Kinh Nikāya Giảng Giải - Giới Hạnh - Nhục Nhã Sanh Thánh Quả
Kinh Nikāya Giảng Giải
GIỚI HẠNH
NHỤC NHÃ SANH THÁNH QUẢ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn dấu chân voi PAGEREF _Toc90109267 \h 1
II. Đức Phật dạy về ví dụ dấu chân voi PAGEREF _Toc90109268 \h 8
III. Sự thù thắng của Như Lai PAGEREF _Toc90109269 \h 12
IV. Tàm quý PAGEREF _Toc90109270 \h 16
V. Giới hạnh PAGEREF _Toc90109271 \h 21
VI. Lục hòa PAGEREF _Toc90109272 \h 24
I. Bốn dấu chân voi
Ngày hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh “Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi”. Bài kinh này chuyển tải rất nhiều vấn đề về giới đức, thiền định và trí tuệ cũng như sự xưng tán Đức Như Lai. Nội dung chứa đựng rất nhiều những giáo pháp nền tảng, căn bản, sâu sắc và rộng lớn. Phần đầu tiên chúng ta sẽ nghe diễn đọc lại nội dung của bài kinh, số Hai mươi bảy, Trung Bộ tập I.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika:
– Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy?
– Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây”
(Kinh Trung Bộ - Bài Kinh số 27 – Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi)
Trong kinh, người đó có hai tên hoặc có khi dùng họ cho nên mình sẽ thấy tại sao tên khác nhau nhưng thật sự là cùng một người.
– Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không?
– Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Samôn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.”.
Tức là tôi so với tôn giả Gotama rất nhỏ bé, nhỏ bé, chỉ có những người nào ngang hàng với Ngài mới thật sự biết được Ngài là bậc trí tuệ như thế nào. Vị này với một lòng chân thành tán thán về Đức Phật với một lời tán thán tối thượng. Tức dùng hết lời khen ngợi Đức Phật. Ngài khen rằng:
“– Tôn giả Vacchayana thật sự tán thán Sa-môn Gotama với lời tán thán tối thượng.
– Này Tôn giả, tôi là ai mà có thể tán thán Samôn Gotama, bậc tối thượng được tán thán trong các bậc được tán thán, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
– Nhưng Tôn giả Vacchayana thấy được lý do gì ở Sa-môn Gotama mà Tôn giả có lòng tin tưởng như vậy?
– Này Tôn giả, như một người săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết luận: "Con voi này là con voi lớn".
Thành ra bài kinh “Dụ Dấu Chân Voi” này không phải tự nhiên Đức Phật nói, mà nó có duyên từ các vị du sĩ và Bà-la-môn nói chuyện với nhau. Hôm trước mình học Đại Kinh về Ngài Xá Lợi Phất, bây giờ học Tiểu Kinh, do Đức Phật nói. Nhưng trước khi Đức Phật nói, các vị Bà-la-môn và du sĩ này đàm đạo với nhau. Người du sĩ này dùng ví dụ giống như người đi săn voi, người này đi vào khu rừng có voi ở, thấy dấu chân voi rất lớn. Dựa vào bề dài, rộng, ngang, người đó kết luận đây là con voi lớn sau khi đã thấy được dấu chân.
“Cũng vậy, này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Thế nào là bốn?
Ngài là bậc thế gian tôn kinh, bậc thấy biết một cách thấu đáo cùng tột, những lời dạy của Ngài rất khéo léo. Những người đệ tử bỏ gia đình đi theo Ngài tu hành, hành trì một cách hết sức thiện xảo. Như vậy, xin thưa Ngài, tôi thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama. Bốn dấu chân như thế nào chúng ta sẽ thấy vị du sĩ này trình bày với ông Bà-la-môn từng dấu chân một khi ông nhìn nhận về Đức Phật.
“Tôi thấy ở đây có một số Sát đế lỵ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Họ sắp đặt câu hỏi: "'Chúng ta, sau khi đến, sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này". Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Được Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này của Sa-môn Gotama, Tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì".
Đầu tiên, tôi thấy những người Sát đế lỵ bát học, tức những người trong giai cấp quan quyền, hoàng tộc, học rộng, tế nhị, nghị luận, biện luận, biện tài, biện bác như “chia chẻ sợi tóc”. Những vị này đi đến chỗ này, chỗ kia, muốn đả phá cái nhìn, lập luận mà họ cho rằng sai lầm bằng trí tuệ của họ. Những vị này nghe Sa-môn Gotama đến thăm một ngôi làng hay ngôi thị trấn nào, họ sẽ chuẩn bị sắp đặt câu hỏi, chúng ta sẽ đến và sẽ hỏi những câu này. Khi Sa-môn Gotama bị chúng ta hỏi sẽ trả lời như vầy, rồi chúng ta sẽ chất vấn thế này, thế kia. Tức những vị này nghe tin Đức Phật tới vùng nào, các ông chuẩn bị sẵn câu hỏi, những vấn đề khó khăn, mắc mứu để tới chất vấn.
Nhưng những vị này đi đến chỗ Đức Thế Tôn, Thế Tôn với pháp thoại, khích lệ, làm cho họ phấn khởi, vui vẻ, hoan hỉ với pháp thoại, họ lại không hỏi những câu đã định trước, những câu khó khăn, hóc búa, chất vấn đã chuẩn bị sẵn. Khi tới gặp, Đức Thế Tôn với tâm từ ái, một sự điềm tĩnh, lan tỏa cảm thọ của tình thương, của từ dung, bi mẫn. Các vị này đi tới rồi lại quên hết những câu hỏi đã vắt óc chuẩn bị, soạn thảo ra những vấn đề hóc búa để chất vấn, gây khó cho Đức Phật. Khi tới rồi, Đức Thế Tôn dùng pháp thoại, với lời khích lệ làm cho họ hoan hỉ, phấn khởi, tự nhiên họ quên hết những câu đã chuẩn bị trước. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Trước kia, họ muốn trở thành đối thủ, địch thủ, có những sự khẩu tranh, cạnh tranh, tranh luận. Nhưng bây giờ họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama, “này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác. Ngài là bậc thấy biết chính xác, thấu đáo, chân chánh cùng tột, “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Chúng ta nhớ đây là dấu chân thứ nhất để mai mốt trả bài, tính tới chất vấn mà khi đến rồi lại trở thành đệ tử.
“Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Bà-la-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe... (như trên)... trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì".
Hồi nãy là giới quan quyền, hoàng tộc, tri thức; bây giờ là giới Ba-la-môn tu hành, tu sĩ bác học, học rộng, nghiên cứu sâu sắc, cũng có những tài hùng biện, biện luận, lý luận, dạng “chia chẻ sợi tóc”. Nói một từ ngắn gọn, chúng ta hiểu “chia chẻ sợi tóc”là như thế nào, tức những vấn đề hết sức nhỏ nhặt mà những vị này chia ra, chẻ ra, phân tích ra. Họ cũng đi chỗ này, chỗ kia, muốn lý luận, phá hết những lập luận, tư tưởng của người khác. Nhưng khi họ nghe Đức Thế Tôn đi đến chỗ nào họ cũng chuẩn bị những câu chất vấn, gây khó nhưng tới khi họ tới rồi lại trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Đó là hạng người thứ hai: các tu sĩ Bà-la-môn bác học, là dấu chân thứ hai của tôn giả Gotama nên tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Dấu chân thứ hai là những Bà-la-môn bác học muốn tới tranh luận nhưng trở thành đệ tử. Dấu chân thứ ba là gì? Một số gia chủ bác học. Thứ tư là một số Sa-môn bác học. Khi này Bà-la-môn là chuyên cho giới Bà-la-môn, con Sa-môn có nhiều dạng tu hành khác nhau.
Vậy là giới Sát-đế-ly của hoàng tộc trí thức, giới Bà-la-môn bác học, giới của gia chủ bác học và giới tu hành của Sa-môn bác học, tức cuối cùng mới là giới tu hành. Hồi nãy là Bà-la-môn chỉ chuyên về giai cấp Bà-la-môn. Những vị này cũng y như vậy, đi đến chất vấn, làm khó nhưng các vị này đi đến rồi, được Sa-môn Gotama “với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Được Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định sẵn), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin phép Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Samôn Gotama cho họ được xuất gia.
Được xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, và không bao lâu tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, ngay trong hiện tại, mục đích tối thượng của phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: "Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt. Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải là Bà-la-môn lại tự xem là Bàla-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán".”.
Khi họ đã tu tập, chứng ngộ, đoạn tận tham, sân, si; thành tựu cứu cánh phạm hạnh, tẩy sạch hết tất cả các lậu hoặc, tự thân chứng ngộ, tự tri, tự giác, tự chứng, tự an trú. Bây giờ họ mới phát nên những lời cảm thán: "Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt”. Nếu chúng ta không gặp Thế Tôn, không gặp tôn giả Gotama, bậc Đại đạo sư, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta gần như hoại vong, hoại diệt.
“Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn không phải là Bà-la-môn lại tự xem là Bàla-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán. Khi tôi thấy dấu chân thứ tư của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì""
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Janussoni, từ cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, bước xuống, đắp thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn vái lạy, và thốt ra ba lần cảm hứng ngữ sau đây: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Rất có thể, chúng ta sẽ gặp Tôn giả Gotama tại một lúc nào, một chỗ nào đó. Rất có thể, sẽ có một cuộc đàm luận".
Ông Bà-la-môn này nghe nói như vậy rồi, ông bước xuống xe, bày vai bên phải, tỏ ra hành động cung kính, kính lễ, chắp tay lên và cúi đầu xuống. Xin dùng đỉnh đầu cao nhất của mình, lạy xuống dưới chân thấp nhất của tôn giả Gotama – bậc thế gian tôn kính, bậc sạch hết tham, sân, si; bậc thấu suốt cùng tột sự thật của vạn vật ba lần. Và ông nói rằng rất có thể chúng ta sẽ gặp tôn giả Gotama vào một lúc nào đó, ở nơi nào đó, sẽ có cuộc đàm luận thưa hỏi về giáo pháp đối với tôn giả Gotama. Hết đoạn đó là một cuộc gặp gỡ, nghe người ta nói lại đã xong. Bây giờ qua đoạn thứ hai này, ông Bà-la-môn Janussoni đích thâ đi đến chỗ Thế Tôn.
“Rồi Bà-la-môn Janussoni đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni đem tất cả câu chuyện của Du Sĩ Pilotika, thuật lại với Thế Tôn. Sau khi nghe vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Janussoni”
Ông du sĩ lúc nãy nói bốn dấu chân voi. Dấu thứ nhất là các Sát-đế-lỵ bác học muốn chất vấn nhưng trở thành đệ tử, dấu thứ hai: các Bà-la-môn, dấu thứ ba: các gia chủ, dấu thứ tư: các Sa-môn tu hành. Bốn giai cấp, bốn tầng lớp này lúc đầu nghĩ muốn chống đối, muốn chất vấn, muốn gây sự, gây khó, muốn làm khó, tranh luận… Nhưng đi tới muốn trở thành đệ tử tại gia, đệ tử xuất gia và những bậc A-la-hán. Đó là bốn dấu chân.
II. Đức Phật dạy về ví dụ dấu chân voi
Đức Thế Tôn sau khi nghe kể, tường thuật lại, Ngài nói rằng:
“– Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Này Bà-la-môn, với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách rộng rãi, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:
– Thưa vâng, Tôn giả”
Bây giờ mới chính thức đi vào kinh, nãy giờ mới chỉ là mở đầu duyên khởi bài kinh. Dấu chân voi như thế nào để đúng tầm mức, được đầy đủ một cách rộng rãi? Ông muốn nghe Ta sẽ nói, ông phải lắng nghe và khéo suy nghĩ, khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
Bà-la-môn Janussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
– Này Bà-la-môn, ví như một người săn voi vào một khu rừng có voi ở. Người đó thấy một dấu chân voi lớn trong rừng voi, dài bề dài và rộng bề ngang. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy”.
Chúng ta thấy khác một chút ở phần cuối thôi, thành ra mình đọc mà không để ý, thấy giống như ở trên, liền phớt qua không đọc là thiếu sót. Cũng giống y như trên, Thế Tôn nói dù cho người săn voi thấy dấu chân lớn rồi, họ không đi đến kết luận dấu chân này chắc chắn là to lớn, tại sao vậy? “trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn”. Nó không phải voi đực, không phải voi to lớn, mà đây là voi cái lùn thấp, nhưng dấu chân nó vẫn lớn.
Đây là lý do tại sao Thế Tôn được gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài biết tất cả những vấn đề khác chứ không phải nhìn thấy dấu là xong, vì có những loại voi cái lùn, thấp nhưng dấu chân nó vẫn lớn cho nên không đi đến kết luận. Ngài đưa thêm trường hợp thứ hai nữa là có người cũng thấy dấu chân như vậy nhưng không đi đến kết luận con voi này chắc chắn to lớn, vì sao?
“Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, và những vật cao đều bị cọ xát. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy”
Khi nãy là loài voi lùn, bây giờ là loài voi cái có ngà nhưng vẫn là voi cái, nó không lớn bằng voi chúa.
“Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi, một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, và những vật cao bị ngà voi cắt chém. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà lớn, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy.
Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn".
Chúng ta thấy không, chỉ trong ví dụ của Đức Phật thôi mà đã xác đáng như vậy. Trong bài kinh này mình học được rất nhiều thứ. Mình mới nhìn sơ đã vội kết luận, Đức Thế Tôn nói đây là thợ săn voi, mà trong rừng voi, người này thấy dấu chân cũng chưa chắc chính xác. Thấy dấu cành cây bị cọ quẹt, bị gãy cũng chưa đúng; thấy những chỗ bị cắt chém cũng chưa đúng. Người này đi theo tới tận cùng, vào tới trong rồi, người này thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời. Nó đang đi, đứng, ngồi hay đang nằm, người đó mới kết luận đây thật sự là con voi đực lớn.
Còn ông khi nãy chỉ ví dụ điều số một, không thấy bóng dấu chân voi, Thế Tôn nói điều đó chưa sâu sắc, rộng lớn. Đây mới chỉ nói ví dụ, chưa nói pháp, một hồi pháp dụ mới hợp với nhau. Tức từ ví dụ này mới hợp pháp nghĩa nên bây giờ tại sao mình tu lại không tìm ra được, ý chỉ nói tìm ra được pháp học chân chính, chính xác lại chưa được nữa? Vì mình mới thấy dấu chân nghĩ là voi lớn, không cần nói gì nhiều. Mình thấy người ta làm nên làm theo, người ta sao mình vậy, nghĩ vậy là đúng rồi. Mình mở cuốn kinh “Như thị ngã văn, nhất là Phật tại”, nghĩ đã đúng rồi. Chúng ta thấy chưa, đọc, nghe rồi thực hành điều đó coi nó hết tham, sân, si không, coi nó đánh gục được bản ngã không, coi nó tẩy sạch được lậu tận không?
Cho nên, tâm thường của phàm phu là một tâm hời hợt, cẩu thả, cạn cợt và ưa thích những điều dễ, không thâm sâu, thấu đáo, triệt để vậy nên những chữ trong mười hiệu của Đức Phật rất sâu sắc: Chánh Biến Tri hay Chánh Đẳng Chánh Giác, những chữ đó nghĩa không hàm ý hết. Mình đọc ro ro như vậy, nhưng để thật sự hiểu nghĩa của nó cũng cả một vấn đề. Chữ Chánh Đẳng Chánh Giác nghĩa nó rất khủng khiếp, giác ngộ được rồi, tại sao phải thêm chữ “Chánh”? Giác là biết, nhưng liệu biết có đúng không? Chữ Chánh đó là chính xác, đúng.
“Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn".
Ở đây Đức Thế Tôn ví dụ cho bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên có những người cũng tự xưng là A-la-hán, như những Ngài trước, cũng tưởng mình là A-la-hán. Rất nhiều người như vậy, ngay cả thời đại bây giờ cũng vậy nữa, người ta tưởng đâu đã chứng cùng tột rồi. Thành ra, lời dạy của Đức Phật rất sâu sắc trong sự tu học của chúng ta. Từ pháp học cho đến pháp hành, rồi pháp thành. Nếu mình cứ phớt phớt, dễ dàng cho qua, không cẩn thận, tinh vi, tế nhị, thâm sâu, triệt để thì sự tu của mình chỉ phớt phớt bề ngoài chứ không đi đến giải thoát được, không thật sự diệt tận được tham, sân, si, tẩy sạch tất cả lậu hoặc. Phá vỡ hoàn toàn guồng máy của ngũ uẩn, vô minh, lậu hoặc và bản ngã không phải dễ dàng.
Đó là xong phần ví dụ, bây giờ tới phần pháp. Chúng ta nhớ, đó là phần thứ hai của bản kinh, mình đọc phải biết chia ra từng đoạn. Ở đây Minh Thành chỉ luôn cho tăng ni sinh và giảng sư sau này biết cách giảng kinh: mình phải thấy rõ được từng phần từng phần trong bài kinh. Phân đoạn ra, từ chỗ nào là ví dụ của người ta, của các ông Bà-la-môn, du sĩ, rồi mới tới ví dụ của Đức Phật, tới phần thứ ba là pháp dụ hợp nhất. Nãy giờ mới chỉ ví dụ chứ chưa nói giáo pháp, bây giờ Đức Thế Tôn mới bắt đầu đưa ra pháp.
III. Sự thù thắng của Như Lai
“Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”
Câu này xin mời quý thầy cô đọc bài “Trí Đức Như Lai” trong quyển “Nghi Thức Tu Học Nikāya” có giải thích kỹ mười đức hiệu này. Mỗi một đức hiệu là một bài kệ, khoảng một chục câu hơn.
“Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người… khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch”
Chữ “thắng trí” là một trí tuệ thù thắng, đặc biệt, không phải trí huệ của người bình thường, không phải sự thấy biết của thường tình, thế trí biện thông. Sự thông minh lanh lợi, thấy biết thường tình của thế gian nên gọi là “thắng”, nó là ưu thắng, đặc thắng, thù thắng, tối thắng, khác với chúng ta. Cho nên tại sao mỗi chữ người ta đề đều có ý nghĩa. Nhất là lớp giảng sư của chúng ta phải để ý, đọc kinh phải thật kỹ, từng chữ, từng câu, từng đoạn, từng ví dụ để sau này chúng ta ra lớp vì chúng ta là lớp giảng sư. Phải nhớ chỗ đó, nhấn mạnh chữ“thắng trí”, nó không phải trí tuệ bình thường mà là trí tuệ ưu thắng, thù thắng, vượt thắng, tối thắng.
Với trí tuệ đó, Ngài mới tự thân chứng ngộ được thế giới này, thế giới này tức là ngũ uẩn. Khi chứng ngộ rồi, Ngài tuyên thuyết điều đã chứng ngộ, trong lời dạy, lời nói của Ngài, chữ “sơ thiện” ở đây mình nói nghĩa bình thường tức tốt ở ban đầu, tốt ở chặng giữa và tốt ở sau cùng. Nhưng mình nói rốt ráo chữ “thiện” ở đây là chí thiện, tức cứu cánh. Tức những lời Ngài nói từ khi chứng ngộ dưới cội bồ đề cho đến khi nhập diệt ở Ta La Song Thọ, ở quãng giữa đó, tất cả những lời nói của Ngài không bao giờ khác được, không bao giờ sai được, lệch được, gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, chính xác hoàn toàn.
Từ lúc mở lời dưới cội bồ đề, bài kinh đầu tiên chứng ngộ: “Lang thang bao kiếp sống. Ta tìm như không gặp” cho đến khi Ngài nói kinh “Đại bát Niết Bàn” trong kinh Trường Bộ chứ không “Đại bát Niết Bàn” phải sau này. Ở đoạn giữa, bao nhiêu năm trời, tất cả những lời gì của Ngài nói không bao giờ có thể sai khác được. Như vậy gọi là ban đầu tốt lành, chặng giữa tốt lành và cuối cùng tốt lành, rốt ráo, chân thật, cứu cánh, viên mãn, không sai, “có nghĩa có văn”, văn nghĩa đầy đủ. Tức lời văn tuyệt diệu, ý nghĩ tuyệt vời gọi là “có nghĩa có văn”. Văn chương chúng ta đọc có thấy tuyệt vời không?
Trên thế giới này không ai có thể sánh nổi văn chương trong tạng kinh Nikāya. Như trong bộ kinh “Pháp cú”, cách dùng từ của Đức Phật siêu việt thế và xuất thế, không có một vị thứ hai có thể dùng từ ngữ được như vậy, trong tạng kinh mình đọc, mình đọc nhiều đi rồi sẽ thấy. Tức đó là văn, còn nghĩa là nghĩa lý chứa đựng bên trong đầy đủ, không thiếu sót. Không ai có thể thêm một chữ hay bớt một chữ của Đức Phật, trong bài kinh “Thanh tịnh”, kinh Trường Bộ, chúng ta đọc trong đó.
Nếu người nào nghĩ rằng có thể thêm một chữ vô đây hay có thể bớt trong kinh này, thì người đó thấy mà không thấy, nghe mà giống như không nghe. Vì pháp của Đức Phật tự nó đã là tròn đầy, đủ đầy, viên mãn, không thiếu cũng không dư. Chúng ta nắm vững tinh thần đó rồi mình mới thấy, rất tuyệt vời, trong tạng kinh Nikāya này tối tôn, tối thượng, tuyệt diệu, vi diệu, thần diệu, thánh diệu, thù diệu, thắng diệu. Như vậy gọi là văn nghĩa đầy đủ, Ngài giảng dạy phạm hạnh đã hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.
Những lời Ngài dạy để làm một đời sống trong sạch đã đầy đủ, không còn thiếu sót bất cứ một khía cạnh nhỏ nhiệm nào. Nếu thực hiện đúng theo lời dạy trong kinh thì tất cả những đức hạnh trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện đã đầy đủ hết trong đó, không thiếu.
“Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
Chúng ta thấy văn chương mà Đức Phật sử dụng không, “Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không”. Chúng ta hãy chiêm nghiệm, quán chiếu những câu này, đó là văn nghĩa mà chỉ cần đọc một chút là thấy. Những hình ảnh, ví dụ, ngôn ngữ, từ ngữ mà Đức Phật sử dụng siêu tuyệt, “có nghĩa có văn”, văn nghĩa đầy đủ, văn chương và pháp nghĩa, nghĩa lý.
Đời sống gia đình đầy những trói cột, “thê thằng, tử phượt”, vợ dây, con cột. “Đời sống gia đình đầy những triền phược”, đi đâu phải xin, hằng ngày phải lo cơm áo gạo tiền, hở một chút giận, phiền, cự cãi, hở một chút là có chuyện, ràng buộc, cột trói, hệ lụy với nhau. Đó là mới nói tới vợ chồng, còn mẹ con, anh em, chị em, em vợ, em chồng, em dâu, em rể… Bao nhiêu những vấn đề trong đó, sống phải lo lắng, dòm ngó. Người ta dòm mình, mình cũng phải dòm người ta, canh chừng nhau. Giàu chúng ghét, nghèo chúng khinh, bởi vậy:
“Sống sao cho vừa lòng người.
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê”
Giỏi quá thì chúng ghét, dở quá chúng khinh khi, giàu chúng không ưa mà nghèo chúng xem thường. Đó là trong gia đình chứ đừng nói chi ở ngoài, thành ra “đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời”. Từ “bụi đời” này rất hay, bây giờ người ta dùng từ này là xuất phát từ tạng kinh Nikāya. Họ đi đâu đó? Đi “bụi đời”! Cho nên mình người tu đừng để dính ““bụi đời”. “Bụi đời” là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp gọi là sáu trần – sáu thứ bụi đời.
Sắc làm cho mình dính bụi, tiếng là cho tâm mình dơ, thân mình dơ, bị mùi vị làm cho thân mình dơ. Sự tiếp xúc làm cho mình dơ, bẩn, nhiễm, bị những thọ, tưởng, hành, những cảm giác nghĩ tưởng bên trong làm cho mình dơ đi, tâm mình không trong sạch nữa, không an tịnh, lắng dịu nữa mà sôi sục, sôi nổi, nổi loạn. Như vậy là “con đường đầy những bụi đời”, bụi tham, sân, si, bụi hơn thua, ganh tị, bụi đố kỵ, tranh giành, tranh đấu, tranh hơn, tranh thua, bụi so đo, tính toán, dòm ngó.
Còn “Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không”, phóng khoáng là rộng lớn như bầu trời, không bị ai ràng buộc, trói cột, tự do, tự tại, độc cư, độc tọa – ngồi một mình, độc bộ - đi một mình, độc trú – nhập thất ở một mình, độc hành – bước một mình. Chữ “độc” ở đây là một mình chứ không phải có độc. Trong kinh Pháp Cú có nhiều câu hay nói về chuyện ngồi một mình, đi một mình, an vui một mình. Cho nên, thật sự rất khó cho một người ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, rất khó, “trắng bạch như vỏ ốc”. “Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Thế Tôn nói, dù người giàu có hay ở giai cấp hạ tiện, thấp hèn nhất, sau khi nghe pháp rồi, người ấy sanh khởi lòng tin kính thì người đó suy nghĩ như vậy.
“Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy thành tựu học giới và nếp sống các Tỷ-kheo”
Chữ “giới” là giới đức, đức hạnh, chữ “tăng thượng” là lên thêm. Tức bước đầu tiên của người tu là làm cho đức hạnh, đạo hạnh, sự trong sạch của mình tăng thêm lên. Hồi xưa mình dính đầy những bụi đời, nhiều những trói buộc, triền phượt. Bây giờ mình có một đời sống phóng khoáng như hư không và đời sống bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không gia đình.
IV. Tàm quý
Tiếp theo mình phải làm gì? “Thành tựu học giới”, tức làm cho đức hạnh, đời sống của mình thanh sạch, trong sạch, thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Muốn vậy, vị đó phải thực hành những điều sau đây:
“Từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình”.
