Tâm Sự Với Người Xuất Gia - Tầm Quan Trọng của Quán Bất Tịnh
Tâm Sự Với Người Xuất Gia - Tầm Quan Trọng của Quán Bất Tịnh
(Văn bản. Diệu Quang)
Lần nhập thất này Minh Thành đào được kho báu, ngày xưa mình đi tìm vị Thầy này vị Thầy kia để thu thập hết tất cả kinh nghiệm hoặc đi hết nước này nước kia để tìm pháp hành nhưng không ngờ mình quay trở lại tự thân tự tâm của mình và mình y cư vào kinh tạng Bali, mình sẽ thấy rõ con đường của chánh pháp không phải bên ngoài, thấy một cách sáng tỏa không còn nghi ngờ, phương pháp tu tập không còn đi tìm ở đâu nữa, chưa có gì quý bằng thấy rõ được bằng pháp hành, lâu nay chúng ta thấy một cách chung chung, mơ hồ không rõ ràng trong khi đó đức Thế Tôn bậc chánh đẳng giác có một con đường tu tập cực viên mãn, sơ thiện trung thiện và hậu thiện, tốt đẹp ban đầu, chặng giữa và chặng sau. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo hay nói đơn giản là Tứ niệm xứ, Tứ thánh đế và Bát chánh đạo là con đường độc nhất đưa chúng sanh đến sự thanh tịnh, thành tựu chánh trí chứng ngộ Niết bàn không có con đường nào khác, tâm phàm phu của mình là tâm hướng ngoại, luôn muốn đi tìm những cái gì mới chính chỗ đó lòng tin của mình đối với Phật pháp nó chưa thành tựu bất động tín, mình phải thành tựu cái niềm tin bất động đối với Phật với pháp với Tăng và Giới đó là mình đã tham dự vào dòng pháp tham dự vào thánh trí gọi là Tu đà hoàng.
Tại sao pháp đó rất rõ ràng mà tại sao mình học hoài không thấy được đường tu, tại niềm tin của mình đối với Phật với pháp chưa trọn vẹn. Tại sao tất cả chúng ta ở đây cạo tóc đi vào chùa học đạo nói rằng niềm tin mình chưa trọn vẹn vì mình đi tìm Hòa thượng này đi tìm Hòa thượng kia dạy cho mình tu, mình tìm tổ này tổ kia bao nhiêu tổ nhưng pháp của đức Phật mình để quên qua một bên, các Hòa thượng các Tổ đó có phải đã thành tựu mười đức hiệu chưa? Như lai ứng cúng, chánh ứng ...các vị Hòa thượng đó có thành tựu mười đức hiệu đó chưa? hay có Tổ nào thành tựu được chánh đẳng giác chưa ? vậy mà mình bỏ cái gốc theo cái ngọn nên trong kinh tạng gọi “đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ, Pháp nhãn và Pháp bổn, Thế Tôn là chủ của pháp, Thế Tôn là con mắt của pháp, Thế Tôn là cội gốc tất cả pháp, tất cả Pháp lây Thế Tôn làm chủ, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm chỉ y cứ chúng con thỉnh đức Thế Tôn sau khi đúng, lắng nghe và khéo suy xét và y theo đó thọ trì tu tập” đó là câu nói trong kinh tạng Bali lúc nào các Thầy Tỳ-khoe cũng nói như vậy khi mình trở về Tứ niệm xứ quán xét thân tâm mình bao trùm hết tất cả giáo pháp, Tứ niệm xứ là một phần trong Bát chánh đạo.
Chúng ta sắp tới sẽ học cách mới của hai ngàn sáu trăm năm về trước cũ như giấc mộng nhưng mới hiện giờ, chúng ta sẽ đi tìm trở về nguồn cội mà khi khi chúng ta nắm vững được phương pháp này rồi thì đạo quả thánh đạo thánh quả không có còn xa, có thể trong tầm giới của mình ngay trong một kiếp này.
Đầu tiên Minh Thành tâm sự với các vị khi vào thất huynh đệ nghĩ tại sao chúng ta không ở một mình được? Trong kinh Bali tạng đức Phật nói bài kinh khu rừng, trong bài kinh khiếp đảm và sợ hãi có nhiều bài kinh đức Phật nói là “người có tham dục mạnh mẽ không độc cư thiền định được, người sợ hãi không độc cư tiền định được, người thích giao thiệp giao du không thể độc cư thiền định được, người thích danh văn lợi dưỡng cúng dường cung kính không thể độc cư thiền định được”
Tại sao mình vào trong đó mình ngồi rồi mình nhớ ở ngoài giờ Phật tử đang chờ bao nhiêu người đang chờ, công việc đang chờ chùa bổn đạo bạn bè đang chờ mình nhớ nhiêu đó quậy mình bung thất nên người ưu thích giao thiệp, ưa thích cúng dường danh vong lợi dưỡng là không không ưu thiền định được, đối với người xuất gia không độc cư thiền định được đối với thánh đạo thánh quả coi như thật là cực kỳ khó mong thành tựu.
Quan trọng nhất mình là dục lậu là cái qua ải thứ nhất, người tu phải phá được dục lậu, sự tu tập chúng ta đòi hỏi mình phải có thời gian yên tịnh để nhìn lại thân tâm của mình, tại vì mình ở ngoài mình tiếp duyên tiếp cảnh nhiều giống như ở đây thấy tiếng xe bình thường riết mình ngủ quen nhưng có những người ở quê lên đây chơi sáng dậy nói ngủ không được vì xe chạy ồn, tại vì mình quen với cái động cũng vậy mình quen với cái động nên mình không thấy đó là động cho nên giây phút đối diện với chính mình trực diện là cực kỳ quan trọng, trực diện đối diện với chính mình lúc đó mình mới thấy rõ được mình, có một bài kinh đức Phật nói có người đó đứng trước gương soi, nhìn thấy gương mặt dính bùn dính dơ dính bẩn mới phát hiện phải soi gương mới phát hiện gương mặt mình dơ, khi phát hiện mặt mình dơ mới chùi lau rửa tẩy làm đủ mọi cách cho nó sạch, sự tu hành cũng vậy nên cái để đối diện trực diện với chính mình cái này rất cần thiết, tất cả chúng ta thường thường trốn tránh khỏa lấp cái này cái kia cái nọ để che lại mình tìm cái này để cho lẵng quên, có những phiền não có những tham dục sân hận những sự nội kết trong tâm thôi đừng nghĩ nữa cho nó khỏe nghĩ mệt đó là mình không dám đối diện chính mình, khi vào trong thất là phải đối diện với tất cả, có những người vào thất không dám đối diện với mình bằng cách tụng kinh niệm Phật trì trú liên tục không dám ngồi nhìn lại tâm, tuy vào thất nhưng vẫn là chưa phải đối diện với chính mình, nhập thất có nhiều mức độ. Cái đầu tiên của người nhập thất là quan trọng nhất là đối trị nhiếp phục cho được dục tham dục ái, chính chỗ này là chỗ chúng ta phát hiện ra sự thiếu sót không thể thiếu mà mình thiếu đó là thời đức Phật còn tại thế thân niệm xứ nhất định phải có quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trượt và quán chính giai đoạn của một tử thi mình bỏ quên, mình không có tu tập cái này nên cái tham dục mình không có nhiếp phục được, đây là phương pháp của bậc chánh đẳng giác, không có con đường thứ hai để diệt trừ tham dục bằng cách quán bất tịnh, thấy được sự nhơ nhớp hôi tanh gớm giếc rùng rợn của thân này không có cái gì bằng chính giai đoạn của tử thi.
