Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 11 - Cư Sĩ Chứng Quả Bất Lai Trên Giường Bệnh

2026-03-03 00:54:05
Cư Sĩ Chứng Quả Bất Lai Trên Giường Bệnh

Thích Minh Thành

Ngày 12 tháng 09 năm 2020

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn dự lưu phần PAGEREF _Toc83977537 \h 1

II. Đức hiệu Thế Tôn PAGEREF _Toc83977538 \h 3

III. Sáu minh phần pháp PAGEREF _Toc83977539 \h 11

I. Bốn dự lưu phần

Kính lễ ân đức Thế Tôn

Kính lễ ân đức Chánh Pháp

Kính lễ ân đức chúng tăng.

Kính bạch chư tăng ni và tất cả quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu chủ đề Làm an tâm người bệnh tiếp theo. Bài kinh về một vị cư sĩ, người con bị bệnh nên nhờ cha đi thỉnh Đức Phật đến để giáo giới, khai thị, hộ niệm. Sau khi được Thế Tôn khai thị thì Ngài trở về, vị cư sĩ này thành tựu quả vị rất lớn trong những giây phút sắp phải lìa đời.

Bài kinh Dìghàvu, Tương Ưng Bộ Kinh tập năm:

“1) Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, cư sĩ Dìghàvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3) Rồi cư sĩ Dìghàvu thưa với cha là Jotika:

-- Hãy đi, thưa Cha, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh con, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: "Cư sĩ Dìghàvu, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn". Rồi Cha hãy thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến nhà cư sĩ Dìghàvu vì lòng từ mẫn!"

-- Ðược, này Con.

Gia chủ Jotika nghe lời cư sĩ Dìghàvu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

4) Ngồi một bên, gia chủ Jotika bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Dìghàvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến trú xứ cư sĩ Dìghàvu vì lòng từ mẫn!"

Thế Tôn im lặng nhận lời.

5) Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ cư sĩ Dìghàvu; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống rồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Dìghàvu:

-- Này Dìghàvu, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không tăng trưởng?

-- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Ðau đớn kịch liệt nơi con không có giảm thiểu, chúng tăng trưởng. Chúng có dấu hiệu tăng trưởng, không có dấu hiệu giảm thiểu.

6) -- Do vậy, này Dìghàvu, Ông hãy học tập như sau:”

Đây là bốn Dự lưu phần, chúng ta phải nghe, học, thực tập và phải thành tựu, không thể chỉ nghe rồi học thuộc lòng như vậy là thôi.

"Ta sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với Đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Ðối với Pháp: Đây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.

Ðối với chúng Tăng: Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc như pháp hành, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.

Tôi sẽ thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.” Như vậy, này Dìghàvu, Ông cần phải học tập."

7) -- Bạch Thế Tôn, đối với bốn Dự lưu phần do Thế Tôn thuyết giảng, tất cả các pháp ấy đều có ở trong con. Con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn... Ðối với Pháp... đối với chúng Tăng... Tôi thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định".

Vậy nên chúng ta học pháp theo trước đây nhưng không hiểu, là học theo kiến thức, học cho biết, cho hiểu rồi bỏ qua nhưng ở đây, kinh Nikāya dạy chúng ta học là phải thành tựu. Nên nhiều khi chúng ta nghĩ “Đây là bốn Dự lưu phần con đã nghe giảng rồi. Con đọc mỗi ngày, con thuộc lòng.” Nhưng đã thành tựu được hay không mới là quan trọng!

II. Đức hiệu Thế Tôn

Câu chuyện trên là đang trong lúc bệnh khổ, đối đầu trước sanh tử, quan ải của Tử Môn Quan, đứng trước cửa tử đó thì lúc đó, tâm để tác ý lên lòng tin đối với Đức Phật là rất quan trọng. Mỗi khi gặp bốn Dự lưu phần thì Minh Thành sẽ đọc cho quý vị nghe một hai phần trong Trí đức Như Lai, một vài công đức danh hiệu (đức hiệu).

Như là tên của chúng ta ở đời gọi là thế danh (tên đời), khi đi tu gọi là pháp danh (tên trong đạo), tên của Đức Phật gọi là đức hiệu hay hồng danh, đức là công đức, hiệu là danh hiệu. Ví dụ như những tên gọi Như Lai, Ứng Cúng, Thế Gian Giải, Chánh Biến Tri… đều gọi là đức hiệu, là do công đức tu hành mà có được danh hiệu đó gọi là đức hiệu. Hồng danh là: hồng là to lớn, vĩ đại, danh là tên, những tên gọi vĩ đại là hồng danh. Đức hiệu của Phật là những vị có công đức, tên lớn của tất cả các chư vị có công đức, trí tuệ, đại bi, vô lượng, gọi là đức hiệu, hồng danh.

