Năm Triền Cái 15 - Nghi Ngờ Phân Vân Và Tin Đúng Lời Phật
Kinh Nikāya Giảng Giải
Năm Triền Cái 15
Nghi Ngờ Phân Vân Và Tin Đúng Lời Phật
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 10 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Năm tâm hoang vu PAGEREF _Toc89545588 \h 1
II. Niềm tin chân chánh PAGEREF _Toc89545589 \h 5
III. Bốn điều an ủi PAGEREF _Toc89545590 \h 10
IV. Niềm tin PAGEREF _Toc89545591 \h 13
I. Năm tâm hoang vu
Kính lễ ân đức Thế Tôn, kính lễ ân đức Chánh pháp, kính lễ ân đức chúng tăng, kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính thưa tất cả các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật nói về nghi ngờ cũng như Chánh tín: năm tâm hoang vu trong bài “Kinh Tâm hoang vu”,Trung Bộ Kinh tập I, bài 16.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- "Này chư Tỷ-kheo".
– "Thưa vâng, bạch Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
– Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra.
Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ?
Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ”.
Bài kinh trên đây nói về sự nghi ngờ, một tâm mà còn nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, một tâm chưa có niềm tin bất động, xác quyết, tâm đó sẽ không nỗ lực, gắng sức, chuyên chú vào sự thực hành pháp, học pháp hay hành pháp, tâm sẽ không nắm giữ pháp hay kiên trì. Kiên trì là giữ chặt, trì là giữ, kiên là chặt, nó cứng chắc, nắm chắc, giữ chặt. Cho nên tâm nghi ngờ Đức Thế Tôn gọi tâm hoang vu, và tâm chưa rõ ràng, rạch ròi, còn mơ hồ, mông lung. Giống như một khu rừng mình chưa dọn dẹp, khai phá, không có đường. Như khi mình đi vô rừng bị lạc và không biết đường nào đi vì nó hoang vu, cây cỏ um tùm.
Còn một tâm có lòng tin rõ ràng nó sẽ có đường lối, lối đi nên theo lối đi đó nó đi tới. Còn tâm hoang vu là một khu rừng rậm, mình không biết hướng nó nằm chỗ nào. Mình quờ quạng, do dự, không quyết đoán, mình bồi hồi, bàng hoàng cũng như mình lạc trong khu rừng, bây giờ không biết xác định phương hướng nó nằm ở đâu. Đi hướng này mình không biết đúng không, mình quay lại hướng kia cũng không biết đúng không, rồi nhìn qua hướng nọ mình cũng không biết hướng này phải không. Như vậy, tâm mình bàng hoàng, do dự bất quyết.
Cũng vậy, người có tâm nghi ngờ Đức Phật, chữ “đạo sư” ở đây chỉ về Đức Thế Tôn. Nghi ngờ, không biết có phải Đức Phật chứng ngộ Tứ Thánh Đế không, có phải Đức Phật lý duyên khởi không, có phải Đức Phật Bát Chánh Đạo không? Ngay cả đến bây giờ, những người tu thật lâu, mấy chục năm trong chùa, lại hỏi Minh Thành có phải Đức Thế Tôn chứng ngộ lý duyên khởi không? Chúng ta thấy như vậy không phải chuyện đơn giản, mà hiện nay còn rất nhiều người không biết Đức Thế Tôn chứng ngộ điều gì. Một người nói một kiểu, tông phái này nói Đức Phật yên lặng rồi bừng sáng lên, biết hết mọi thứ, tông phái kia nói Đức Phật quán Mười Hai nhân duyên, tông phái nọ nói Đức Phật niệm cái gì đó.
Như vậy, mỗi người nhìn một kiểu, làm sao mình có niềm tin bất động, xác quyết, không do dự, rành rõ giống như chúng ta học bài kinh “Thành ấp”. Giống như người đó đi vào rừng theo lối mòn, họ phát hiện ra con đường cũ, đạo lộ cũ, lối cũ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua, con đường ấy là Bát Chánh Đạo. Chúng ta thấy rõ không, một người ở trong rừng quờ quạng và một người ở trong rừng phát hiện ra lối mòn. Chúng ta có rực sáng ý nghĩ này ra không? Người hồi nãy là người quờ quạng, không biết đi đường nào, do dự, bất quyết. Một người trong rừng rậm đó tìm ra được mà phát giác, phát hiện ra lối cũ, đạo lộ cũ, con đường cũ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi. Khi thấy được đường thì cứ đi theo con đường đó, lối đó, thành trì, cố đô, cố thành.
Cũng vậy, bây giờ mình không biết Đức Phật chứng ngộ cái gì làm sao mình có lòng tin xác quyết để đi tu theo. Chỗ này thấy vậy mà chúng ta mới biết rằng ở trong các bậc mà Đức Thế Tôn phân ra đáng được cung kính, cúng dường, tôn trọng, có bậc tùy tính hành và tính giải thoát. Tùy tính hành là bậc này lòng tin xác quyết họ thực hành theo. Hôm trước mình nghe rồi, tùy tính hành, tùy pháp hành. Thành ra lòng tin này, nói như vậy nó thật sự là có khi chúng ta tu suốt đời cũng chưa tịnh tín bất động. Vậy tịnh tín bất động là gì? Là nhập lưu.
Thành ra mình nói giờ này không lẽ con không tin Phật sao thầy? Nhưng tin ở mức độ nào? Tin ở khía cạnh nào, lời dạy nào, hay thành tựu được niềm tin viên mãn, trọn vẹn, tròn trịa, thâm sâu, vững chắc và bất động? Chúng ta qua bài kinh “Kesaputta” hoặc là kinh “Kalama”, rất tuyệt vời. Bây giờ mình nghi ngờ bậc đạo sư, về Đức Phật coi như mình tin rồi, nhưng pháp mà Đức Phật chứng ngộ, nên điều thứ hai là “Và lại nữa, chư Tỷ-kheo Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn”
Nếu nghi rồi thì làm sao đây? Như hồi nãy mình nói, bây giờ không biết đường nào mình có quyết liệt, mạnh mẽ để tiến tới không? Mình đang đứng ở ngã bảy, muốn lên Linh Quy mà không thực sự biết đường nào đến Linh Quy một cách rõ ràng. Mình ngờ vực, phân vân, do dự, bất quyết. Khi đi như vậy, mình có đi một cách mạnh mẽ, tiến về phía trước một cách tự tin không? Trong sự tu cũng vậy, nghi ngờ pháp, không biết Đức Phật có phải tu pháp này không? Ngài chứng ngộ điều gì? Ngoài Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế ra còn gì khác nữa không?
Những ý hành, suy nghĩ đó làm tâm mình dao động, ngờ vực, không sáng tỏ, xác quyết, quyết định đối với pháp. Như vậy, sự nỗ lực tinh cần, tinh tấn tiến tới không thành tựu nên “tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ”.
Chỗ này rất sâu sắc, hằng ngày chúng ta sống với tâm hoang vu rất nhiều. Nhiều khi mình nghĩ, mình nghĩ rằng nghiệp nặng quá, tập khí dày quá, không biết tu được không nên thôi, gieo duyên chút đỉnh. Đó là ý nghĩ của tâm hoang vu rồi, nó là ý hành làm cho mình không trú vào pháp, mà không trú vào pháp thì tâm đi lang thang, mà tâm đi lang thang là tâm lậu hoặc lang thang, trở thành hoang vu. Không trú ở chỗ cha mẹ, ông bà trú xứ. Trú xứ của cha mẹ, ông bà mình là Tứ Niệm Xứ, là Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, là trú xứ của người tu, Như Lai trú. Bốn tâm vô lượng là phạm trú, Như Lai trú.
Những pháp Ba mươi bảy phần giác ngộ đó là chỗ ở, căn nhà, chỗ trú xứ của Như Lai, của đệ tử Như Lai. Bây giờ mình có những ý nghĩ tách rời pháp, nghi ngờ, nghi mình, nghi người hướng dẫn hoặc nghi pháp, nghi Đức Phật không biết có thật không, không biết những người kết tập vậy có phải không? Ngoài cái này ra còn gì nữa không? Những ý nghĩ đó trở thành tâm hoang vu, làm cho tâm dao động, không chuyên chú vào pháp, không hướng đến sự nỗ lực, xác quyết, mạnh mẽ, tiến lên. Tâm hoang vu thứ ba là nghi ngờ tăng, thứ tư là nghi ngờ các học pháp, những pháp mình đã học, những pháp Đức Phật dạy trong Nikāya. Nghi ngờ những pháp mình đã học từ tạng kinh Nikāya, từ trong lời dạy của Đức Phật.
Ví dụ học ngũ uẩn, nhưng nhận diện lờ mờ, hay chưa nhận được nên bắt đầu nghi. Thậm chí nhận diện rõ rồi, thấy được tham, sân, si bản ngã rồi cũng nghi, không xác quyết, đó là tâm hoang vu, nghi ngờ học pháp. Vì nghi ngờ như vậy nên lòng tin không được vững chắc, vì lòng tin không vững chắc nên không hướng đến sự nỗ lực, sự quyết tâm, nắm chặt, kiên trì, chuyên cần, tinh tấn, nỗ lực. “Tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì; tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được diệt trừ”.
Thứ năm là “Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn”. Ở trên là không tin Phật, không tin pháp, không tin tăng, nghi ngờ các học pháp. Học pháp đây là những giới luật, oai nghi, bên dưới là phẫn nộ với bạn đồng tu “Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ. Như vậy, năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ”.
Một người có một trong năm tâm này, người này không tiến đạo được cho nên phải dọn dẹp mảnh vườn hoang vu đó. Mình muốn lòng tin của mình thành tựu mình phải đọc kinh, nghe pháp và tư duy nhiều về những lời dạy của Đức Phật. Bây giờ qua đây mình thấy bài kinh này là bài kinh rung chuyển trái đất, chấn động vũ trụ, thấy được Chánh tín của Phật giáo, mà nhiều khi suốt cuộc đời tu chưa chắc gì mình nghe được bài kinh này, được hiểu và thực tập. Bài kinh này Minh Thành có chia sẻ ở chùa Bửu Liên một lần rồi, bài “Thước đo sự thật”.
II. Niềm tin chân chánh
Bài kinh này Đức Phật dạy như thế nào là Chánh tín, thế nào mới là niềm tin chân chánh, đúng pháp của một người học Phật chân chánh, đệ tử Phật, kinh Tăng Chi Bộ tập I “Các vị ở Kesaputta”. Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ bài kinh này, rất quan trọng, là bài kinh rất nổi tiếng trong tạng kinh Nikāya, và thậm chí các vị cao tăng bên Phật giáo nguyên thủy lấy chữ Kalama này làm thành tên của quyển sách Nhật tụng. Bài kinh này nổi tiếng, quan trọng tới mức độ đó.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của các người Kàlàmà tên là Kesaputta. Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: "Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác …". Lành thay, nếu chúng tôi được yết kiến một vị A-la-hán như vậy.
Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:
- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, kinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, và có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, kinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Đối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ, phân vân:
"Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?"