Bỏ trượng là bỏ gậy, bỏ kiếm, biết xấu hổ và sợ hãi, biết tàm quý. Những điều này là nói tắt, chúng ta phải về nghe thêm, từng pháp như vậy phải thực tập ba năm, mười năm, hai mươi năm, chỉ một chữ “biết tàm quý” thôi là chúng ta học, mười năm thực tập chứ không phải nói vậy là xong. Từ bỏ sự giết hại sinh mạng, dù sinh mạng có tịnh thức hay sinh mạng không tịnh thức, tức cây cỏ, cây cối, vì nó cũng là sự sống nhưng không có tịnh thức. Cho nên “hữu tình chúng sanh, vô tình chúng sanh” là vậy. Vị này “Từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ gậy, bỏ kiếm” , biết xấu hổ và sợ hãi đối với những điều xấu ác và bất thiện pháp.
Biết xấu hổ, sợ hãi, lo lắng, biết bất an, đau đớn, ray rứt, nhục nhã khi mình đã có những điều bất thiện, những điều ác, tội lỗi, cấu uế, bụi bặm trong thân tâm. Mình lấy làm lo sợ, lo lắng, khổ sở, nhức nhối, ray rứt, bứt rứt, đau khổ và mình muốn thoát ra, lìa xa, bước lên, bước ra, đi ra, từ bỏ, hướng đến sự trong sạch, thanh tịnh, hoàn thiện, cao thượng, thánh thiện. Như vậy gọi là “biết tàm quý”.
Những gì trong giới pháp mình chưa làm được, cảm thấy xấu hổ, tội lỗi, bất an, ray rứt, đau nhức, thấp kém, hèn hạ, hạ liệt. Và mình luôn luôn suy nghĩ làm sao để viễn ly, rời ra, xa ra, thoát ra, đi ra. Mình đau khổ, lo sợ với những điều đó, thấy xấu hổ, nhục nhã với những thứ đó. Như vậy gọi là “biết tàm quý”. Đây là cả một pháp tu mà mình phải hành trì mười năm, hai mươi đến ba mươi năm, thậm chí suốt đời, vì đây là pháp đưa đến Thánh quả, nhục nhã sanh Thánh quả.
Nếu một người tu xuất gia mà không tàm quý, người này không bao giờ có thể nhập lưu, không bao giờ thể nhập vào dòng pháp. Vì trình tự của pháp là vậy, mai mốt mình sẽ học bài kinh “Tàm quý”. Điều này hết sức quan trọng, một người xuất gia mà không có tâm lo lắng và sợ hãi, xấu hổ và nhục nhã đối với ác bất thiện pháp, đối với những điều tội lỗi, sai phạm, người này không bao giờ có cơ hội bước vào dòng trí huệ thật sự của Phật, không bao giờ trở thành một người xuất gia chân chánh được.
Đây là đặc tính, đặc chất, đặc hữu, bản chất, bản tánh của người xuất gia. Mà bây giờ cái này rất hiếm, rất ít, thậm chí trong khi mình học cũng rất ít những pháp học, pháp hành về điều này. Chính vì vậy mà chúng ta thấy, ngày nay, uy tín và sự tôn trọng đối với người xuất gia càng ngày càng giảm là vì mất đi điều này. Minh Thành có chia sẻ nhiều chủ đề về bài này, mong các thầy các cô lên trang Linhquyphapan để nghe về những chủ đề này. Điều này hết sức quan trọng, chúng ta mở kinh Nikāya, mục của những bài kinh về tàm quý, xem thật kỹ cũng chưa hiểu mà phải nghe bài Minh Thành chia sẻ. Vì trong đó, Đức Phật đa phần nói tắt, chỉ một chữ như vậy mình không cảm nhận được.
Thành ra, một người chân tu thật học, pháp tàm quý này là điều quyết định trong sự tu. Nếu không có nó, người này không thể thành tựu đức hạnh được. Điều này hết sức quan trọng! Vì khi chúng ta đã học cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn rồi sẽ đọc được những suy nghĩ trong tâm mình, những cảm giác sanh khởi và những hình bóng. Khi mình nhìn thấy như vậy rồi, điều gì xấu, ác, dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đều hiện ra hết. Mình thấy như vậy mà mình trơ trơ, không thấy xấu hổ, lo lắng, sợ hãi, nhục nhã, hổ thẹn. Như vậy, mình không thể bước vào cửa pháp – pháp môn, pháp ở đây tức Chánh Pháp.
Mà một người trơ trơ, đơ đơ, cứng đơ như vậy, dù cho lỗi lầm gì cũng thấy bình thường, không lo sợ, ray rứt, thao thức, trăn trở. Người này ở ngoài cửa, vĩnh viễn không bước vào cửa pháp – pháp môn được. Khi bước qua được cửa pháp đó mình mới thể nhập được Chánh Pháp. Mình thấy ngoài đời, tại sao người đó họ dám đi giết người, đi ăn trộm, ăn cướp? Dám làm những chuyện gây tội lỗi cực hung, cực ác, đại nghịch bất đạo? Vì họ không thấy sợ, thấy tội, không thấy điều đó là nhục nhã, kinh hãi, kinh hoàng, kinh khủng, khủng khiếp. Chính vì họ không có pháp tàm quý này.
Đức Thế Tôn nói hai pháp xấu hổ và tàm quý này chính là pháp che chở cho thế gian. Nếu không có hai pháp này, con không ra con, cha không ra cha, vợ không ra vợ, chồng không ra chồng, không còn vợ của thầy, con của thầy hay chị em, anh em gì nữa. Thế giới này sẽ trở thành giống như bò, dê, heo, gà. Bây giờ chúng ta thấy, bao nhiêu tệ nạn xã hội là vì mất hai pháp tàm quý này để hộ trì, tức giữ gìn, che chở và bảo vệ cho luân lý, đạo đức, luân thường của thế gian. Mất hai pháp này, thế gian sẽ đảo lộn trật tự, điên đảo. Thành ra điều này hết sức quan trọng.
Mình nói chữ tàm quý này mà không hiểu nghĩa là gì, cứ dịch ra là xấu hổ, như vậy không đủ. Xấu hổ là chữ tàm, chữ quý là sợ hãi, thường ngày xưa mình học tàm quý là xấu hổ, vẫn chưa đủ. Trong kinh Nikāya Đức Phật dùng chữ sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Một lỗi nhỏ khiến mình thấy lo sợ, lo sợ với những lỗi lầm. Từ đó mình mới sợ tôi, không dám làm những chuyện tội lỗi. Thành ra câu dễ nhớ nhất là nhục nhã sanh Thánh quả. Đó là nói tắt của chữ tàm quý – nhục nhã và sợ hãi. Ai mất hai pháp tàm quý này, mất sự sợ hãi và nhục nhã đối với ác bất thiện pháp này, trong giáo pháp người đó coi như chết rồi.
Thành ra chúng ta phải nuôi lớn tâm tàm quý này, tâm lo sợ, hổ thẹn và xấu hổ. Mỗi khi mình sanh khởi lên tâm dục ái mình phải thấy xấu hổ, thấp hèn, nhục nhã cho đời tu mình. Mỗi khi mình sanh khởi lên cảm giác hơn thua với huynh đệ, bức xúc, sân hận, mình thấy nhục quá, hèn quá, tồi bại, hạ liệt, thấp kém quá, nhục ơi là nhục. Mình lấy chữ nhục này coi như gối đầu giường để tu. Khi sanh khởi lên, mình nói nhục, nhục nhã, hèn hạ…
Mình tác ý như vậy để đuổi tham, sân, si, bản ngã, sanh khởi ta đây lên, cho mình là hơn, ta đây là sư tỷ, xuất gia bao nhiêu năm, còn người khác mới vô chùa mà muốn làm sếp tôi? Tôi là sư tỷ, quản chúng, tri sự, trụ trì, phó trụ trì… Nhục quá! Tu mà hơn thua, cao thấp, tranh đua, ganh tỵ. Tu mà để cho nó phát huy, phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh cái tôi, cái ta, bản ngã. Nhục nhã như vầy thì tu làm gì? Mình phải tác ý như vậy. Cho nên đây là bửu bối, là bí kíp. Hôm nay Minh Thành trao bí kíp rồi, pháp hành Nikāya là đây.
Mỗi lần nó sanh khởi lên là hơn thua với huynh đệ, tỷ muội, giận hờn thầy mình hay sư đệ, sư huynh. Mình muốn tranh phần phải, phần đúng, phần hơn. Nhục vừa vừa phải phải thôi! Nhà ngươi bỏ cha bỏ mẹ vô đây để tranh đua, hơn thua, đúng sai, sân si, bản ngã hay sao? Có nhục không? Hèn hạ vừa vừa phải phải thôi. Ta thấy xấu hổ cho mi quá đi, tâm u mê này, ta xấu hổ, nhục cho ngươi quá, không lẽ bây giờ mình đội quần chứ? Nói như vậy đó! Phải dùng những câu nặng như vậy để tâm hơn thua, sân si, bản ngã này phải khuất phục mình. Mình phải làm cho nó khuất phục, phải đánh gục nó. Vô lượng vô biên kiếp nay nó đã đè đầu cưỡi cổ mình rồi, bây giờ phải vùng lên, chiến đấu, lật đổ nó, lật đổ tâm tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái này.
Cho nên nhiều khi ở trong thất, Minh Thành tác ý: bây giờ nhà ngươi lột y xuống, đội quần lên đi, tối ngày bản ngã, hơn thua. Nhục nhã quá! Vô tu có mấy chị em, huynh đệ mà hở một chút là giận, hở một chút là phiền, hở một chút là hơn thua. Nhục gì đâu, không lẽ bỏ cha bỏ mẹ đi vô đây để hơn thua, ganh đua phải quấy này sao? Mình đưa chữ tàm quý này ra bằng chữ xấu hổ, sợ hãi, nhục nhã, thấp hèn, tồi bại, hạ liệt. Tu mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm rồi mà cái ta còn chình ình, đi hất hất mặt lên trời.
Cho nên bây giờ mình tập pháp tàm quý này rất hay, cúi xuống giùm cái đi, hỡi cái tâm này, bản ngã này cúi xuống giùm đi, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn đi. Làm bông lúa chín cho nó quằng xuống đi, đừng chỉa thẳng lên trời, cúi xuống, hạ xuống, thấp xuống, khiêm hạ, khiêm cung, nhún nhường, nhường, nhường nhịn. Cho nên hay chữ tàm quý này là bí kíp sắc pháp, là chìa khóa mở cửa pháp ra để bước vô. Không có hai thứ này, mình chỉ đứng ngoài cửa thôi, bị loại từ bãi đậu xe, không được vô.
Phải an trú trong sự tàm quý này một cách sung mãn. Nhìn vô nội tâm mình, nhìn vô những cảm thọ này, vô những suy nghĩ này hằng ngày, những hình bóng này, mình thấy xấu hổ làm sao. Hết tham rồi tới sân, hết sân tới dục, hết dục tới ái, hết ái tới ta, hết ta, bản ngã rồi tới hơn thua, tranh đua, phải quấy, thị phi, xấu hổ gì đâu. Tu mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, cuối cùng được những đống tham, sân, si, bản ngã siêu to khổng lồ. Đáng thương cho tâm này, đáng thương cho những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác này. Thật đáng thương, tội nghiệp, thương hại, xấu hổ cho mi.
Mình phải tác ý như vậy, đó là những câu nãy giờ Minh Thành chia sẻ cho các thầy các cô những câu mình phải tác ý lúc ngồi thiền. Không thì lúc mình giận hờn, những chuyện xích mích trong chúng xảy ra mình phải tác ý, đừng nhìn lỗi người khác. Mình phải về tác ý, không phân tích hành động, lời nói, cử chỉ của người khác. Phải quay vô mình, rầy mình, quở trách, la mắng, hủy nhục mình. Đó là tu tâm, là sự tu tuyệt vời. Đó là Minh Thành nói tổng quát hai chữ tàm quý, biết tàm quý, có rất nhiều bài kinh nói về nó. “Có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình”. Phải nuôi dưỡng từ tâm của mình, hôm trước mình có nói sơ lược rồi.
V. Giới hạnh
“Từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp”. “Từ bỏ lấy của không cho”- dễ dễ, “ tránh xa lấy của không cho” – cũng có thể, “chỉ lấy những vật đã cho” – cũng có thể. Chỗ này bắt đầu hơi khó: “chỉ mong những vật đã cho” – cái này vô ý nghiệp. Hồi nãy là thân nghiệp, nhưng ở trong tâm mình “chỉ mong những vật đã cho” chứ không phải mong khác, ở ngoài thì không lấy, nhưng trong tâm muốn những thứ người ta không cho đó.