Nên những người đang bệnh, đang khổ, đanh lo lắng, sợ hãi thì mình niệm lên mười đức hiệu, mười hồng danh của Phật và khi niệm lên thì nhớ ý nghĩa: “Thế Tôn là bậc thế gian tôn kính nhất đời”. Khi chúng ta hiểu được từ đó có ý nghĩa gì thì bên trong đó có công đức, sự tu tập của Phật được thể hiện qua tên gọi đó. Không thể đọc mà không hiểu đó là gì, như vậy là không có cảm thọ, cảm nhận, cảm xúc thì làm sao sanh khởi được sự biết ơn, cung kính, sự kính ngưỡng, hướng tâm về.

Khi không sanh được những điều đó thì thiện pháp không sanh, sự lo lắng, bất an, sợ hãi, cảm giác thống khổ không bị dập tắt. Nhưng khi mình nhớ, hiểu về những danh hiệu, hồng danh đó thì lúc đó mình có cảm xúc, cảm thọ sanh khởi lên thì mình có sự hướng tâm, hướng về, thọ tưởng hành sanh khởi, có sự cảm ơn ân đức vĩ đại, lòng từ bi của Đức Phật, sự truyền trao Thánh trí tối thượng, ân đức vô lượng của Đức Phật. Khi đó mới sanh ra được cảm thọ, cảm xúc sanh khởi. Chính những cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đó sanh khởi, lòng biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn sanh khởi nên tâm hướng thượng, khát ngưỡng, cung kính. Lúc đó thiện pháp sanh, những tâm đó làm cho tan biến những cảm thọ lo lắng, bất an, đau khổ, sợ hãi, nên khi niệm Phật hết sợ hãi là vậy.

Sau này chúng ta sẽ được học các bài kinh Đức Phật dạy các Tỳ-kheo, các vị cư sĩ: “Trong những lúc các ông ở trong rừng gặp thú dữ, phi nhân, ma quái hay trong lúc thống khổ, đau đớn, bệnh hoạn, nguy hiểm đến tính mạng thì các ông hãy nhớ niệm về ta, niệm về Phật, Pháp, Tăng.” Niệm là nhớ nghĩ về công đức, trí tuệ, lòng đại bi của Đức Phật, đó gọi là niệm ân đức Phật, Pháp, Tăng, niệm ân đức của giới.”

Nên khi chúng ta niệm Thế Tôn là: “Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni. Bậc đáng được tôn kính. Ngài được trời tôn kính, Ngài được đời tôn vinh, được thế giới tôn thờ, được lịch sử tôn trọng, được thế gian tôn quý. Vì vậy Ngài được gọi danh xưng Đức Thế Tôn. Bậc thế gian tôn kính. Con thật kính ngưỡng Ngài, con thật kính phục, quy phục Ngài. Con xin đảnh lễ Ngài.”

Vậy nên mỗi khi chúng ta lạy về trí đức Như Lai là chúng ta tưới tẩm, vun vén, chăm sóc, bón phân vào cây tịnh tín bất động của mình. Tức tâm tin về trí tuệ, công đức của Đức Phật và mỗi tên gọi như vậy là chỉ về một đức hạnh. Ví dụ như Thế Tôn là bậc đáng được tôn kính, Ngài được đời tôn kính, Ngài được đời tôn vinh, được thế giới tôn thờ, được lịch sử tôn trọng, được thế gian tôn quý nên Ngài được gọi là danh xưng Đức Thế Tôn.

Vậy nên khi niệm “Con nguyện lòng tin bất động đối với Thế Tôn”. Nên Thế Tôn là bậc tôn kính, Chư Thiên tôn kính, cả cuộc đời, cả thế gian tôn kính, cả lục đạo tôn kính. Không chỉ loài người mà các bậc Chư Tiên, Thánh hiền đều tôn kính Ngài.

Khi niệm và suy nghĩ tại sao lại tôn kính, đó là tu về Chánh Tư Duy, chánh niệm, đó cũng là niệm thiện pháp. Tại sao Ngài được tôn kính? Vì Ngài thành tựu trí tuệ, thấu suốt tận cùng thân tâm, tẩy sạch tất cả lậu hoặc, cấu nhiễm. Ngài đem đạo lộ diệt khổ, bất tử đó để lại cho đời.

Vì vậy nên dù đọc thuộc trôi chảy nhưng không hiểu được ý nghĩa bên trong, chữ Thế Tôn là sao là không được. Nên những khi Minh Thành đọc “Bạch Đức Thế Tôn” là Minh Thành diễn giải thêm: “Bạch bậc tôn kính nhất đời!” thì nghe thấy khác ngay vì mọi khi chỉ nghe Thế Tôn thôi nên quen, không để ý mà chỉ biết từ đó là như vậy. Cần phải biết Thế Tôn là thế gian tôn kính, thế giới tôn thờ, cả đời tôn vinh, Chư Thiên tôn trọng.

“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời, tự mình thoát cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm.” Ngài sanh ra trong đời, lớn lên trong đời nhưng Ngài thoát khỏi đời, không bị đời quấy nhiễm. Vậy nên Ngài được gọi, danh xưng là Đức Phật. Đó là ý nghĩa của Chư Phật, là giác. Nên bậc Tự mình phát giác những cấu uế trong tâm.