Kinh Tăng Chi Bộ tập I – Tập I - Chương Ba Pháp – V. Phẩm nhỏ - Các vị ở Kesaputta
Những người tu hành đến đây, họ khen ngợi, truyền bá, giải thích, phân tích, làm sáng tỏ quan điểm của họ nhưng lại chỉ trích, chê bai, xuyên tạc những quan điểm của người khác. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con phân vân, nghi ngờ, không biết rằng người này ai nói thật, ai nói láo.
“Đương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Đương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân”.
Đặt vào trường hợp bây giờ mình thấy rất rõ, bài kinh này có giá trị bất hủ dù đã ba ngàn năm rồi. Mà tới năm, mười ngàn năm nữa cũng là bất hủ, không bao giờ mất giá trị.
“Này các Kàlàmà,
1. Chớ có tin vì nghe truyền thuyết;
2. Chớ có tin vì theo truyền thống;
3. Chớ có tin vì nghe người ta nói;
4. Chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng;
5. Chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình;
6. Chớ có tin vì đúng theo một lập trường;
7. Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện;
8. Chớ có tin vì phù hợp với định kiến;
9. Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền;
10. Chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện - Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!”
Khi nào tự mình biết rõ những điều này là bất thiện, có tội, bị người trí chỉ trích, nếu làm những điều này, chấp nhận những điều này là đưa đến bất hạnh, khổ đau thì các ông hãy từ bỏ chúng. Sau khi các ông tự mình biết đó là tội, là ác, là bất thiện, các ông hãy từ bỏ.
“Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà! Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?”
Khi tâm mình sanh khởi lên những tâm tham, sân, si, như vậy đưa đến hạnh phúc hay bất hạnh?
“Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có tham, này các Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có sân, này các Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có si, này các Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn..
- Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
- Là bất thiện, bạch Thế Tôn.
- Có tội hay không có tội?
- Có tội, bạch Thế Tôn.
- Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?
- Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.
- Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không? Hay ở đây, là như thế nào?
Được thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến bất hạnh, đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: "Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữkiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Samôn là bậc Đạo sư của mình". Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện - Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh, khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Điều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe truyền thuyết … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là thiện - Các pháp này là không có tội; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này Kàlàmà, hãy đạt đến và an trú!”
Hãy làm những điều đó, hãy để tâm, đặt mình vào trong điều đó, thực hiện những điều đó sau khi tự thân các vị biết rõ đó là thiện, là tốt, đem đến hạnh phúc, an vui. Hãy làm điều đó, đặt thân tâm mình vào những chỗ đó mà thực hiện.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không tham, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy, đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh lâu dài cho người ấy?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn”
Một nội tâm không tham lam, nóng giận, si mê, sáng suốt, bình tĩnh, an định. Như vậy, đưa đến hạnh phúc.
“Người này không tham, này các Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không sân, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
- Người này không sân, này các Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn..
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
- Người này không si, này các Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợngười, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh phúc an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
- Là thiện, bạch Thế Tôn.
- Các pháp này có tội hay không có tội?
- Không có tội, bạch Thế Tôn.
- Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
- Được người trí tán thán, bạch Thế Tôn.
- Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến hạnh phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế nào?
- Được thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
- Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: "Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; Chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến;chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình". Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là thiện - Các pháp này là không có tội; Các pháp này được người có trí tán thán; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú! Điều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy đã được nói lên.”
III. Bốn điều an ủi
“Này các Kàlàmà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, biết mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư; Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, không sân như vậy, không uế nhiễm như vậy, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, người ấy đạt được bốn sự an ủi”.
Đó là bốn lợi ích gì?
“Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này"; đây là an ủi thứ nhất vị ấy có được”.
Tại sao nói chữ “nếu có đời sau”? Nhiều khi với vị Thánh đệ tử ấy, đây là đời cuối cùng, chứ không dám nói giống như thế gian “nếu có đời sau” họ tin tưởng luân hồi. Họ nói “nếu như có đời sau”, tôi nguyện trở lại… là khác. Còn đây là của bậc Thánh đệ tử, có thể không có đời sau, tức đã đoạn tận sanh tử. Thành ra chữ “ nếu có đời sau” này nghĩa khác, “Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác”, nếu lậu hoặc còn phải thêm mấy đời nữa, vì vị nhập lưu này nhiều nhất là bảy đời. “Nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác”, vị này sau khi chết sẽ sanh lên cõi người hoặc cõi trời.
Đó là niềm an ủi thứ nhất của một bậc Thánh đệ tử. Vị này không sanh trong ba đường ác, vì vị này thực hành điều thiện và tu bốn tâm vô lượng, từ bỏ tham, sân, si, sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, thực hành tứ vô lượng tâm, cộng với Chánh kiến. Cho nên, nếu còn đời sau, nghiệp quả còn, vị này sẽ sanh trong cõi người, cõi trời, được an lạc, an vui nhiều hơn nên đây gọi là điều an ủi thứ nhất.
Chúng ta tu có rất nhiều điều an ủi, đừng đợi người khác lại an ủi mình. Mình cứ đuổi tham, sân, si bên trong và chọn điều thiện để thực hành. Và tu bốn tâm vô lượng là niềm an ủi lớn nhất, mình cứ trải tâm từ, bi, hỷ, xả, đó mới là niềm an ủi tuyệt vời. Được an ủi ngay trong hiện tại và đời sau mình sẽ sanh lên cõi trời, cõi người hưởng phước để tiếp tục thể nhập Thánh đạo, Thánh quả.
An ủi thứ hai là gì? “Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, thời ở đây, ngay trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”. Quý vị thấy chưa, “nếu không có đời sau”, tức đời này là đời cuối cùng, vị ấy đã đoạn tận được tất cả các lậu hoặc, bậc Thánh A-la-hán. Ngay trong hiện tại là sống với tâm không oán, không giận, không phiền ai hết, vị này sống với tâm an lạc, an tịnh, lắng dịu. Đó là niềm an ủi thứ hai của bậc Thánh đệ tử.
Niềm an ủi thứ ba là gì? “Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được"; đây là an ủi thứ ba vị ấy có được”. Vì người này hoàn toàn không còn ác tâm, lỡ như họ có làm việc ác là do vô tình. Ví dụ như đi vô tình đạp phải con gì làm cho nó chết. Người này không có ác tâm, vì họ đã tu bốn tâm vô lượng, “Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được" nên hoàn toàn tâm không ác, không muốn hại ai, bất hại, không ác ý, không sân hận, oán thù ai thì làm sao hại. Chẳng qua vì mang thân tứ đại này nên có những thứ sự thể là vậy, tức đi mà đạp trúng vậy.
Hay nhiều khi có những lúc vô tình mình làm chết những con vật, Ngài nói rằng “ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được". Cho nên chúng ta nhớ chỗ này, mình muốn không có cảm thọ này khổ thì đừng có tâm ác, bất cứ tâm ác với ai mình đều phải diệt tận tâm đó, đuổi nó ra. Đừng bao giờ để có ác ý với bất cứ người nào, con vật hay món đồ nào. Tu tập tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả đối với tất cả mọi đối tượng, mọi thế giới mình sẽ không cảm thọ cảm giác khổ đau được.
“Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh"; đây là an ủi thứ tư vị ấy có được”. Hồi nãy có thể vô tình, nhưng bây giờ hoàn toàn không làm, cả hai phương diện vô tình hay cố ý. Vị này “quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”. Đây là bậc Thánh, sạch hết tham, sân, si và lậu hoặc, là niềm an ủi thứ tư.
“Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị ấy có được bốn an ủi này”. Muốn được an ủi thì đây, không cần kiếm ai lại an ủi cả. Thầy Pháp An dùng bốn tâm vô lượng an ủi chính mình, trải tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả cho tự thân mình, cho tha nhân, cho chúng sanh, rộng cùng khắp biến mãn thế giới, lấy đó làm sự an ủi. Trú trong tâm đó sẽ hết buồn ngay, cứ tác ý lên. Mấy thầy đưa bài giảng “Tứ vô lượng tâm” cho thầy Pháp An nghe mỗi ngày, đó là đại an ủi.
IV. Niềm tin
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, quy y pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ.....từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng”. Đó là phần diễn đọc thứ nhất của bài kinh, nãy giờ con đọc cho các thầy, các cô cùng đại chúng nghe. Bây giờ chúng ta giải thích về mười điều chớ có vội tin, điều này rất khủng khiếp, chưa thấy có một người thứ hai trên thế giới này nói về lòng tin như vậy. Chúng ta đọc hết sách vở trên cuộc đời này đi, sẽ không thấy có người thứ hai.
Những người này nghe người khác tới nói về đường lối tu của họ là số một, là tuyệt vời, đệ nhất còn người khác không đúng, không bằng họ. Nhiều người đến nói như vậy nên những người dân này nghi ngờ, phân vân, không biết rốt cuộc ai nói thật, ai nói láo nên Minh Thành mới đặt cho bài hôm trước giảng là “Thước đo sự thật”. Bây giờ làm sao để mình biết ai nói thật, ai nói láo nên những vị này phân vân, nghi ngờ. Thế Tôn nói đúng rồi, các ông sẽ phân vân và nghi ngờ. Bây giờ “chớ có vội tin vì nghe truyền thuyết”.
Hiện nay mình nghe truyền thuyết nhiều không ạ? Truyền thuyết là sao? Nghe người này nói, người này truyền cho người kia, người kia truyền cho người nọ, sau một thời gian lâu dài điều đó trở thành truyền thuyết. Mình có rất nhiều truyền thuyết, “chớ có vội tin”. Thứ hai là “chớ có tin vì theo truyền thống”, xưa bày nay làm, ta sao mình vậy. Điều đó được truyền từ xưa đến giờ, truyền lại hết đời này tới đời khác. “Chớ có tin vì nghe người ta nói”, mình rất dễ bị chết vì điều này, phiền não không biết bao nhiêu vì nó. Hễ nghe nói là tin liền, “Chớ có tin vì nghe người ta nói”, đó mới chỉ là một phương diện, còn phương diện kia mình nghe người ta nói vậy liền tin ngay, hay chuyện kia như vậy mình cũng tin.
“Chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng”, mình thấy trí tuệ Đức Phật quá tối thượng. Bây giờ mới thấy những điều này thật tuyệt vời, vi diệu mà mình tu gần hết cuộc đời trong chùa mới nhận ra được. “Chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng”, chữ kinh tạng ở đây có rất nhiều nghĩa. Những sách vở được người ta ghi chép, biên tập, góp nhặt lại cho nên bên nhà Nho cũng có một câu nổi tiếng: “Tận tin ư thư, bất như vô thư”, cả tin vào sách, thà không có sách còn hơn.
Thành ra, khi đi vào trong Chánh Pháp rồi mình mới thấy rất tuyệt vời, nếu không, mình tin vào những sách vở đó không biết tới ngày nào mình mới nhìn thấy tham, sân, si mà đoạn tận nó. Đâu có đơn giản như vậy, ngay cả bây giờ mình thấy có bao nhiêu kinh sách như rừng, như biển, kinh nào cũng nói mình số một. Bao nhiêu những lời hứa hẹn, vẽ ra cảnh làm cho người ta ham thích.