Ví dụ người ta cho trái cây hay món gì đó, mình lại nhìn nhìn, chưa chịu đi, con mắt xin xỏ, đứng nhìn thêm, đó là “chỉ mong những vật đã cho”, đưa rồi thôi, đi liền chứ không đứng nhìn chút nữa. Mình đi khất thực cũng vậy, người ta cho xong rồi, đi chứ đứng lại hoài là không được. Bởi vậy trong này nói về ý nghiệp “lấy của không cho” rất sâu sắc, tham, mong thứ người ta không cho. “Tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp”.
“Từ bỏ không phạm hạnh, sống theo phạm hạnh, sống tránh xa (không phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp”. Sống đời sống trong sạch, giới hạnh của một người tu. “Sống tránh xa (không phạm hạnh) và “ từ bỏ dâm dục tục pháp” đây là thuộc về phần giới của chúng ta. Mình phải có sự quán bất tịnh, quán tứ đại, quán Ba Mươi Hai Thể Trược và phải có sự tác ý.
Phải rất miên mật, rất khít khao, sâu sắc vì điều này là nặng nhất của chúng sanh, chúng tăng. Phải có một sự đầu tư rất lớn, vạch ra chương trình, kế hoạch, có những phương pháp cụ thể để tiến hành tu tập chứ không phải chuyện đơn giản. Nhiều khi mình tu suốt đời cũng chưa diệt tận được tâm niệm, tâm ý. Về dục, phải có một sự quán chiếu rất sâu sắc, tác ý thường xuyên và liên tục. Phải vạch định những kế hoạch tu tập, học hỏi và được sự hướng dẫn, hành trì một cách nỗ lực, sát sao, khít khao trong sự quán chiếu của thân, hành, niệm.Những bài Minh Thành có chia sẻ rồi, các thầy các cô xem về quán bất tịnh, nhập thất chia sẻ về tầm quan trọng của quán bất tịnh, rất nhiều bài.
“Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời”. Y chỉ tức dựa vào những lời “trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy”. Không nói những lời phản phúc, phản trắc, bạc bội, dựa vào sự thật một cách chắc chắn, đáng tin cây. Cái nói láo này thấy vậy chứ rất dễ, nhiều khi mình quen miệng nói chơi cũng nói láo. Thành ra, phải có sự Chánh Niệm và tỉnh giác trong oai nghi, hành động, cử chỉ, lời nói, mình có nhận diện năm uẩn, phòng hộ sáu căn, quán chiếu cảm giác toàn thân, mình có sự để tâm, để ý, từ từ mới có thể nhận diện, ngăn chặn, bảo hộ, bảo trì, phòng hộ cái miệng của mình chứ không rất dễ phạm. Cho nên, giới này là những cái nhỏ nhiệm để nâng cao đức hạnh của mình.
“Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp”. Điều này hay lắm, những cái đức nhỏ này thành tựu công lớn. ““Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia”.
“Những kẻ ly gián” tức mình nghe chỗ này người ta nói, mình không tới chỗ kia nói lại, nghe chỗ kia nói mình không lại chỗ này nói, nói xấu, nói qua nói lại như vậy làm cho hai bên chia lìa, chia ly, rạn nứt, đau buồn, rời xa, xa lánh, chia rẻ. Đó là nói lời hai lưỡi, “đâm bị thóc, thọc bị gạo” tức cái bao đang nguyên lành, chĩa vô một cái làm nó đổ ra, rách ra. Cái này ác lắm, phải cẩn thận, nhiều khi mình nói chơi, vui miệng nói nhưng làm đau khổ cho người ta. Phải hết sức cẩn thận, những điều này ở ngoài đời rất nhiều, người tu không khéo cũng không có ích. Nói làm cho chia lìa, chia rẻ, ly gián, cho tan nát, tan vỡ, chia ly, phân ly.
Ngoài đời đã khổ như vậy, vô chùa cũng tiếp tục. Bây giờ ngoài đời chạy vô chùa, còn vô chùa rồi chạy đi đâu? Hết biết chỗ chạy rồi. Cho nên, ở chùa phải tu tập lời nói. “Sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp”, người ta sống chia rẻ mà có mặt mình, mình làm cho hòa hợp, chỗ đó mới là đức hạnh, giới đức của mình. Người ta đang chia rẻ mà mình làm cho họ hòa hợp, sống hòa hợp giữa những người chia rẻ. Chứ còn bây giờ tu mà chia nhóm, phân nhóm này, nhóm kia, ai không thuận nhóm kia thì chơi với nhóm này, chùa kia không thuận tới chùa này. Tất cả những điều đó là tâm đời, tâm của thế gian, không phải của người tu.
VI. Lục hòa
Cho nên, sống hòa hợp giữa những người chia rẻ, mình làm cho những người chia rẻ đó hòa hợp lại với nhau mới là đức hạnh, tâm đức, phước đức, đạo đức, nhân đức của người tu . “Hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp” hay sao là hay! Đức Phật dạy mình “khẩu hòa vô tránh” trong Lục Hòa, mới hôm qua chúng ta chia sẻ.
“Nhớ mãi không quên biết ân biết nghĩa.
Nhớ mãi không quên hiền thiện, từ bi.
Nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính.
Nhớ mãi không quên diệt tham sân si”
Chúng ta nhớ sự hòa hợp này rất quan trọng trong tăng đoàn, tăng chúng, đạo tràng, tập thể, gia đình. Đây là nguyên lý hòa hợp, mới gọi là “thanh tịnh hòa lạc”, hòa hợp mới an vui, bất hòa trong chúng là không yên, mà không yên thì không tu được, cứ vài bữa có chuyện. Người này nói xầm xì người kia, người kia nói xầm xì người nọ, người này dòm ngó người kia, người kia dòm ngó người nọ, người này nghĩ người kia, người kia nghĩ người nọ vậy làm sao thiền? Tâm sao yên, làm sao an tịnh, lắng dịu?
Cho nên “sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp”. Chúng ta nhớ những điều này, mấy thầy mấy cô phải ghi lại vì nó quan trọng, là bí kíp. Đây là sáu sự hòa hợp, sống với tinh thần hòa hợp, đây là điều thứ nhất, khuyến khích mọi người cùng hòa hợp là thứ hai, vui vẻ trong hòa hợp là thứ ba, thoải mái trong hòa hợp là thứ năm, hân hoan trong hòa hợp là thứ năm, nói những lời đưa đến hòa hợp là thứ sáu.
Đây là Lục Hòa, ở trong lời nói thôi đã có sáu phương châm, phương diện, khía cạnh để mình luôn luôn trong sự hài hòa. Nhiều khi tu thì tu, nói vài ba câu đã xực nhau rồi, nói hai ba câu bắt đầu buồn, giận, vì mình chưa tu tập lời nói, khẩu hành, chưa tu tập tốt cái miệng. Đây là phần lời nói thôi mà Thế Tôn dạy rất kỹ.
“Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy”. Quá tuyệt vời, có nghĩa có văn, câu này phải ghi lại, chép ra, làm bảng dán lên chỗ nhà bếp, ni xá, chỗ Phật tử đến ở. Câu này ngọt như đường cát, mát như đường phèn, thơm như hoa, thấm như mật, đó là lời của Đức Thế Tôn. Đây là Thánh ngôn mà bậc Cháng Đẳng Chánh Giác nói, nó có nghĩa có văn, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Đó là tối thượng ngữ của Đức Phật, lời nói cùng tột của Đức Phật.
“Lời nói nhẹ nhàng, êm tai, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm” từ này mới hay làm sao. Thông cảm đến tâm là sao? Lời nói đó xuất phát từ một trí tuệ thấu hiểu, bản chất ngũ uẩn, tham, sân, si, bản ngã, đau khổ này. Nó khởi lên một lòng thương xót, đồng cảm, bi mẫn, thấu hiểu, cảm thông đến tim của người ta, chạm đến tâm họ. Nói sự thật mà người ta trào dâng nước mắt, cúi mặt xuống, cảm nhận một cách sâu sắc bản chất của đời sống đầy dẫy bất an, đau khổ, vô thường, vô ngã này. Nói những lời như vậy gọi là thông cảm đến tâm, nói mà chạm đến trái tim, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của người ta. Nói mà chạm đến sự thật, chân lý, chạm đến sâu thẳm trong tâm khảm của người ta.
Đó là lời nói từ trái tim, vì nói bằng sự thấu hiểu, bằng Chánh tri kiến, bằng sự thấy đúng sâu sắc về bản chất của tứ đại, ngũ uẩn, đời sống này đầy dẫy bất an và đau khổ, đầy dẫy những vô minh và tham ái. Mà khi hiểu được những điều đó rồi thì thương thật là thương, thương sao là thương, thương vô cùng thương, thương hết chỗ nói.
Từ tâm thương đó mà nói ra là đã chạm đến trái tim của người ta, thông cảm đến tâm, nói bằng tâm từ. Như vậy là những lời “tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy”.Đây là cả một pháp tu, pháp hành để mình thực tập. Ngay cả bên tăng cũng phải thực tập rất nhiều chứ không phải chỉ nói bên ni. Tăng ni, nam nữ gì cũng vậy. Sân si, bản ngã lên rồi là thôi. Mình không thực tập, tu tập điều này, khi cảm giác dâng lên rồi là lúc đó quên hết.
“Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi”. Đó là những điều Đứ Thế Tôn nói với chúng ta về cái miệng có bốn, thân có ba.
““Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm” nói thao thao, nói dài, nói hoài, nói dai, mà nói không có ý nghĩa gì, không vô đâu, không đưa đến đâu. Phải “nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi”. Chúng ta đã học mười đề tài nói chuyện rồi. Mình nói mười chứ thật ra có cả trăm, cả ngàn đề tài. Nói những lời nào đưa đến ly tham, lìa tham, hết sân. Nói những lời nào dẹp bản ngã, hướng đến đời sống thanh tịnh, đưa đến tâm từ bi, hỷ xả, đưa đến sự tăng thượng giới, định, tuệ. Nói những lời ở trong pháp, trong sự thật, nói những lời về khổ, về bản chất của thế gian này.
Đó là những lời cần nói, lợi ích, “đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý”, những lời chân thật, sự thật, có ý nghĩa. Tiếp theo Đức Phật dạy chúng ta: “Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm”. Chúng ta thấy không, trong giới luật của Phật là không làm hại cây cỏ, không chặt cây, phá rừng, bảo hộ sự sống, thiên nhiên. “Dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm” mình nghe điều này thấy thật xấu hổ, ráng giữ gìn.
“Từ bỏ ăn phi thời;
Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn;
Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức;
Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn;
Từ bỏ nhận các hạt sống;
Từ bỏ nhận thịt sống,
Từ bỏ nhận đàn bà, con gái;
Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai;
Từ bỏ nhận cừu và dê;
Từ bỏ nhận gia cầm và heo;
Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái;
Từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai;
Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới;
Từ bỏ buôn bán;
Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường;
Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo;
Từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát).
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm”.
Đó là phần thứ nhất của Thánh giới uẩn – những giới pháp của bậc Thánh mà các vị xuất gia cần phải thành tựu. Vì nếu thành tựu những điều đó, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm. Khi mình thành tựu những đức hạnh, giới điều này, Thánh giới này, trong tâm mình sẽ được an vui, không thấy lầm lỗi, không rơi vào trong Năm triền cái. Mà triền cái trạo hối tức mình thấy lỗi lầm mình ray rứt như lúc nãy nói về tàm quý.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu tới đây. Đó là phần thứ nhất của Thánh giới uẩn, kỳ sau chúng ta sẽ tới Thánh hộ trì các căn, tức sự giữ gìn các căn của bậc Thánh, kỳ này là những giới pháp của bậc Thánh mà người xuất gia cần phải thành tựu.
./.
GIỚI HẠNH
NHỤC NHÃ SANH THÁNH QUẢ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn dấu chân voi PAGEREF _Toc90109267 \h 1
II. Đức Phật dạy về ví dụ dấu chân voi PAGEREF _Toc90109268 \h 8
III. Sự thù thắng của Như Lai PAGEREF _Toc90109269 \h 12
IV. Tàm quý PAGEREF _Toc90109270 \h 16
V. Giới hạnh PAGEREF _Toc90109271 \h 21
VI. Lục hòa PAGEREF _Toc90109272 \h 24
I. Bốn dấu chân voi
Ngày hôm nay chúng ta tìm hiểu bài kinh “Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi”. Bài kinh này chuyển tải rất nhiều vấn đề về giới đức, thiền định và trí tuệ cũng như sự xưng tán Đức Như Lai. Nội dung chứa đựng rất nhiều những giáo pháp nền tảng, căn bản, sâu sắc và rộng lớn. Phần đầu tiên chúng ta sẽ nghe diễn đọc lại nội dung của bài kinh, số Hai mươi bảy, Trung Bộ tập I.
“Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Lúc bấy giờ Bà-la-môn Janussoni, với một cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành Savatthi. Bà-la-môn Janussoni thấy Du sĩ Pilotika từ xa đi đến, sau khi thấy, liền nói với Du sĩ Pilotika:
– Tôn giả Vacchàyana đi từ đâu về sớm như vậy?
– Tôn giả, tôi từ Sa-môn Gotama đến đây”
(Kinh Trung Bộ - Bài Kinh số 27 – Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi)
Trong kinh, người đó có hai tên hoặc có khi dùng họ cho nên mình sẽ thấy tại sao tên khác nhau nhưng thật sự là cùng một người.