Sự khó khăn nhất của người xuất gia mình là tham dục, khi mình đối diện với nội tâm của mình, mình thấy đó là vấn đề khó khăn nhất của người tu, Hòa thượng luật sư nói chỉ cần giữ một giới này đủ để nhận sự cung kính cúng dường đó là giới quan trọng nhất của người tu mình, bây giờ mình tu không động đậy đến vấn đề đó đây là chỗ mình nhìn ra vấn đề, trong sự tu tập của mình không nhìn nhận vấn đề tham dục để nhiếp phục vấn đề tham dục, để tẩy sạch tham dục diệt tận tham dục không có trong khi đức Phật dạy trong Tứ niệm xứ là thân hành niệm phải quán tướng bất tận
Minh Thành kể cho huynh đệ Minh Thành quán như thế nàog? Để trên Đại đức Thích Minh Thành viên tịch sinh ngày 30/12/1975 mất 01/04/2018 đăng bảng lên và cha mẹ khóc, đệ tử trong chùa khóc, báo tin Phật tử biết tin kéo về thân nằm bất động như một cái cây vô dụng nằm đó, sáu người khiêng bỏ lại hết chùa chiền bổn đạo Tăng Ni trường học, tất cả những gì bỏ hết nằm như khúc cây vô dụng, lúc đó để thêm mấy ngày nữa thân phình bự lên mặt bự tay chân bụng bư lên rồi bắt đầu sanh bầm nứt nẻ chảy nước hôi hám, bắt đầu ròi ăn, ăn từ bộ đồ lòng ăn lên, từ trong hai con mắt ròi đổ ra, ròi đầy hai lỗ tai bò ra cùng khắp hết trong toàn bộ cơ thể những bộ phận phía dưới ròi ăn hết sau đó kên kên, quạ, diều hâu, chó rừng tới gặm dật ra từng miếng thịt miếng mỡ ăn máu chảy, ăn từ từ riết còn một bộ xương vương vãi với thịt mỡ và máu, sau đó nắng mưa dần dần còn lại bộ xương trơ trọi một năm hai năm, xương này rời rạc xương sọ đàng kia, xương ống chân đàng đây vương vãi chỗ kia là xương sườn, xương bàn chân, xương vai, xương khiểu tay xương sống nằm rãi rắc nắng mưa thời gian lần lần những khúc xương này lần lần nát ta thành bụi đó chính là bản tánh thân này là như thế không thể khác, tách chất thân này là như thế không thể khác, thân này cuối cùng cũng đi tới đó không có gì khác hơn nữa và những người khóc than xung quanh mình cha mẹ mấy cô chú đệ tử Phật tử chết hết thành bộ xương nằm hết la liệt, cuối cùng đều trở về chỗ tan hoại, quán tới đó nước mắt tràn rúng động toàn thân nổi da gà và chấn động hết thân tâm, không phải một lần mà cả chục lần như vậy mỗi lần quán đều như vậy mùi hôi tanh nồng nặc đến mức mình muốn ối mửa, Minh Thành quán như vậy xuyên suốt bốn tuần lễ ngày nào cũng như vậy, cái hiệu quả là nhiếp phục được dục tham, suốt thời gian đó thân không có sanh khởi, mình mới thấy mới tin được lời đức Phật, nhiều đệ quán nói con quán thân bất tịnh mà con quán thấy tịnh đó là một suy nghĩ tiêu cực, mình không tin chánh pháp của đức Phật không tôn trọng pháp đây cũng là nguyên nhân làm cho chánh pháp bị sụp đổ đưa tới mạt pháp, mình nghe tới đâu quán tới đó phải tùy văn nhập quán, quán phải phát sanh ra cảm thọ chứ quán mà không phát sanh ra cảm không có công năng phát sanh ra cảm giác mình đang như vậy, ròi bò trong mắt, trong mũi trong miệng phải quán phát sanh ra cảm giác, cảm giác này sẽ đánh tan cảm giác của tham dục tẩy sạch cảm giác của tham dục, quán ba mươi hai thể trượt mình ngồi như vậy mình dọc đại phẩu từ trên xuống lột da, đầu tiên bứt hết tóc bứt hết lông trên cơ thể, mình nhỏ từng cái răng máu chảy xuống để ra tóc, móng, răng, lông, lột hết da trên cơ thể, da tay chân đùi lưng bụng lột hết ra máu chảy xuống để qua một bên da, tới thịt lấy thịt ra ba trăm miếng thịt, lấy mỡ ra, gân, xươn,g lá lách, dạ dày, tim, gan, tỳ phế phổi, nước miếng, mủ, máu đờm nước khớp xương phân nước tiểu...lấy hết ba mươi hai thể trượt lấy hết ra, lấy từng bộ phận trước mặt mình hết lúc đó mình quay lại xem cái gì là tôi cái gì là của tôi, mình phải nhìn thấy rõ bản chất hư ảo tạm bợ mong manh nhơ nhớp bất tịnh của thân này, lúc đó Minh Thành rúng động nước mắt tràn ra, mình nhìn thấy bao nhiêu mình xuất gia bao nhiêu năm nay khối si mê vô minh tham ái của mình vẫn còn cứng chắc thật nhục nhã cho một người tu, khi mình không tẩy hết tham dục, thật là xấu hổ cho một người xuất gia mình còn nuôi dưỡng tồi tại trong nội tâm của mình, đức Phật dạy phải tẩy sạch từ bỏ nó tiêu diệt nó, đoạn tận nó chặt nó giống cây Sala không cho nó tái sanh lại đó mới là người tinh tấn trong giáo pháp của Như lai, quán tới quán lui liên tục như vậy ngày nào cũng quán, quán rằng bộ xướng này đang ngồi đây, quán tình ái của nam nữ sự tham dục là bộ xương này ôm bộ xương kia và bộ xương này khao khát bộ xương kia, bộ xương này mong ngóng bộ xương kia chờ đợi bộ xương kia, đau khổ quần quại bộ xương kia, những bộ xương đầy dãy trên đường, một bộ xương hôi hám dơ bẩn chưa đủ mà muốn tìm thêm bộ xương khác để cùng với nhau hôi dơ bất tịnh và đau khổ, cuối cùng tạo thêm bộ xương nữa và cứ như thế tất cả bộ xương trao truốt tô điểm bao bọc bởi một lớp da tanh hôi che đậy, “thành này làm bằng xương quét tô bàng thịt máu trong ấy già và chết mạng lừa đảo chất chứa” nó quét tô bằng thịt máu, sườn bên trong là bộ xương kế đó là gân, thịt, mỡ, da lớp bọc bên ngoài chính tấm thân nhơ nhớp bất tịnh này, tấm thân này lừa dối mình lừa gạt mình không phải kiếp này đời này mà bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp mình bị nó lùa dối, mình còn đắm đuối mình còn mê say si mê ảo mộng trong tấm thân vô thường hư ảo này đó thật là si mê, si mê đó là cho một tên Thích Minh Thành, mê muội cho một cái tên là Thích Minh Thành, điên đảo cho một cái tên Thích Minh Thành, tỉnh ra chưa mở mắt ra để nhìn thấy thực tướngbản chất của thân này, mày nhìn đi mày nhìn cho kỹ đi, lúc đó nước mắt Minh Thành dàn rụa giống như người đang đánh mình nên mình mới tin lời của Phật. Pháp bất tịnh là một phương pháp tuyệt diệu giúp cho mình nhiếp phục không phải mình tu một lần sạch hết không phải trong một giai đoạn nếu mình bỏ mình không tu nữa nó sẽ trở lại cho nên trong sự tinh tấn đức Phật dạy gọi là tinh cần hộ trì thiện pháp tức là mình được pháp quán rồi mình phải giữ không cho mất giữ liên tục, cái này rất quan trọng nên có một số người tu mới được chút ra ta đây chứng cái này cái kia rất nguy hiểm, mình không tu thì thôi mình tu phải có kết quả, có kết quả phải giữ liên tục không buông lung phóng túng nếu buông lung phóng túng tham dục tấn công trở lại cho nên sau đó Minh Thành cho đại chúng linh Quy Pháp Ấn tụng niệm nhiều mà lên chánh điện mở những hình bất tịnh quán, mở mấy hình ròi ăn cho coi xong rồi bắt đầu thiền quán để hình trước mặt thiền quán và các chú trẻ trẻ nhỏ nhỏ ứng dụng tu thì thấy được pháp hỷ pháp lạc, bây giờ con thấy nhẹ hơn, tâm động, bây giờ có sự tu này là sự phòng hộ bảo vệ tâm có sự nhiếp phục cho nên nếu như mình y như lời Phật dạy nhất trong kinh tạng năm bộ Nykaya các huynh đệ ngồi trong đây từ sơ quả đến tứ quả có trong một đời nếu tu đúng theo kinh tạng Bali, bốn thánh quả không có gì ghê gớm bốn thánh quả là bốn thành quả của một người xuất gia chân chánh theo phập giáo được đức Phật xác nhận, bốn thành quả giống như mình làm thì có tiền, mình học thì tốt nghiệp cái đó đương nhiên, thánh quả là thành quả của con đường thánh đạo, mình tu hành bốn thành quả đó là thành quả thứ nhất thấy được nhà mình có đống rác dơ, mình hốt cái rác đó là quả thứ hai, sau khi hốt còn dính mình chùi đó là quả thứ ba, sạch hết không còn chút nào dơ là quả thứ tư A-la-hán nên đừng nghĩ sơ quả tu đà hoàng là cái gì ghê gớm, tức là mình thấy được nội tâm của mình, thấy được tham dục nó vận hành, sân hận nó vận hành ra sao, vô minh nó ra làm sao nên đầu tiên phải thấy được dục lậu, cái sự nhiễm dục ở trong tâm của mình nếu mình không nhìn lại mình không thấy, huynh đệ biết rằng từ đỉnh đầu cho xuống tới gót chân chỗ nào cũng nhiễm dục, mình tưởng đâu tôi tu ngày nay tôi không thấy tôi giận ai không thấy phiền não cái đó là chưa thấy pháp.