“Chớ tin vì nhân lý luận siêu hình”, “lý luận siêu hình” là những thứ hình vi thượng – thế giới tâm linh. Bây giờ cái này rất nhiều, mà bị gạt cũng bộn, đó là những thứ mình không thấy, không biết được. Hiện nghe nói báo đăng là đào được mộ của Tề Thiên Đại Thánh, rõ ràng người ta biết rằng bộ phim đó là hư cấu của Ngô Thừa Ân, còn ngài Huyền Trang có thật trong lịch sử nhưng người ta vẫn thờ, dù nó không có thật.
Cho nên nhiều khi mình thấy rằng trong cái hư cấu có hư cấu, rồi trong cái hư cấu đó lại có hư cấu mà người ta vẫn tin, ngộ vậy đó, vẫn bình luận cái này đúng, cái này sai… Nhất là những phim kiếm hiệp, tiên hiệp này nọ vẽ vời ra nhiều thứ, làm Ngộ Không có người yêu, vậy mà vẫn tin. Cho nên“Chớ tin vì nhân lý luận siêu hình”.
“Chớ có tin vì đúng theo một lập trường”, điều này rất khó. Đúng với lập trường của mình là mình tin nên những người tu Tông này thì chơi với Tông này thôi vì cùng quan điểm, cùng lập trường với nhau. Điều này nói phớt qua thôi chứ khai triển rộng thì mệt lắm. Cả một bầu trời trí tuệ bên trong bài kinh này, trái đất có thể rung chuyển với bài kinh này. Tất cả các học thuyết, tôn giáo, lý luận trên thế gian đều chấn động hết với sự thật này.
“Chớ có tin vì đúng theo một lập trường”. Mình có quan điểm, có cái thấy, lập trường như vậy mà mấy người có quan điểm giống vậy, thấy giống vậy, hiểu giống vậy là mình chịu. Còn ai nói khác mình không chịu, định kiến ở phía dưới, “Chớ có tin vì phù hợp với định kiến”, là sự thấy biết của mình bị đóng khung. Định ở đây chỉ sự cố chấp, định kiến tức cái thấy cứng chắc, cố định như vậy, không thay đổi, tới chết cũng không đổi.
“Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện”, thấy sơ sơ, nghe sơ sơ vậy là tin ngay mà không tìm hiểu kỹ một cách sâu sắc nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ, lĩnh vực. Đây chính là “đánh giá hời hợt những dữ kiện”, mới nhìn thấy hoặc nghe một chút liền tin ngay. Nhiều khi tuyên bố này kia, ghi chép lại trong sách vở nữa nên phải hết sức cẩn thận.
“Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền”, đâu phải ai có quyền nói cũng đúng. Quyền khác, chân lý khác; chân lý không nằm trong hạn hẹp quyền uy hay không có quyền. Chân lý là chân lý, không phải thuộc sở hữu của người nào đó, sự thật không phải thuộc sở hữu của người có quyền uy. Sự thật là sự thật, có quyền hay không, không dính dáng gì tới sự thật cho nên ““Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền”. Mình thấy những người lớn tuổi có khi nói trật không, hay lớn tuổi lúc nào cũng nói đúng? Hay những người có quyền, đâu phải lúc nào cũng nói đúng, nhìn đúng sự việc.
“Chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Đạo sư của mình”, bởi vậy con nói đại chúng đừng tin con, mà hãy tin lời Đức Phật. Những gì mình nói, trình bày lên là trình bày lời Đức Phật, những gì mình giải thích là giải thích lời Đức Phật. Có nhiều người nói “con tu theo pháp của thầy”, Minh Thành đính chính liền “Không phải, đây là pháp của Phật”, đính chính rõ ràng lại. Không ai ngoài Đức Thế Tôn có thể đưa ra một pháp hành mà dẫn đến Thánh đạo được, Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán. Không thể có người nào ngoài Đức Thế Tôn có thể đưa ra Thánh đạo viên mãn, đi đến cứu cánh, đoạn tận các lậu hoặc và chấm dứt sanh tử. Điều đó không thể xảy ra.
Thành ra người chế pháp này pháp kia là người đó không hiểu Đức Phật, chưa tin Đức Phật, chưa tin sự chứng ngộ của Ngài, chưa tin giáo pháp nên người đó mới tự động chế ra những pháp tu. Chỗ này rất sâu sắc, vì người đó không hiểu Phật, Pháp nên mới dám chế ra những pháp tu. Chúng ta thấy bây giờ có nhiều pháp tu lạ lắm đúng không? Thành ra đây là mười điều mình xét lại, còn nếu không, mình rơi vào những thứ này là mê tín, tin tưởng một cách mù quáng. Thậm chí là cuồng tín, tin một cách điên loạn.
Nhất là trong thời đại bây giờ, giả rất nhiều mà điều thật rất ít, điều Chánh hiếm có mà tà tràn lan. Cho nên mình được học những lời nói này rất phước báu, lợi lạc. Đức Phật không nói phủ nhận hết tất cả rồi không đi đến đâu, mà cuối cùng Ngài nói: “Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị các người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ", thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng! Điều này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên”.
Sau khi mình thấy rõ thì phải từ bỏ, lòng tham, ham muốn khởi lên trong tâm của một người nào, khởi lên như vậy đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh, “Dạ, bạch Thế Tôn, là bất hạnh”. Tóm thâu hết tất cả những điều nãy giờ nói thì chuẩn của nó là nhìn thấy, nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, chúng ta thấy rõ không? Cho nên nói nhiều như vậy nhưng tóm lại cốt lõi bên trong chỉ có bấy nhiêu, nhưng để hiểu được lõi này mình phải nhìn thấy được tất cả những khía cạnh, phương diện mới thấy được giá trị của việc nhìn thấy, nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si.
Bây giờ có những cách dạy mình tu khiến mình càng phát triển lòng tham nên càng tu càng thấy khổ hoài. Ở ngoài con khổ quá nên vô chùa kiếm cô, kiếm thầy. Mà thầy cô nói cũng khổ quá con ơi, nhiều khi còn khổ hơn con, lo lắng hơn con.
“Chưa khoác cà sa than nhiều việc
Đã khoác cà sa việc lại nhiều”
Các thầy còn bận hơn con, nhiều khi khổ như vậy mà lại còn tự hào với sự bận rộn của mình, lấy sự bận rộn đó làm sự tự hào. Cho nên Thế Tôn dạy mình một trong những việc làm cho người tu thối đọa là gì? Ưa thích công chuyện, hội họp, huyên náo, tụ họp. Đó là những pháp làm cho mình thối đọa, lùi lại và rơi xuống. Nếu mình hội họp trong Chánh pháp thì đó là những pháp làm cho tăng chúng hưng thịnh. Hội họp là vì pháp, vì thiền định, vì tăng thượng giới định tuệ, điều đó là tốt. Còn nếu quần tụ náo nhiệt, đông đúc mà nói thế sự, tạp sự thì hội họp đó là thối đọa. Nói rần rần mà không thấy nói gì tới việc tu.
“Các Ông nghĩ như thế nào, tâm tham dục, tâm nóng giận, tâm si mê khởi lên trong người nào, đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh? Dạ bạch Thế Tôn, là bất hạnh”. Nếu bất hạnh như vậy các ông phải từ bỏ những cảm thọ đó. Người này có tham, bị tham dục, nóng giận, bị si mê chinh phục và xâm chiếm tâm, người này “giết hại những sinh vật, lấy của không cho, trộm cắp, tà dâm, đi đến vợ chồng người khác, nói láo, khích lệ những người khác làm như vậy. Như vậy, có làm cho người khác bất hạnh và đau khổ lâu dài hay không? Thưa có, bạch Tôn giả”.
Tại sao người này phạm năm giới? Vì họ bị tham, sân, si chinh phục, xâm chiếm. Đức Phật nêu ra gốc, ngọn, thân, cành, lá của vấn đề. Chúng ta thấy không, chỗ này tuyệt vời lắm, Đức Phật dạy là cứu cánh, viên mãn, đầy đủ hết tất cả ở trên. Đầu tiên Ngài nói gì: “Các ông nghĩ thế nào, lòng tham, lòng sân, lòng si khởi lên trong tâm người nào đem lại hạnh phúc hay bất hạnh?”.
Mình nói tâm tham dục, sân hận, si mê khởi lên; sau đó Đức Phật nói người này bị tham, sân, si chinh phục và tâm bị xâm chiếm. Khi nó chinh phục, xâm chiếm tâm thì người này gây ra sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu và khích lệ người khác cũng làm như vậy thì bất hạnh, đau khổ lâu dài. Chúng ta thấy đó là trình tự của pháp. Nó sanh khởi lên tham, sân, si, bị tham, sân, si chinh phục, xâm chiếm, đây là bên trong, sau đó mới biểu hiện ra bên ngoài. Nó thể hiện sự tham dục, sân hận, si mê đó ra bên ngoài bằng cách giết hại sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ chồng của người khác, nói dối, sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập.
Chẳng những tự thân nó làm điều này mà còn khích lệ người khác làm theo những tội lỗi đó cho nên kết quả nó là bất hạnh, đau khổ lâu dài, tức ba đường ác, lâu dài nghĩa là sau khi chết lại tiếp tục nữa. Những pháp này Đức Thế Tôn gọi là bất thiện, ác, có tội, bị người trí chỉ trích, tức chê trách. Còn với người tu thì sao? Bây giờ mới thấy sự khác biệt, giá trị của sự tu mang lại: nhận diện các cảm thọ. Mình thường xuyên nhìn lại các cảm xúc, cảm giác, cảm thọ.
Đầu tiên là thấy được tham, sân, si, thấy được sự sinh khởi của nó. Sinh khởi ở đây là nhân duyên, duyên sanh khởi của nó, thấy được tại sao nó phát sanh? Rồi mình thấy được tham, sân, si chấm dứt, tức nó diệt và mình biết được cách chấm dứt tham, sân, si. Tức biết được tham, sân, si như thế nào ở trong cảm thọ mình; tại sao tham, sân, si sanh khởi; tham, sân, si chấm dứt và cách làm cho tham, sân, si chấm dứt. Như vậy, mình phải chặn nó từ lúc khởi tham dục, sân hận và si mê, chặn nó từ trong trứng nước. Nếu sau đó nó phát ra sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, nói dối thì cũng sẽ nhẹ bớt, giảm xuống, không thô trọng, nặng nề.
Cho nên, sự tu của bậc Đa văn Thánh đệ tử, tại sao từ cư sĩ đến xuất gia, khi thành tựu lòng tin rồi sẽ không đọa ba đường ác? Vì nếu như có làm những việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, nói dối cũng sẽ nhẹ hơn, không thô trọng. Mình thấy nhiều khi đi có đạp phải con gì không nhưng mình không cầm cắt cổ gà vịt, những điều đó làm nhẹ hết, giảm xuống nên không rơi vào ba đường ác. Mình cũng không khuyến khích người khác tham, sân, si, phạm giới. Như vậy, gốc rễ trong sự tu của mình sâu sắc ở chỗ đó.