– Tôn giả Vacchayana nghĩ thế nào? Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt không? Tôn giả có xem Sa-môn Gotama là bậc có trí không?
– Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt? Chỉ có người như Samôn Gotama mới có thể biết Sa-môn Gotama có trí tuệ sáng suốt.”.
Tức là tôi so với tôn giả Gotama rất nhỏ bé, nhỏ bé, chỉ có những người nào ngang hàng với Ngài mới thật sự biết được Ngài là bậc trí tuệ như thế nào. Vị này với một lòng chân thành tán thán về Đức Phật với một lời tán thán tối thượng. Tức dùng hết lời khen ngợi Đức Phật. Ngài khen rằng:
“– Tôn giả Vacchayana thật sự tán thán Sa-môn Gotama với lời tán thán tối thượng.
– Này Tôn giả, tôi là ai mà có thể tán thán Samôn Gotama, bậc tối thượng được tán thán trong các bậc được tán thán, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người.
– Nhưng Tôn giả Vacchayana thấy được lý do gì ở Sa-môn Gotama mà Tôn giả có lòng tin tưởng như vậy?
– Này Tôn giả, như một người săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết luận: "Con voi này là con voi lớn".
Thành ra bài kinh “Dụ Dấu Chân Voi” này không phải tự nhiên Đức Phật nói, mà nó có duyên từ các vị du sĩ và Bà-la-môn nói chuyện với nhau. Hôm trước mình học Đại Kinh về Ngài Xá Lợi Phất, bây giờ học Tiểu Kinh, do Đức Phật nói. Nhưng trước khi Đức Phật nói, các vị Bà-la-môn và du sĩ này đàm đạo với nhau. Người du sĩ này dùng ví dụ giống như người đi săn voi, người này đi vào khu rừng có voi ở, thấy dấu chân voi rất lớn. Dựa vào bề dài, rộng, ngang, người đó kết luận đây là con voi lớn sau khi đã thấy được dấu chân.
“Cũng vậy, này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Thế nào là bốn?
Ngài là bậc thế gian tôn kinh, bậc thấy biết một cách thấu đáo cùng tột, những lời dạy của Ngài rất khéo léo. Những người đệ tử bỏ gia đình đi theo Ngài tu hành, hành trì một cách hết sức thiện xảo. Như vậy, xin thưa Ngài, tôi thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama. Bốn dấu chân như thế nào chúng ta sẽ thấy vị du sĩ này trình bày với ông Bà-la-môn từng dấu chân một khi ông nhìn nhận về Đức Phật.
“Tôi thấy ở đây có một số Sát đế lỵ bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama sẽ đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Họ sắp đặt câu hỏi: "'Chúng ta, sau khi đến, sẽ hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi này. Khi bị chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế này, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế kia. Khi chúng ta hỏi như vậy, nếu Sa-môn Gotama trả lời như thế kia, thì chúng ta sẽ chất vấn như thế này". Những vị này nghe: "Sa-môn Gotama đã đến thăm ngôi làng này hay thị trấn này". Những vị này đến chỗ Sa-môn Gotama ở. Sa-môn Gotama với pháp thoại, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Được Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định trước), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ nhất này của Sa-môn Gotama, Tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì".
Đầu tiên, tôi thấy những người Sát đế lỵ bát học, tức những người trong giai cấp quan quyền, hoàng tộc, học rộng, tế nhị, nghị luận, biện luận, biện tài, biện bác như “chia chẻ sợi tóc”. Những vị này đi đến chỗ này, chỗ kia, muốn đả phá cái nhìn, lập luận mà họ cho rằng sai lầm bằng trí tuệ của họ. Những vị này nghe Sa-môn Gotama đến thăm một ngôi làng hay ngôi thị trấn nào, họ sẽ chuẩn bị sắp đặt câu hỏi, chúng ta sẽ đến và sẽ hỏi những câu này. Khi Sa-môn Gotama bị chúng ta hỏi sẽ trả lời như vầy, rồi chúng ta sẽ chất vấn thế này, thế kia. Tức những vị này nghe tin Đức Phật tới vùng nào, các ông chuẩn bị sẵn câu hỏi, những vấn đề khó khăn, mắc mứu để tới chất vấn.
Nhưng những vị này đi đến chỗ Đức Thế Tôn, Thế Tôn với pháp thoại, khích lệ, làm cho họ phấn khởi, vui vẻ, hoan hỉ với pháp thoại, họ lại không hỏi những câu đã định trước, những câu khó khăn, hóc búa, chất vấn đã chuẩn bị sẵn. Khi tới gặp, Đức Thế Tôn với tâm từ ái, một sự điềm tĩnh, lan tỏa cảm thọ của tình thương, của từ dung, bi mẫn. Các vị này đi tới rồi lại quên hết những câu hỏi đã vắt óc chuẩn bị, soạn thảo ra những vấn đề hóc búa để chất vấn, gây khó cho Đức Phật. Khi tới rồi, Đức Thế Tôn dùng pháp thoại, với lời khích lệ làm cho họ hoan hỉ, phấn khởi, tự nhiên họ quên hết những câu đã chuẩn bị trước. Trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Trước kia, họ muốn trở thành đối thủ, địch thủ, có những sự khẩu tranh, cạnh tranh, tranh luận. Nhưng bây giờ họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama, “này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác. Ngài là bậc thấy biết chính xác, thấu đáo, chân chánh cùng tột, “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Chúng ta nhớ đây là dấu chân thứ nhất để mai mốt trả bài, tính tới chất vấn mà khi đến rồi lại trở thành đệ tử.
“Này Tôn giả, lại nữa, tôi thấy ở đây có một số Bà-la-môn bác học, tế nhị, nghị luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này chỗ kia, như muốn đã phá các tà kiến với trí tuệ của họ. Những vị này nghe... (như trên)... trái lại, họ trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Này Tôn giả, khi tôi thấy dấu chân thứ hai này của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì".
Hồi nãy là giới quan quyền, hoàng tộc, tri thức; bây giờ là giới Ba-la-môn tu hành, tu sĩ bác học, học rộng, nghiên cứu sâu sắc, cũng có những tài hùng biện, biện luận, lý luận, dạng “chia chẻ sợi tóc”. Nói một từ ngắn gọn, chúng ta hiểu “chia chẻ sợi tóc”là như thế nào, tức những vấn đề hết sức nhỏ nhặt mà những vị này chia ra, chẻ ra, phân tích ra. Họ cũng đi chỗ này, chỗ kia, muốn lý luận, phá hết những lập luận, tư tưởng của người khác. Nhưng khi họ nghe Đức Thế Tôn đi đến chỗ nào họ cũng chuẩn bị những câu chất vấn, gây khó nhưng tới khi họ tới rồi lại trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
Đó là hạng người thứ hai: các tu sĩ Bà-la-môn bác học, là dấu chân thứ hai của tôn giả Gotama nên tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Dấu chân thứ hai là những Bà-la-môn bác học muốn tới tranh luận nhưng trở thành đệ tử. Dấu chân thứ ba là gì? Một số gia chủ bác học. Thứ tư là một số Sa-môn bác học. Khi này Bà-la-môn là chuyên cho giới Bà-la-môn, con Sa-môn có nhiều dạng tu hành khác nhau.
Vậy là giới Sát-đế-ly của hoàng tộc trí thức, giới Bà-la-môn bác học, giới của gia chủ bác học và giới tu hành của Sa-môn bác học, tức cuối cùng mới là giới tu hành. Hồi nãy là Bà-la-môn chỉ chuyên về giai cấp Bà-la-môn. Những vị này cũng y như vậy, đi đến chất vấn, làm khó nhưng các vị này đi đến rồi, được Sa-môn Gotama “với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị này. Được Sa-môn Gotama với Pháp thoại khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, họ không hỏi Sa-môn Gotama câu hỏi (đã định sẵn), huống nữa là chất vấn. Trái lại, họ xin phép Sa-môn Gotama được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Samôn Gotama cho họ được xuất gia.
Được xuất gia như vậy, một số các vị ấy sống một mình, không phóng dật, nỗ lực, tinh cần, và không bao lâu tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú, ngay trong hiện tại, mục đích tối thượng của phạm hạnh mà những Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Họ nói như sau: "Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt. Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn, không phải là Bà-la-môn lại tự xem là Bàla-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán".”.
Khi họ đã tu tập, chứng ngộ, đoạn tận tham, sân, si; thành tựu cứu cánh phạm hạnh, tẩy sạch hết tất cả các lậu hoặc, tự thân chứng ngộ, tự tri, tự giác, tự chứng, tự an trú. Bây giờ họ mới phát nên những lời cảm thán: "Thật sự chúng ta gần hoại vong. Thật sự chúng ta gần hoại diệt”. Nếu chúng ta không gặp Thế Tôn, không gặp tôn giả Gotama, bậc Đại đạo sư, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta gần như hoại vong, hoại diệt.
“Xưa kia chúng ta không phải là Sa-môn lại tự xem là Sa-môn không phải là Bà-la-môn lại tự xem là Bàla-môn, không phải là bậc A-la-hán, lại tự xem là bậc A-la-hán. Nay chúng ta mới thật là Sa-môn. Nay chúng ta mới thật là Bà-la-môn. Nay chúng ta mới thật là A-la-hán. Khi tôi thấy dấu chân thứ tư của Sa-môn Gotama, tôi đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì""
Khi được nói vậy, Bà-la-môn Janussoni, từ cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, bước xuống, đắp thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn vái lạy, và thốt ra ba lần cảm hứng ngữ sau đây: "Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Đảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Rất có thể, chúng ta sẽ gặp Tôn giả Gotama tại một lúc nào, một chỗ nào đó. Rất có thể, sẽ có một cuộc đàm luận".
Ông Bà-la-môn này nghe nói như vậy rồi, ông bước xuống xe, bày vai bên phải, tỏ ra hành động cung kính, kính lễ, chắp tay lên và cúi đầu xuống. Xin dùng đỉnh đầu cao nhất của mình, lạy xuống dưới chân thấp nhất của tôn giả Gotama – bậc thế gian tôn kính, bậc sạch hết tham, sân, si; bậc thấu suốt cùng tột sự thật của vạn vật ba lần. Và ông nói rằng rất có thể chúng ta sẽ gặp tôn giả Gotama vào một lúc nào đó, ở nơi nào đó, sẽ có cuộc đàm luận thưa hỏi về giáo pháp đối với tôn giả Gotama. Hết đoạn đó là một cuộc gặp gỡ, nghe người ta nói lại đã xong. Bây giờ qua đoạn thứ hai này, ông Bà-la-môn Janussoni đích thâ đi đến chỗ Thế Tôn.
“Rồi Bà-la-môn Janussoni đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Janussoni đem tất cả câu chuyện của Du Sĩ Pilotika, thuật lại với Thế Tôn. Sau khi nghe vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Janussoni”
Ông du sĩ lúc nãy nói bốn dấu chân voi. Dấu thứ nhất là các Sát-đế-lỵ bác học muốn chất vấn nhưng trở thành đệ tử, dấu thứ hai: các Bà-la-môn, dấu thứ ba: các gia chủ, dấu thứ tư: các Sa-môn tu hành. Bốn giai cấp, bốn tầng lớp này lúc đầu nghĩ muốn chống đối, muốn chất vấn, muốn gây sự, gây khó, muốn làm khó, tranh luận… Nhưng đi tới muốn trở thành đệ tử tại gia, đệ tử xuất gia và những bậc A-la-hán. Đó là bốn dấu chân.
II. Đức Phật dạy về ví dụ dấu chân voi
Đức Thế Tôn sau khi nghe kể, tường thuật lại, Ngài nói rằng:
“– Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Này Bà-la-môn, với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách rộng rãi, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói:
– Thưa vâng, Tôn giả”
Bây giờ mới chính thức đi vào kinh, nãy giờ mới chỉ là mở đầu duyên khởi bài kinh. Dấu chân voi như thế nào để đúng tầm mức, được đầy đủ một cách rộng rãi? Ông muốn nghe Ta sẽ nói, ông phải lắng nghe và khéo suy nghĩ, khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
Bà-la-môn Janussoni vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
– Này Bà-la-môn, ví như một người săn voi vào một khu rừng có voi ở. Người đó thấy một dấu chân voi lớn trong rừng voi, dài bề dài và rộng bề ngang. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy”.
Chúng ta thấy khác một chút ở phần cuối thôi, thành ra mình đọc mà không để ý, thấy giống như ở trên, liền phớt qua không đọc là thiếu sót. Cũng giống y như trên, Thế Tôn nói dù cho người săn voi thấy dấu chân lớn rồi, họ không đi đến kết luận dấu chân này chắc chắn là to lớn, tại sao vậy? “trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn”. Nó không phải voi đực, không phải voi to lớn, mà đây là voi cái lùn thấp, nhưng dấu chân nó vẫn lớn.
