chỗ dựa rất là vững chắc, đó là cảm giác toàn thân, pháp này hết sức quan trọng trong sự tu tập. Huynh đệ nào để tâm tu hành thì phải nắm thật kỹ ba pháp này, đây là chỗ dựa rất vững chắc cho suốt cuộc đời tu.

Ví dụ, một người nói chuyện này chuyện kia của người khác với mình, nếu lúc đó không có cảm giác toàn thân, không trú nội tâm vào pháp thì mình nhất định sẽ bị ngọn gió của thị phi làm dao động. Đức Phật ví như đem bông gòn để ngoài ngã tư đường, gió từ bốn phương thổi mạnh, bông gòn sẽ bay tứ tung theo gió. Cũng vậy, khi mắt tiếp xúc với sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên với các pháp bên trong thì người không biết tu, không có chỗ trú vững chắc trong pháp nhất định sẽ đi theo.

Trong kinh Thân Hành Niệm, Đức Phật ví dụ tâm có tu tập giống như một bình đựng nước đầy, không ai đổ gì vào được; còn tâm không được tu tập giống như một bình trống rỗng, ai muốn đổ nước gì vô thì đổ, cho nên ác ma có cơ hội xâm chiếm tâm của mình. Ác ma tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; ác ma chính là những cảm giác, suy nghĩ, tưởng tượng và nhận thức, vì vậy, năm uẩn được gọi là Màra (ác ma). Cho nên khi có sự định tâm trên thân, luôn luôn quay lại cảm giác toàn thân thì mình có một sự trú rất vững chắc, rất bình an đối với trước ngoại cảnh.

Ví dụ đơn giản, khi thọ trai, nếu không có tu tập, không có cảm giác toàn thân thì lúc nhìn thấy không có gì ăn hết là mình sẽ có cảm giác không vui, cảm thấy khó chịu, đó là cảm giác của sân. Ngược lại, khi thấy có nhiều thức ăn ngon thì mình khoan khoái, thích thú, đó là tham. Nếu lúc đó có sự định tâm trên thân, cảm giác toàn thân thì mắt tuy nhìn thức ăn nhưng thật sự trong tâm đang quay trở về để quán chiếu cảm thọ.

Mắt tuy nhìn xuống giống như đang nhìn đồ ăn nhưng nhãn thức, nhãn xúc, thọ cho nhãn xúc sanh không chạy đuổi theo cảm giác dục, tham và ái đối với thức ăn. Thay vào đó, quay ngược trở lại trong tâm để quán chiếu cảm giác của mình để không chạy theo cái sắc, cái mùi, cái hương, cái vị của thức ăn, đồng thời chỉa mũi dùi để triệt phá những cảm giác dục, tham, ái trong thân tâm mình. Đây là sự thọ thực của bậc Hiền Thánh, của vị Đa văn Thánh đệ tử, chân chánh Tỳ- kheo chân chánh thời Đức Phật. Đây là sự thọ thực của bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường. Đây là sự thọ thực của Tăng bảo.

Còn chúng ta, nhìn thấy thức ăn nhiều thì tham, nước miếng chảy ra ừng ực hoặc cảm thấy sân, khó chịu khi không vừa ý, như vậy là phàm phu, không phải Đa văn Thánh đệ tử. Tại vì sao? Vì mình bị sắc của thức ăn chinh phục; bị hương của thức ăn chinh phục; bị vị của thức ăn chinh phục; bị sự tiếp xúc của con mắt đối với thức ăn (nhãn xúc) chinh phục; bị sắc tưởng của thức ăn chinh phục, tức là dù đang ngồi yên nhưng tưởng đang gắp lia lịa thức ăn cho vào miệng nuốt, nhai.

Những điều này rất vi tế, nếu không có tu tập, quán chiếu và hành trì là không thấy được bằng trí huệ. Khi thọ trai, nếu sanh khởi thọ cho nhãn xúc sanh mà mình không biết, không quán được duyên sanh pháp thì không thể nhiếp phục được dục, tham, ái trong cảm thọ đó. Khi đã học đã nắm được duyên sanh pháp thì phải quán chiếu thật sâu sắc, chứ không phải tụng niệm nhiều là nhiếp phục dục, tham được. Vì có khi miệng thì tụng nhưng trong tâm thì nôn nao, tham muốn được ăn.

Ngay lúc đó, cần phải quán do duyên có con mắt, các sắc (thức ăn) ở trước mặt sanh khởi lên sự rõ biết các sắc, gọi là nhãn thức. Ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt với thức ăn. Do sự tiếp xúc của con mắt (nhãn xúc) nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh. Khi đó, cảm thọ sanh khởi, tưởng sanh khởi, hành sanh khởi, bên trong nói: “Sao cúng lâu quá vậy, tụng lâu quá vậy, đáp từ dài dữ vậy, biết chừng nào mới được ăn”. Chúng ta phải nghe được những tiếng nói đó, phải nhìn thấy được cảm giác thúc giục, muốn ăn và cả cảm giác khó chịu vì chờ đợi. Phải thấy được tưởng hiện ra hình bóng mình sẽ gắp, múc, nhai thức ăn, rồi tính cả chuyện ăn xong sẽ đi đâu… đó là dòng chảy của các pháp duyên sanh. Người tu có trí huệ thì sẽ thấy các pháp hiện rõ ra minh minh bạch bạch ở trước mắt họ. Tâm thức vận hành như thế nào, sanh khởi ra sao, an trú ra sao… người đó cũng thấy rõ, biết rõ, không gì qua mặt được.

– Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.



Này các Tỷ-kheo:

Có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ,

Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.