Người phàm phu họ không biết tham, sân, si; họ chỉ biết kết quả, hậu quả của nó. Còn người tu thấy được sự sinh diệt, vận hành khi nó bắt đầu sanh khởi. Lúc trước chưa nhận diện ngũ uẩn mình có thấy nó khởi lên thế nào không? Mình có biết nhân duyên sanh diệt của nó không? Ví dụ con mắt mình xúc nên sanh ra tham, mình thấy được do duyên xúc, sanh khởi ra thọ, ái, thủ. Hay hồi xưa mình chưa nhận diện ngũ uẩn, nghe một câu nói là đùng đùng lên mà không biết thọ do nhĩ xúc sanh, mình đâu biết cảm thọ đó nằm chỗ lồng ngực, đâu biết cách trú ở chỗ nào để tác ý, đánh đuổi, làm cho nó an tịnh, lắng dịu?
Mình tẩy sạch nó, không biết, quờ quạng, cứ ra lạy, niệm, cầu gì đó chứ mình không biết nó nằm ở bên trong, tất cả những sự sanh diệt của nó. Mình thấy được tham, sân, si sanh; thấy nó diệt và thấy được cách làm cho nó chấm dứt. Chỗ đó mới tuyệt diệu! Thánh trí và tham, sân, si; trí huệ và tham, sân, si. Như vậy, cả bài kinh này Đức Phật nói nếu không tham, sân, si, đó là thiện, không có tội – tức là phước, được người trí tán thán, khen ngợi, chúng ta thấy không?
Thành ra cả tạng kinh Nikāya này mình có thể gom lại, nếu ở một khía cạnh khác là giải quyết tham, sân, si. Nhưng chữ tham, sân, si trong Nikāya rất thâm sâu, sâu sắc, tế nhị; không phải tham, sân, si giống như người bình thường nói. Người ta nói là nói hậu quả, vô văn phàm phu khi nói về tham, sân, si là họ nói cái đã rồi của nó. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử nói về tham, sân, si là nói nguồn cơn, sự khởi động, hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của nó. Khác nhau là khác nhau như vậy.
Cho đến khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là thiện, các pháp này không có tội, các pháp này không bị người trí chỉ trích, chê bai, các pháp này làm nếu chấp nhận sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc, khi ấy các ông hãy đạt đến và an trú. Bây giờ mình thực hành ba pháp có tham, sân, si không? Kêu an tịnh, lắng dịu cảm giác toàn thân có tham, sân, si không? Không! Rồi khi mình trải tình thương, có tham, sân, si không? Không! Rồi giờ phát khởi cho mình sự hoan hỷ, thích thú trong pháp, có tham, sân, si không? Không! Được người trí tán thán là thiện, là phước. Bây giờ mình thực hành tâm buông xả ham muốn, nóng giận, si mê rồi có tham, sân, si không? Buông xả nó, bỏ nó, quăng nó, xả ly nó, viễn ly, rời xa nó. Đó là thiện, là phước, được người trí tán thán, khen ngợi, là hạnh phúc an lạc lâu dài.
Tại sao mình không hoan hỷ, không thích thú, không cảm thấy hạnh phúc, mình tác ý lên. Như vậy mình tin chưa? Tự mình thấy rõ chứ không phải một sự tưởng tượng, hứa hẹn viển vông sau khi chết mình được cái gì. Ngay tại chỗ này, tham, sân, si đã xâm chiếm tâm, chinh phục tâm thì nó sẽ giết hại chúng sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, say sưa, nghiện ngập, khuyến khích người khác làm bậy, bất hạnh, đau khổ lâu dài khi nhắm mắt rơi vào ba đường ác.
Còn cái để chúng ta nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si; tu từ bi, hỷ xả, đó là thiện, phước, được người trí tán thán, khen ngợi. Đây mới là Chánh tín mà Đức Phật định nghĩa, Chánh tín của Phật giáo, là niềm tin đúng, niềm tin trong sáng, điều mà Đức Phật muốn mình tin. Chúng ta có nhìn thấy giữa Phật Pháp nguyên thủy và Phật Pháp bây giờ khoảng cách rất xa. Ngài đâu có kêu mình phải làm rình rang, đánh trống thổi kèn, phải làm này kia mà Ngài dạy mình hãy xem lại tâm mình có sanh khởi tham, sân, si hay không? Có bị tham, sân, si chinh phục, xâm chiếm không? Có tạo ra những ác nghiệp không? Có đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài không?
Nếu các ông thấy nó, hãy nhiếp, đoạn tận để nó đừng tham, sân, si thì sẽ không tạo nghiệp, được thiện lành, phước lành, được người trí tán thán, hạnh phúc an lạc, hiện tại và vị lai một cách lâu dài. Bây giờ chúng ta đặt sự tu ở đâu? Không chịu quay lại nội tâm, không chịu hướng dẫn mọi người quay lại quán xét các cảm thọ, tư duy, suy nghĩ mà chúng ta cứ chạy ra ngoài làm những hình thức trống kèn inh ỏi, màu sắc lòe loẹt, làm cho náo nhiệt rình rang lên rồi cuối cùng sự đau khổ không giải quyết được.
Người tu mình ngày càng bận rộn rất nhiều, mà bận rộn những chuyện không đáng để bận rộn lắm, có thể giảm bớt được, nhưng mình không chịu. Vì sao? Mình học, không đi vào những lời dạy nguyên chất , cốt lõi của pháp cho nên từ nhận định không chân xác, chính xác về lời dạy của Đức Phật thì chúng ta sẽ có những cách nhìn, suy nghĩ, hành động không dẫn đến những kết quả thật sự như Đức Phật đã truyền trao và mong muốn cho chúng ta.
Cho nên chúng ta mới thấy ngay cả lời vị thầy của mình nói, ngay cả lời vị bổn sư của mình nói, mà ngay cả lời của Minh Thành các vị đừng tin. Hãy xét xem lời nói đó kêu mình rời khỏi tham, sân, si hay xúi giục, khích lệ mình đi vào tham muốn, nóng giận, bản ngã. Hãy tự mình suy xét và rõ biết rồi quý vị hãy tin. Tuyệt vời không? Đâu phải lúc nào thầy mình nói ra cũng đúng hết, không phải. Nói ra có đúng trí tuệ, Chánh pháp không, nói ra có căn cứ vào Thánh ngữ, Thánh pháp, Thánh đạo, Thánh trí không? Hay lúc đó nói lời của phàm tình?
“Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân”.
Dạy như vậy rồi cũng không dừng lại, chúng ta thấy không, Vị Thánh đệ tử nào lìa tham muốn, lìa sân hận, lìa si mê như vậy, tỉnh giác, Chánh niệm, tâm hòa quyện với lòng thương, lòng xót, bi mẫn, hòa quyện đối với pháp, vui vẻ, hoan hỷ, hạnh phúc, tâm hòa quyện với sự buông xả, buông bỏ, xả li cùng khắp hết một phương, hai phương, ba phương, bốn phương như vậy, cùng khắp cả thế giới, trên dưới, bề ngang, bề dọc, tất cả các phương xứ, vô biên giới cùng khắp. Vị ấy an trú, biến mãn tất cả tâm cùng chung với lòng thương, lòng xót, lòng hoan hỷ, hạnh phúc, lòng buông xả, quảng đại như vậy, đại hành như vậy. Là một tâm rộng lớn, vô biên, không bờ, không giới hạn, không giận, không hờn ai.
Vậy vị Thánh đệ tử này với một tâm không oán giận ai như vậy, không sân, không một chút uế nhiễm, nhơ bợn, thanh tịnh, trong sạch ngay trong hiện tại, vị ấy đạt được bốn sự an ủi. Cho nên sau khi chúng ta lo phần nhiếp phục tham, sân, si, song song đó chúng ta thực tập bốn tâm vô lượng. Chúng ta nhớ đừng quên thực tập bốn tâm vô lượng hằng ngày, không đợi tới lúc lên thiên đường. Mình đang đi bộ như vậy mình nhớ trải tâm từ; có chuyện gì thấy bất ổn nhớ trải tâm xả.
Mình học thuộc bài “Trải” phần sau rất dễ, thuộc một bài là thuộc hết tất cả những bài khác. Nắm được đại ý, cốt lõi bên trong, nếu thuộc lòng hết thì quá tuyệt vời, thường trú trong tứ vô lượng tâm này. Tâm mình rộng mở, rộng lớn, vô biên, cùng khắp, còn không trú trong tâm này thì tâm mình rất nhỏ hẹp, dễ buồn, thương, giận, ghét. Mà trú trong bốn tâm này làm tâm mình rộng mở, rộng lớn, vô lượng. Như vậy, người này được bốn sự lợi ích, bốn sự an ủi lớn, sau khi chết sanh cõi lành, ngay trong hiện tại sống với tâm an lạc, không giận ai. Nếu có những lỗi lầm vô tình, vị này không phải chịu những cảm thọ thống khổ. Điều thứ tư là vị này từ vô tình hay cố ý, vị này hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch, không làm những điều ác.
Đức Thế Tôn giảng bài kinh này rồi, các vị lạy dưới chân Đức Phật, xin trọn đời quy ngưỡng, xin làm đệ tử tại gia, cư sĩ. Qua bài kinh chúng ta thấy được Chánh tin của Phật giáo, niềm ti đúng theo thật sự lời Đức Phật dạy là gì? Chớ vội tin bất cứ điều gì bên ngoài mà hãy tin ở chỗ mình thấy rõ tham, sân, si là đưa đến đau khổ, tội lỗi. Sự phát giác, phát hiện, nhiếp phục và tẩy sạch tham, sân, si là hạnh phúc, an lạc, phước báu ngay trong hiện tại và tương lai. Chúng ta nắm vững cốt lõi đó để lấy nó làm định lý, chuẩn mực, thước đo, kim chỉ nam trong pháp học, pháp hành từ cư sĩ đến xuất gia trong sự tu học của chúng ta.
Cứ lấy tham, sân, si để làm chuẩn, nếu nó sanh khởi, phát triển là ác bất thiện pháp, là đau khổ, bất hạnh lâu dài, có tội. Nếu nhiếp phục, diệt tận tham, sân, si là thiện pháp, hạnh phúc, phước báu, được người trí tán thán, khen ngợi, là tứ vô lượng tâm, hoa trái, là ngôi nhà an ổn cho chúng ta. Như vậy hôm nay chúng ta tìm hiểu xong bài kinh rất tinh túy của Đức Thế Tôn.