Minh Thành vạch mặt phiền não nếu mình không thấy mặt phiền não mình không thể nào trinh phục được phiền não.
Phiền não ở trong cảm giác cảm thọ của mình cho nên hôm trước Minh Thành cho huynh đệ nhận diện năm uẫn là phải thấy được mình đang trong ba thọ, ba cảm giác, cảm giác khó chịu cảm giác không khó chịu và cảm giác khó chịu cảm giác dễ chịu, mình phải biết mình đang ở cảm giác nào, cái này rất quan trọng nếu huynh đệ không nhận diện được cảm giác cảm thọ thì không biết được trú xứ của phiền não, ví dụ lúc mình nổi nóng lên thì cảm giác có thay đổi nóng trên mặt nóng hai lỗ tai hai, con mắt nóng đỏ lên đó là hình tướng của sân nên mình thường nhìn quán chiếu khổ thọ khi cục cựa tát cho nó mấy cái, đánh cho nó tơi tả tan tành trong kinh đức Phật nói phần tinh cần đoạn tận, từ bỏ nó đoạn tận nó không cho nó tái sanh, chặt nó như cây cau cây dừa như cây Sa la bứng gốc dễ nó làm cho nó không còn sanh khởi đó là người tinh tấn nhiệt tình nỗ lực trong giáo pháp của Như lai nếu mình không thấy trú xứ của phiền não căn cứ địa của tham sân si đó mình không thể nào đoạn diệt được hết, trú xứ căn cứ địa là cảm thọ nó liên hệ tới tưởng, hành, thức mình phải nhận diện năm uẫn, cái cảm giác của mình.
Mình cứ tưởng mình sống hàng ngày như vậy là tốt nếu mình không nhìn sâu cảm giác không quán chiếu mình không có biết. Lúc mình lên ngồi quả đường dọn lên cúng trai Tăng bảy món nhất là món ruột của mình, mình nhìn lại thấy trong tâm mình có những gì? về phần sinh lý tự nhiên nước miếng tươm ra, cái đó là cơ thể sanh lý tự nhiên, bên trong rạo rực mong muốn lẹ mau gấp nhanh cái đó là dục và tham, đó là nằm trong cảm giác nếu lúc đó mình không chánh niệm nhìn ra đó là mình đang nuôi dưỡng dục và tham mà mình không biết nếu lúc đó trong mâm của mình có món có một món mình thích nhất và trong khi chiêu đãi khách cúng dường có người trai soạn quả đường họ tới bưng món mình thích đẩy qua mâm kia, lúc đó cái gì nổi lên? mình tưởng mình tu hay nhưng một miếng ăn nhỏ nếu mình để ý tham và sân nó khởi trong đó, không phải nó nói một câu mà thì thào trong đó nói tới nói lui nói hoài cho tới tối về ngồi thiền sáng nó nói nữa, mấy ngày sau tại sao mâm của tôi lại bưng ngay mâm của tôi, cái nói nhảm đó là ý hành, những lời nói thầm thầm trong tâm và khi nói những lời nói đó có những hình ảnh người bưng tái hiện đó là tưởng và cảm giác lúc bị bưng tô đó hiển lại cái đó là thọ, tất cả cái đó là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, pháp tưởng tức là những cái của quá khứ nhưng hồi tưởng trở lại, hình bóng người đó trở lại là sắc tưởng, tiếng nói của người đó hiện lên là thanh tưởng, mùi hương của món ăn đó hiện lên là hương tưởng, vị tưởng cảm giác của món ăn đó ngon như thế nào đó là vị tưởng rất ghê gớm, mình đau khổ với thực tại ít mà mình đau khổ với bóng dáng mới đau khổ dài cái đó mới là vô minh, tiếng nói đó nói có hai phút hay năm phút nhưng sau đó một tháng trời mình đau khổ với tiếng nói đó mình đau khổ thanh tưởng rất ghê gớm đó là vô minh, vì mình thấy đó là thật, câu nói đó mất rồi nhưng mình ngồi đó là mình hồi tưởng câu nói đó đó là thanh tưởng, một chút xíu ngay chỗ ăn Minh Thành thấy khiếp đảm ngay chỗ ăn đó, trong khi mình ăn cơm thấy nó xuất hiện ví dụ như tới giờ mình tu mình không có cảm giác, không phải, mình biết món ngon là món ngon, món dở là biết là món dở khi đưa vào miệng mình biết là cảm giác dễ chịu nhưng kế đó trong cảm giác dễ chịu có dục tham, cái này mình phải nhận ra nếu không nó lẫn lộn, cảm giác ngon dễ chịu đó là bình thường nhưng trong đó nó có dục tham, dục tham trong đó là muốn món này được chăm thêm hay muốn gắp thêm món này nhiều nữa hoặc là có cơ hội ăn xong mình xuống bếp hỏi món này làm sao về mình làm tiếp đó là dục tham, trong cảm giác khó chịu nó bình thường như mình đi nắng ba mươi tám độ C nhưng trong đó mình bực bội, bực đó là sân rất vi tế cho nên cảm giác khó chịu kia là cảm giác của thân đó còn cảm giác khó chịu bực là của tâm sân, trong bình thường không khó chịu không dễ chịu đó là si, tức là mình không thấy được thân hành niệm, mình không biết thân này là pháp duyên khởi kết hợp vô thường, nó phải tồn tại do ăn mặc tắm gội do tinh cha huyết mẹ bao nhiêu thứ hỗ trợ mới được sinh tồn, nó không tự nó có, mình không có quán chiếu, mình không vô thường tưởng vô ngã tưởng, mình nhìn thấy được như vậy mình phá được si nên nguy hiểm, ba loại cảm giác mình đều chết hết nếu mình không có chánh trí chánh niệm mình không có tỉnh giác là chết hết, cảm giác tham, cảm giác dễ chịu thì tham lạc thọ, cảm giác khổ thọ khó chịu thì sân, cảm giác không khó chịu không dễ chịu là si, mình tưởng tu vậy là ngon chỗ này rất sâu xa. Lúc đó Minh Thành vào trong phòng tắm sói nước tắm đương nhiên mình có cảm giác dễ chịu, trưa nắng mình được sói nước nhìn thấy ở trong xúc trần, thân mình tiếp xúc với nước là xúc, thân căn tiếp xúc với nước là sắc trần bên ngoài thì trong chỗ đó phát sanh rõ biết cái đó gọi là thân thức, thân thức rõ biết của thân về sự xúc chạm, ba pháp này giao thoa với nhau tạo ra xúc sanh ra thọ, sanh ra một cảm giác nếu mình không có tu ngay cảm giác này mình chết, thọ sanh ra tưởng hành nên mình xúc cái đó cảm giác sanh ra dễ chịu nếu mình không biết chánh niệm do có nước sói lên do thân thức rõ biết sự tiếp xúc của nước này đó là pháp duyên hợp, xúc mới sanh ra cảm giác cảm thọ mình nhìn thấy được pháp như vậy, mình không có bị cái xúc nó nhận chìm không lúc đó xúc sanh thọ thọ sanh tưởng những cảnh liên hệ tới dục, liên hệ tới sự êm ái, liên hệ tới tham tiếp tục thọ,, tưởng hành thức, xúc sanh thọ ngũ uẫn vận hành liên tục suốt ngày suốt đêm cho