(Trung Bộ Kinh I, 4. Kinh Tất cả lậu hoặc)

Đức Phật nói rằng, lậu hoặc là do thấy, do biết mà được đoạn trừ; người không thấy, không biết không thể đoạn trừ được các lậu hoặc: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”. Và do thấy biết (tri kiến), do phòng hộ, do thọ dung, do kham nhẫn, do tránh né, do trừ diệt, do tu tập mới có thể đoạn trừ được các lậu hoặc.

Còn chúng ta cứ tưởng mình tu hay, tu giỏi, nhưng thật ra suốt ngày mình sống trong vô minh, tham ái, chấp ngã mà không thấy được. Nếu không thành tựu trí huệ năm uẩn là không thể thấy được lậu hoặc trong tâm, chúng ta chỉ sống trong tưởng tri, thức tri chứ không phải tuệ tri. Bao trùm trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta là những nghĩ, tưởng sai lầm nhưng mình hoàn toàn không thấy không biết. Chỉ khi nào nhận diện được năm uẩn thường trực, chúng ta mới thấy được những điểm sai lầm, phát giác ra được vô minh là cái gì, si là cái gì, ái là cái gì, dục là cái gì, tham là cái gì, cảm giác của sân hận khó chịu ra sao, cảm giác của dục, tham, ái, cảm giác của cái bản ngã như thế nào. Khi nhìn được hết những cảm giác lúc nó sanh khởi lên, quậy phá, áp đảo, khiến mình đau khổ và mình chiến đấu với nó như thế nào là chúng ta bắt đầu thành tựu trí huệ.

Đại đa số chúng ta đều sống trong tưởng tri, những cái mình gọi là biết đều ở trên ảo tưởng, tưởng tượng, chứ không biết bằng trí tuệ. Biết bằng trí tuệ là bậc Đa văn Thánh đệ tử, dựa vào những lời dạy của bậc Chánh Đẳng Giác, sát sao theo đó 100% mà thực hành thì đó mới gọi là biết bằng trí tuệ. Trên thế gian này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, các bậc A-la-hán mới biết bằng trí huệ, ngay cả những vị được tôn xưng nổi tiếng cũng chưa chắc, đó chỉ là thế gian tôn xưng, còn trong giáo pháp chưa chắc. Nếu không thành tựu trí năm uẩn này thì vẫn là vị thánh của thế gian tôn thờ, chứ không phải là thánh mà Đức Phật xác nhận. Cho nên, khi thâm nhập được vào pháp, những gì trong nội tâm mình sẽ thấy rõ hết.

Toàn bộ sự sống của chúng ta, ngập chìm cả khắp thế giới này đều chạy theo dục, ái, tham, sân si, vô minh và bản ngã. Tất cả chạy lòng vòng rồi cuối cùng cũng tìm dục, tìm ái trong bóng đêm của vô minh, không thấy được năm uẩn, cho rằng năm uẩn là mình. Chỉ có các bậc thành tựu Chánh tri kiến, Đa văn Thánh đệ tử mới biết được thật sự bên trong tâm đang diễn ra những gì, biết tâm đang vận hành ra sao. Còn toàn bộ chúng ta đều ở trong bóng đêm khủng khiếp, kinh khủng. Những thứ mình nghĩ là sự hưởng thụ như ăn ngon, mặc đẹp, ở sang thật ra không phải là hưởng thụ, mà là mình phục dịch cho dục, phục dịch cho tham, nô lệ cho ái. Dù cho cung phụng chúng suốt đời này cũng không thỏa mãn, đời sau sanh ra lại đi tìm tiếp, khao khát nữa.

Nhan nhãn xung quanh ta là những tin tức rùng rợn, một ông già 80 tuổi mà hãm hiếp một đứa trẻ chỉ mới 6 tuổi, đó là sự nguy hại của dục. Không riêng cá nhân nào, tất cả chúng ta đều bị dục chi phối. Bất kể già trẻ, bé lớn, sang hèn, giàu nghèo, địa vị thấp cao, người đi ăn xin hay người đứng đầu tập đoàn thì cái dục cũng giống nhau, chẳng qua là phương diện khác, thể hiện dưới hình thức khác, chứ cái dục y chang nhau. Tham ái, bản ngã cũng y chang như vậy, vì tất cả ngũ uẩn đều vận hành y như nhau, không có gì khác.

Cho nên, sự tu tập này là nhìn sâu vào những gì đang điều khiển bên trong thân xác này, xem cái gì đang chi phối, chiếm ngự, thống lãnh, áp đảo. Những tên dục, tham, ái, vô minh, bản ngã này là đại ma đầu, thế nhưng mình hoàn toàn không thấy không biết rằng những tham, sân, si đó luôn nằm trong cảm giác chính mình. Ngày nào chúng ta còn lắng nghe, còn yêu thương, còn chiều chuộng, phục dịch cho nó thì ngày đó còn khổ đau dài dài. Ngày nào còn chưa thấy bộ mặt ma quái, tinh ranh, xảo quyệt, bộ mặt yêu tinh, bạch cốt tinh thì ngày đó mình còn sầu, bi, khổ, ưu, não, nước mắt còn lăn dài trên má, chỉ biết bứt tóc đấm ngực chết và gần như là chết. Đó là sự nguy hại của dục, chúng ta cần quán chiếu sự nguy hiểm và tác hại của dục.