Năm Triền Cái 15
Nghi Ngờ Phân Vân Và Tin Đúng Lời Phật
Thích Minh Thành
Ngày 28 tháng 10 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Năm tâm hoang vu PAGEREF _Toc89545588 \h 1
II. Niềm tin chân chánh PAGEREF _Toc89545589 \h 5
III. Bốn điều an ủi PAGEREF _Toc89545590 \h 10
IV. Niềm tin PAGEREF _Toc89545591 \h 13
I. Năm tâm hoang vu
Kính lễ ân đức Thế Tôn, kính lễ ân đức Chánh pháp, kính lễ ân đức chúng tăng, kính lễ ân đức Thánh giới.
Kính thưa tất cả các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tìm hiểu những lời dạy của Đức Phật nói về nghi ngờ cũng như Chánh tín: năm tâm hoang vu trong bài “Kinh Tâm hoang vu”,Trung Bộ Kinh tập I, bài 16.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
- "Này chư Tỷ-kheo".
– "Thưa vâng, bạch Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
– Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra.
Thế nào là năm tâm hoang vu chưa được đoạn trừ?
Chư Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín. Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ”.
Bài kinh trên đây nói về sự nghi ngờ, một tâm mà còn nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, một tâm chưa có niềm tin bất động, xác quyết, tâm đó sẽ không nỗ lực, gắng sức, chuyên chú vào sự thực hành pháp, học pháp hay hành pháp, tâm sẽ không nắm giữ pháp hay kiên trì. Kiên trì là giữ chặt, trì là giữ, kiên là chặt, nó cứng chắc, nắm chắc, giữ chặt. Cho nên tâm nghi ngờ Đức Thế Tôn gọi tâm hoang vu, và tâm chưa rõ ràng, rạch ròi, còn mơ hồ, mông lung. Giống như một khu rừng mình chưa dọn dẹp, khai phá, không có đường. Như khi mình đi vô rừng bị lạc và không biết đường nào đi vì nó hoang vu, cây cỏ um tùm.
Còn một tâm có lòng tin rõ ràng nó sẽ có đường lối, lối đi nên theo lối đi đó nó đi tới. Còn tâm hoang vu là một khu rừng rậm, mình không biết hướng nó nằm chỗ nào. Mình quờ quạng, do dự, không quyết đoán, mình bồi hồi, bàng hoàng cũng như mình lạc trong khu rừng, bây giờ không biết xác định phương hướng nó nằm ở đâu. Đi hướng này mình không biết đúng không, mình quay lại hướng kia cũng không biết đúng không, rồi nhìn qua hướng nọ mình cũng không biết hướng này phải không. Như vậy, tâm mình bàng hoàng, do dự bất quyết.
Cũng vậy, người có tâm nghi ngờ Đức Phật, chữ “đạo sư” ở đây chỉ về Đức Thế Tôn. Nghi ngờ, không biết có phải Đức Phật chứng ngộ Tứ Thánh Đế không, có phải Đức Phật lý duyên khởi không, có phải Đức Phật Bát Chánh Đạo không? Ngay cả đến bây giờ, những người tu thật lâu, mấy chục năm trong chùa, lại hỏi Minh Thành có phải Đức Thế Tôn chứng ngộ lý duyên khởi không? Chúng ta thấy như vậy không phải chuyện đơn giản, mà hiện nay còn rất nhiều người không biết Đức Thế Tôn chứng ngộ điều gì. Một người nói một kiểu, tông phái này nói Đức Phật yên lặng rồi bừng sáng lên, biết hết mọi thứ, tông phái kia nói Đức Phật quán Mười Hai nhân duyên, tông phái nọ nói Đức Phật niệm cái gì đó.
Như vậy, mỗi người nhìn một kiểu, làm sao mình có niềm tin bất động, xác quyết, không do dự, rành rõ giống như chúng ta học bài kinh “Thành ấp”. Giống như người đó đi vào rừng theo lối mòn, họ phát hiện ra con đường cũ, đạo lộ cũ, lối cũ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi qua, con đường ấy là Bát Chánh Đạo. Chúng ta thấy rõ không, một người ở trong rừng quờ quạng và một người ở trong rừng phát hiện ra lối mòn. Chúng ta có rực sáng ý nghĩ này ra không? Người hồi nãy là người quờ quạng, không biết đi đường nào, do dự, bất quyết. Một người trong rừng rậm đó tìm ra được mà phát giác, phát hiện ra lối cũ, đạo lộ cũ, con đường cũ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi. Khi thấy được đường thì cứ đi theo con đường đó, lối đó, thành trì, cố đô, cố thành.
Cũng vậy, bây giờ mình không biết Đức Phật chứng ngộ cái gì làm sao mình có lòng tin xác quyết để đi tu theo. Chỗ này thấy vậy mà chúng ta mới biết rằng ở trong các bậc mà Đức Thế Tôn phân ra đáng được cung kính, cúng dường, tôn trọng, có bậc tùy tính hành và tính giải thoát. Tùy tính hành là bậc này lòng tin xác quyết họ thực hành theo. Hôm trước mình nghe rồi, tùy tính hành, tùy pháp hành. Thành ra lòng tin này, nói như vậy nó thật sự là có khi chúng ta tu suốt đời cũng chưa tịnh tín bất động. Vậy tịnh tín bất động là gì? Là nhập lưu.
Thành ra mình nói giờ này không lẽ con không tin Phật sao thầy? Nhưng tin ở mức độ nào? Tin ở khía cạnh nào, lời dạy nào, hay thành tựu được niềm tin viên mãn, trọn vẹn, tròn trịa, thâm sâu, vững chắc và bất động? Chúng ta qua bài kinh “Kesaputta” hoặc là kinh “Kalama”, rất tuyệt vời. Bây giờ mình nghi ngờ bậc đạo sư, về Đức Phật coi như mình tin rồi, nhưng pháp mà Đức Phật chứng ngộ, nên điều thứ hai là “Và lại nữa, chư Tỷ-kheo Tỷ-kheo nghi ngờ bậc Đạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn”
Nếu nghi rồi thì làm sao đây? Như hồi nãy mình nói, bây giờ không biết đường nào mình có quyết liệt, mạnh mẽ để tiến tới không? Mình đang đứng ở ngã bảy, muốn lên Linh Quy mà không thực sự biết đường nào đến Linh Quy một cách rõ ràng. Mình ngờ vực, phân vân, do dự, bất quyết. Khi đi như vậy, mình có đi một cách mạnh mẽ, tiến về phía trước một cách tự tin không? Trong sự tu cũng vậy, nghi ngờ pháp, không biết Đức Phật có phải tu pháp này không? Ngài chứng ngộ điều gì? Ngoài Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế ra còn gì khác nữa không?
Những ý hành, suy nghĩ đó làm tâm mình dao động, ngờ vực, không sáng tỏ, xác quyết, quyết định đối với pháp. Như vậy, sự nỗ lực tinh cần, tinh tấn tiến tới không thành tựu nên “tâm vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được diệt trừ”.
Chỗ này rất sâu sắc, hằng ngày chúng ta sống với tâm hoang vu rất nhiều. Nhiều khi mình nghĩ, mình nghĩ rằng nghiệp nặng quá, tập khí dày quá, không biết tu được không nên thôi, gieo duyên chút đỉnh. Đó là ý nghĩ của tâm hoang vu rồi, nó là ý hành làm cho mình không trú vào pháp, mà không trú vào pháp thì tâm đi lang thang, mà tâm đi lang thang là tâm lậu hoặc lang thang, trở thành hoang vu. Không trú ở chỗ cha mẹ, ông bà trú xứ. Trú xứ của cha mẹ, ông bà mình là Tứ Niệm Xứ, là Tứ Thánh Đế, Bát Chánh Đạo, là trú xứ của người tu, Như Lai trú. Bốn tâm vô lượng là phạm trú, Như Lai trú.
Những pháp Ba mươi bảy phần giác ngộ đó là chỗ ở, căn nhà, chỗ trú xứ của Như Lai, của đệ tử Như Lai. Bây giờ mình có những ý nghĩ tách rời pháp, nghi ngờ, nghi mình, nghi người hướng dẫn hoặc nghi pháp, nghi Đức Phật không biết có thật không, không biết những người kết tập vậy có phải không? Ngoài cái này ra còn gì nữa không? Những ý nghĩ đó trở thành tâm hoang vu, làm cho tâm dao động, không chuyên chú vào pháp, không hướng đến sự nỗ lực, xác quyết, mạnh mẽ, tiến lên. Tâm hoang vu thứ ba là nghi ngờ tăng, thứ tư là nghi ngờ các học pháp, những pháp mình đã học, những pháp Đức Phật dạy trong Nikāya. Nghi ngờ những pháp mình đã học từ tạng kinh Nikāya, từ trong lời dạy của Đức Phật.
Ví dụ học ngũ uẩn, nhưng nhận diện lờ mờ, hay chưa nhận được nên bắt đầu nghi. Thậm chí nhận diện rõ rồi, thấy được tham, sân, si bản ngã rồi cũng nghi, không xác quyết, đó là tâm hoang vu, nghi ngờ học pháp. Vì nghi ngờ như vậy nên lòng tin không được vững chắc, vì lòng tin không vững chắc nên không hướng đến sự nỗ lực, sự quyết tâm, nắm chặt, kiên trì, chuyên cần, tinh tấn, nỗ lực. “Tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì; tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ tư chưa được diệt trừ”.
Thứ năm là “Và lại nữa, chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phẫn nộ đối với các đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn”. Ở trên là không tin Phật, không tin pháp, không tin tăng, nghi ngờ các học pháp. Học pháp đây là những giới luật, oai nghi, bên dưới là phẫn nộ với bạn đồng tu “Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được diệt trừ. Như vậy, năm tâm hoang vu chưa được diệt trừ”.
Một người có một trong năm tâm này, người này không tiến đạo được cho nên phải dọn dẹp mảnh vườn hoang vu đó. Mình muốn lòng tin của mình thành tựu mình phải đọc kinh, nghe pháp và tư duy nhiều về những lời dạy của Đức Phật. Bây giờ qua đây mình thấy bài kinh này là bài kinh rung chuyển trái đất, chấn động vũ trụ, thấy được Chánh tín của Phật giáo, mà nhiều khi suốt cuộc đời tu chưa chắc gì mình nghe được bài kinh này, được hiểu và thực tập. Bài kinh này Minh Thành có chia sẻ ở chùa Bửu Liên một lần rồi, bài “Thước đo sự thật”.
II. Niềm tin chân chánh
Bài kinh này Đức Phật dạy như thế nào là Chánh tín, thế nào mới là niềm tin chân chánh, đúng pháp của một người học Phật chân chánh, đệ tử Phật, kinh Tăng Chi Bộ tập I “Các vị ở Kesaputta”. Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ bài kinh này, rất quan trọng, là bài kinh rất nổi tiếng trong tạng kinh Nikāya, và thậm chí các vị cao tăng bên Phật giáo nguyên thủy lấy chữ Kalama này làm thành tên của quyển sách Nhật tụng. Bài kinh này nổi tiếng, quan trọng tới mức độ đó.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của các người Kàlàmà tên là Kesaputta. Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: "Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác …". Lành thay, nếu chúng tôi được yết kiến một vị A-la-hán như vậy.
Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:
- Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, kinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, và có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, kinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Đối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ, phân vân:
"Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?"