Nên nhiều khi người nói là tu đạo Phật là được giác ngộ, giải thoát nhưng giác ngộ được điều gì? Là phát giác được cấu uế trong tâm, những dục ái, tham, sân si, vô minh, bản ngã, những cấu nhiễm, ô uế, dơ bẩn, những ác bất thiện pháp, những tội lỗi, hôi dơ ở trong tâm mà tất cả chúng sanh không nhìn thấy, không biết nên mới gọi là vô minh, mù lòa.

Đức Phật là thấy, biết, phát giác, phát hiện, giác ngộ nên ý nghĩa của chữ giác là Phật, là thức tỉnh, tỉnh giác, giác ngộ, phát minh những cấu uế ở trong thân tâm này, trong cuộc đời này. Cấu uế trong tâm là mình đầy rẫy những dục, tham, ái, sân hận, vô minh, bản ngã. Cấu uế trong đời là tất cả lục đạo, ngũ thú, tất cả từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, gọi là những cấu uế trong đời.

Những ngũ uẩn này dơ bẩn thì những ngũ uẩn khác cũng dơ bẩn như vậy. Ngũ uẩn này cấu nhiễm thì những ngũ uẩn khác cũng cấu nhiễm như vậy, không khác nhau nên đồng cảm, xót thương, không giận, không ghét, không oán, không thù. Sự thấu hiểu, cảm thông, bao dung, tha thứ, đó được xem là giác giả, là con người tỉnh thức, con người không tỉnh thức là trách, hờn giận, oán người, hận đời. Luôn hỏi tại sao người ta như vậy mà không nhìn lại vì mình không thấy, không biết, mình mù nên mình cứ oán trách, hờn giận mãi nên mình thấy cuối cùng cũng như vậy. Như Đức Phật từng nói “Sự thể là như vậy Ananda. Sự thể là như vậy. Không thể khác được.”

Vẫn là dục ái, tham, sân si, vô minh và bản ngã, là khổ tập khởi. Cũng vì tham, sân si, dục ái, bản ngã nên khổ tập khởi. Khổ tập khởi thì những hình hài, máu thịt này tập khởi, tạo ra thêm những ác nghiệp tập khởi làm cho quả báo khổ tập khởi. Cứ xoay vòng như vậy thì hoặc nghiệp khổ từ sự mê hoặc tạo ra nghiệp, từ nghiệp chịu phải quả báo khổ hoặc cứ mê lầm, tạo nghiệp và chịu khổ… Như vậy là từ tâm cấu uế, xú uế, uế nhiễm, bẩn thỉu. Khi thấy được như vậy là bậc thức tỉnh, tỉnh mộng, gọi là Đại Giác Thế Tôn – bậc tỉnh giấc mộng lớn được thế gian tôn kính, bậc hoàn toàn tỉnh thức được thế gian tôn thờ, tôn trọng.

“Tự mình thấy cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm” là không chỉ biết, thấy mà còn làm được xong, tự mình thoát khỏi cấu uế và tẩy sạch tâm, không có người chỉ dạy, không có thầy, không có bậc đạo sư. Tự Ngài phát giác, phát hiện và cũng tự Ngài tìm ra phương pháp, phương cách, đi đến thành công, nên gọi là Phật tổ - là người tự mình giác ngộ đầu tiên ra con đường, đạo lộ, phương pháp và tự mình thành tựu viên mãn, tròn đầy, tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ đại viên mãn, toàn giác. Không có ai là thầy nên là bậc tối tôn, tối thượng giữa Chư Thiên và loài người, giữa tất cả hàng Thánh, là Thánh của tất cả những bậc Thánh. Tất cả Hiền Thánh là từ Đức Phật có, là “Thánh trung chi vương, Thánh trung chi Thánh” – Thánh của tất cả bậc Thánh.

Từ Đức Phật, sau đó có các Ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất. Hai người này được xem như một người là sanh mẫu, một người là dưỡng mẫu, là một người mẹ đẻ, một người mẹ nuôi của chúng tăng, của tất cả Thánh hiền, trong Bốn đôi Tám chúng. Đức Phật là “Thánh trung chi vương, Thánh trung chi Thánh”, là Thánh của các bậc Thánh. Vì Ngài tự phát giác, phát hiện những cấu nhiễm nội tâm, tự mình tẩy sạch cấu uế, Ngài sanh ra trong đời, lớn lên trong đời nhưng thoát khỏi đời, không bị đời uế nhiễm. Ví dụ Ngài giống như hoa sen, trong bùn nhưng không hôi tanh mùi bùn.