nên chúng sanh ngũ uẫn sanh khởi liên tục không bao giờ dừng còn các bậc thánh nhân nhìn thấu nó thì nó dừng trở lại, không còn phát sanh nên bậc A-la-hán diệt tận năm uẫn, phá được thủ ngũ uẫn sự bám chấp năm uẫn cho rằng năm uẫn cảm giác đó là mình nên tất cả phàm phu vô văn phàm phu không có nghe phá,p không thấy được năm uẫn chính cái nghĩ này là thân kiến, kiến chấp về thân cái nghĩ này đưa mình vô dòng đen tối vô minh âm u đau khổ bất tận, người nào thấy được năm uẫn này không cho là mình nữa người đó tham dự lưu vào vòng trí huệ, tất cả cái này chúng ta ngồi ai đây cũng có thể thành tựu được trí này, trí của dự lưu, sanh khởi năm uẫn sự kết hợp của năm uẫn không thấy đây là mình mà thấy rằng đây là sắc tưởng thọ hành thức đây là sắc thân, đây là những cảm giác đây là những hình bóng tư tưởng, đây là những hình bóng suy nghĩ, đây là sự rõ biết thấy rõ đó là năm uẫn, đó là pháp duyên hợp như vậy các huynh đệ bước vào trí huệ thứ nhất bốn thành quả của một người tu, khi mình thấy được năm uẫn rồi tham sân si tích tụ trong cái thọ giống như đại cổ thụ một ngàn năm, Minh Thành dùng từ là kẽ thù ngàn năm ta phải tiêu diệt mi không cho mi sanh trưởng nữa nhìn những suy nghĩ của mình thì mình chết suốt ngày mình sống trong vô minh nghĩ đây là mình đây là của mình chỗ này chỗ chúng ta cần thực tập, chúng ta thấy được chỗ dục tham ẩn nấp trong cái tắm nước mát thích thú trong đó tất cả những gì hỷ tham, ưa thích thích thú trong sắc đó gọi là vị ngọt của sắc.
Thế nào là sự nguy hiểm của sắc là vô thường là biến đổi tan hoại nó sẽ đi tới chỗ đổ vỡ chấm dứt diệt tận là chỗ nguy hiểm của sắc.
Thế nào là sự xuất ly của sắc?
Là sự nhiếp phục của tham ở trong sắc đó là con đường ra khỏi, bất cứ ai mà nhiếp phục được dục và tham người đó thành tựu A-la-hán quả, nhiếp phục là giai đoạn đầu đó là hạng hữu học nhiếp phục xong là tới vô học A-la-hán, đòi hỏi tinh cần nỗ lực quyết chí của mình chứ không phải tu phớt phớt, chỉ an ổn trong sinh hoạt của mình hai thời khóa tụng mình phải tu theo lời đức Phật mình phải thành tựu con đường đức Phật đã đi chứ không đi con đường của những người sau này thì mình sẽ thành tựu giống đức Phật và các bậc A-la-hán ngày xưa, tối thiểu mình phải có vé nhập lưu mình mới thành tựu trí huệ đó mình không thể tu mấy chục năm cuối cùng mù mờ sống ở trong vô minh sống trong tham dục chấp ngã không biết đâu là phiền não không biết phiền não ở đâu làm sao mình tu, tối ngày nếu không thức những điều này tu hành tài sắc danh lợi tiền bạc rất đau lòng cay đắng sót xa nên mình cố gắng nỗ lực thật nhiều, mình đem tấm lòng chân thành cung kính cầu pháp đem hết tâm lòng tha thiết của mình để học hỏi, để thực tập các huynh đệ sẽ thấy được hoa trái, hoa trái là chứng quả giống như mình trồng cầy mà có trái mình tu mình thành tựu kết quả đương nhiên là vậy chứ không thể không như vậy, mình thấy huynh đệ từ trong chiếc xe mình có cái gì trong đó đối với mình có chiếc xe này, trong chỗ mình đang ngồi, áo mình đang mặc, dép mình đang mang, phòng đang ở tất cả mọi cái mình phải nhìn cho kỹ cảm giác của mình khi tiếp xúc với cái đó nhìn cho sâu sắc để thấy cả giác mình sanh khởi trong đó, cảm giác đó không phải của mình cảm giác đó là vô thường, cảm giác của duyên sanh đó là sự kết hợp, sự giao thoa của căn thần xúc, xúc đó mới phát sanh ra cảm thọ chứ đâu tự nhiên có cảm thọ, mình để tâm thực tập, để tâm quán chiếu, để tâm hành trì.
Ba pháp đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, huynh đệ thực hành cái này là nền tảng, kế đến nhận diện năm uẫn những cái gì đức Phật nói là sự thật những gì đức Phật đã tu mình có thể thực hành, những gì các bậc A-la-hán đã chứng ngộ mình có thể thành tựu, mình không phải là vô phần.
Cái hữu lậu là gì? Tâm mình muốn làm cái này cái kia không có yên, muốn suy nghĩ muốn làm cái này cái kia nó không yên, nó muốn kiếm chuyện hoài, nó phải nói, nó phải làmphải đi đó là hữu lậu, còn nghĩa sâu luôn luôn bên trong mình có sự khao khát hiện hữu là muốn mình còn tiếp tục những đời sau, trong nội tâm mình luôn luôn có sắc tưởng về mình, mình nói chiều này tôi đi qua chùa bên kia dự lễ khi mình nói vậy là trong tâm mình có hình bóng mờ mờ của mìnhtrong đó đó là sắc tưởng về mình trong đó, mình tu để mình nhìn cho thấu được những phiền não này đang tiêm nhiễm trong tâm, một sự khao khát hiện hữu tiếp tục hiện hữu, phải có cái mình có cái tôi mới được, không có cái tôi là không được nên sau khi đức Thế Tôn vô dư niết bàn còn hay không còn, cũng không phải còn mà cũng không phải không còn, tất cả cái đó đều là chấp thường chấp đoạn khao khát hiện hữu, vô minh lậu là cái trí của mình không sáng tỏa không thấy sự vận hành năm uẫn sự vận hành của các uẫn, mình chỉ thấy mình không thấy năm uẫn đó là huynh đệ thường thực tập nhớ ba pháp, không nhìn một cái nào trú trong tầm mắt mở sáng tỏa phía trước mặt, mình đi đứng ngồi nằm cũng vậy rõ biết trước mặt cảm giác toàn thân, từ hơi thở mình mở cảm giác được đầu, được tay, được chân lúc nào mình cũng nhìn cảm giác toàn thân của mình để nó thay đổi hay không là mình biết được liền cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tĩnh giác là mình rõ biết hai con pháp kia, rõ biết chánh niệm trước mặt rõ biết cảm giác toàn thân, trong tâm mình sáng tỏa có gì trong tâm mình phải thấy rõ nội tâm tỉnh giác, kế đó mình phải nhận diện được năm uẫn cái nào là sắc, cái nào là cảm giác những tưởng tượng những suy nghĩ nói thầm trong tâm, cái nào rõ biết được điều đó, cái đó mình nhận diện năm uẫn, mình thường xuyên thực tập liên tục cho nhuần nhuyễn mình mới đi vào trong pháp được đây là cánh cửa mở vào thánh đạo thánh quả.