Dục không phải chỉ là dục nam nữ, hiểu như vậy rất nhỏ hẹp. Mỗi khi ăn, khi mặc, khi ngủ, khi leo lên chiếc xe đẹp đắt tiền, khi có đồng hồ, đôi giày mới, khi được khen ngợi, tán tụng, hoặc chỉ trích… thì chúng ta phải xem cảm giác lúc đó như thế nào. Chánh Giác là bậc biết một cách hoàn toàn, triệt để, đầy đủ, trọn vẹn, đồng đều, viên mãn tất cả khía cảnh trong thân tâm chính mình. Còn chúng ta hoàn toàn không thấy không biết gì, tâm vận hành ra sao cũng không biết, khổ nhưng không biết tại sao khổ, muốn chấm dứt khổ cũng không biết đường chấm dứt. Suốt ngày niệm niệm, tụng tụng, lạy lạy rồi trở ra tham, sân, si, bản ngã y nguyên, nhiều khi còn lớn hơn vì nghĩ rằng bây giờ mình biết tụng, biết niệm, biết lạy, còn hồi đó không biết. Vào chùa thọ giới thì lấy bằng, lấy chứng điệp, lấy danh, rồi tự cho rằng “tôi có giới lớn” nhưng thật sự bản chất bên trong là có giới không thì phải xét lại. Hãy xem là mình muốn tu học để hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, đạo đức, giới hạnh của người tu, hay muốn mượn những thứ đó để tự xưng danh lợi. Quán chiếu sâu sắc như vậy mới tìm ra được người chân tu thật học.

Người tu chúng ta phải chiếu soi cho được sắc uẩn này; phải chiếu soi cho được các dòng cảm giác đang chảy bên trong này; phải nhìn cho ra được những ảo tưởng, những con ma chập chờ trong nội tâm; phải nghe rõ được những dòng suy nghĩ, những lời nói thầm liên miên, liên tục trong tâm; những nhận thức, rõ biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng phải soi rọi liên tục. Chúng ta phải đi theo con đường của Phật đi, bằng không, mình đang đi ngược lại mà không biết, rồi cứ mải mê tô bồi, vung vén, xây đắp cho năm uẩn, làm cho tham ái càng phát triển trong năm uẩn này.

Sự nguy hại của cảm giác

Thực hành cảm giác toàn thân rất là quan trọng! Bất cứ lúc nào và ở đâu cũng phải nhìn lại cảm giác, nhớ thực hành ba pháp: chánh niệm trước mặt; trở về hơi thở, cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác. Nhờ vậy mới có thể nhìn thấy trong tâm có những cảm giác, nghĩ, tưởng gì. Phải luôn luôn soi rọi những cảm giác, đừng có nhận cảm giác đó là tâm của mình. Vì cảm giác sanh khởi một chút là biến mất, cảm thọ là vô thường, không có thật.

Rất nhiều những vụ án xảy ra chỉ vì một cảm giác nhất thời. Gia đình nọ, người chồng mới hai mươi mấy tuổi bị ung thư phổi chết để lại một người vợ cũng trẻ tuổi với một đứa con rất nhỏ. Sau đó, cô vợ này quen với một người tình mới, người tình này nhỏ tuổi hơn, hai người bên nhau được vài tháng thì người tình giết cô này chết. Bây giờ bà nội phải nuôi đứa con, tang thương vô cùng. Những cảnh khổ này khiến mình không cầm được nước mắt, nhìn kỹ ở trong đó cũng chỉ vì đi tìm cảm giác, khiến người ta không còn sáng suốt, tỉnh táo để nhìn nhận sự thật.

Tất cả chúng ta ngồi đây cũng vậy, đều bị cảm giác nhận chìm, bị cảm giác làm cho khốn khổ, khốn đốn và hoạn nạn. Nhập chung hai từ “khốn khổ” và “hoạn nạn” là “khốn nạn”, trong chữ Nho, chữ “khốn nạn” nhẹ lắm, chỉ là khốn khổ và hoạn nạn, nhưng trong tiếng việt, mọi người thường hiểu từ “khốn nạn” với nghĩa khác, nhưng thật ra nghĩa của nó là khốn khổ, khốn đốn và hoạn nạn. Những cảm giác của dục, tham, ái là cảm giác khốn nạn, suốt ngày nó bắt mình đi tìm kiếm cảm giác để được thỏa mãn, khiếm mình tu học không yên, ngồi thiền không chịu ngồi, ở trong phòng một mình cũng không chịu, phải chạy kiếm người nói chuyện, phải đi chơi, kiếm sự hưởng thụ. Vì vậy, chúng ta phải nhìn thấy được sự nguy hiểm, tác hại của cảm giác này, chính nó là thủ phạm làm cho sầu, bi, khổ, ưu, não tràn ngập thế giới này.

Nhậu vô một chút, nói qua nói lại là đâm nhau chết. Vừa rồi có một vụ án rất đau lòng, anh này thấy chàng thanh niên kia đùa giỡn, vuốt má bạn gái mình, thế là đâm chết người thanh niên đó liền. Chỉ một cái vuốt má nhưng phải trả giá bằng sanh mạng và người kia vì một cảm giác sân hận, ghen tuông nổi lên là ở tù 18 năm, như vậy có đáng không? Chính những cảm giác này làm cho chúng ta khốn đốn, khốn khổ, vô cùng hoạn nạn, cho nên phải thường xuyên quán chiếu để thấy cảm giác này nguy hiểm, tác hại, sanh diệt, vô thường. Từ đó, chúng ta nhàm chán, không ưa thích, không chạy theo, không làm tôi đòi, nô lệ cho cảm giác này nữa.

Khi có sự quán chiếu, chúng ta sẽ thấy các cảm giác thay đổi liên tục. Đói quá cũng mệt, ăn no quá cũng mệt, ngủ ít quá, không đủ cũng mệt, ngủ nhiều quá cũng mệt… cảm giác này đòi hỏi đủ kiểu, không có kiểu gì làm cho nó vừa lòng. Chính vì vậy, trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Đã bị chết chinh phục.