Vậy nên Ngài được danh xưng là Đức Phật, bậc giác ngộ giải thoát. “Con thật kính phục Ngài, con thật kính ngưỡng Ngài, con xin quy phục Ngài, con xin đảnh lễ Ngài!” Như vậy mới gọi là niệm Phật, lạy Phật. Luôn suy nghĩ, chiêm nghiệm, tác ý, quán chiếu như vậy gọi là niệm ân đức của Phật, niệm hồng danh của Phật, niệm công đức của Phật, niệm đức hạnh của Phật.

Đó là ý nghĩa của Đức Phật, vì nhiều khi chúng ta chỉ gọi Đức Phật như mọi khi chỉ là từ mà không hiểu được Phật là gì. Như vậy mới gọi là niệm Phật, hiểu và biết được, thấy được như vậy và còn sâu rộng hơn nhiều nữa thì chúng ta mới có được lòng tin bất động. Nếu chỉ nói qua rồi mà không có cảm thọ, cảm xúc gì, không biết biết ơn, cảm ơn, không thấy sự khát ngưỡng, hướng thượng thì không thành tựu được lòng tin và khi không thành tựu được lòng tin thì không đi đến lòng tin bất động được.

Vậy nên khi vị cư sĩ này bị trọng bệnh và nhờ Đức Thế Tôn đến nói Bốn pháp Dự lưu thì Ngài đó nói là “tất cả các pháp ấy đều có ở trong con”. Đó là cư sĩ thời Đức Phật, giờ như chúng ta, mấy chục năm ở trong chùa nhưng chưa thể được như vậy. Vậy nên nói ở miệng, hình thức, tên gọi là như vậy nhưng để thấy, biết, thấu hiểu và có được cảm thọ, cảm xúc sâu sắc, biết ơn vô tận, vô lượng, vô biên, vô cùng thì một khi nói lên hai từ Đức Phật thì trong lòng phải dào dạt, thấm thía, cung kính, biết ơn mà không thể có lời gì diễn tả hơn được.

“Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc tự mình phát giác những cấu uế trong tâm, những cấu uế trong đời, tự mình thoát cấu uế, tự mình tẩy sạch tâm.”

Ngài đã cực khổ trong bao nhiêu số kiếp để tìm ra được đạo lộ như vậy, chỉ cho chúng ta hết lòng, các bậc Chư Thánh tăng, Truyền thừa, các bậc Đại tri thức hướng dẫn như vậy mà giờ mình tu nhưng còn làm biếng, giãi đãi, e dè, rụt rè, do dự, không quyết liệt, quyết tâm. Đó là khi Ngài đã tìm ra sẵn hết công thức, định nghĩa, phương pháp, con đường mà giờ chúng ta tu còn khó khăn, còn Ngài thì không ai chỉ dạy, tự mình tìm ra như vậy rất khó khăn, gian khổ, ân đức ra sao.

“Ngài sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, nhưng Ngài thoát khỏi đời, không bị đời uế nhiễm.” Như hoa sen sanh ra trong bùn, lớn lên trong bùn, vượt thoát khỏi bùn, không bị bùn uế nhiễm, đó thể hiện được ân đức của Đức Phật.

Ngài sanh ra trong một tâm thân máu thịt, tinh huyết, lớn lên trong tấm thân đó nhưng Ngài lại thoát khỏi thân máu thịt, tinh huyết, xương da. Ngài không bị thân bất tịnh này làm cho uế nhiễm, tham ái, tham dục, tham đắm. Chúng ta thấy thật tối thượng, tối tôn, vi diệu.

Chúng ta niệm như vậy là đang niệm ân đức, công đức, đức hạnh của Phật, trí huệ, trí đức của Phật. Vậy nên đó là ý nghĩa của chữ Phật, “Vì vậy Ngài được gọi danh xưng là Đức Phật, bậc Giác ngộ, giải thoát.” Giác ngộ là tự mình phát giác cấu uế trong tâm, giải thoát là không bị đời uế nhiễm, tự mình tẩy sạch tâm, tự mình thoát cấu uế.

“Con thật kính phục Ngài. Con thật kính ngưỡng Ngài. Con xin quy phục Ngài. Con xin đảnh lễ Ngài.”

Hàng ngày chúng ta cứ tưới tẩm, vun vén, bón phân, chăm sóc cho cây tịnh tín bất động của chúng ta thì đến lúc bệnh gần chết mới có thể tuyên bố trước mặt Đức Thế Tôn như sau:

“-- Bạch Thế Tôn, đối với bốn Dự lưu phần do Thế Tôn thuyết giảng, tất cả các pháp ấy đều có ở trong con. Con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn... Ðối với Pháp... đối với chúng Tăng... Tôi thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định".

Đó là cư sĩ thời Đức Phật nói dù đang bị bệnh nặng, chúng ta thấy vậy có cảm thấy xấu hổ? Đó là hôm nay chúng ta nghe hai đức hiệu Thế Tôn và Phật, khi có dịp gặp Bốn Dự lưu phần thì chúng ta nghe lại một, hai đức hiệu bên trong.