(Văn bản. Diệu Quang)
Lần nhập thất này Minh Thành đào được kho báu, ngày xưa mình đi tìm vị Thầy này vị Thầy kia để thu thập hết tất cả kinh nghiệm hoặc đi hết nước này nước kia để tìm pháp hành nhưng không ngờ mình quay trở lại tự thân tự tâm của mình và mình y cư vào kinh tạng Bali, mình sẽ thấy rõ con đường của chánh pháp không phải bên ngoài, thấy một cách sáng tỏa không còn nghi ngờ, phương pháp tu tập không còn đi tìm ở đâu nữa, chưa có gì quý bằng thấy rõ được bằng pháp hành, lâu nay chúng ta thấy một cách chung chung, mơ hồ không rõ ràng trong khi đó đức Thế Tôn bậc chánh đẳng giác có một con đường tu tập cực viên mãn, sơ thiện trung thiện và hậu thiện, tốt đẹp ban đầu, chặng giữa và chặng sau. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo hay nói đơn giản là Tứ niệm xứ, Tứ thánh đế và Bát chánh đạo là con đường độc nhất đưa chúng sanh đến sự thanh tịnh, thành tựu chánh trí chứng ngộ Niết bàn không có con đường nào khác, tâm phàm phu của mình là tâm hướng ngoại, luôn muốn đi tìm những cái gì mới chính chỗ đó lòng tin của mình đối với Phật pháp nó chưa thành tựu bất động tín, mình phải thành tựu cái niềm tin bất động đối với Phật với pháp với Tăng và Giới đó là mình đã tham dự vào dòng pháp tham dự vào thánh trí gọi là Tu đà hoàng.
Tại sao pháp đó rất rõ ràng mà tại sao mình học hoài không thấy được đường tu, tại niềm tin của mình đối với Phật với pháp chưa trọn vẹn. Tại sao tất cả chúng ta ở đây cạo tóc đi vào chùa học đạo nói rằng niềm tin mình chưa trọn vẹn vì mình đi tìm Hòa thượng này đi tìm Hòa thượng kia dạy cho mình tu, mình tìm tổ này tổ kia bao nhiêu tổ nhưng pháp của đức Phật mình để quên qua một bên, các Hòa thượng các Tổ đó có phải đã thành tựu mười đức hiệu chưa? Như lai ứng cúng, chánh ứng ...các vị Hòa thượng đó có thành tựu mười đức hiệu đó chưa? hay có Tổ nào thành tựu được chánh đẳng giác chưa ? vậy mà mình bỏ cái gốc theo cái ngọn nên trong kinh tạng gọi “đức Thế Tôn là bậc Pháp chủ, Pháp nhãn và Pháp bổn, Thế Tôn là chủ của pháp, Thế Tôn là con mắt của pháp, Thế Tôn là cội gốc tất cả pháp, tất cả Pháp lây Thế Tôn làm chủ, tất cả pháp lấy Thế Tôn làm chỉ y cứ chúng con thỉnh đức Thế Tôn sau khi đúng, lắng nghe và khéo suy xét và y theo đó thọ trì tu tập” đó là câu nói trong kinh tạng Bali lúc nào các Thầy Tỳ-khoe cũng nói như vậy khi mình trở về Tứ niệm xứ quán xét thân tâm mình bao trùm hết tất cả giáo pháp, Tứ niệm xứ là một phần trong Bát chánh đạo.
Chúng ta sắp tới sẽ học cách mới của hai ngàn sáu trăm năm về trước cũ như giấc mộng nhưng mới hiện giờ, chúng ta sẽ đi tìm trở về nguồn cội mà khi khi chúng ta nắm vững được phương pháp này rồi thì đạo quả thánh đạo thánh quả không có còn xa, có thể trong tầm giới của mình ngay trong một kiếp này.
Đầu tiên Minh Thành tâm sự với các vị khi vào thất huynh đệ nghĩ tại sao chúng ta không ở một mình được? Trong kinh Bali tạng đức Phật nói bài kinh khu rừng, trong bài kinh khiếp đảm và sợ hãi có nhiều bài kinh đức Phật nói là “người có tham dục mạnh mẽ không độc cư thiền định được, người sợ hãi không độc cư tiền định được, người thích giao thiệp giao du không thể độc cư thiền định được, người thích danh văn lợi dưỡng cúng dường cung kính không thể độc cư thiền định được”
Tại sao mình vào trong đó mình ngồi rồi mình nhớ ở ngoài giờ Phật tử đang chờ bao nhiêu người đang chờ, công việc đang chờ chùa bổn đạo bạn bè đang chờ mình nhớ nhiêu đó quậy mình bung thất nên người ưu thích giao thiệp, ưa thích cúng dường danh vong lợi dưỡng là không không ưu thiền định được, đối với người xuất gia không độc cư thiền định được đối với thánh đạo thánh quả coi như thật là cực kỳ khó mong thành tựu.
Quan trọng nhất mình là dục lậu là cái qua ải thứ nhất, người tu phải phá được dục lậu, sự tu tập chúng ta đòi hỏi mình phải có thời gian yên tịnh để nhìn lại thân tâm của mình, tại vì mình ở ngoài mình tiếp duyên tiếp cảnh nhiều giống như ở đây thấy tiếng xe bình thường riết mình ngủ quen nhưng có những người ở quê lên đây chơi sáng dậy nói ngủ không được vì xe chạy ồn, tại vì mình quen với cái động cũng vậy mình quen với cái động nên mình không thấy đó là động cho nên giây phút đối diện với chính mình trực diện là cực kỳ quan trọng, trực diện đối diện với chính mình lúc đó mình mới thấy rõ được mình, có một bài kinh đức Phật nói có người đó đứng trước gương soi, nhìn thấy gương mặt dính bùn dính dơ dính bẩn mới phát hiện phải soi gương mới phát hiện gương mặt mình dơ, khi phát hiện mặt mình dơ mới chùi lau rửa tẩy làm đủ mọi cách cho nó sạch, sự tu hành cũng vậy nên cái để đối diện trực diện với chính mình cái này rất cần thiết, tất cả chúng ta thường thường trốn tránh khỏa lấp cái này cái kia cái nọ để che lại mình tìm cái này để cho lẵng quên, có những phiền não có những tham dục sân hận những sự nội kết trong tâm thôi đừng nghĩ nữa cho nó khỏe nghĩ mệt đó là mình không dám đối diện chính mình, khi vào trong thất là phải đối diện với tất cả, có những người vào thất không dám đối diện với mình bằng cách tụng kinh niệm Phật trì trú liên tục không dám ngồi nhìn lại tâm, tuy vào thất nhưng vẫn là chưa phải đối diện với chính mình, nhập thất có nhiều mức độ. Cái đầu tiên của người nhập thất là quan trọng nhất là đối trị nhiếp phục cho được dục tham dục ái, chính chỗ này là chỗ chúng ta phát hiện ra sự thiếu sót không thể thiếu mà mình thiếu đó là thời đức Phật còn tại thế thân niệm xứ nhất định phải có quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trượt và quán chính giai đoạn của một tử thi mình bỏ quên, mình không có tu tập cái này nên cái tham dục mình không có nhiếp phục được, đây là phương pháp của bậc chánh đẳng giác, không có con đường thứ hai để diệt trừ tham dục bằng cách quán bất tịnh, thấy được sự nhơ nhớp hôi tanh gớm giếc rùng rợn của thân này không có cái gì bằng chính giai đoạn của tử thi.