Kinh Tăng Chi Bộ tập I – Tập I - Chương Ba Pháp – V. Phẩm nhỏ - Các vị ở Kesaputta
Những người tu hành đến đây, họ khen ngợi, truyền bá, giải thích, phân tích, làm sáng tỏ quan điểm của họ nhưng lại chỉ trích, chê bai, xuyên tạc những quan điểm của người khác. Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con phân vân, nghi ngờ, không biết rằng người này ai nói thật, ai nói láo.
“Đương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Đương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân”.
Đặt vào trường hợp bây giờ mình thấy rất rõ, bài kinh này có giá trị bất hủ dù đã ba ngàn năm rồi. Mà tới năm, mười ngàn năm nữa cũng là bất hủ, không bao giờ mất giá trị.
“Này các Kàlàmà,
1. Chớ có tin vì nghe truyền thuyết;
2. Chớ có tin vì theo truyền thống;
3. Chớ có tin vì nghe người ta nói;
4. Chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng;
5. Chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình;
6. Chớ có tin vì đúng theo một lập trường;
7. Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện;
8. Chớ có tin vì phù hợp với định kiến;
9. Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền;
10. Chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện - Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!”
Khi nào tự mình biết rõ những điều này là bất thiện, có tội, bị người trí chỉ trích, nếu làm những điều này, chấp nhận những điều này là đưa đến bất hạnh, khổ đau thì các ông hãy từ bỏ chúng. Sau khi các ông tự mình biết đó là tội, là ác, là bất thiện, các ông hãy từ bỏ.
“Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà! Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?”
Khi tâm mình sanh khởi lên những tâm tham, sân, si, như vậy đưa đến hạnh phúc hay bất hạnh?
“Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có tham, này các Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có sân, này các Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
- Người này có si, này các Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn..
- Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
- Là bất thiện, bạch Thế Tôn.
- Có tội hay không có tội?
- Có tội, bạch Thế Tôn.
- Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?
- Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.
- Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không? Hay ở đây, là như thế nào?
Được thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến bất hạnh, đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: "Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữkiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Samôn là bậc Đạo sư của mình". Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện - Các pháp này là có tội; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh, khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Điều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe truyền thuyết … chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình. Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là thiện - Các pháp này là không có tội; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này Kàlàmà, hãy đạt đến và an trú!”
Hãy làm những điều đó, hãy để tâm, đặt mình vào trong điều đó, thực hiện những điều đó sau khi tự thân các vị biết rõ đó là thiện, là tốt, đem đến hạnh phúc, an vui. Hãy làm điều đó, đặt thân tâm mình vào những chỗ đó mà thực hiện.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không tham, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy, đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh lâu dài cho người ấy?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn”
Một nội tâm không tham lam, nóng giận, si mê, sáng suốt, bình tĩnh, an định. Như vậy, đưa đến hạnh phúc.
“Người này không tham, này các Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không sân, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
- Người này không sân, này các Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn..
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
- Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
- Người này không si, này các Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợngười, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh phúc an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
- Là thiện, bạch Thế Tôn.
- Các pháp này có tội hay không có tội?
- Không có tội, bạch Thế Tôn.
- Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
- Được người trí tán thán, bạch Thế Tôn.
- Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến hạnh phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế nào?
- Được thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
- Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: "Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; Chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến;chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc Đạo sư của mình". Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là thiện - Các pháp này là không có tội; Các pháp này được người có trí tán thán; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc", thời này Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú! Điều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy đã được nói lên.”
III. Bốn điều an ủi
“Này các Kàlàmà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, biết mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư; Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, không sân như vậy, không uế nhiễm như vậy, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, người ấy đạt được bốn sự an ủi”.
Đó là bốn lợi ích gì?
“Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này"; đây là an ủi thứ nhất vị ấy có được”.
Tại sao nói chữ “nếu có đời sau”? Nhiều khi với vị Thánh đệ tử ấy, đây là đời cuối cùng, chứ không dám nói giống như thế gian “nếu có đời sau” họ tin tưởng luân hồi. Họ nói “nếu như có đời sau”, tôi nguyện trở lại… là khác. Còn đây là của bậc Thánh đệ tử, có thể không có đời sau, tức đã đoạn tận sanh tử. Thành ra chữ “ nếu có đời sau” này nghĩa khác, “Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác”, nếu lậu hoặc còn phải thêm mấy đời nữa, vì vị nhập lưu này nhiều nhất là bảy đời. “Nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác”, vị này sau khi chết sẽ sanh lên cõi người hoặc cõi trời.
Đó là niềm an ủi thứ nhất của một bậc Thánh đệ tử. Vị này không sanh trong ba đường ác, vì vị này thực hành điều thiện và tu bốn tâm vô lượng, từ bỏ tham, sân, si, sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, thực hành tứ vô lượng tâm, cộng với Chánh kiến. Cho nên, nếu còn đời sau, nghiệp quả còn, vị này sẽ sanh trong cõi người, cõi trời, được an lạc, an vui nhiều hơn nên đây gọi là điều an ủi thứ nhất.
Chúng ta tu có rất nhiều điều an ủi, đừng đợi người khác lại an ủi mình. Mình cứ đuổi tham, sân, si bên trong và chọn điều thiện để thực hành. Và tu bốn tâm vô lượng là niềm an ủi lớn nhất, mình cứ trải tâm từ, bi, hỷ, xả, đó mới là niềm an ủi tuyệt vời. Được an ủi ngay trong hiện tại và đời sau mình sẽ sanh lên cõi trời, cõi người hưởng phước để tiếp tục thể nhập Thánh đạo, Thánh quả.
An ủi thứ hai là gì? “Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, thời ở đây, ngay trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”. Quý vị thấy chưa, “nếu không có đời sau”, tức đời này là đời cuối cùng, vị ấy đã đoạn tận được tất cả các lậu hoặc, bậc Thánh A-la-hán. Ngay trong hiện tại là sống với tâm không oán, không giận, không phiền ai hết, vị này sống với tâm an lạc, an tịnh, lắng dịu. Đó là niềm an ủi thứ hai của bậc Thánh đệ tử.
Niềm an ủi thứ ba là gì? “Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được"; đây là an ủi thứ ba vị ấy có được”. Vì người này hoàn toàn không còn ác tâm, lỡ như họ có làm việc ác là do vô tình. Ví dụ như đi vô tình đạp phải con gì làm cho nó chết. Người này không có ác tâm, vì họ đã tu bốn tâm vô lượng, “Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được" nên hoàn toàn tâm không ác, không muốn hại ai, bất hại, không ác ý, không sân hận, oán thù ai thì làm sao hại. Chẳng qua vì mang thân tứ đại này nên có những thứ sự thể là vậy, tức đi mà đạp trúng vậy.
Hay nhiều khi có những lúc vô tình mình làm chết những con vật, Ngài nói rằng “ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được". Cho nên chúng ta nhớ chỗ này, mình muốn không có cảm thọ này khổ thì đừng có tâm ác, bất cứ tâm ác với ai mình đều phải diệt tận tâm đó, đuổi nó ra. Đừng bao giờ để có ác ý với bất cứ người nào, con vật hay món đồ nào. Tu tập tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả đối với tất cả mọi đối tượng, mọi thế giới mình sẽ không cảm thọ cảm giác khổ đau được.
“Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh"; đây là an ủi thứ tư vị ấy có được”. Hồi nãy có thể vô tình, nhưng bây giờ hoàn toàn không làm, cả hai phương diện vô tình hay cố ý. Vị này “quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”. Đây là bậc Thánh, sạch hết tham, sân, si và lậu hoặc, là niềm an ủi thứ tư.
“Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị ấy có được bốn an ủi này”. Muốn được an ủi thì đây, không cần kiếm ai lại an ủi cả. Thầy Pháp An dùng bốn tâm vô lượng an ủi chính mình, trải tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả cho tự thân mình, cho tha nhân, cho chúng sanh, rộng cùng khắp biến mãn thế giới, lấy đó làm sự an ủi. Trú trong tâm đó sẽ hết buồn ngay, cứ tác ý lên. Mấy thầy đưa bài giảng “Tứ vô lượng tâm” cho thầy Pháp An nghe mỗi ngày, đó là đại an ủi.
IV. Niềm tin
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn, … bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Thế Tôn, quy y pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ.....từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng”. Đó là phần diễn đọc thứ nhất của bài kinh, nãy giờ con đọc cho các thầy, các cô cùng đại chúng nghe. Bây giờ chúng ta giải thích về mười điều chớ có vội tin, điều này rất khủng khiếp, chưa thấy có một người thứ hai trên thế giới này nói về lòng tin như vậy. Chúng ta đọc hết sách vở trên cuộc đời này đi, sẽ không thấy có người thứ hai.
Những người này nghe người khác tới nói về đường lối tu của họ là số một, là tuyệt vời, đệ nhất còn người khác không đúng, không bằng họ. Nhiều người đến nói như vậy nên những người dân này nghi ngờ, phân vân, không biết rốt cuộc ai nói thật, ai nói láo nên Minh Thành mới đặt cho bài hôm trước giảng là “Thước đo sự thật”. Bây giờ làm sao để mình biết ai nói thật, ai nói láo nên những vị này phân vân, nghi ngờ. Thế Tôn nói đúng rồi, các ông sẽ phân vân và nghi ngờ. Bây giờ “chớ có vội tin vì nghe truyền thuyết”.
Hiện nay mình nghe truyền thuyết nhiều không ạ? Truyền thuyết là sao? Nghe người này nói, người này truyền cho người kia, người kia truyền cho người nọ, sau một thời gian lâu dài điều đó trở thành truyền thuyết. Mình có rất nhiều truyền thuyết, “chớ có vội tin”. Thứ hai là “chớ có tin vì theo truyền thống”, xưa bày nay làm, ta sao mình vậy. Điều đó được truyền từ xưa đến giờ, truyền lại hết đời này tới đời khác. “Chớ có tin vì nghe người ta nói”, mình rất dễ bị chết vì điều này, phiền não không biết bao nhiêu vì nó. Hễ nghe nói là tin liền, “Chớ có tin vì nghe người ta nói”, đó mới chỉ là một phương diện, còn phương diện kia mình nghe người ta nói vậy liền tin ngay, hay chuyện kia như vậy mình cũng tin.
“Chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng”, mình thấy trí tuệ Đức Phật quá tối thượng. Bây giờ mới thấy những điều này thật tuyệt vời, vi diệu mà mình tu gần hết cuộc đời trong chùa mới nhận ra được. “Chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng”, chữ kinh tạng ở đây có rất nhiều nghĩa. Những sách vở được người ta ghi chép, biên tập, góp nhặt lại cho nên bên nhà Nho cũng có một câu nổi tiếng: “Tận tin ư thư, bất như vô thư”, cả tin vào sách, thà không có sách còn hơn.
