Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Kosambiya - 7 Trí Bậc Dự Lưu 3

2026-03-03 00:54:05
Kinh Nikāya Giảng Giải

7 Trí Bậc Dự Lưu 3

Kinh Kosambiya

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nội xét tự thân PAGEREF _Toc160819808 \h 1

II. Tăng thượng tâm PAGEREF _Toc160819809 \h 7

III. Nội xét tự thân 2 PAGEREF _Toc160819810 \h 9

I. Nội xét tự thân

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?' Và này các Tỳ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỳ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Dù làm rất nhiều công việc nhưng không quên tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ, đó là một trong bảy đặc tính của bậc Dự Lưu, dù cho làm nhưng không phiền não, ngã mạn, không cạy công, khoe công. Người không thành tựu chánh kiến là làm gì cũng hay khoe công, kể công, ta đây, đó là thường tình của phàm phu nhưng người chân tu, người có cái thấy đúng rất nhiệt tình, xông xáo từ việc lớn đến việc nhỏ nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.

"Này các Tỳ-kheo, ví như con bò có các con bê, khi đang nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi chừng con bê. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu". (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Con bò mẹ dù đang ăn cỏ nhưng vẫn trông chừng những con bê con, nghĩa là tuy làm công việc nhưng vẫn đặt tâm trong giới, định, tuệ. Tại sao ngày nay chúng ta bị mang tiếng dù làm rất nhiều Phật sự, thiện sự nhưng làm xong là mất mình? Đó là chúng ta không có đặt tính của bậc Dự Lưu, không chú trọng hướng về mũi nhọn, nóc nhọn của tất cả hướng về tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ trong khi đang làm việc cho nên làm một thời gian thì có công rất nhiều, lợi người nhưng mất lợi mình.

Có nhiều hạng người, có hạng vừa làm hại mình vừa làm hại người, thứ hai là làm lợi người nhưng không lợi mình, thứ ba là lợi mình lợi người toàn vẹn, thành ra nhớ siêng năng làm vì đây là bí kiếp chánh pháp của Đức Thế Tôn. Mình tu không phải trở thành vô cảm, không phải trở thành ích kỷ, không phải ai muốn làm gì thì làm mình không quan tâm là không đúng, mình có trách nhiệm, bổn phận phải gánh vác nhưng khi làm không được quên việc này có ảnh hưởng đến giới không, làm cái này có giữ cái tâm mình định không, nhìn vào 10 món đồ ăn có thấy nó là sắc uẩn không, tứ đại không hay chỉ thấy đó là cơm tấm, bún riêu, bánh xèo... Khi làm thì vẫn làm hết tấm lòng nhưng trí tuệ về ngũ uẩn vẫn không quên, phải giữ được trí tuệ thì đó là cái làm của bậc hiền trí.

"Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Vị này biết rõ như sau: 'Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu'. Như vậy là trí thứ năm mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Con rất thương các thầy, các cô xuất gia với con nhưng các vị lại không hiểu ý con, mỗi lần con gặp là con hay nhắc nhở. Ví dụ hôm nay con cũng nhắc nhở một vị xuất gia bên Ni, con đang nói chuyện với người ta thì tự động nhảy vào cắt ngang là không được nhưng không phải lần đầu mà con đã nhắc, phải 2-3 lần con mới nhắc, thành ra khi làm việc thì làm rất tốt nhưng không được quên giới, định, tuệ, phải tăng thượng. Mục đích chính của mình là gì? Không phải công việc đó quan trọng mà giải quyết tham, sân, si mới quan trọng, nếu mình để cho cái thứ yếu lấn qua cái trọng yếu này là thất bại, chính vì vậy con thường hay nhắc nhở, nhất là các vị xuất gia với con thì con phải có trách nhiệm và bổn phận.

"Vị ấy biết rõ như sau: 'Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật'. Ðó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Tức là vị này sẽ kiểm tra lại năm triền cái, nếu còn lại một trong năm triền cái thì không thể biết như thật, không thể thấy như thật cho nên còn năm triền cái là không thể thành tựu được chánh tri kiến, không vào sơ thiền được, cả một cuộc đời tu mấy chục năm mà lên ngồi thiền ngủ gục là thất bại cho nên phải tập trung diệt tận nó. Khi mình đã dẹp bỏ được năm triền cái thì tâm ý mình mới khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật Tứ Thánh Đế, lúc đó mình mới thật sự thấy khổ, nếu lúc đó mình còn dục tham, ham muốn, yêu thích thì làm sao thấy khổ được. Nhìn thấy cái đẹp là mình đang thấy vị ngọt của nó chứ không thấy được sự nguy hại của nó cho nên không có lối xuất ly.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịnh chỉ'. Vị này biết rõ như sau: 'Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịch chỉ'. Ðó là trí thứ hai mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Sau khi diệt năm triền cái, sau khi khéo hướng đến sự thật của Tứ Thánh Đế thì tâm vị này được an định, tịnh chỉ, tịch chỉ chính là sự dừng lặng. Tại sao mình động, không thể dừng được? Vì mình còn ham cái này, còn muốn cái kia, còn khoái cái nọ, còn thích thì còn động, ví dụ "tôi muốn ra tòa li dị liền, ngán tận cổ rồi, không thể ở chung được nữa", nghĩa là không muốn gặp nữa, không còn ham thích thì đối với năm dục trưởng dưỡng cũng chán đến mức độ như vậy, một ngày cũng không ở chung nổi nữa, quá ngán rồi, cái tâm đó như tro tàn nguội lạnh đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc, đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tâm được tịnh chỉ, đây là trí thứ hai của bậc Dự Lưu, tâm được yên lặng nhưng không phải do mình kiềm lại mới yên lặng mà do nó ngán quá, chán quá nên lặng, chỉ thấy mệt mỏi chứ không thấy sung sướng gì cả, chỉ thấy sầu, bi, khổ, ưu, não.