Sự khó khăn nhất của người xuất gia mình là tham dục, khi mình đối diện với nội tâm của mình, mình thấy đó là vấn đề khó khăn nhất của người tu, Hòa thượng luật sư nói chỉ cần giữ một giới này đủ để nhận sự cung kính cúng dường đó là giới quan trọng nhất của người tu mình, bây giờ mình tu không động đậy đến vấn đề đó đây là chỗ mình nhìn ra vấn đề, trong sự tu tập của mình không nhìn nhận vấn đề tham dục để nhiếp phục vấn đề tham dục, để tẩy sạch tham dục diệt tận tham dục không có trong khi đức Phật dạy trong Tứ niệm xứ là thân hành niệm phải quán tướng bất tận
Minh Thành kể cho huynh đệ Minh Thành quán như thế nàog? Để trên Đại đức Thích Minh Thành viên tịch sinh ngày 30/12/1975 mất 01/04/2018 đăng bảng lên và cha mẹ khóc, đệ tử trong chùa khóc, báo tin Phật tử biết tin kéo về thân nằm bất động như một cái cây vô dụng nằm đó, sáu người khiêng bỏ lại hết chùa chiền bổn đạo Tăng Ni trường học, tất cả những gì bỏ hết nằm như khúc cây vô dụng, lúc đó để thêm mấy ngày nữa thân phình bự lên mặt bự tay chân bụng bư lên rồi bắt đầu sanh bầm nứt nẻ chảy nước hôi hám, bắt đầu ròi ăn, ăn từ bộ đồ lòng ăn lên, từ trong hai con mắt ròi đổ ra, ròi đầy hai lỗ tai bò ra cùng khắp hết trong toàn bộ cơ thể những bộ phận phía dưới ròi ăn hết sau đó kên kên, quạ, diều hâu, chó rừng tới gặm dật ra từng miếng thịt miếng mỡ ăn máu chảy, ăn từ từ riết còn một bộ xương vương vãi với thịt mỡ và máu, sau đó nắng mưa dần dần còn lại bộ xương trơ trọi một năm hai năm, xương này rời rạc xương sọ đàng kia, xương ống chân đàng đây vương vãi chỗ kia là xương sườn, xương bàn chân, xương vai, xương khiểu tay xương sống nằm rãi rắc nắng mưa thời gian lần lần những khúc xương này lần lần nát ta thành bụi đó chính là bản tánh thân này là như thế không thể khác, tách chất thân này là như thế không thể khác, thân này cuối cùng cũng đi tới đó không có gì khác hơn nữa và những người khóc than xung quanh mình cha mẹ mấy cô chú đệ tử Phật tử chết hết thành bộ xương nằm hết la liệt, cuối cùng đều trở về chỗ tan hoại, quán tới đó nước mắt tràn rúng động toàn thân nổi da gà và chấn động hết thân tâm, không phải một lần mà cả chục lần như vậy mỗi lần quán đều như vậy mùi hôi tanh nồng nặc đến mức mình muốn ối mửa, Minh Thành quán như vậy xuyên suốt bốn tuần lễ ngày nào cũng như vậy, cái hiệu quả là nhiếp phục được dục tham, suốt thời gian đó thân không có sanh khởi, mình mới thấy mới tin được lời đức Phật, nhiều đệ quán nói con quán thân bất tịnh mà con quán thấy tịnh đó là một suy nghĩ tiêu cực, mình không tin chánh pháp của đức Phật không tôn trọng pháp đây cũng là nguyên nhân làm cho chánh pháp bị sụp đổ đưa tới mạt pháp, mình nghe tới đâu quán tới đó phải tùy văn nhập quán, quán phải phát sanh ra cảm thọ chứ quán mà không phát sanh ra cảm không có công năng phát sanh ra cảm giác mình đang như vậy, ròi bò trong mắt, trong mũi trong miệng phải quán phát sanh ra cảm giác, cảm giác này sẽ đánh tan cảm giác của tham dục tẩy sạch cảm giác của tham dục, quán ba mươi hai thể trượt mình ngồi như vậy mình dọc đại phẩu từ trên xuống lột da, đầu tiên bứt hết tóc bứt hết lông trên cơ thể, mình nhỏ từng cái răng máu chảy xuống để ra tóc, móng, răng, lông, lột hết da trên cơ thể, da tay chân đùi lưng bụng lột hết ra máu chảy xuống để qua một bên da, tới thịt lấy thịt ra ba trăm miếng thịt, lấy mỡ ra, gân, xươn,g lá lách, dạ dày, tim, gan, tỳ phế phổi, nước miếng, mủ, máu đờm nước khớp xương phân nước tiểu...lấy hết ba mươi hai thể trượt lấy hết ra, lấy từng bộ phận trước mặt mình hết lúc đó mình quay lại xem cái gì là tôi cái gì là của tôi, mình phải nhìn thấy rõ bản chất hư ảo tạm bợ mong manh nhơ nhớp bất tịnh của thân này, lúc đó Minh Thành rúng động nước mắt tràn ra, mình nhìn thấy bao nhiêu mình xuất gia bao nhiêu năm nay khối si mê vô minh tham ái của mình vẫn còn cứng chắc thật nhục nhã cho một người tu, khi mình không tẩy hết tham dục, thật là xấu hổ cho một người xuất gia mình còn nuôi dưỡng tồi tại trong nội tâm của mình, đức Phật dạy phải tẩy sạch từ bỏ nó tiêu diệt nó, đoạn tận nó chặt nó giống cây Sala không cho nó tái sanh lại đó mới là người tinh tấn trong giáo pháp của Như lai, quán tới quán lui liên tục như vậy ngày nào cũng quán, quán rằng bộ xướng này đang ngồi đây, quán tình ái của nam nữ sự tham dục là bộ xương này ôm bộ xương kia và bộ xương này khao khát bộ xương kia, bộ xương này mong ngóng bộ xương kia chờ đợi bộ xương kia, đau khổ quần quại bộ xương kia, những bộ xương đầy dãy trên đường, một bộ xương hôi hám dơ bẩn chưa đủ mà muốn tìm thêm bộ xương khác để cùng với nhau hôi dơ bất tịnh và đau khổ, cuối cùng tạo thêm bộ xương nữa và cứ như thế tất cả bộ xương trao truốt tô điểm bao bọc bởi một lớp da tanh hôi che đậy, “thành này làm bằng xương quét tô bàng thịt máu trong ấy già và chết mạng lừa đảo chất chứa” nó quét tô bằng thịt máu, sườn bên trong là bộ xương kế đó là gân, thịt, mỡ, da lớp bọc bên ngoài chính tấm thân nhơ nhớp bất tịnh này, tấm thân này lừa dối mình lừa gạt mình không phải kiếp này đời này mà bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp mình bị nó lùa dối, mình còn đắm đuối mình còn mê say si mê ảo mộng trong tấm thân vô thường hư ảo này đó thật là si mê, si mê đó là cho một tên Thích Minh Thành, mê muội cho một cái tên là Thích Minh Thành, điên đảo cho một cái tên Thích Minh Thành, tỉnh ra chưa mở mắt ra để nhìn thấy thực tướngbản chất của thân này, mày nhìn đi mày nhìn cho kỹ đi, lúc đó nước mắt Minh Thành dàn rụa giống như người đang đánh mình nên mình mới tin lời của Phật. Pháp bất tịnh là một phương pháp tuyệt diệu giúp cho mình nhiếp phục không phải mình tu một lần sạch hết không phải trong một giai đoạn nếu mình bỏ mình không tu nữa nó sẽ trở lại cho nên trong sự tinh tấn đức Phật dạy gọi là tinh cần hộ trì thiện pháp tức là mình được pháp quán rồi mình phải giữ không cho mất giữ liên tục, cái này rất quan trọng nên có một số người tu mới được chút ra ta đây chứng cái này cái kia rất nguy hiểm, mình không tu thì thôi mình tu phải có kết quả, có kết quả phải giữ liên tục không buông lung phóng túng nếu buông lung phóng túng tham dục tấn công trở lại cho nên sau đó Minh Thành cho đại chúng linh Quy Pháp Ấn tụng niệm nhiều mà lên chánh điện mở những hình bất tịnh quán, mở mấy hình ròi ăn cho coi xong rồi bắt đầu thiền quán để hình trước mặt thiền quán và các chú trẻ trẻ nhỏ nhỏ ứng dụng tu thì thấy được pháp hỷ pháp lạc, bây giờ con thấy nhẹ hơn, tâm động, bây giờ có sự tu này là sự phòng hộ bảo vệ tâm có sự nhiếp phục cho nên nếu như mình y như lời Phật dạy nhất trong kinh tạng năm bộ Nykaya các huynh đệ ngồi trong đây từ sơ quả đến tứ quả có trong một đời nếu tu đúng theo kinh tạng Bali, bốn thánh quả không có gì ghê gớm bốn thánh quả là bốn thành quả của một người xuất gia chân chánh theo phập giáo được đức Phật xác nhận, bốn thành quả giống như mình làm thì có tiền, mình học thì tốt nghiệp cái đó đương nhiên, thánh quả là thành quả của con đường thánh đạo, mình tu hành bốn thành quả đó là thành quả thứ nhất thấy được nhà mình có đống rác dơ, mình hốt cái rác đó là quả thứ hai, sau khi hốt còn dính mình chùi đó là quả thứ ba, sạch hết không còn chút nào dơ là quả thứ tư A-la-hán nên đừng nghĩ sơ quả tu đà hoàng là cái gì ghê gớm, tức là mình thấy được nội tâm của mình, thấy được tham dục nó vận hành, sân hận nó vận hành ra sao, vô minh nó ra làm sao nên đầu tiên phải thấy được dục lậu, cái sự nhiễm dục ở trong tâm của mình nếu mình không nhìn lại mình không thấy, huynh đệ biết rằng từ đỉnh đầu cho xuống tới gót chân chỗ nào cũng nhiễm dục, mình tưởng đâu tôi tu ngày nay tôi không thấy tôi giận ai không thấy phiền não cái đó là chưa thấy pháp.