(Kinh Pháp Cú, phẩm Hoa)

Cả đời chỉ đắm say, tham nhiễm vào hoa này hoa kia hoa nọ, hoa nội hoa ngoại, hoa Nhật hoa Hàn hoa Ý, khi thần chết đến cũng chưa thỏa mãn sự đắm say đó. Cũng vậy, con người cứ chạy tìm những cảm giác dục, tham, ái, dù cho đến chết cũng chưa thể thỏa mãn.

Mỗi ngày trôi qua, chúng ta đều đều nghe tin dữ, mỗi ngày có rất nhiều người chết vì tai nạn giao thông, có ai chắc chắn 100% rằng những ngày tới sẽ không có mình không? Làm sao chắc chắn được! Cho nên, phải phát sanh cảm giác sợ hãi, lo lắng, nhàm chán đối với những thứ vô thường, tan nát, bại hoại này, không có cái gì chân thật ở trong đây. Thấy bình thường ngồi đó nhưng chút xíu có thể không còn gì hết, vợ chồng quay lại kiện nhau, giết nhau rồi phân xác với nhau.

Bản chất của ngũ uẩn này là lừa đảo, gian xảo, phản phúc, vô tình vô nghĩa. Bản chất vốn dĩ đã như vậy thì kiếm tìm sự chân thật, bền chắc trong đây làm sao được! Ngày xưa yêu thương nhau, kết hôn làm vợ chồng, chẳng bao lâu thì ghét hận ai, thù oán, đánh đập lẫn nhau. Đó là bản chất xảo trá, phản phúc của ngũ uẩn. Không nói người bên ngoài, ngay cả bản thân mình, trước sau cũng mâu thuẫn, lúc thì siêng năng tinh tấn, lúc thì giãi nãi lười biếng, hồi thì đầy rẫy dục tham, hồi thì muốn ly dục. Trong tâm thì hành uẩn cứ lầm thầm liên tục, nó nói “tu hoài, mệt lắm”, ngồi thiền kêu im thì nó không chịu im, đi ngủ kêu im thì nó cứ nói, nằm chiêm bao nó cũng nói, thậm chí, nhớ thương ai quá, nằm chiêm cũng mơ thấy.

Thật ra, tất cả cũng chỉ là sự vận hành của năm uẩn, tỉnh không cho đi tìm thì sẽ tìm người ở trong mộng. Phải nhìn ra được bản chất của ngũ uẩn, nó rất là vô tình vô nghĩa. Có những tin tức trên báo vô cùng khủng khiếp, con giết mẹ, con hãm hiếp mẹ… những tin này đọc vô là rợn người, vậy mà bây giờ đầy rẫy ngoài xã hội. Tất cả giá trị đạo đức sẽ sụp đổ hết nếu cứ để tham dục, sân hận, si mê điên cuồng, không dừng lại. Nếu không truyền bá, không tu tập, không hành trì Chánh pháp này thì thế giới sẽ đi đến chỗ sụp đổ. Sụp đổ tất cả những đạo đức, giới hạnh. Tất cả sự hiền thiện của thế gian này sẽ đi đến chỗ hoại diệt trong tương lai nếu lòng tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã của con người càng ngày càng mãnh liệt.

Đức Phật nói sau này những người tu sẽ trốn ở trên rừng trên núi hết, vì lòng người hiểm ác, cầm cái gì cũng thành vũ khí. Không lâu nữa, vì bây giờ đã có rồi, cái gì cũng biến thành vũ khí, thức ăn cũng trở thành thuốc độc. Vừa rồi, một trăm mấy chục em ở trường mẫu giáo bị nhiễm sán lợn, nhìn sâu vào cũng là do lòng tham mà con người đem thức ăn bẩn, dơ, bệnh hoạn để cho đồng loại của mình ăn. Tàn nhẫn vô cùng, đạo đức không còn nữa, vì lợi ích riêng mà sức khỏe cộng đồng chẳng ai để tâm. Đau lòng thay, đau đớn thay “dân ta đầu độc dân ta cũng vì sự tham lam, ích kỉ.

Tất cả chúng sanh trong tam giới này đều là nạn nhân của tham dục, sân hận và si mê. Thủ phạm thật sự không phải ai xa lạ, chính ở trong cảm giác của mình. Hãy vào tận hang ổ, xào huyệt của tên giặc tham, sân, si này để quán chiếu cho thâm sâu: quán bất tịnh trị tham; quán từ tâm trị sân; quán tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm trị si. Phải quyết tâm đánh đuổi những cảm giác khốn nạn, không cho làm căn cứ trong thân tâm mình, không cho nó làm ổ, làm tổ trong thân tâm. Phải đánh đuổi, tẩy trừ, ra, diệt tận, từ bỏ nó.

Khi nhìn sâu sắc, chúng ta sẽ thấy tất cả đều đáng thương. Tự thấy thương mình và thương tất cả người xung quanh. Bởi lẽ, ai ai cũng là nạn nhân của những cảm giác dục, tham, ái, sân, si, bản ngã mà không biết mình là nạn nhân, không biết mình đang gặp nạn.

Người ấy không biết

Chúng ta đang bị hại

Chỗ ấy, ai biết được

Tranh luận sẽ được lắng yên.

(Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu)

Khi thấy sự thật rồi, chúng ta không có thời gian để nói chuyện tầm phào, phù phiếm hay tranh luận với người này người kia. Vì luôn luôn lúc nào cũng quay lại để nhìn cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm.

Đệ tử Gotama,

Luôn luôn tự tỉnh giác,

Vô luận ngày hay đêm,

Tưởng sắc thân thường niệm.