Đây là lý do tại sao Thế Tôn được gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài biết tất cả những vấn đề khác chứ không phải nhìn thấy dấu là xong, vì có những loại voi cái lùn, thấp nhưng dấu chân nó vẫn lớn cho nên không đi đến kết luận. Ngài đưa thêm trường hợp thứ hai nữa là có người cũng thấy dấu chân như vậy nhưng không đi đến kết luận con voi này chắc chắn to lớn, vì sao?
“Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, và những vật cao đều bị cọ xát. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy”
Khi nãy là loài voi lùn, bây giờ là loài voi cái có ngà nhưng vẫn là voi cái, nó không lớn bằng voi chúa.
“Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi, một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, và những vật cao bị ngà voi cắt chém. Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: "Con voi này chắc chắn to lớn". Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái có ngà lớn, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này. Người đó đi theo dấu chân ấy.
Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn".
Chúng ta thấy không, chỉ trong ví dụ của Đức Phật thôi mà đã xác đáng như vậy. Trong bài kinh này mình học được rất nhiều thứ. Mình mới nhìn sơ đã vội kết luận, Đức Thế Tôn nói đây là thợ săn voi, mà trong rừng voi, người này thấy dấu chân cũng chưa chắc chính xác. Thấy dấu cành cây bị cọ quẹt, bị gãy cũng chưa đúng; thấy những chỗ bị cắt chém cũng chưa đúng. Người này đi theo tới tận cùng, vào tới trong rồi, người này thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời. Nó đang đi, đứng, ngồi hay đang nằm, người đó mới kết luận đây thật sự là con voi đực lớn.
Còn ông khi nãy chỉ ví dụ điều số một, không thấy bóng dấu chân voi, Thế Tôn nói điều đó chưa sâu sắc, rộng lớn. Đây mới chỉ nói ví dụ, chưa nói pháp, một hồi pháp dụ mới hợp với nhau. Tức từ ví dụ này mới hợp pháp nghĩa nên bây giờ tại sao mình tu lại không tìm ra được, ý chỉ nói tìm ra được pháp học chân chính, chính xác lại chưa được nữa? Vì mình mới thấy dấu chân nghĩ là voi lớn, không cần nói gì nhiều. Mình thấy người ta làm nên làm theo, người ta sao mình vậy, nghĩ vậy là đúng rồi. Mình mở cuốn kinh “Như thị ngã văn, nhất là Phật tại”, nghĩ đã đúng rồi. Chúng ta thấy chưa, đọc, nghe rồi thực hành điều đó coi nó hết tham, sân, si không, coi nó đánh gục được bản ngã không, coi nó tẩy sạch được lậu tận không?
Cho nên, tâm thường của phàm phu là một tâm hời hợt, cẩu thả, cạn cợt và ưa thích những điều dễ, không thâm sâu, thấu đáo, triệt để vậy nên những chữ trong mười hiệu của Đức Phật rất sâu sắc: Chánh Biến Tri hay Chánh Đẳng Chánh Giác, những chữ đó nghĩa không hàm ý hết. Mình đọc ro ro như vậy, nhưng để thật sự hiểu nghĩa của nó cũng cả một vấn đề. Chữ Chánh Đẳng Chánh Giác nghĩa nó rất khủng khiếp, giác ngộ được rồi, tại sao phải thêm chữ “Chánh”? Giác là biết, nhưng liệu biết có đúng không? Chữ Chánh đó là chính xác, đúng.
“Trong khi đi theo, người đó thấy trong rừng voi một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang, những vật cao bị cọ xát, những vật cao bị ngà voi cắt chém, và những vật cao bị gãy các cành. Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn".
Ở đây Đức Thế Tôn ví dụ cho bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên có những người cũng tự xưng là A-la-hán, như những Ngài trước, cũng tưởng mình là A-la-hán. Rất nhiều người như vậy, ngay cả thời đại bây giờ cũng vậy nữa, người ta tưởng đâu đã chứng cùng tột rồi. Thành ra, lời dạy của Đức Phật rất sâu sắc trong sự tu học của chúng ta. Từ pháp học cho đến pháp hành, rồi pháp thành. Nếu mình cứ phớt phớt, dễ dàng cho qua, không cẩn thận, tinh vi, tế nhị, thâm sâu, triệt để thì sự tu của mình chỉ phớt phớt bề ngoài chứ không đi đến giải thoát được, không thật sự diệt tận được tham, sân, si, tẩy sạch tất cả lậu hoặc. Phá vỡ hoàn toàn guồng máy của ngũ uẩn, vô minh, lậu hoặc và bản ngã không phải dễ dàng.
Đó là xong phần ví dụ, bây giờ tới phần pháp. Chúng ta nhớ, đó là phần thứ hai của bản kinh, mình đọc phải biết chia ra từng đoạn. Ở đây Minh Thành chỉ luôn cho tăng ni sinh và giảng sư sau này biết cách giảng kinh: mình phải thấy rõ được từng phần từng phần trong bài kinh. Phân đoạn ra, từ chỗ nào là ví dụ của người ta, của các ông Bà-la-môn, du sĩ, rồi mới tới ví dụ của Đức Phật, tới phần thứ ba là pháp dụ hợp nhất. Nãy giờ mới chỉ ví dụ chứ chưa nói giáo pháp, bây giờ Đức Thế Tôn mới bắt đầu đưa ra pháp.
III. Sự thù thắng của Như Lai
“Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây Như Lai sanh ra ở đời, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”
Câu này xin mời quý thầy cô đọc bài “Trí Đức Như Lai” trong quyển “Nghi Thức Tu Học Nikāya” có giải thích kỹ mười đức hiệu này. Mỗi một đức hiệu là một bài kệ, khoảng một chục câu hơn.
“Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này, cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người… khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài giảng dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch”
Chữ “thắng trí” là một trí tuệ thù thắng, đặc biệt, không phải trí huệ của người bình thường, không phải sự thấy biết của thường tình, thế trí biện thông. Sự thông minh lanh lợi, thấy biết thường tình của thế gian nên gọi là “thắng”, nó là ưu thắng, đặc thắng, thù thắng, tối thắng, khác với chúng ta. Cho nên tại sao mỗi chữ người ta đề đều có ý nghĩa. Nhất là lớp giảng sư của chúng ta phải để ý, đọc kinh phải thật kỹ, từng chữ, từng câu, từng đoạn, từng ví dụ để sau này chúng ta ra lớp vì chúng ta là lớp giảng sư. Phải nhớ chỗ đó, nhấn mạnh chữ“thắng trí”, nó không phải trí tuệ bình thường mà là trí tuệ ưu thắng, thù thắng, vượt thắng, tối thắng.
Với trí tuệ đó, Ngài mới tự thân chứng ngộ được thế giới này, thế giới này tức là ngũ uẩn. Khi chứng ngộ rồi, Ngài tuyên thuyết điều đã chứng ngộ, trong lời dạy, lời nói của Ngài, chữ “sơ thiện” ở đây mình nói nghĩa bình thường tức tốt ở ban đầu, tốt ở chặng giữa và tốt ở sau cùng. Nhưng mình nói rốt ráo chữ “thiện” ở đây là chí thiện, tức cứu cánh. Tức những lời Ngài nói từ khi chứng ngộ dưới cội bồ đề cho đến khi nhập diệt ở Ta La Song Thọ, ở quãng giữa đó, tất cả những lời nói của Ngài không bao giờ khác được, không bao giờ sai được, lệch được, gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, chính xác hoàn toàn.
Từ lúc mở lời dưới cội bồ đề, bài kinh đầu tiên chứng ngộ: “Lang thang bao kiếp sống. Ta tìm như không gặp” cho đến khi Ngài nói kinh “Đại bát Niết Bàn” trong kinh Trường Bộ chứ không “Đại bát Niết Bàn” phải sau này. Ở đoạn giữa, bao nhiêu năm trời, tất cả những lời gì của Ngài nói không bao giờ có thể sai khác được. Như vậy gọi là ban đầu tốt lành, chặng giữa tốt lành và cuối cùng tốt lành, rốt ráo, chân thật, cứu cánh, viên mãn, không sai, “có nghĩa có văn”, văn nghĩa đầy đủ. Tức lời văn tuyệt diệu, ý nghĩ tuyệt vời gọi là “có nghĩa có văn”. Văn chương chúng ta đọc có thấy tuyệt vời không?
Trên thế giới này không ai có thể sánh nổi văn chương trong tạng kinh Nikāya. Như trong bộ kinh “Pháp cú”, cách dùng từ của Đức Phật siêu việt thế và xuất thế, không có một vị thứ hai có thể dùng từ ngữ được như vậy, trong tạng kinh mình đọc, mình đọc nhiều đi rồi sẽ thấy. Tức đó là văn, còn nghĩa là nghĩa lý chứa đựng bên trong đầy đủ, không thiếu sót. Không ai có thể thêm một chữ hay bớt một chữ của Đức Phật, trong bài kinh “Thanh tịnh”, kinh Trường Bộ, chúng ta đọc trong đó.
Nếu người nào nghĩ rằng có thể thêm một chữ vô đây hay có thể bớt trong kinh này, thì người đó thấy mà không thấy, nghe mà giống như không nghe. Vì pháp của Đức Phật tự nó đã là tròn đầy, đủ đầy, viên mãn, không thiếu cũng không dư. Chúng ta nắm vững tinh thần đó rồi mình mới thấy, rất tuyệt vời, trong tạng kinh Nikāya này tối tôn, tối thượng, tuyệt diệu, vi diệu, thần diệu, thánh diệu, thù diệu, thắng diệu. Như vậy gọi là văn nghĩa đầy đủ, Ngài giảng dạy phạm hạnh đã hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.
Những lời Ngài dạy để làm một đời sống trong sạch đã đầy đủ, không còn thiếu sót bất cứ một khía cạnh nhỏ nhiệm nào. Nếu thực hiện đúng theo lời dạy trong kinh thì tất cả những đức hạnh trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện đã đầy đủ hết trong đó, không thiếu.
“Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe Pháp ấy, sau khi nghe Pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình".
Chúng ta thấy văn chương mà Đức Phật sử dụng không, “Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không”. Chúng ta hãy chiêm nghiệm, quán chiếu những câu này, đó là văn nghĩa mà chỉ cần đọc một chút là thấy. Những hình ảnh, ví dụ, ngôn ngữ, từ ngữ mà Đức Phật sử dụng siêu tuyệt, “có nghĩa có văn”, văn nghĩa đầy đủ, văn chương và pháp nghĩa, nghĩa lý.
Đời sống gia đình đầy những trói cột, “thê thằng, tử phượt”, vợ dây, con cột. “Đời sống gia đình đầy những triền phược”, đi đâu phải xin, hằng ngày phải lo cơm áo gạo tiền, hở một chút giận, phiền, cự cãi, hở một chút là có chuyện, ràng buộc, cột trói, hệ lụy với nhau. Đó là mới nói tới vợ chồng, còn mẹ con, anh em, chị em, em vợ, em chồng, em dâu, em rể… Bao nhiêu những vấn đề trong đó, sống phải lo lắng, dòm ngó. Người ta dòm mình, mình cũng phải dòm người ta, canh chừng nhau. Giàu chúng ghét, nghèo chúng khinh, bởi vậy:
“Sống sao cho vừa lòng người.
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê”
Giỏi quá thì chúng ghét, dở quá chúng khinh khi, giàu chúng không ưa mà nghèo chúng xem thường. Đó là trong gia đình chứ đừng nói chi ở ngoài, thành ra “đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời”. Từ “bụi đời” này rất hay, bây giờ người ta dùng từ này là xuất phát từ tạng kinh Nikāya. Họ đi đâu đó? Đi “bụi đời”! Cho nên mình người tu đừng để dính ““bụi đời”. “Bụi đời” là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp gọi là sáu trần – sáu thứ bụi đời.
Sắc làm cho mình dính bụi, tiếng là cho tâm mình dơ, thân mình dơ, bị mùi vị làm cho thân mình dơ. Sự tiếp xúc làm cho mình dơ, bẩn, nhiễm, bị những thọ, tưởng, hành, những cảm giác nghĩ tưởng bên trong làm cho mình dơ đi, tâm mình không trong sạch nữa, không an tịnh, lắng dịu nữa mà sôi sục, sôi nổi, nổi loạn. Như vậy là “con đường đầy những bụi đời”, bụi tham, sân, si, bụi hơn thua, ganh tị, bụi đố kỵ, tranh giành, tranh đấu, tranh hơn, tranh thua, bụi so đo, tính toán, dòm ngó.
Còn “Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không”, phóng khoáng là rộng lớn như bầu trời, không bị ai ràng buộc, trói cột, tự do, tự tại, độc cư, độc tọa – ngồi một mình, độc bộ - đi một mình, độc trú – nhập thất ở một mình, độc hành – bước một mình. Chữ “độc” ở đây là một mình chứ không phải có độc. Trong kinh Pháp Cú có nhiều câu hay nói về chuyện ngồi một mình, đi một mình, an vui một mình. Cho nên, thật sự rất khó cho một người ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, rất khó, “trắng bạch như vỏ ốc”. “Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
Thế Tôn nói, dù người giàu có hay ở giai cấp hạ tiện, thấp hèn nhất, sau khi nghe pháp rồi, người ấy sanh khởi lòng tin kính thì người đó suy nghĩ như vậy.
“Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản nhỏ hay từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay từ bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy thành tựu học giới và nếp sống các Tỷ-kheo”
Chữ “giới” là giới đức, đức hạnh, chữ “tăng thượng” là lên thêm. Tức bước đầu tiên của người tu là làm cho đức hạnh, đạo hạnh, sự trong sạch của mình tăng thêm lên. Hồi xưa mình dính đầy những bụi đời, nhiều những trói buộc, triền phượt. Bây giờ mình có một đời sống phóng khoáng như hư không và đời sống bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, sống không gia đình.
IV. Tàm quý
Tiếp theo mình phải làm gì? “Thành tựu học giới”, tức làm cho đức hạnh, đời sống của mình thanh sạch, trong sạch, thanh cao, cao thượng, thánh thiện. Muốn vậy, vị đó phải thực hành những điều sau đây:
“Từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình”.
Bỏ trượng là bỏ gậy, bỏ kiếm, biết xấu hổ và sợ hãi, biết tàm quý. Những điều này là nói tắt, chúng ta phải về nghe thêm, từng pháp như vậy phải thực tập ba năm, mười năm, hai mươi năm, chỉ một chữ “biết tàm quý” thôi là chúng ta học, mười năm thực tập chứ không phải nói vậy là xong. Từ bỏ sự giết hại sinh mạng, dù sinh mạng có tịnh thức hay sinh mạng không tịnh thức, tức cây cỏ, cây cối, vì nó cũng là sự sống nhưng không có tịnh thức. Cho nên “hữu tình chúng sanh, vô tình chúng sanh” là vậy. Vị này “Từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ gậy, bỏ kiếm” , biết xấu hổ và sợ hãi đối với những điều xấu ác và bất thiện pháp.
Biết xấu hổ, sợ hãi, lo lắng, biết bất an, đau đớn, ray rứt, nhục nhã khi mình đã có những điều bất thiện, những điều ác, tội lỗi, cấu uế, bụi bặm trong thân tâm. Mình lấy làm lo sợ, lo lắng, khổ sở, nhức nhối, ray rứt, bứt rứt, đau khổ và mình muốn thoát ra, lìa xa, bước lên, bước ra, đi ra, từ bỏ, hướng đến sự trong sạch, thanh tịnh, hoàn thiện, cao thượng, thánh thiện. Như vậy gọi là “biết tàm quý”.
Những gì trong giới pháp mình chưa làm được, cảm thấy xấu hổ, tội lỗi, bất an, ray rứt, đau nhức, thấp kém, hèn hạ, hạ liệt. Và mình luôn luôn suy nghĩ làm sao để viễn ly, rời ra, xa ra, thoát ra, đi ra. Mình đau khổ, lo sợ với những điều đó, thấy xấu hổ, nhục nhã với những thứ đó. Như vậy gọi là “biết tàm quý”. Đây là cả một pháp tu mà mình phải hành trì mười năm, hai mươi đến ba mươi năm, thậm chí suốt đời, vì đây là pháp đưa đến Thánh quả, nhục nhã sanh Thánh quả.
Nếu một người tu xuất gia mà không tàm quý, người này không bao giờ có thể nhập lưu, không bao giờ thể nhập vào dòng pháp. Vì trình tự của pháp là vậy, mai mốt mình sẽ học bài kinh “Tàm quý”. Điều này hết sức quan trọng, một người xuất gia mà không có tâm lo lắng và sợ hãi, xấu hổ và nhục nhã đối với ác bất thiện pháp, đối với những điều tội lỗi, sai phạm, người này không bao giờ có cơ hội bước vào dòng trí huệ thật sự của Phật, không bao giờ trở thành một người xuất gia chân chánh được.
Đây là đặc tính, đặc chất, đặc hữu, bản chất, bản tánh của người xuất gia. Mà bây giờ cái này rất hiếm, rất ít, thậm chí trong khi mình học cũng rất ít những pháp học, pháp hành về điều này. Chính vì vậy mà chúng ta thấy, ngày nay, uy tín và sự tôn trọng đối với người xuất gia càng ngày càng giảm là vì mất đi điều này. Minh Thành có chia sẻ nhiều chủ đề về bài này, mong các thầy các cô lên trang Linhquyphapan để nghe về những chủ đề này. Điều này hết sức quan trọng, chúng ta mở kinh Nikāya, mục của những bài kinh về tàm quý, xem thật kỹ cũng chưa hiểu mà phải nghe bài Minh Thành chia sẻ. Vì trong đó, Đức Phật đa phần nói tắt, chỉ một chữ như vậy mình không cảm nhận được.
Thành ra, một người chân tu thật học, pháp tàm quý này là điều quyết định trong sự tu. Nếu không có nó, người này không thể thành tựu đức hạnh được. Điều này hết sức quan trọng! Vì khi chúng ta đã học cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn rồi sẽ đọc được những suy nghĩ trong tâm mình, những cảm giác sanh khởi và những hình bóng. Khi mình nhìn thấy như vậy rồi, điều gì xấu, ác, dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã đều hiện ra hết. Mình thấy như vậy mà mình trơ trơ, không thấy xấu hổ, lo lắng, sợ hãi, nhục nhã, hổ thẹn. Như vậy, mình không thể bước vào cửa pháp – pháp môn, pháp ở đây tức Chánh Pháp.
Mà một người trơ trơ, đơ đơ, cứng đơ như vậy, dù cho lỗi lầm gì cũng thấy bình thường, không lo sợ, ray rứt, thao thức, trăn trở. Người này ở ngoài cửa, vĩnh viễn không bước vào cửa pháp – pháp môn được. Khi bước qua được cửa pháp đó mình mới thể nhập được Chánh Pháp. Mình thấy ngoài đời, tại sao người đó họ dám đi giết người, đi ăn trộm, ăn cướp? Dám làm những chuyện gây tội lỗi cực hung, cực ác, đại nghịch bất đạo? Vì họ không thấy sợ, thấy tội, không thấy điều đó là nhục nhã, kinh hãi, kinh hoàng, kinh khủng, khủng khiếp. Chính vì họ không có pháp tàm quý này.
Đức Thế Tôn nói hai pháp xấu hổ và tàm quý này chính là pháp che chở cho thế gian. Nếu không có hai pháp này, con không ra con, cha không ra cha, vợ không ra vợ, chồng không ra chồng, không còn vợ của thầy, con của thầy hay chị em, anh em gì nữa. Thế giới này sẽ trở thành giống như bò, dê, heo, gà. Bây giờ chúng ta thấy, bao nhiêu tệ nạn xã hội là vì mất hai pháp tàm quý này để hộ trì, tức giữ gìn, che chở và bảo vệ cho luân lý, đạo đức, luân thường của thế gian. Mất hai pháp này, thế gian sẽ đảo lộn trật tự, điên đảo. Thành ra điều này hết sức quan trọng.
Mình nói chữ tàm quý này mà không hiểu nghĩa là gì, cứ dịch ra là xấu hổ, như vậy không đủ. Xấu hổ là chữ tàm, chữ quý là sợ hãi, thường ngày xưa mình học tàm quý là xấu hổ, vẫn chưa đủ. Trong kinh Nikāya Đức Phật dùng chữ sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Một lỗi nhỏ khiến mình thấy lo sợ, lo sợ với những lỗi lầm. Từ đó mình mới sợ tôi, không dám làm những chuyện tội lỗi. Thành ra câu dễ nhớ nhất là nhục nhã sanh Thánh quả. Đó là nói tắt của chữ tàm quý – nhục nhã và sợ hãi. Ai mất hai pháp tàm quý này, mất sự sợ hãi và nhục nhã đối với ác bất thiện pháp này, trong giáo pháp người đó coi như chết rồi.
Thành ra chúng ta phải nuôi lớn tâm tàm quý này, tâm lo sợ, hổ thẹn và xấu hổ. Mỗi khi mình sanh khởi lên tâm dục ái mình phải thấy xấu hổ, thấp hèn, nhục nhã cho đời tu mình. Mỗi khi mình sanh khởi lên cảm giác hơn thua với huynh đệ, bức xúc, sân hận, mình thấy nhục quá, hèn quá, tồi bại, hạ liệt, thấp kém quá, nhục ơi là nhục. Mình lấy chữ nhục này coi như gối đầu giường để tu. Khi sanh khởi lên, mình nói nhục, nhục nhã, hèn hạ…
Mình tác ý như vậy để đuổi tham, sân, si, bản ngã, sanh khởi ta đây lên, cho mình là hơn, ta đây là sư tỷ, xuất gia bao nhiêu năm, còn người khác mới vô chùa mà muốn làm sếp tôi? Tôi là sư tỷ, quản chúng, tri sự, trụ trì, phó trụ trì… Nhục quá! Tu mà hơn thua, cao thấp, tranh đua, ganh tỵ. Tu mà để cho nó phát huy, phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh cái tôi, cái ta, bản ngã. Nhục nhã như vầy thì tu làm gì? Mình phải tác ý như vậy. Cho nên đây là bửu bối, là bí kíp. Hôm nay Minh Thành trao bí kíp rồi, pháp hành Nikāya là đây.
Mỗi lần nó sanh khởi lên là hơn thua với huynh đệ, tỷ muội, giận hờn thầy mình hay sư đệ, sư huynh. Mình muốn tranh phần phải, phần đúng, phần hơn. Nhục vừa vừa phải phải thôi! Nhà ngươi bỏ cha bỏ mẹ vô đây để tranh đua, hơn thua, đúng sai, sân si, bản ngã hay sao? Có nhục không? Hèn hạ vừa vừa phải phải thôi. Ta thấy xấu hổ cho mi quá đi, tâm u mê này, ta xấu hổ, nhục cho ngươi quá, không lẽ bây giờ mình đội quần chứ? Nói như vậy đó! Phải dùng những câu nặng như vậy để tâm hơn thua, sân si, bản ngã này phải khuất phục mình. Mình phải làm cho nó khuất phục, phải đánh gục nó. Vô lượng vô biên kiếp nay nó đã đè đầu cưỡi cổ mình rồi, bây giờ phải vùng lên, chiến đấu, lật đổ nó, lật đổ tâm tham, sân, si, vô minh, bản ngã, dục ái này.
Cho nên nhiều khi ở trong thất, Minh Thành tác ý: bây giờ nhà ngươi lột y xuống, đội quần lên đi, tối ngày bản ngã, hơn thua. Nhục nhã quá! Vô tu có mấy chị em, huynh đệ mà hở một chút là giận, hở một chút là phiền, hở một chút là hơn thua. Nhục gì đâu, không lẽ bỏ cha bỏ mẹ đi vô đây để hơn thua, ganh đua phải quấy này sao? Mình đưa chữ tàm quý này ra bằng chữ xấu hổ, sợ hãi, nhục nhã, thấp hèn, tồi bại, hạ liệt. Tu mười năm, mười lăm năm, hai mươi năm rồi mà cái ta còn chình ình, đi hất hất mặt lên trời.
Cho nên bây giờ mình tập pháp tàm quý này rất hay, cúi xuống giùm cái đi, hỡi cái tâm này, bản ngã này cúi xuống giùm đi, khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn đi. Làm bông lúa chín cho nó quằng xuống đi, đừng chỉa thẳng lên trời, cúi xuống, hạ xuống, thấp xuống, khiêm hạ, khiêm cung, nhún nhường, nhường, nhường nhịn. Cho nên hay chữ tàm quý này là bí kíp sắc pháp, là chìa khóa mở cửa pháp ra để bước vô. Không có hai thứ này, mình chỉ đứng ngoài cửa thôi, bị loại từ bãi đậu xe, không được vô.
Phải an trú trong sự tàm quý này một cách sung mãn. Nhìn vô nội tâm mình, nhìn vô những cảm thọ này, vô những suy nghĩ này hằng ngày, những hình bóng này, mình thấy xấu hổ làm sao. Hết tham rồi tới sân, hết sân tới dục, hết dục tới ái, hết ái tới ta, hết ta, bản ngã rồi tới hơn thua, tranh đua, phải quấy, thị phi, xấu hổ gì đâu. Tu mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, cuối cùng được những đống tham, sân, si, bản ngã siêu to khổng lồ. Đáng thương cho tâm này, đáng thương cho những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác này. Thật đáng thương, tội nghiệp, thương hại, xấu hổ cho mi.
Mình phải tác ý như vậy, đó là những câu nãy giờ Minh Thành chia sẻ cho các thầy các cô những câu mình phải tác ý lúc ngồi thiền. Không thì lúc mình giận hờn, những chuyện xích mích trong chúng xảy ra mình phải tác ý, đừng nhìn lỗi người khác. Mình phải về tác ý, không phân tích hành động, lời nói, cử chỉ của người khác. Phải quay vô mình, rầy mình, quở trách, la mắng, hủy nhục mình. Đó là tu tâm, là sự tu tuyệt vời. Đó là Minh Thành nói tổng quát hai chữ tàm quý, biết tàm quý, có rất nhiều bài kinh nói về nó. “Có lòng từ, sống thương xót tất cả chúng sanh và các loài hữu tình”. Phải nuôi dưỡng từ tâm của mình, hôm trước mình có nói sơ lược rồi.