Minh Thành vạch mặt phiền não nếu mình không thấy mặt phiền não mình không thể nào trinh phục được phiền não.
Phiền não ở trong cảm giác cảm thọ của mình cho nên hôm trước Minh Thành cho huynh đệ nhận diện năm uẫn là phải thấy được mình đang trong ba thọ, ba cảm giác, cảm giác khó chịu cảm giác không khó chịu và cảm giác khó chịu cảm giác dễ chịu, mình phải biết mình đang ở cảm giác nào, cái này rất quan trọng nếu huynh đệ không nhận diện được cảm giác cảm thọ thì không biết được trú xứ của phiền não, ví dụ lúc mình nổi nóng lên thì cảm giác có thay đổi nóng trên mặt nóng hai lỗ tai hai, con mắt nóng đỏ lên đó là hình tướng của sân nên mình thường nhìn quán chiếu khổ thọ khi cục cựa tát cho nó mấy cái, đánh cho nó tơi tả tan tành trong kinh đức Phật nói phần tinh cần đoạn tận, từ bỏ nó đoạn tận nó không cho nó tái sanh, chặt nó như cây cau cây dừa như cây Sa la bứng gốc dễ nó làm cho nó không còn sanh khởi đó là người tinh tấn nhiệt tình nỗ lực trong giáo pháp của Như lai nếu mình không thấy trú xứ của phiền não căn cứ địa của tham sân si đó mình không thể nào đoạn diệt được hết, trú xứ căn cứ địa là cảm thọ nó liên hệ tới tưởng, hành, thức mình phải nhận diện năm uẫn, cái cảm giác của mình.
Mình cứ tưởng mình sống hàng ngày như vậy là tốt nếu mình không nhìn sâu cảm giác không quán chiếu mình không có biết. Lúc mình lên ngồi quả đường dọn lên cúng trai Tăng bảy món nhất là món ruột của mình, mình nhìn lại thấy trong tâm mình có những gì? về phần sinh lý tự nhiên nước miếng tươm ra, cái đó là cơ thể sanh lý tự nhiên, bên trong rạo rực mong muốn lẹ mau gấp nhanh cái đó là dục và tham, đó là nằm trong cảm giác nếu lúc đó mình không chánh niệm nhìn ra đó là mình đang nuôi dưỡng dục và tham mà mình không biết nếu lúc đó trong mâm của mình có món có một món mình thích nhất và trong khi chiêu đãi khách cúng dường có người trai soạn quả đường họ tới bưng món mình thích đẩy qua mâm kia, lúc đó cái gì nổi lên? mình tưởng mình tu hay nhưng một miếng ăn nhỏ nếu mình để ý tham và sân nó khởi trong đó, không phải nó nói một câu mà thì thào trong đó nói tới nói lui nói hoài cho tới tối về ngồi thiền sáng nó nói nữa, mấy ngày sau tại sao mâm của tôi lại bưng ngay mâm của tôi, cái nói nhảm đó là ý hành, những lời nói thầm thầm trong tâm và khi nói những lời nói đó có những hình ảnh người bưng tái hiện đó là tưởng và cảm giác lúc bị bưng tô đó hiển lại cái đó là thọ, tất cả cái đó là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, pháp tưởng tức là những cái của quá khứ nhưng hồi tưởng trở lại, hình bóng người đó trở lại là sắc tưởng, tiếng nói của người đó hiện lên là thanh tưởng, mùi hương của món ăn đó hiện lên là hương tưởng, vị tưởng cảm giác của món ăn đó ngon như thế nào đó là vị tưởng rất ghê gớm, mình đau khổ với thực tại ít mà mình đau khổ với bóng dáng mới đau khổ dài cái đó mới là vô minh, tiếng nói đó nói có hai phút hay năm phút nhưng sau đó một tháng trời mình đau khổ với tiếng nói đó mình đau khổ thanh tưởng rất ghê gớm đó là vô minh, vì mình thấy đó là thật, câu nói đó mất rồi nhưng mình ngồi đó là mình hồi tưởng câu nói đó đó là thanh tưởng, một chút xíu ngay chỗ ăn Minh Thành thấy khiếp đảm ngay chỗ ăn đó, trong khi mình ăn cơm thấy nó xuất hiện ví dụ như tới giờ mình tu mình không có cảm giác, không phải, mình biết món ngon là món ngon, món dở là biết là món dở khi đưa vào miệng mình biết là cảm giác dễ chịu nhưng kế đó trong cảm giác dễ chịu có dục tham, cái này mình phải nhận ra nếu không nó lẫn lộn, cảm giác ngon dễ chịu đó là bình thường nhưng trong đó nó có dục tham, dục tham trong đó là muốn món này được chăm thêm hay muốn gắp thêm món này nhiều nữa hoặc là có cơ hội ăn xong mình xuống bếp hỏi món này làm sao về mình làm tiếp đó là dục tham, trong cảm giác khó chịu nó bình thường như mình đi nắng ba mươi tám độ C nhưng trong đó mình bực bội, bực đó là sân rất vi tế cho nên cảm giác khó chịu kia là cảm giác của thân đó còn cảm giác khó chịu bực là của tâm sân, trong bình thường không khó chịu không dễ chịu đó là si, tức là mình không thấy được thân hành niệm, mình không biết thân này là pháp duyên khởi kết hợp vô thường, nó phải tồn tại do ăn mặc tắm gội do tinh cha huyết mẹ bao nhiêu thứ hỗ trợ mới được sinh tồn, nó không tự nó có, mình không có quán chiếu, mình không vô thường tưởng vô ngã tưởng, mình nhìn thấy được như vậy mình phá được si nên nguy hiểm, ba loại cảm giác mình đều chết hết nếu mình không có chánh trí chánh niệm mình không có tỉnh giác là chết hết, cảm giác tham, cảm giác dễ chịu thì tham lạc thọ, cảm giác khổ thọ khó chịu thì sân, cảm giác không khó chịu không dễ chịu là si, mình tưởng tu vậy là ngon chỗ này rất sâu xa. Lúc đó Minh Thành vào trong phòng tắm sói nước tắm đương nhiên mình có cảm giác dễ chịu, trưa nắng mình được sói nước nhìn thấy ở trong xúc trần, thân mình tiếp xúc với nước là xúc, thân căn tiếp xúc với nước là sắc trần bên ngoài thì trong chỗ đó phát sanh rõ biết cái đó gọi là thân thức, thân thức rõ biết của thân về sự xúc chạm, ba pháp này giao thoa với nhau tạo ra xúc sanh ra thọ, sanh ra một cảm giác nếu mình không có tu ngay cảm giác này mình chết, thọ sanh ra tưởng hành nên mình xúc cái đó cảm giác sanh ra dễ chịu nếu mình không biết chánh niệm do có nước sói lên do thân thức rõ biết sự tiếp xúc của nước này đó là pháp duyên hợp, xúc mới sanh ra cảm giác cảm thọ mình nhìn thấy được pháp như vậy, mình không có bị cái xúc nó nhận chìm không lúc đó xúc sanh thọ thọ sanh tưởng những cảnh liên hệ tới dục, liên hệ tới sự êm ái, liên hệ tới tham tiếp tục thọ,, tưởng hành thức, xúc sanh thọ ngũ uẫn vận hành liên tục suốt ngày suốt đêm cho nên