Khi mình nhớ nghĩ như vậy thì tâm mình được bình an, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, như những người bệnh, đang lo lắng, đang nằm trên giường bệnh, là F1, F0 nên cần lấy bài này ra đọc tụng, nghe, chiêm nghiệm, tác ý, khi đó sẽ được an ổn, thân an, tâm ổn.

Từ Thế Gian Giải là “Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc thông giải cuộc sống, thông giải pháp thế gian, thông giải tâm nhân thế, thông giải tham, sân, si, thông giải tâm cấu uế, thông giải nẻo tái sanh, thông giải đường thoát tử, thông giải lối Niết-bàn. Vì thế Ngài được gọi là bậc Thế Gian Giải”

Thế Gian Giải là thông giải cuộc sống này, thấu hiểu, thông hiểu, không còn gì để tìm hiểu mà là thông hiểu một cách hoàn toàn cuộc sống này, thông suốt hoàn toàn pháp thế gian này, thông giải tâm nhân thế, thông giải tham, sân, si, thông giải tâm cấu uế, thông giải nẻo tái sanh.

Như Đức Phật từng ví dụ như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy rõ người này đi qua đi lại, người này ăn mặc gì. Hay ví dụ như hai nhà đối diện có hai cửa mở, nhìn thấy người này đi qua đi lại, ăn mặc ra sao, cử chỉ như thế nào, trông hình dáng đẹp xấu, đen trắng, mập ốm, cao thấp đều được thấy rành rẽ như vậy.

Cũng vậy, Ngài nhìn thấy chúng sanh tạo ác nghiệp, đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như thế nào, tạo thiện nghiệp, đi lên cõi người, cõi trời, thiên giới hưởng phước ra sao, tên gọi, đời sống ra sao, cha con, anh chị em có phước báu, nghiệp gì, quả báu, khổ như thế nào… đều được Ngài thấy rành rẽ, rõ ràng như là đang ở trước mắt Ngài. Như là ở trước mắt, như xem chỉ trong lòng bàn tay.

Ví như đang nhìn người đang đi ở trước mặt mình, giống như người đi đến chợ Lộc Thành rồi về kể là ở đó có những gì, như thế nào, gặp ai, nói chuyện gì… đều được kể lại rõ ràng như vậy. Đối với sanh tử của chúng sanh Ngài thấy được như vậy, sanh tử của Ngài cũng như vậy, “sanh tử trí, túc mạng minh” gọi là thông giải nẻo tái sanh.

Khi Ngài nhìn một người Ngài sẽ biết được nhân, duyên, quả, nghiệp ra sao và biết được tại sao bây giờ lại sanh ra bị què, cùi, mù lòa. Hay nhìn và biết tại sao người này làm vua chúa, là hoa hậu hay vương phi, hoàng phi… Chỉ nhìn và biết được hết tất cả căn nguyên gốc rễ từ đâu, tại sao, vì sao, nhân quả, thiện ác, tội phước của người đó. Biết được người đó nhắm mắt sẽ đi vào thế giới nào, trải qua như thế nào… Tất cả đó gọi là “thông giải nẻo tái sanh”, đời sống của Ngài và đời sống của chúng sanh.

Vì tâm của Ngài hoàn toàn không còn chấp thủ trong ngũ uẩn một chút nào, vô minh và tham ái là diệt tận một cách hoàn toàn, tâm của Ngài cứu cánh cùng cực của sự thanh tịnh thì không còn chướng ngại vật nào nữa. Không còn chướng ngại Pháp, tự tại đối với Pháp nên gọi là Pháp vương (vua của các Pháp), tự tại đối với ngũ uẩn. Vì Ngài không thấy một sắc nào dù nhỏ như hạt cát là tôi, là của tôi, không còn thấy một chút cảm giác nào còn dính mắc trong đó. Không còn một tưởng hay hành nào mà Ngài cho là ngã sở, không còn thức nào mà Ngài cho là tôi, là của tôi, tất cả Ngài đều xuyên thủng, phá vỡ vô minh uẩn to lớn và tham ái diệt tận hoàn toàn, tự tại, vô ngại đối với ngũ uẩn.

Chúng ta có thấy khi mình bị tham cái nào thì chính cái đó làm mình khổ, lo. Do mình sợ hãi, lo lắng, bất an vì mình quan trọng cái đó. Ví như thân vừa nghe bệnh là sợ hãi, sợ chết, lo lắng. Các Ngài thì xem thân này như giẻ rách, không còn tâm dính mắc, luyến ái đối với ngũ uẩn mà hoàn toàn giải thoát triệt để cứu cánh trọn vẹn vì tâm của Ngài hoàn toàn thanh tịnh, tự tại.

“Thông giải đường thoát tử, thông giải lối Niết-bàn” là tối thượng vì khi nãy là tất cả các góc độ, khía cạnh của sự thông giải, của bậc Thế Gian Giải, không những thông giải như vậy mà Ngài còn thông giải cả đường thoát tử, tức là con đường bất tử, đạo lộ bất tử đi như thế nào để không còn sanh tử nữa. Ngài đã thông suốt hoàn toàn, trọn vẹn, rốt ráo, viên mãn, thông giải con đường trong sống chết, trong ngũ uẩn, tứ đại này.