Thành ra, khi đi vào trong Chánh Pháp rồi mình mới thấy rất tuyệt vời, nếu không, mình tin vào những sách vở đó không biết tới ngày nào mình mới nhìn thấy tham, sân, si mà đoạn tận nó. Đâu có đơn giản như vậy, ngay cả bây giờ mình thấy có bao nhiêu kinh sách như rừng, như biển, kinh nào cũng nói mình số một. Bao nhiêu những lời hứa hẹn, vẽ ra cảnh làm cho người ta ham thích.
“Chớ tin vì nhân lý luận siêu hình”, “lý luận siêu hình” là những thứ hình vi thượng – thế giới tâm linh. Bây giờ cái này rất nhiều, mà bị gạt cũng bộn, đó là những thứ mình không thấy, không biết được. Hiện nghe nói báo đăng là đào được mộ của Tề Thiên Đại Thánh, rõ ràng người ta biết rằng bộ phim đó là hư cấu của Ngô Thừa Ân, còn ngài Huyền Trang có thật trong lịch sử nhưng người ta vẫn thờ, dù nó không có thật.
Cho nên nhiều khi mình thấy rằng trong cái hư cấu có hư cấu, rồi trong cái hư cấu đó lại có hư cấu mà người ta vẫn tin, ngộ vậy đó, vẫn bình luận cái này đúng, cái này sai… Nhất là những phim kiếm hiệp, tiên hiệp này nọ vẽ vời ra nhiều thứ, làm Ngộ Không có người yêu, vậy mà vẫn tin. Cho nên“Chớ tin vì nhân lý luận siêu hình”.
“Chớ có tin vì đúng theo một lập trường”, điều này rất khó. Đúng với lập trường của mình là mình tin nên những người tu Tông này thì chơi với Tông này thôi vì cùng quan điểm, cùng lập trường với nhau. Điều này nói phớt qua thôi chứ khai triển rộng thì mệt lắm. Cả một bầu trời trí tuệ bên trong bài kinh này, trái đất có thể rung chuyển với bài kinh này. Tất cả các học thuyết, tôn giáo, lý luận trên thế gian đều chấn động hết với sự thật này.
“Chớ có tin vì đúng theo một lập trường”. Mình có quan điểm, có cái thấy, lập trường như vậy mà mấy người có quan điểm giống vậy, thấy giống vậy, hiểu giống vậy là mình chịu. Còn ai nói khác mình không chịu, định kiến ở phía dưới, “Chớ có tin vì phù hợp với định kiến”, là sự thấy biết của mình bị đóng khung. Định ở đây chỉ sự cố chấp, định kiến tức cái thấy cứng chắc, cố định như vậy, không thay đổi, tới chết cũng không đổi.
“Chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện”, thấy sơ sơ, nghe sơ sơ vậy là tin ngay mà không tìm hiểu kỹ một cách sâu sắc nhiều phương diện, khía cạnh, góc độ, lĩnh vực. Đây chính là “đánh giá hời hợt những dữ kiện”, mới nhìn thấy hoặc nghe một chút liền tin ngay. Nhiều khi tuyên bố này kia, ghi chép lại trong sách vở nữa nên phải hết sức cẩn thận.
“Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền”, đâu phải ai có quyền nói cũng đúng. Quyền khác, chân lý khác; chân lý không nằm trong hạn hẹp quyền uy hay không có quyền. Chân lý là chân lý, không phải thuộc sở hữu của người nào đó, sự thật không phải thuộc sở hữu của người có quyền uy. Sự thật là sự thật, có quyền hay không, không dính dáng gì tới sự thật cho nên ““Chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền”. Mình thấy những người lớn tuổi có khi nói trật không, hay lớn tuổi lúc nào cũng nói đúng? Hay những người có quyền, đâu phải lúc nào cũng nói đúng, nhìn đúng sự việc.
“Chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Đạo sư của mình”, bởi vậy con nói đại chúng đừng tin con, mà hãy tin lời Đức Phật. Những gì mình nói, trình bày lên là trình bày lời Đức Phật, những gì mình giải thích là giải thích lời Đức Phật. Có nhiều người nói “con tu theo pháp của thầy”, Minh Thành đính chính liền “Không phải, đây là pháp của Phật”, đính chính rõ ràng lại. Không ai ngoài Đức Thế Tôn có thể đưa ra một pháp hành mà dẫn đến Thánh đạo được, Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán. Không thể có người nào ngoài Đức Thế Tôn có thể đưa ra Thánh đạo viên mãn, đi đến cứu cánh, đoạn tận các lậu hoặc và chấm dứt sanh tử. Điều đó không thể xảy ra.
Thành ra người chế pháp này pháp kia là người đó không hiểu Đức Phật, chưa tin Đức Phật, chưa tin sự chứng ngộ của Ngài, chưa tin giáo pháp nên người đó mới tự động chế ra những pháp tu. Chỗ này rất sâu sắc, vì người đó không hiểu Phật, Pháp nên mới dám chế ra những pháp tu. Chúng ta thấy bây giờ có nhiều pháp tu lạ lắm đúng không? Thành ra đây là mười điều mình xét lại, còn nếu không, mình rơi vào những thứ này là mê tín, tin tưởng một cách mù quáng. Thậm chí là cuồng tín, tin một cách điên loạn.
Nhất là trong thời đại bây giờ, giả rất nhiều mà điều thật rất ít, điều Chánh hiếm có mà tà tràn lan. Cho nên mình được học những lời nói này rất phước báu, lợi lạc. Đức Phật không nói phủ nhận hết tất cả rồi không đi đến đâu, mà cuối cùng Ngài nói: “Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị các người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hiện và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ", thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng! Điều này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên”.
Sau khi mình thấy rõ thì phải từ bỏ, lòng tham, ham muốn khởi lên trong tâm của một người nào, khởi lên như vậy đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh, “Dạ, bạch Thế Tôn, là bất hạnh”. Tóm thâu hết tất cả những điều nãy giờ nói thì chuẩn của nó là nhìn thấy, nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, chúng ta thấy rõ không? Cho nên nói nhiều như vậy nhưng tóm lại cốt lõi bên trong chỉ có bấy nhiêu, nhưng để hiểu được lõi này mình phải nhìn thấy được tất cả những khía cạnh, phương diện mới thấy được giá trị của việc nhìn thấy, nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si.
Bây giờ có những cách dạy mình tu khiến mình càng phát triển lòng tham nên càng tu càng thấy khổ hoài. Ở ngoài con khổ quá nên vô chùa kiếm cô, kiếm thầy. Mà thầy cô nói cũng khổ quá con ơi, nhiều khi còn khổ hơn con, lo lắng hơn con.
“Chưa khoác cà sa than nhiều việc
Đã khoác cà sa việc lại nhiều”
Các thầy còn bận hơn con, nhiều khi khổ như vậy mà lại còn tự hào với sự bận rộn của mình, lấy sự bận rộn đó làm sự tự hào. Cho nên Thế Tôn dạy mình một trong những việc làm cho người tu thối đọa là gì? Ưa thích công chuyện, hội họp, huyên náo, tụ họp. Đó là những pháp làm cho mình thối đọa, lùi lại và rơi xuống. Nếu mình hội họp trong Chánh pháp thì đó là những pháp làm cho tăng chúng hưng thịnh. Hội họp là vì pháp, vì thiền định, vì tăng thượng giới định tuệ, điều đó là tốt. Còn nếu quần tụ náo nhiệt, đông đúc mà nói thế sự, tạp sự thì hội họp đó là thối đọa. Nói rần rần mà không thấy nói gì tới việc tu.
“Các Ông nghĩ như thế nào, tâm tham dục, tâm nóng giận, tâm si mê khởi lên trong người nào, đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh? Dạ bạch Thế Tôn, là bất hạnh”. Nếu bất hạnh như vậy các ông phải từ bỏ những cảm thọ đó. Người này có tham, bị tham dục, nóng giận, bị si mê chinh phục và xâm chiếm tâm, người này “giết hại những sinh vật, lấy của không cho, trộm cắp, tà dâm, đi đến vợ chồng người khác, nói láo, khích lệ những người khác làm như vậy. Như vậy, có làm cho người khác bất hạnh và đau khổ lâu dài hay không? Thưa có, bạch Tôn giả”.
Tại sao người này phạm năm giới? Vì họ bị tham, sân, si chinh phục, xâm chiếm. Đức Phật nêu ra gốc, ngọn, thân, cành, lá của vấn đề. Chúng ta thấy không, chỗ này tuyệt vời lắm, Đức Phật dạy là cứu cánh, viên mãn, đầy đủ hết tất cả ở trên. Đầu tiên Ngài nói gì: “Các ông nghĩ thế nào, lòng tham, lòng sân, lòng si khởi lên trong tâm người nào đem lại hạnh phúc hay bất hạnh?”.
Mình nói tâm tham dục, sân hận, si mê khởi lên; sau đó Đức Phật nói người này bị tham, sân, si chinh phục và tâm bị xâm chiếm. Khi nó chinh phục, xâm chiếm tâm thì người này gây ra sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu và khích lệ người khác cũng làm như vậy thì bất hạnh, đau khổ lâu dài. Chúng ta thấy đó là trình tự của pháp. Nó sanh khởi lên tham, sân, si, bị tham, sân, si chinh phục, xâm chiếm, đây là bên trong, sau đó mới biểu hiện ra bên ngoài. Nó thể hiện sự tham dục, sân hận, si mê đó ra bên ngoài bằng cách giết hại sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ chồng của người khác, nói dối, sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập.
Chẳng những tự thân nó làm điều này mà còn khích lệ người khác làm theo những tội lỗi đó cho nên kết quả nó là bất hạnh, đau khổ lâu dài, tức ba đường ác, lâu dài nghĩa là sau khi chết lại tiếp tục nữa. Những pháp này Đức Thế Tôn gọi là bất thiện, ác, có tội, bị người trí chỉ trích, tức chê trách. Còn với người tu thì sao? Bây giờ mới thấy sự khác biệt, giá trị của sự tu mang lại: nhận diện các cảm thọ. Mình thường xuyên nhìn lại các cảm xúc, cảm giác, cảm thọ.
Đầu tiên là thấy được tham, sân, si, thấy được sự sinh khởi của nó. Sinh khởi ở đây là nhân duyên, duyên sanh khởi của nó, thấy được tại sao nó phát sanh? Rồi mình thấy được tham, sân, si chấm dứt, tức nó diệt và mình biết được cách chấm dứt tham, sân, si. Tức biết được tham, sân, si như thế nào ở trong cảm thọ mình; tại sao tham, sân, si sanh khởi; tham, sân, si chấm dứt và cách làm cho tham, sân, si chấm dứt. Như vậy, mình phải chặn nó từ lúc khởi tham dục, sân hận và si mê, chặn nó từ trong trứng nước. Nếu sau đó nó phát ra sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, nói dối thì cũng sẽ nhẹ bớt, giảm xuống, không thô trọng, nặng nề.