(Kinh Pháp Cú, phẩm Tạp Lục)

Chúng ta phải niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược và niệm chín giai đoạn tử thi. Ngày nào cũng quán bất tịnh, ngày nào cũng thấy chín giai đoạn tử thi, ngày nào cũng ngồi phân tích ba mươi hai thể trược để thấy tấm thân này gồm những bộ phận lắp ráp lại, chỉ là một bộ đồ lòng, không được ai nấu cháo, lòng heo người ta nấu cháo, còn bộ đồ lòng của mình là người ta đi chôn lẹ, đốt lẹ vì nó thúi không chịu nổi, gọi là đại thúi, thúi nhất trong tất cả những cái thúi.

Những vụ án bay mùi lên không ai chịu nổi, sau khi phát hiện báo chính quyền, công an khai quật lên thì xác chết phân hủy kinh khủng. Đó là chiến tích sau mấy chục năm hơn thua, ganh tị, tật đố, mưu mô, xảo quyệt, thành quả để lại là bộ xương, là đống thịt bầy nhầy, là một nắm tro tàn. Cả đời mưu mô, xảo quyệt, dùng tất cả những thủ đoạn lừa gạt, mánh khóe cuối cùng thành tích là một nắm xương tàn, một đống tro tàn, một đống thịt bầy nhầy, một cái hòm.

Đáng thương thay, đáng thương thay, xót xa thay, xót xa thay cho một cuộc đời! Cay đắng thay cho một kiếp người chẳng có gì! Chồng chất bao nhiêu những ác nghiệp, ra đi vào ở trong khổ xứ, ác thú và đọa xứ. Tất cả chỉ còn lại một chữ
“khổ”! Hãy quán chiếu một cách thâm sâu, sâu sắc, đầy đủ, trọn vẹn, đồng đều, viên mãn tất cả mọi khía cạnh, mọi ngỏ ngách của dục, tham, ái, sân, si, bản ngã ở trong năm uẩn này, khi đó, chúng ta sẽ được rực sáng Khổ Thánh Đế, đó là bản chất của thế gian này, bản chất của đời sống này, đó là chân đế của cuộc đời.

Phàm phu chúng ta dù có tốt đẹp đến đâu thì trí tuệ của Đức Phật cũng phơi bày ra sự thật phũ phàng về thân năm uẩn này, ba mươi hai thể trược sẽ hiện ra, dục tham, bản ngã sẽ bày ra. Vì vậy, hàng ngày hãy cố gắng nhìn lại thân tâm này để soi rọi và diệt tận những ô nhiễm. Sự tu chân thật Đức Phật dạy có thể gói gọn trong bốn chữ “Diệt tận nhiễm ô”. Luôn luôn nhìn lại để thấy được những tên giặc trong nội tâm, thấy tên nào triệt tên đó, thấy tên nào bắn tên đó, thấy tên nào là sát tên đó, cho nên, các vị A-la-hán được gọi là những bậc sát tặc. Nếu không tiêu diệt những tên giặc nội tâm này thì những chúng sẽ làm cho mình cả đời đờ đẫn, ngơ ngơ ngáo ngáo, lơ lơ lửng lửng, vất vơ vất vưởng, sống không có mục tiêu, không có lý tưởng.

Kiếp người này vô cùng mong manh, tạm bợ, vô thường. Ngồi học ở đây nhưng một hồi không biết về có tới chùa không? Đây là sự thật, vậy mà huynh đệ cứ cười giỡn, nhỡn nhơ, lững lờ rồi tu học sẽ đến đâu! Đừng nói chi người đời, đừng nói chi người Phật tử tại gia, bản thân là tu sĩ mà cứ sống trong lãng quên, thả lỏng các căn, buông lung phóng dật thì đời tu sẽ đi đến đâu! Thậm chí khi gặp được Chánh pháp, gặp những vị thầy, những vị giáo thọ chia sẻ hết tâm huyệt cũng không chịu tiếp thu, không chịu tiếp nhận, không chịu soi rọi để mà sửa chỉnh. Thật sự rất đau lòng cho cuộc đời tu hành này.

Tu đúng Chánh Pháp của Đức Phật thì vô cùng hạnh phúc, thú vị.

Trình pháp

Tăng sinh 1:

Kính thưa giáo thọ cùng cả lớp. Phần duyên sanh pháp thầy dạy con thấy rất hay. Thực ra, ngay từ đầu mình được sinh ra phải có chữ duyên rồi, mà chữ duyên này theo mình từ hồi nhỏ cho đến giờ, ngay bây giờ mình ngồi ở lớp này cũng là có duyên mới được ngồi ở đây. Mà ngồi ở đây đâu phải một mình mình tồn tại, có rất nhiều cái liên quan tới mình. Ví dụ như bốn đại, bốn đại là pháp duyên sanh.

Cũng như con ngồi đây mục đích là nghe pháp, con đi học thì phải tiếp nhận những lời giáo thọ chỉ dạy. Mà nhận những lời giáo thọ chỉ dạy giúp con sanh khởi sự tiếp thu lời Phật từ tấm lòng của thầy, mà khi tiếp thu những lời pháp được thì đó là điểm tựa, ánh hào quang sáng để mình soi rọi vào bản thân mình để sinh sống, hoàn thiện lại mình. Cố gắng áp dụng được lời của Phật và lời những giáo thọ chỉ dạy để mình sống cho hoàn thiện về cái thân và cái tâm, chuyển đổi nhận thức của bản thân để càng ngày tốt hơn. Nói một cách khác là làm cho mọi người bớt khổ vì mình, làm cho mọi người hoan hỷ vì mình là cũng một thành công trên bước đường chuyển hóa thân tâm mình.