Ngài khai thị, trình bày, hiển lộ, hiển thiết, phân minh, phân biệt con đường thoát tử cho chúng sanh, đạo lộ thoát tử, với những bậc có tâm hiền thiện, muốn hướng đến để tu hành, thông giải lối Niết-bàn, đường lối dập tắt hết tất cả, hoàn toàn để diệt tận tham, sân, si. Như vật gọi là “thông giải lối Niết-bàn”, Niết-bàn là dập tắt ba ngọn lửa tham dục, sân hận, si mê.

Như có người Phật tử ở nước ngoài chia sẻ là “Con niệm Phật hơn mười năm, ha mươi năm nay và con thấy cũng lành. Nhưng con thấy tham, sân, si của con vẫn còn nguyên. Con niệm thì thấy ổn ổn nhưng khi trở ra thì thấy dữ dằn. Con đau khổ vì nó. Giờ thì con vô tình nghe được pháp và nhận diện ngũ uẩn. Con thấy đây mới là đúng, đây mới là con đường mình đi. Con thấy được tham, sân, si trong ngũ uẩn, cảm thọ.”

Vậy nên chúng ta thấy tu đúng Chánh Pháp thì mới có khả năng nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si. Mình tu mà chỉ hướng ra bên ngoài, không thấy rõ được thân tâm của mình thì thật sự là khó khăn vô cùng, không thể đi đến chỗ dập tắt tham, sân si nên “thông giải lối Niết-bàn nên Ngài gọi là bậc Thế Gian Giải”.

“Con thật kính phục Ngài. Con thật kính ngưỡng Ngài. Con xin quy phục Ngài. Con xin đảnh lễ Ngài.” Đó là ý nghĩa của đức hiệu, hồng danh Thế Gian Giải. Như vậy là niệm Phật.

Vậy nên đối với Bốn Dự lưu phần, chúng ta phải tu tập thường xuyên, nhất là trong giai đoạn bất an, lo lắng, sợ hãi này, trong hoàn cảnh bệnh khổ này phải để tâm thật nhiều vào bốn Dự lưu phần này.

III. Sáu minh phần pháp

“-- Do vậy, này Dìghàvu, sau khi ông đã an trú trong bốn Dự lưu phần này, Ông hãy tu tập thêm sáu minh phần pháp (chavijjà-bhàgiye dhamme).”

Tức Đức Thế Tôn chỉ dẫn hướng thượng cho vị này, vì Ngài biết được căn cơ, khả năng của vị này. Như có những chỗ Ngài đến chỉ nói về bốn Dự lưu phần thì đối với vị này thì Đức Phật khuyên sau khi đã an trú trong bốn Dự lưu phần thì khoan hãy dừng lại ở đó, hãy tu tập thêm sáu minh phần pháp – sáu pháp sáng suốt này:

“8) Ở đây, này Dìghàvu, Ông hãy trú, quán vô thường trong tất cả hành, quán khổ tưởng trong vô thường, quán vô ngã tưởng trong khổ, quán tưởng đoạn tận, quán tưởng ly tham, quán tưởng đoạn diệt. Như vậy, này Dìghàvu, Ông cần phải học tập.

-- Bạch Thế Tôn, đối với sáu minh phần pháp được Thế Tôn thuyết giảng này, chúng đều có ở trong con và con thực hiện chúng đầy đủ.

Bạch Thế Tôn, con trú:

1. quán vô thường trong tất cả hành,

2. quán khổ tưởng trong vô thường,

3. quán vô ngã tưởng trong khổ,

4. quán tưởng đoạn tận,

5. quán tưởng ly tham,

6. quán tưởng đoạn diệt.

Tức vị cư sĩ Dìghàv quán như sau:

“Con an trú, quán chiếu “Quán vô thường trong tất cả hành”. Từ lâu, khi con nghe Thế Tôn dạy con thì con tu tập, an trú sự quán chiếu tính chất vô thường, tan hoại của sự vận hành trong ngũ uẩn này.

Con quán chiếu “Quán khổ tưởng trong vô thường” là quán tính chất khổ đau trong vô thường, đổi thay của cuộc đời này. Con an trú vào sự quán chiếu tính chất vô ngã trong sự đau khổ này, quán chiếu tính chất vô ngã, trống rỗng, trống không ở trong cuộc đời đau khổ này.

Con thường luôn quán chiếu là quán chiếu tính chất đoạn tận, dứt các sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, quán chiếu tính chất không đáng để tham muốn, của ngũ uẩn này, của thân xác này, của đời sống này. Con thường xuyên quán chiếu, chiêm nghiệm, tác ý, suy nghĩ tính chất không đáng tham của sắc, của thể xác này.