V. Giới hạnh
“Từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp”. “Từ bỏ lấy của không cho”- dễ dễ, “ tránh xa lấy của không cho” – cũng có thể, “chỉ lấy những vật đã cho” – cũng có thể. Chỗ này bắt đầu hơi khó: “chỉ mong những vật đã cho” – cái này vô ý nghiệp. Hồi nãy là thân nghiệp, nhưng ở trong tâm mình “chỉ mong những vật đã cho” chứ không phải mong khác, ở ngoài thì không lấy, nhưng trong tâm muốn những thứ người ta không cho đó.
Ví dụ người ta cho trái cây hay món gì đó, mình lại nhìn nhìn, chưa chịu đi, con mắt xin xỏ, đứng nhìn thêm, đó là “chỉ mong những vật đã cho”, đưa rồi thôi, đi liền chứ không đứng nhìn chút nữa. Mình đi khất thực cũng vậy, người ta cho xong rồi, đi chứ đứng lại hoài là không được. Bởi vậy trong này nói về ý nghiệp “lấy của không cho” rất sâu sắc, tham, mong thứ người ta không cho. “Tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp”.
“Từ bỏ không phạm hạnh, sống theo phạm hạnh, sống tránh xa (không phạm hạnh), từ bỏ dâm dục tục pháp”. Sống đời sống trong sạch, giới hạnh của một người tu. “Sống tránh xa (không phạm hạnh) và “ từ bỏ dâm dục tục pháp” đây là thuộc về phần giới của chúng ta. Mình phải có sự quán bất tịnh, quán tứ đại, quán Ba Mươi Hai Thể Trược và phải có sự tác ý.
Phải rất miên mật, rất khít khao, sâu sắc vì điều này là nặng nhất của chúng sanh, chúng tăng. Phải có một sự đầu tư rất lớn, vạch ra chương trình, kế hoạch, có những phương pháp cụ thể để tiến hành tu tập chứ không phải chuyện đơn giản. Nhiều khi mình tu suốt đời cũng chưa diệt tận được tâm niệm, tâm ý. Về dục, phải có một sự quán chiếu rất sâu sắc, tác ý thường xuyên và liên tục. Phải vạch định những kế hoạch tu tập, học hỏi và được sự hướng dẫn, hành trì một cách nỗ lực, sát sao, khít khao trong sự quán chiếu của thân, hành, niệm.Những bài Minh Thành có chia sẻ rồi, các thầy các cô xem về quán bất tịnh, nhập thất chia sẻ về tầm quan trọng của quán bất tịnh, rất nhiều bài.
“Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời”. Y chỉ tức dựa vào những lời “trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy”. Không nói những lời phản phúc, phản trắc, bạc bội, dựa vào sự thật một cách chắc chắn, đáng tin cây. Cái nói láo này thấy vậy chứ rất dễ, nhiều khi mình quen miệng nói chơi cũng nói láo. Thành ra, phải có sự Chánh Niệm và tỉnh giác trong oai nghi, hành động, cử chỉ, lời nói, mình có nhận diện năm uẩn, phòng hộ sáu căn, quán chiếu cảm giác toàn thân, mình có sự để tâm, để ý, từ từ mới có thể nhận diện, ngăn chặn, bảo hộ, bảo trì, phòng hộ cái miệng của mình chứ không rất dễ phạm. Cho nên, giới này là những cái nhỏ nhiệm để nâng cao đức hạnh của mình.
“Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp”. Điều này hay lắm, những cái đức nhỏ này thành tựu công lớn. ““Từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia”.
“Những kẻ ly gián” tức mình nghe chỗ này người ta nói, mình không tới chỗ kia nói lại, nghe chỗ kia nói mình không lại chỗ này nói, nói xấu, nói qua nói lại như vậy làm cho hai bên chia lìa, chia ly, rạn nứt, đau buồn, rời xa, xa lánh, chia rẻ. Đó là nói lời hai lưỡi, “đâm bị thóc, thọc bị gạo” tức cái bao đang nguyên lành, chĩa vô một cái làm nó đổ ra, rách ra. Cái này ác lắm, phải cẩn thận, nhiều khi mình nói chơi, vui miệng nói nhưng làm đau khổ cho người ta. Phải hết sức cẩn thận, những điều này ở ngoài đời rất nhiều, người tu không khéo cũng không có ích. Nói làm cho chia lìa, chia rẻ, ly gián, cho tan nát, tan vỡ, chia ly, phân ly.
Ngoài đời đã khổ như vậy, vô chùa cũng tiếp tục. Bây giờ ngoài đời chạy vô chùa, còn vô chùa rồi chạy đi đâu? Hết biết chỗ chạy rồi. Cho nên, ở chùa phải tu tập lời nói. “Sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp”, người ta sống chia rẻ mà có mặt mình, mình làm cho hòa hợp, chỗ đó mới là đức hạnh, giới đức của mình. Người ta đang chia rẻ mà mình làm cho họ hòa hợp, sống hòa hợp giữa những người chia rẻ. Chứ còn bây giờ tu mà chia nhóm, phân nhóm này, nhóm kia, ai không thuận nhóm kia thì chơi với nhóm này, chùa kia không thuận tới chùa này. Tất cả những điều đó là tâm đời, tâm của thế gian, không phải của người tu.
VI. Lục hòa
Cho nên, sống hòa hợp giữa những người chia rẻ, mình làm cho những người chia rẻ đó hòa hợp lại với nhau mới là đức hạnh, tâm đức, phước đức, đạo đức, nhân đức của người tu . “Hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp” hay sao là hay! Đức Phật dạy mình “khẩu hòa vô tránh” trong Lục Hòa, mới hôm qua chúng ta chia sẻ.
“Nhớ mãi không quên biết ân biết nghĩa.
Nhớ mãi không quên hiền thiện, từ bi.
Nhớ mãi không quên sáu pháp hòa kính.
Nhớ mãi không quên diệt tham sân si”
Chúng ta nhớ sự hòa hợp này rất quan trọng trong tăng đoàn, tăng chúng, đạo tràng, tập thể, gia đình. Đây là nguyên lý hòa hợp, mới gọi là “thanh tịnh hòa lạc”, hòa hợp mới an vui, bất hòa trong chúng là không yên, mà không yên thì không tu được, cứ vài bữa có chuyện. Người này nói xầm xì người kia, người kia nói xầm xì người nọ, người này dòm ngó người kia, người kia dòm ngó người nọ, người này nghĩ người kia, người kia nghĩ người nọ vậy làm sao thiền? Tâm sao yên, làm sao an tịnh, lắng dịu?
Cho nên “sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp”. Chúng ta nhớ những điều này, mấy thầy mấy cô phải ghi lại vì nó quan trọng, là bí kíp. Đây là sáu sự hòa hợp, sống với tinh thần hòa hợp, đây là điều thứ nhất, khuyến khích mọi người cùng hòa hợp là thứ hai, vui vẻ trong hòa hợp là thứ ba, thoải mái trong hòa hợp là thứ năm, hân hoan trong hòa hợp là thứ năm, nói những lời đưa đến hòa hợp là thứ sáu.
Đây là Lục Hòa, ở trong lời nói thôi đã có sáu phương châm, phương diện, khía cạnh để mình luôn luôn trong sự hài hòa. Nhiều khi tu thì tu, nói vài ba câu đã xực nhau rồi, nói hai ba câu bắt đầu buồn, giận, vì mình chưa tu tập lời nói, khẩu hành, chưa tu tập tốt cái miệng. Đây là phần lời nói thôi mà Thế Tôn dạy rất kỹ.
“Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy”. Quá tuyệt vời, có nghĩa có văn, câu này phải ghi lại, chép ra, làm bảng dán lên chỗ nhà bếp, ni xá, chỗ Phật tử đến ở. Câu này ngọt như đường cát, mát như đường phèn, thơm như hoa, thấm như mật, đó là lời của Đức Thế Tôn. Đây là Thánh ngôn mà bậc Cháng Đẳng Chánh Giác nói, nó có nghĩa có văn, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Đó là tối thượng ngữ của Đức Phật, lời nói cùng tột của Đức Phật.
“Lời nói nhẹ nhàng, êm tai, thuận tai, dễ thương, thông cảm đến tâm” từ này mới hay làm sao. Thông cảm đến tâm là sao? Lời nói đó xuất phát từ một trí tuệ thấu hiểu, bản chất ngũ uẩn, tham, sân, si, bản ngã, đau khổ này. Nó khởi lên một lòng thương xót, đồng cảm, bi mẫn, thấu hiểu, cảm thông đến tim của người ta, chạm đến tâm họ. Nói sự thật mà người ta trào dâng nước mắt, cúi mặt xuống, cảm nhận một cách sâu sắc bản chất của đời sống đầy dẫy bất an, đau khổ, vô thường, vô ngã này. Nói những lời như vậy gọi là thông cảm đến tâm, nói mà chạm đến trái tim, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác của người ta. Nói mà chạm đến sự thật, chân lý, chạm đến sâu thẳm trong tâm khảm của người ta.
Đó là lời nói từ trái tim, vì nói bằng sự thấu hiểu, bằng Chánh tri kiến, bằng sự thấy đúng sâu sắc về bản chất của tứ đại, ngũ uẩn, đời sống này đầy dẫy bất an và đau khổ, đầy dẫy những vô minh và tham ái. Mà khi hiểu được những điều đó rồi thì thương thật là thương, thương sao là thương, thương vô cùng thương, thương hết chỗ nói.
Từ tâm thương đó mà nói ra là đã chạm đến trái tim của người ta, thông cảm đến tâm, nói bằng tâm từ. Như vậy là những lời “tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy”.Đây là cả một pháp tu, pháp hành để mình thực tập. Ngay cả bên tăng cũng phải thực tập rất nhiều chứ không phải chỉ nói bên ni. Tăng ni, nam nữ gì cũng vậy. Sân si, bản ngã lên rồi là thôi. Mình không thực tập, tu tập điều này, khi cảm giác dâng lên rồi là lúc đó quên hết.
“Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi”. Đó là những điều Đứ Thế Tôn nói với chúng ta về cái miệng có bốn, thân có ba.
““Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm” nói thao thao, nói dài, nói hoài, nói dai, mà nói không có ý nghĩa gì, không vô đâu, không đưa đến đâu. Phải “nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi”. Chúng ta đã học mười đề tài nói chuyện rồi. Mình nói mười chứ thật ra có cả trăm, cả ngàn đề tài. Nói những lời nào đưa đến ly tham, lìa tham, hết sân. Nói những lời nào dẹp bản ngã, hướng đến đời sống thanh tịnh, đưa đến tâm từ bi, hỷ xả, đưa đến sự tăng thượng giới, định, tuệ. Nói những lời ở trong pháp, trong sự thật, nói những lời về khổ, về bản chất của thế gian này.
Đó là những lời cần nói, lợi ích, “đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý”, những lời chân thật, sự thật, có ý nghĩa. Tiếp theo Đức Phật dạy chúng ta: “Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hột giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm”. Chúng ta thấy không, trong giới luật của Phật là không làm hại cây cỏ, không chặt cây, phá rừng, bảo hộ sự sống, thiên nhiên. “Dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm” mình nghe điều này thấy thật xấu hổ, ráng giữ gìn.
“Từ bỏ ăn phi thời;
Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, các cuộc trình diễn;
Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa, các thời trang, các thời sức;
Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn;
Từ bỏ nhận các hạt sống;
Từ bỏ nhận thịt sống,
Từ bỏ nhận đàn bà, con gái;
Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai;
Từ bỏ nhận cừu và dê;
Từ bỏ nhận gia cầm và heo;
Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái;
Từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai;
Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới;
Từ bỏ buôn bán;
Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường;
Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo;
Từ bỏ làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy bằng lòng (tri túc) với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát). Ví như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y bát).
Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm”.
Đó là phần thứ nhất của Thánh giới uẩn – những giới pháp của bậc Thánh mà các vị xuất gia cần phải thành tựu. Vì nếu thành tựu những điều đó, cảm giác lạc thọ thuộc nội tâm, không lỗi lầm. Khi mình thành tựu những đức hạnh, giới điều này, Thánh giới này, trong tâm mình sẽ được an vui, không thấy lầm lỗi, không rơi vào trong Năm triền cái. Mà triền cái trạo hối tức mình thấy lỗi lầm mình ray rứt như lúc nãy nói về tàm quý.
Hôm nay chúng ta tìm hiểu tới đây. Đó là phần thứ nhất của Thánh giới uẩn, kỳ sau chúng ta sẽ tới Thánh hộ trì các căn, tức sự giữ gìn các căn của bậc Thánh, kỳ này là những giới pháp của bậc Thánh mà người xuất gia cần phải thành tựu.
./.