Đức Phật nói mục đích cao siêu cuối cùng là làm sao tu học đến không sanh, không tưởng nữa nhưng mà đạt đến điều đó rất là khó, mất nhiều thời gian để đạt được, có thể là vô lượng kiếp. Là người đang học Phật, mỗi ngày mỗi giờ cố gắng chỉnh sửa thanh tâm, lắng đọng nghe những lời giáo thọ và những lời bạn bè, những lời trí thức chỉ dạy, ngoài ra cố gắng tiếp xúc với kinh điển để chắt lọc những ý hay, hiểu những đoạn hay để ít ra trở thành một người tu học có chất liệu về Phật học. Con xin chúc thầy và cả lớp nhiều sức khỏe.

Tăng sinh 2:

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ, trong giờ phát biểu cảm nghĩ con cũng có đôi điều về cảm nghĩ của con, kính mong thầy giáo thọ chỉ dạy thêm.

Con cũng có duyên lành theo học môn của thầy giáo thọ, theo cảm nhận của con, con thấy thầy giáo thọ giảng về pháp hành rất là sâu, đối với con đó là nhân duyên rất là quý báu. Tại vì con vẫn thấy những người có hành trì và có trải nghiệm về lời Phật dạy và đem những lời Phật dạy đó để giảng dạy cho chúng con, con cảm thấy rất là xúc động.

Khi tự nghe lời giảng dạy của thầy giáo thọ con nhớ lại hai câu trong trong Phát Bồ Đề Tâm. Ý nghĩa của hai câu đó là con người chưa biết tu, bị chìm đắm trong năm dục và bị ngũ triền cái chi phối dẫn dắt sai khiến thì người đó thật là đáng thương nhưng những người tu xuất gia như chúng ta có duyên lành gặp Phật pháp, gặp thầy giáo thọ truyền dạy chánh pháp nhưng vẫn bị năm triền cái chi phối sai khiến dẫn dắt, vẫn bị ngũ là vô cùng là đáng tiếc.

Tự xét lại mình, con là một chúng sanh có duyên lành đến Phật pháp nhưng về sự nỗ lực tu hành của mình, xét theo giới luật của nhà Phật, con thấy rất là hổ thẹn và một người như con cần những vị thầy sáng suốt như thầy giáo thọ hằng ngày nhắc nhở để cho con có thể tinh tấn và cảm nhận được pháp hỷ trong giáo pháp của Phật.

Khi thầy giáo thọ nói Đức Phật thuyết pháp, Ngài chỉ cách đoạn trừ các lậu hoặc cho người thấy cho người biết, chứ không phải là thuyết pháp đoạn trừ các lậu hoặc cho những người không thấy không biết. Tức là nói pháp để cho mình trải nghiệm và thấy lại thân tâm chính mình. Khi thấy thì mình mới đoạn trừ được các lậu hoặc, chứ không thể nói bằng môi mép mà đoạn trừ khổ đau được. Người tu phải thực tập trải nghiệm và nhận ra được thân tâm của mình thì mới có thể dứt được khổ đau. Cuối lời con không biết nói gì nhiều hơn con xin thành tâm tri ân đến thầy giáo thọ và con xin kính chúc thầy giáo thọ được dồi dào sức khỏe để có thể dạy dỗ chúng con nhiều hơn. Mô phật.

Tăng sinh 3:

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ. Qua một thời gian được học tập cùng thầy giáo thọ và đã được thầy giáo thọ tận tâm chia sẻ những kinh nghiệm tu tập cũng như là quá trình nghiên cứu của thầy, truyền tải các pháp học và các pháp hành cho chúng con. Bản thân con cảm nhận rất là sâu sắc về các pháp hành mà thầy đã nghiên cứu tìm tòi khổ công để đem đến truyền dạy lại cho chúng con. Chuyện tu hành như bản thân chúng con vào xuất gia, chúng con thấy giáo pháp của Đức Phật dạy quá nhiều mà mình giống như đi trong rừng rậm, không biết phải tu như thế nào. Nhưng sau một thời gian được tiếp xúc với các quý vị giáo thọ, trong đó có thầy giáo thọ hiện tại đây thì chúng con đã nhận diện được một số vấn đề về quá trình tu.

Thực ra các phương cách và quá trình lịch sử diễn ra tùy theo không gian thời gian, tùy giai đoạn cho nên ở trong kinh Đức Phật có nói là “khế cơ, khế lý và khế thời” chuyện đó diễn ra và biến chuyển theo dòng thời gian. Nếu chúng ta nghiên cứu cho tường tận thì cũng mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu, như phương pháp của thầy giáo thọ đây là rút tỉa ra những cái cốt lõi nhất, cốt tủy trong kinh nguyên thủy mà Đức Phật đã truyền dạy để truyền dạy lại cho chúng con. Chúng con thấy điều này rất là quý báu vì hiện tại nay chúng con để ý ít có vị nào dạy thẳng vào pháp hành thực tế giống như thầy giáo thọ đây.

Thành ra cũng nhờ được học và được nghe thầy giáo thọ truyền dạy mà bản thân chúng con cũng có nhiều sự hiểu biết thêm và ứng dụng vào thực hành trong đời sống tu tập hàng ngày và từ đó chúng con nhận diện được quay về với tự tánh của chính mình và nhận diện được một phần nào đó bản tâm của chính mình và ứng dụng một cách tốt đẹp trong quá trình tu học của bản thân.