Con thường luôn an trú, quán chiếu tính chất không đáng tham của cảm giác, không đáng dính mắc trong hình bóng, ảo ảnh trong tâm này. Con thường an trú, quán chiếu tính chất không đáng dính mắc, nắm giữ ở trong những suy nghĩ, luôn quán chiếu tính chất không đáng dính mắc, chấp thủ, nắm chặt ở trong nhận thức rõ biết này.

Trong thời gian dài con quán chiếu sáu pháp này, quán tưởng tính chất đoạn diệt, chấm dứt, của thân xác này, của đời sống này, của tứ đại, cát bụi này, của ngũ uẩn vô thường, bại hoại, tan nát này.”

“Bạch Thế Tôn, đối với sáu minh phần pháp được Thế Tôn thuyết giảng này, chúng đều có ở trong con và con thực hiện chúng đầy đủ.”

Chúng ta thấy đây là một vị cư sĩ nhưng trước đã tu được bốn Dự lưu phần, sau là tu được sáu minh phần. Sáu minh phần này Đức Phật từng nói trong Tăng Chi Bộ kinh thì ai tu được sáu minh phần này thì quả vị tối cao là lậu tận, thấp hơn là bất lai, không phải là bậc bình thường, là bậc thượng thủ, là vô thường, khổ, vô ngã, ly tham, đoạn diệt, đoạn tận. Đó đều là các pháp quán mình thường xuyên nhắc nhở, thực tập, tác ý thường xuyên.

“9) Nhưng, bạch Thế Tôn, con có ý nghĩ sau đây: "Ta không có muốn gia chủ Jotika, ở đây khi ta chết phải rơi vào khốn khổ (vighàta)”.”

Tức vị này có ý niệm là lo cho người cha ở lại khốn khổ.

“-- Này Dìghàvu, chớ có tác ý như vậy! Hãy nhìn, này Dighàvu! Những gì Thế Tôn đang nói cho con, con hãy khéo tác ý.”

Những gì Thế Tôn nói thì vị cư sĩ nên khéo tác ý, đừng nghĩ việc khác, đừng lo lắng điều đó. Vậy nên chúng ta thấy ý niệm, tác ý, sự hướng tâm rất quan trọng. Dù vị cư sĩ này thành tựu hết các Thánh pháp nhưng còn một ý niệm lo lắng cho người cha ở lại sợ phải đau khổ vì người cha chưa thành tựu được các pháp. “Hãy nhìn” ý nói hãy nhìn Như Lai. “Những gì Thế Tôn đang nói cho con, con hãy khéo tác ý.” Là Thế Tôn đang chỉ dẫn, tác ý, dẫn tâm, nhắc nhở, khai thị, hộ niệm nên vị cư sĩ hãy khéo tác ý theo, tùy văn nhập quán theo. Chú tâm, chuyên chú vào những tác ý ta đang nói, đang hướng dẫn, khai thị, nhắc nhở.

“10) Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới cho cư sĩ Dìghàvu với lời giáo giới, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

11) Cư sĩ Dìghàvu, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu liền mệnh chung.

12) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, người cư sĩ tên là Dìghàvu; sau khi được nghe Thế Tôn giáo giới một cách tóm tắt, đã mệnh chung. Sanh thú cư sĩ ấy thế nào? Sanh xứ cư sĩ ấy chỗ nào?

-- Hiền minh, này các Tỷ-kheo, là cư sĩ Dìghàvu! Cư sĩ Dìghàvu thực hiện các pháp và tùy pháp, không làm phiền nhiễu Ta với những kiện tụng về pháp.”

“Hiền minh, này các Tỷ-kheo, là cư sĩ Dìghàvu” ý chỉ cư sĩ Dìghàvu hiền lành, sáng suốt, người hiền trí, là bậc hiền tuệ, hiền lương, hiền lành, hiền hòa, hiền hậu, hiền đức, sáng suốt, thông tuệ, minh trí, có trí tuệ. “Cư sĩ Dìghàvu thực hiện các pháp và tùy pháp” là cư sĩ Dìghàvu siêng năng tu tập, tinh tấn thực hành, luôn thực tập pháp, gọi là tùy pháp. Bất cứ khi gặp, nghe hay thấy gì, ở hoàn cảnh gì thì vị này cũng không bỏ quên pháp hay lãng quên pháp, đó gọi là tùy pháp.

Cư sĩ Dìghàvu rất siêng năng tu tập các pháp trong mọi hoàn cảnh, nỗ lực tinh tấn thực tập, không quên pháp, “không làm phiền nhiễu Ta với những kiện tụng về pháp” tức không có sự tranh cãi đúng sai hay nghi vấn. Không làm phiền Đức Phật và luôn siêng năng tinh tấn thực hành pháp, nỗ lực trong mọi hoàn cảnh, tu tập rất tinh tấn.

“13) Cư sĩ Dìghàvu, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh nhập diệt ở tại đấy, không còn trở lui thế giới này nữa.”