chúng sanh ngũ uẫn sanh khởi liên tục không bao giờ dừng còn các bậc thánh nhân nhìn thấu nó thì nó dừng trở lại, không còn phát sanh nên bậc A-la-hán diệt tận năm uẫn, phá được thủ ngũ uẫn sự bám chấp năm uẫn cho rằng năm uẫn cảm giác đó là mình nên tất cả phàm phu vô văn phàm phu không có nghe phá,p không thấy được năm uẫn chính cái nghĩ này là thân kiến, kiến chấp về thân cái nghĩ này đưa mình vô dòng đen tối vô minh âm u đau khổ bất tận, người nào thấy được năm uẫn này không cho là mình nữa người đó tham dự lưu vào vòng trí huệ, tất cả cái này chúng ta ngồi ai đây cũng có thể thành tựu được trí này, trí của dự lưu, sanh khởi năm uẫn sự kết hợp của năm uẫn không thấy đây là mình mà thấy rằng đây là sắc tưởng thọ hành thức đây là sắc thân, đây là những cảm giác đây là những hình bóng tư tưởng, đây là những hình bóng suy nghĩ, đây là sự rõ biết thấy rõ đó là năm uẫn, đó là pháp duyên hợp như vậy các huynh đệ bước vào trí huệ thứ nhất bốn thành quả của một người tu, khi mình thấy được năm uẫn rồi tham sân si tích tụ trong cái thọ giống như đại cổ thụ một ngàn năm, Minh Thành dùng từ là kẽ thù ngàn năm ta phải tiêu diệt mi không cho mi sanh trưởng nữa nhìn những suy nghĩ của mình thì mình chết suốt ngày mình sống trong vô minh nghĩ đây là mình đây là của mình chỗ này chỗ chúng ta cần thực tập, chúng ta thấy được chỗ dục tham ẩn nấp trong cái tắm nước mát thích thú trong đó tất cả những gì hỷ tham, ưa thích thích thú trong sắc đó gọi là vị ngọt của sắc.
Thế nào là sự nguy hiểm của sắc là vô thường là biến đổi tan hoại nó sẽ đi tới chỗ đổ vỡ chấm dứt diệt tận là chỗ nguy hiểm của sắc.
Thế nào là sự xuất ly của sắc?
Là sự nhiếp phục của tham ở trong sắc đó là con đường ra khỏi, bất cứ ai mà nhiếp phục được dục và tham người đó thành tựu A-la-hán quả, nhiếp phục là giai đoạn đầu đó là hạng hữu học nhiếp phục xong là tới vô học A-la-hán, đòi hỏi tinh cần nỗ lực quyết chí của mình chứ không phải tu phớt phớt, chỉ an ổn trong sinh hoạt của mình hai thời khóa tụng mình phải tu theo lời đức Phật mình phải thành tựu con đường đức Phật đã đi chứ không đi con đường của những người sau này thì mình sẽ thành tựu giống đức Phật và các bậc A-la-hán ngày xưa, tối thiểu mình phải có vé nhập lưu mình mới thành tựu trí huệ đó mình không thể tu mấy chục năm cuối cùng mù mờ sống ở trong vô minh sống trong tham dục chấp ngã không biết đâu là phiền não không biết phiền não ở đâu làm sao mình tu, tối ngày nếu không thức những điều này tu hành tài sắc danh lợi tiền bạc rất đau lòng cay đắng sót xa nên mình cố gắng nỗ lực thật nhiều, mình đem tấm lòng chân thành cung kính cầu pháp đem hết tâm lòng tha thiết của mình để học hỏi, để thực tập các huynh đệ sẽ thấy được hoa trái, hoa trái là chứng quả giống như mình trồng cầy mà có trái mình tu mình thành tựu kết quả đương nhiên là vậy chứ không thể không như vậy, mình thấy huynh đệ từ trong chiếc xe mình có cái gì trong đó đối với mình có chiếc xe này, trong chỗ mình đang ngồi, áo mình đang mặc, dép mình đang mang, phòng đang ở tất cả mọi cái mình phải nhìn cho kỹ cảm giác của mình khi tiếp xúc với cái đó nhìn cho sâu sắc để thấy cả giác mình sanh khởi trong đó, cảm giác đó không phải của mình cảm giác đó là vô thường, cảm giác của duyên sanh đó là sự kết hợp, sự giao thoa của căn thần xúc, xúc đó mới phát sanh ra cảm thọ chứ đâu tự nhiên có cảm thọ, mình để tâm thực tập, để tâm quán chiếu, để tâm hành trì.
Ba pháp đặt niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, huynh đệ thực hành cái này là nền tảng, kế đến nhận diện năm uẫn những cái gì đức Phật nói là sự thật những gì đức Phật đã tu mình có thể thực hành, những gì các bậc A-la-hán đã chứng ngộ mình có thể thành tựu, mình không phải là vô phần.
Cái hữu lậu là gì? Tâm mình muốn làm cái này cái kia không có yên, muốn suy nghĩ muốn làm cái này cái kia nó không yên, nó muốn kiếm chuyện hoài, nó phải nói, nó phải làmphải đi đó là hữu lậu, còn nghĩa sâu luôn luôn bên trong mình có sự khao khát hiện hữu là muốn mình còn tiếp tục những đời sau, trong nội tâm mình luôn luôn có sắc tưởng về mình, mình nói chiều này tôi đi qua chùa bên kia dự lễ khi mình nói vậy là trong tâm mình có hình bóng mờ mờ của mìnhtrong đó đó là sắc tưởng về mình trong đó, mình tu để mình nhìn cho thấu được những phiền não này đang tiêm nhiễm trong tâm, một sự khao khát hiện hữu tiếp tục hiện hữu, phải có cái mình có cái tôi mới được, không có cái tôi là không được nên sau khi đức Thế Tôn vô dư niết bàn còn hay không còn, cũng không phải còn mà cũng không phải không còn, tất cả cái đó đều là chấp thường chấp đoạn khao khát hiện hữu, vô minh lậu là cái trí của mình không sáng tỏa không thấy sự vận hành năm uẫn sự vận hành của các uẫn, mình chỉ thấy mình không thấy năm uẫn đó là huynh đệ thường thực tập nhớ ba pháp, không nhìn một cái nào trú trong tầm mắt mở sáng tỏa phía trước mặt, mình đi đứng ngồi nằm cũng vậy rõ biết trước mặt cảm giác toàn thân, từ hơi thở mình mở cảm giác được đầu, được tay, được chân lúc nào mình cũng nhìn cảm giác toàn thân của mình để nó thay đổi hay không là mình biết được liền cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tĩnh giác là mình rõ biết hai con pháp kia, rõ biết chánh niệm trước mặt rõ biết cảm giác toàn thân, trong tâm mình sáng tỏa có gì trong tâm mình phải thấy rõ nội tâm tỉnh giác, kế đó mình phải nhận diện được năm uẫn cái nào là sắc, cái nào là cảm giác những tưởng tượng những suy nghĩ nói thầm trong tâm, cái nào rõ biết được điều đó, cái đó mình nhận diện năm uẫn, mình thường xuyên thực tập liên tục cho nhuần nhuyễn mình mới đi vào trong pháp được đây là cánh cửa mở vào thánh đạo thánh quả.