Về “duyên sanh pháp”, con có thêm vài dòng suy nghĩ, vạn pháp đều do duyên sanh bởi vì thực tánh của các pháp chính là vô tánh và nó không có một tự thể nào, không có một bản ngã nào và bản thân chúng ta cũng chính là do năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức hợp thành chứ không có gì là của ta hay là tự ngã của ta. Thành ra đó chính là pháp duyên sanh, nếu chúng ta chấp vào tướng bên ngoài mà tự xem nó là ta thì sẽ đem đến nhiều sự đau khổ. Bởi vì các pháp luôn luôn vận hành một cách rất là màu nhiệm và chúng ta có muốn nắm giữ thì cũng không thể nào được. Pháp luôn luôn luân chuyển trong từng khoảng sát na, biến thiên rất là màu nhiệm, không có một điểm dừng nào cả. Chúng ta tu tập phải nhận biết là các pháp là do duyên sanh và vận hành theo tiến trình của nhân quả. Từ đó phải luôn luôn quay về tự thân để nhìn nhận lại chính mình trong cuộc sống hiện tại.

Mục đích của đạo Phật như Hòa Thượng hiệu trưởng có ghi 2 câu trước trường là “Học Phật để giác ngộ, học Phật để giải thoát”. Giác ngộ là giác ngộ cái gì? Tức là không phải chúng ta đi tìm cầu những cái không có bên ngoài để gọi là giác ngộ mà chính là quay về chính bản tâm của chính mình, nhận diện được bản lai diện mục của chính mình xưa nay và dùng sự quán chiếu sâu sắc vào năm uẩn mà thầy giáo thọ đang truyền tải đến cho chúng con. Muốn làm được điều đó một cách cụ thể và thực tế thì chúng ta không ngoài cách nào khác là phải nghiên cứu giáo điển của Đức Phật dạy và thông qua kinh sách, những lời dạy của những vị giảng sư, đặc biệt là những vị giáo thọ sư mà chúng ta đang thọ học hiện tại.

Cái gì cũng có giá trị của nó, nếu chỉ để đạt được pháp học thì chưa ổn, theo như bản thân chúng con đang hành trì thì không phải học nhiều mà học tới đâu hành tới đó. Có nghĩa là mình tư duy, quán chiếu tới đâu thì ứng dụng tới đó, con thấy nó đem tới sự an lạc rất là màu nhiệm, rất là thực tế. Còn bây giờ mình học nhiều, gối đầu nằm cứ ôm ấp kiến thức đó thì bị bội thực kiến thức, không tiêu hóa được. Thành ra chủ trương và mục tiêu của con là học tới đâu tư duy quán chiếu sâu và hành trì tới đó và tự nhiên an lạc sẽ đến với chính tự thân chính mình chứ không phải tìm đâu xa. Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tăng sinh 4:

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng toàn thể đại chúng. Mô Phật, trước hết nói về sự nhiệt tâm, nhiệt thành của thượng tọa giảng sư thì mọi người cũng đã thấy, đã biết, chúng con thật sự rất là tri ân, được tiếp cận giáo lý của Phật và được thực hành, được chỉ dạy thông qua sự hướng dẫn của giáo thọ về những pháp hành này và chúng con rất lấy làm hoan hỷ và thực sự chúng con thấy rất là đầy đủ phước duyên.

Nói về bài học hôm nay, chúng con cũng đang tìm hiểu về ngũ uẩn nên con chưa có sâu sắc nhiều, con chỉ trình bày thô sơ những hiểu biết của mình. Theo con thấy ngũ uẩn hiển hiện ngay trong đời sống của chúng ta, mỗi lúc mỗi giờ, đeo đẳng chúng ta chẳng qua chúng ta không thấy rõ như những bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã nhìn nhận ra. Như bản thân con trong một lần nghe mùi của một hạt gì đó được người ta nướng thì con mới thắc mắc “hạt gì nướng mà thơm quá”, từ đó con mới tập nhìn lại ngũ uẩn, đúng lúc đó con đang tìm hiểu về ngũ uẩn thì con mới áp dụng thực hành thêm để mình thấy ngũ uẩn mình thế nào. Thông quá đó con thấy trần chính là mùi hương, trần đó có sự tiếp xúc của mũi cho nên sanh ra thọ, từ thọ con tưởng ra “cái mùi này quen quen”, phân tích tư duy thì nó là tưởng và hành, sau cùng con mới xác định đây là mùi hạt mít người ta nướng cho nên chính vì điều đó con nghĩ đó là phần thức. Con trình bày cho giáo thọ biết là con nhìn nhận ra ngũ uẩn là như vậy, có chính xác hay không?

Và điểm thứ hai con muốn trình bày là con xin giáo thọ sư chỉ dạy cho chúng con khi muốn tìm diệt hay muốn điều khiển một đối tượng nào đó thì chúng ta phải thật sự rõ biết, nhận diện được đối tượng đó thì ta mới kiểm soát, diệt trừ, điều khiển được, nên mấu chốt ngay từ đầu chúng con thật sự vẫn còn quá mơ hồ về ngũ uẩn. Ví dụ trong bài kinh Phật giảng, kinh “Trăng rằm”, Tương Ưng III, Phật có nói phàm sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại hoặc nội hoặc ngoại hoặc thô hoặc tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, đây gọi là sắc uẩn…” tương tự thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Con không hiểu rõ ràng được cái nào thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần. Những điều này thật sự chúng con còn quá mơ hồ, không rõ biết chính xác về thọ, tưởng, hành, thức nên đôi khi không nhìn ra được, khó có thể kiểm soát hay điều chính theo hướng mình muốn được. Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Tăng sinh 5:

Kính bạch trên thầy giáo thọ cùng chư huynh đệ. Thầy dạy chúng con quán chiếu ngũ uẩn để trở về tâm chân thật của mình. Theo sự hiểu biết của con về vấn đề này con xin được trình bày. Khi đã biết rõ năm uẩn theo lời Phật dạy là vô thường đối với người sơ cơ mới học, mình biết sắc thân theo tứ đại là vô thường là giả hợp, thọ là khổ và do không hiểu về các pháp là vô thường mà sanh ra các cảm thọ, do vô minh thì chúng ta phải chịu khổ, tưởng cũng vô thường, hành cũng vô thường và thức là những cái vọng tưởng giả hợp. Khi biết rõ ngũ uẩn đều là vô thường thì chúng ta trở về với tâm chân thật của mình.