(Bài kinh Dìghàvu – I. Phẩm Veludvàra - Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu – Tập V. Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Bộ Kinh)

Vị này đoạn diệt năm hạ phần kiết sử là: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân, vị này hóa sanh lên Tịnh Cư Thiên, là cõi trời, các bậc thanh tịnh cư trú của bậc Thánh bất lai, nhập diệt ở tại đấy, không còn trở lui thế giới này nữa.” là bất lai, không trở lại. Bất là chẵn, lai là lạy, chẳng trở lại, nên gọi là bất lai.

Đây là cư sĩ chứng quả bất lai nên bệnh không sợ, chết không sợ mà lại sợ lậu hoặc không đoạn trừ hạ phần đoạn trừ kiết sử này, chỉ sợ mình chết mà tham, sân si, vô minh, bản ngã còn đầy rẫy.

Chúng ta nói về sáu minh phần gồm: quán vô thường trong tất cả các hành, là sự vận hành của ngũ uẩn. Sắc này vận hành trong vô thường, những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm này, nhận thức rõ biết, sự vận hành của nó đều mang tính chất vô thường, biến đổi, tan hoại.

“Quán khổ tưởng trong vô thường” là đã vô thường mà khổ, giống như dịch bệnh mà thêm bão nên phải di dời hàng ngàn người F0 đi nơi khác vì chỗ đó bị bão. Vậy nên vô thường là khổ và khổ vì vô thường, tức là khổ này chồng lên khổ kia, đau này chồng lên bệnh kia, bệnh thân chồng lên bệnh tâm. Là vì vô thường nên khổ, nhưng tất cả là vô thường nên tất cả đều nằm trong khổ, tất cả cảm thọ là vô thường. Nên dù cảm thọ vui đó là vô thường nên sau đó mình cũng phải khổ, cái vui tan biến nên trở thành khổ.

“Quán vô ngã tưởng trong khổ” đây là quán thật sâu trong ngũ uẩn thì mới xả ly được. Là quán sự trống rỗng, trống không, không có gì là tôi, là của tôi trong đời sống đau khổ, vô thường này. Nên vô thường, khổ, vô ngã quấn chặt, móc xích lẫn nhau, ở trong nhau nên vì vô thường, vô ngã nên khổ. Nó sẽ đi đến sự chấm dứt, dứt hết vì đó là thứ không đáng để cho mình tham, dứt sạch, diệt tận, đoạn diệt.

Vậy nên qua bài kinh này, chúng ta thấy thật đặc biệt, đó là người con bệnh nặng, sắp chết, nhờ người cha đến thỉnh Đức Thế Tôn. Cầu mong Đức Thế Tôn vì lòng thương xót, bi mẫn đến dạy dỗ, giáo giới cho con. Đức Thế Tôn bằng tâm từ bi thì Ngài đến nhắc nhở bốn Dự lưu phần. Vị cư sĩ này trả lời là “Bạch Thế Tôn, đối với bốn Dự lưu phần do Thế Tôn thuyết giảng, tất cả các pháp ấy đều có ở trong con. Con thực hiện chúng đầy đủ”.

Sau đó Đức Phật không dừng lại ở bốn Dự lưu phần mà tu thêm sáu minh phần và vị cư sĩ này cũng trả lời là “Bạch Thế Tôn, đối với sáu minh phần pháp được Thế Tôn thuyết giảng này, chúng đều có ở trong con và con thực hiện chúng đầy đủ.”

Nhưng chỉ có một ý niệm là vị cư sĩ lo cho cha ở lại sẽ đau khổ. Đức Thế Tôn chia sẻ là đừng suy nghĩ và tác ý như vậy, hãy nhìn Như Lai, tập trung lắng nghe những điều Ngài nhắc nhở, tác ý, quán chiếu.

Vị này chuyên tâm, chuyên chú tác ý trong pháp mà Đức Thế Tôn đã nhắc nhở, cũng như Ngài đã từng tu tập trước kia một cách viên mãn, thuần thục, thành tựu. Lúc đó là Ngài đã đoạn trừ hết năm hạ phần kiết sử, hóa sanh lên cõi trời tịnh cư, tu ở đó đến khi diệt sạch các lậu hoặc, vi tế, gặp Niết-bàn tại đó.

Qua đó, chúng ta thấy được các vị cư sĩ thời Đức Phật tuyệt vời đến vậy, thấy được các pháp tu cho người bệnh, nhất là nhấn mạnh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, thành tựu các giới. Điều cần nhấn mạnh trong đây là trí đức của Như Lai, hồng danh, đức hiệu của Phật. Nhờ nhớ nghĩ, suy niệm những công đức đó mà tâm của mình được bình an, an ổn, nhẹ nhàng, được trú trong pháp mà không còn lo lắng, bất an, sợ hãi, hoảng loạn.

82:00-88:00: Phật tử trình pháp.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này.

Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.

Kính chúc tất cả quý Phật tử, thầy cô an lành, tinh tấn trong Chánh pháp.