Cho nên, sự tu của bậc Đa văn Thánh đệ tử, tại sao từ cư sĩ đến xuất gia, khi thành tựu lòng tin rồi sẽ không đọa ba đường ác? Vì nếu như có làm những việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, nói dối cũng sẽ nhẹ hơn, không thô trọng. Mình thấy nhiều khi đi có đạp phải con gì không nhưng mình không cầm cắt cổ gà vịt, những điều đó làm nhẹ hết, giảm xuống nên không rơi vào ba đường ác. Mình cũng không khuyến khích người khác tham, sân, si, phạm giới. Như vậy, gốc rễ trong sự tu của mình sâu sắc ở chỗ đó.
Người phàm phu họ không biết tham, sân, si; họ chỉ biết kết quả, hậu quả của nó. Còn người tu thấy được sự sinh diệt, vận hành khi nó bắt đầu sanh khởi. Lúc trước chưa nhận diện ngũ uẩn mình có thấy nó khởi lên thế nào không? Mình có biết nhân duyên sanh diệt của nó không? Ví dụ con mắt mình xúc nên sanh ra tham, mình thấy được do duyên xúc, sanh khởi ra thọ, ái, thủ. Hay hồi xưa mình chưa nhận diện ngũ uẩn, nghe một câu nói là đùng đùng lên mà không biết thọ do nhĩ xúc sanh, mình đâu biết cảm thọ đó nằm chỗ lồng ngực, đâu biết cách trú ở chỗ nào để tác ý, đánh đuổi, làm cho nó an tịnh, lắng dịu?
Mình tẩy sạch nó, không biết, quờ quạng, cứ ra lạy, niệm, cầu gì đó chứ mình không biết nó nằm ở bên trong, tất cả những sự sanh diệt của nó. Mình thấy được tham, sân, si sanh; thấy nó diệt và thấy được cách làm cho nó chấm dứt. Chỗ đó mới tuyệt diệu! Thánh trí và tham, sân, si; trí huệ và tham, sân, si. Như vậy, cả bài kinh này Đức Phật nói nếu không tham, sân, si, đó là thiện, không có tội – tức là phước, được người trí tán thán, khen ngợi, chúng ta thấy không?
Thành ra cả tạng kinh Nikāya này mình có thể gom lại, nếu ở một khía cạnh khác là giải quyết tham, sân, si. Nhưng chữ tham, sân, si trong Nikāya rất thâm sâu, sâu sắc, tế nhị; không phải tham, sân, si giống như người bình thường nói. Người ta nói là nói hậu quả, vô văn phàm phu khi nói về tham, sân, si là họ nói cái đã rồi của nó. Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử nói về tham, sân, si là nói nguồn cơn, sự khởi động, hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của nó. Khác nhau là khác nhau như vậy.
Cho đến khi nào tự mình biết rõ như sau: các pháp này là thiện, các pháp này không có tội, các pháp này không bị người trí chỉ trích, chê bai, các pháp này làm nếu chấp nhận sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc, khi ấy các ông hãy đạt đến và an trú. Bây giờ mình thực hành ba pháp có tham, sân, si không? Kêu an tịnh, lắng dịu cảm giác toàn thân có tham, sân, si không? Không! Rồi khi mình trải tình thương, có tham, sân, si không? Không! Rồi giờ phát khởi cho mình sự hoan hỷ, thích thú trong pháp, có tham, sân, si không? Không! Được người trí tán thán là thiện, là phước. Bây giờ mình thực hành tâm buông xả ham muốn, nóng giận, si mê rồi có tham, sân, si không? Buông xả nó, bỏ nó, quăng nó, xả ly nó, viễn ly, rời xa nó. Đó là thiện, là phước, được người trí tán thán, khen ngợi, là hạnh phúc an lạc lâu dài.
Tại sao mình không hoan hỷ, không thích thú, không cảm thấy hạnh phúc, mình tác ý lên. Như vậy mình tin chưa? Tự mình thấy rõ chứ không phải một sự tưởng tượng, hứa hẹn viển vông sau khi chết mình được cái gì. Ngay tại chỗ này, tham, sân, si đã xâm chiếm tâm, chinh phục tâm thì nó sẽ giết hại chúng sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói dối, say sưa, nghiện ngập, khuyến khích người khác làm bậy, bất hạnh, đau khổ lâu dài khi nhắm mắt rơi vào ba đường ác.
Còn cái để chúng ta nhiếp phục, đoạn tận tham, sân, si; tu từ bi, hỷ xả, đó là thiện, phước, được người trí tán thán, khen ngợi. Đây mới là Chánh tín mà Đức Phật định nghĩa, Chánh tín của Phật giáo, là niềm tin đúng, niềm tin trong sáng, điều mà Đức Phật muốn mình tin. Chúng ta có nhìn thấy giữa Phật Pháp nguyên thủy và Phật Pháp bây giờ khoảng cách rất xa. Ngài đâu có kêu mình phải làm rình rang, đánh trống thổi kèn, phải làm này kia mà Ngài dạy mình hãy xem lại tâm mình có sanh khởi tham, sân, si hay không? Có bị tham, sân, si chinh phục, xâm chiếm không? Có tạo ra những ác nghiệp không? Có đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu dài không?
Nếu các ông thấy nó, hãy nhiếp, đoạn tận để nó đừng tham, sân, si thì sẽ không tạo nghiệp, được thiện lành, phước lành, được người trí tán thán, hạnh phúc an lạc, hiện tại và vị lai một cách lâu dài. Bây giờ chúng ta đặt sự tu ở đâu? Không chịu quay lại nội tâm, không chịu hướng dẫn mọi người quay lại quán xét các cảm thọ, tư duy, suy nghĩ mà chúng ta cứ chạy ra ngoài làm những hình thức trống kèn inh ỏi, màu sắc lòe loẹt, làm cho náo nhiệt rình rang lên rồi cuối cùng sự đau khổ không giải quyết được.
Người tu mình ngày càng bận rộn rất nhiều, mà bận rộn những chuyện không đáng để bận rộn lắm, có thể giảm bớt được, nhưng mình không chịu. Vì sao? Mình học, không đi vào những lời dạy nguyên chất , cốt lõi của pháp cho nên từ nhận định không chân xác, chính xác về lời dạy của Đức Phật thì chúng ta sẽ có những cách nhìn, suy nghĩ, hành động không dẫn đến những kết quả thật sự như Đức Phật đã truyền trao và mong muốn cho chúng ta.
Cho nên chúng ta mới thấy ngay cả lời vị thầy của mình nói, ngay cả lời vị bổn sư của mình nói, mà ngay cả lời của Minh Thành các vị đừng tin. Hãy xét xem lời nói đó kêu mình rời khỏi tham, sân, si hay xúi giục, khích lệ mình đi vào tham muốn, nóng giận, bản ngã. Hãy tự mình suy xét và rõ biết rồi quý vị hãy tin. Tuyệt vời không? Đâu phải lúc nào thầy mình nói ra cũng đúng hết, không phải. Nói ra có đúng trí tuệ, Chánh pháp không, nói ra có căn cứ vào Thánh ngữ, Thánh pháp, Thánh đạo, Thánh trí không? Hay lúc đó nói lời của phàm tình?
“Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân”.
Dạy như vậy rồi cũng không dừng lại, chúng ta thấy không, Vị Thánh đệ tử nào lìa tham muốn, lìa sân hận, lìa si mê như vậy, tỉnh giác, Chánh niệm, tâm hòa quyện với lòng thương, lòng xót, bi mẫn, hòa quyện đối với pháp, vui vẻ, hoan hỷ, hạnh phúc, tâm hòa quyện với sự buông xả, buông bỏ, xả li cùng khắp hết một phương, hai phương, ba phương, bốn phương như vậy, cùng khắp cả thế giới, trên dưới, bề ngang, bề dọc, tất cả các phương xứ, vô biên giới cùng khắp. Vị ấy an trú, biến mãn tất cả tâm cùng chung với lòng thương, lòng xót, lòng hoan hỷ, hạnh phúc, lòng buông xả, quảng đại như vậy, đại hành như vậy. Là một tâm rộng lớn, vô biên, không bờ, không giới hạn, không giận, không hờn ai.
Vậy vị Thánh đệ tử này với một tâm không oán giận ai như vậy, không sân, không một chút uế nhiễm, nhơ bợn, thanh tịnh, trong sạch ngay trong hiện tại, vị ấy đạt được bốn sự an ủi. Cho nên sau khi chúng ta lo phần nhiếp phục tham, sân, si, song song đó chúng ta thực tập bốn tâm vô lượng. Chúng ta nhớ đừng quên thực tập bốn tâm vô lượng hằng ngày, không đợi tới lúc lên thiên đường. Mình đang đi bộ như vậy mình nhớ trải tâm từ; có chuyện gì thấy bất ổn nhớ trải tâm xả.
Mình học thuộc bài “Trải” phần sau rất dễ, thuộc một bài là thuộc hết tất cả những bài khác. Nắm được đại ý, cốt lõi bên trong, nếu thuộc lòng hết thì quá tuyệt vời, thường trú trong tứ vô lượng tâm này. Tâm mình rộng mở, rộng lớn, vô biên, cùng khắp, còn không trú trong tâm này thì tâm mình rất nhỏ hẹp, dễ buồn, thương, giận, ghét. Mà trú trong bốn tâm này làm tâm mình rộng mở, rộng lớn, vô lượng. Như vậy, người này được bốn sự lợi ích, bốn sự an ủi lớn, sau khi chết sanh cõi lành, ngay trong hiện tại sống với tâm an lạc, không giận ai. Nếu có những lỗi lầm vô tình, vị này không phải chịu những cảm thọ thống khổ. Điều thứ tư là vị này từ vô tình hay cố ý, vị này hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch, không làm những điều ác.
Đức Thế Tôn giảng bài kinh này rồi, các vị lạy dưới chân Đức Phật, xin trọn đời quy ngưỡng, xin làm đệ tử tại gia, cư sĩ. Qua bài kinh chúng ta thấy được Chánh tin của Phật giáo, niềm ti đúng theo thật sự lời Đức Phật dạy là gì? Chớ vội tin bất cứ điều gì bên ngoài mà hãy tin ở chỗ mình thấy rõ tham, sân, si là đưa đến đau khổ, tội lỗi. Sự phát giác, phát hiện, nhiếp phục và tẩy sạch tham, sân, si là hạnh phúc, an lạc, phước báu ngay trong hiện tại và tương lai. Chúng ta nắm vững cốt lõi đó để lấy nó làm định lý, chuẩn mực, thước đo, kim chỉ nam trong pháp học, pháp hành từ cư sĩ đến xuất gia trong sự tu học của chúng ta.
Cứ lấy tham, sân, si để làm chuẩn, nếu nó sanh khởi, phát triển là ác bất thiện pháp, là đau khổ, bất hạnh lâu dài, có tội. Nếu nhiếp phục, diệt tận tham, sân, si là thiện pháp, hạnh phúc, phước báu, được người trí tán thán, khen ngợi, là tứ vô lượng tâm, hoa trái, là ngôi nhà an ổn cho chúng ta. Như vậy hôm nay chúng ta tìm hiểu xong bài kinh rất tinh túy của Đức Thế Tôn.