Nói về tâm chân thật con cũng có hiểu biết về phương tịnh độ, nhưng mà con cũng có nghiên cứu về bên thiền, người ta dạy tâm chúng ta vốn dĩ là tâm chân thật không phải là vọng tưởng gì nhưng bởi chúng ta vướng phải các pháp không hiểu biết cũng do vô minh. Ví dụ chúng ta thấy một bình hoa trước mặt, vốn dĩ cái nhìn ban đầu đó chỉ là cái nhìn, nhưng khi trải qua các sự phân biệt nhận biết thì chúng ta sẽ có: nào là đẹp nào là xấu, nào là thích những cái cảm giác đều là hư vọng nổi lên. Cho nên Đức Phật gọi những người sơ cơ mới bước vô đạo thì phải tập sống với chánh niệm, đi biết mình đi, đứng biết mình đứng, ngồi biết mình ngồi nhưng đó là chánh niệm đối với người sơ cơ, còn chánh niệm đối với người sống đã lâu trong Phật pháp thì chúng ta nên hiểu từ chánh niệm càng sâu sắc hơn. Có nghĩa là chúng ta nên trở về với tâm chân thật của mình, sống luôn luôn với tâm chân thật đó, đối với người sơ cơ là như vậy, nhưng đối với người tu lâu biết các pháp rành rõ nhưng không bị các pháp chi phối. Ví dụ như con đang đứng ở đây thì con rõ biết tất cả trong phòng này có chư huynh đệ đang ngồi, có thầy đang thuyết pháp, có tất cả cánh quạt đang xoay như vậy nhưng con không bị các pháp dẫn dắt lôi cuốn. Tức là không phải là chúng ta không biết gì cả nhưng tâm chúng ta không vướng bận gì gọi là tâm chấp không, phải hằng sáng tỏ, tỏ rõ muôn vật nhưng không bị các pháp chi phối đó gọi là chân tâm, Phật tánh, chúng ta phải sáng suốt sống với tâm đó, phải quyết định mình là như vậy, nếu không, còn mơ hồ không tỏ rõ về vấn đề đó thì chúng ta tu tập không có an lạc, không có thật sự sáng suốt.

Sư phụ:

Huynh đệ phải nhớ bám sát theo lời Đức Phật đừng có đi theo các tông phái khác, vì các tông phái làm sao sánh được với trí huệ của Chánh Đẳng Giác, cho nên trước nay mình hiểu lầm rất là nhiều. Có huynh đệ nói rằng mình ngồi đây rõ biết quạt đang xoay, thầy đang đứng, bạn đang ngồi, dù biết hết nhưng tâm không động, có thật là như vậy không? Đó là mình tưởng. Minh Thành không nói riêng một người, đây là nói chung về sự nhìn nhận. Trước đây bản thân Minh Thành cũng như vậy nhưng những tri thức đó không chính xác như lời Đức Phật và cái biết đó là biết trong vô minh, tham ái, tại vì sao? Tại vì lúc trước mình biết là có mình không? Có mình biết không? Mình biết những cái bên ngoài thì cái mình đó là vô minh, cái này rất là sâu sắc và đây là Minh Thành muốn giúp cho các huynh đệ chung chứ không phải riêng, tại vì Minh Thành là hơn 10 năm tu thiền- thiền tâm. Cho nên cái mà mình rõ biết là tâm chân thật của mình, không phải, rõ biết là thức, chúng ta sẽ học sâu vào trong năm uẩn này mấy huynh đệ sẽ thấy, tại vì lúc đó mình đâu có thấy rằng cái thân này là sắc uẩn đâu, mình đâu có thấy đây là sắc uẩn, mình đâu có thấy những cảm giác, những cái nghĩ tưởng, những cái nhận thức là vô thường mà mình nghĩ rằng là cái biết của mình rất là chân tâm, đó là mình đó, thì đó là mình nhận sắc thức, nhận thức uẩn làm chân tâm, mà mình nhận cái sanh diệt làm chân tâm thì mình sẽ đi trong sanh diệt, không có chấm dứt luân hồi cho nên duyên sanh pháp rất là sâu sắc mà mình phải học, hồi nãy có một sư nói chưa có biết về trong kinh trăng rằm là tại vì chưa học thì làm sao biết. Sắp tới học tới đó rồi sẽ biết, chưa học làm sao biết, tại vì mình coi giáo trình chỗ không biết thì mình bôi đậm chỗ đó, rồi quý thầy sẽ giải thích. Mấy huynh đệ phải cẩn thận, thật là cẩn thận, phải bám sát lời Đức Phật dạy trong tàng kinh Nikaya, đây là điều mà Minh Thành căn dặn mấy huynh đệ thật là kĩ từ nay trở về sau. Nhớ cẩn thận phải bám sát vô lời Đức Phật và tất cả lời của những người khác để qua một bên, cái này là bí quyết để mấy huynh đệ nắm thật là sâu sắc và chính xác về giáo pháp của Đức Phật.