Lúc dịch bệnh xảy ra bị căng dây mà cũng ráng leo dây đi ra ngoài, không thấy được sự nguy hiểm, tâm của chúng sanh là như vậy cho nên trí thứ hai của bậc Dự Lưu là tịnh chỉ, dừng lặng.

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Tri kiến như ta đã thành tựu có thể có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy không?' Vị ấy hiểu rõ như sau: 'Tri kiến như ta đã thành tựu không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, ngoài tổ chức này, thành tựu tri kiến như vậy'. Ðó là tri thứ ba mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Khi Đức Thế Tôn nói lên câu này làm rúng động, kinh chấn ngũ thiên trúc Ấn Độ lúc đó vì lúc đó có hơn chín mươi đạo mà ngài tuyên bố chỉ có trong tổ chức của ngài mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn, chỉ khi nào có Bát Thánh Đạo mới có Tứ Thánh Quả, ngoài Bát Thánh Đạo ra không có đệ nhất, đệ nhị, đệ tam hay đệ tứ Thánh Quả. Đây là sự thật và ngài chỉ nói sự thật nhưng mấy đạo kia nói rằng ngài nói ngài đúng còn người ta sai hết là không phải, sự thật ra sao thì ngài nói như thế. Bây giờ mình nhận diện ngũ uẩn rồi thì mình thấy ngoài nhận diện ngũ uẩn ra thì làm sao thấy được tham, sân, si một cách đầy đủ? Không diệt tham, sân, si thì làm sao đi đến lậu tận? Như vậy có cách tu nào ở ngoài ngũ uẩn không? Nếu ở ngoài ngũ uẩn thì đâu còn trong thế giới này nữa, đó là lòng tin bất động. Khi đức Như Lai, các bậc Thánh tuyên bố lên thì rúng động biết bao tầng trời, chư thiên đều rung động, ngoài Bát Thánh Đạo không có bốn thánh quả.

Bây giờ mình tu có đi theo Bát Chánh Đạo không? Thấy đúng là thấy về ngũ uẩn, thấy về tham, sân, si, thấy lậu hoặc, thấy tâm cấu uế, cấu nhiễm, dơ bẩn. Sau đó mới vận dụng nghĩ đúng là nghĩ làm sao để lìa xa dục, lìa xa sân hận, lìa xa ác hại, vô minh, bản ngã. Tiếp theo là tập nói lời đúng, tập sống cho đúng, cho chân chánh, tập làm việc đúng không đi theo cái tà, cái sai. Làm theo cái sai của người cư sĩ là bán thịt, bán người, bán thuốc độc, bán vũ khí và bán rượu, đó là tà mạng, cần phải từ bỏ, sau đó là siêng đúng, định đúng, đi đúng đạo lộ của bát chánh thì mới có bốn đạo, bốn quả Sa-môn, tức là bốn đôi tám chúng, bốn đôi tám vị hiền Thánh. Nếu ngay từ đầu cái thấy đúng không có thì làm sao có nghĩ đúng?

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Pháp tánh (Dhammata) mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?' Và này các Tỳ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỳ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Này các Tỳ-kheo, ví như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập tức rút lui tay hay chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Trí thứ tư của một vị Dự Lưu là bất cứ một giới, một tội nào phạm phải liền lập tức phát lồ sám hối trình bày trước bậc đạo sư và các bậc phạm hạnh đồng tu có trí tuệ, vị này không che giấu, không che đậy, không giấu kín vì trực tâm là đệ tử của Thế Tôn, đó là người chân thành, chân thật. Mình bây giờ có lỗi nào được chỉ dạy là "con đâu có đâu, tại cô kia kìa", chỉ bao nhiêu đó là thấy vẫn còn cách rất xa. Mình kiểm tra lại đặc tính này trong người, xem mình có thật thà, chân tu không hay là có người ta thì mình khác, không có người ta thì mình lại khác, đó là trí tuệ thứ tư của bậc Dự Lưu. Mình tu không tiến là vì mình không chân thành, chân thật, nhiều khi nói về mình là nói cái hay không thôi, cái dở của mình ít nói hoặc có nói cũng chừa lại một chút, nếu không sẽ bị người ta chê vì thế muốn ra sám hối diệt ngã cũng do dự lắm, cũng chần chừ, suy nghĩ nhiều lắm để ra quỳ lạy thì cũng là cả một sự chiến đấu nội tâm. Mình ra quỳ lạy sám hối được thì đó cũng là khởi đầu của hướng Dự Lưu, khởi đầu cho việc tham dự vào một cái tâm chân thành, chân thật, chân chánh, chân pháp, chân tu.

Trí thứ năm là chúng ta đã nói từ đầu, tức là bất luận việc nào dù lớn hay nhỏ thì vị này cũng nỗ lực giúp cho các vị đồng tu, chỗ này chúng ta cần để ý, người kế bên bệnh thì mình có hỏi thăm không, mình thấy bất tiện thì có tạo điều kiện tiện lợi cho mọi người tu học không, ví dụ mình dư 4-5 cái áo trong khi người kia thiếu thì mình có cho không, dép hoặc tập sách, bút viết mình dư thì hãy đem cho. Các vị đi xuất gia không có vợ con, cha mẹ gì nhiều, chỉ có huynh đệ với nhau mà người này bệnh, vì thế con hoan hỉ khi nghe quý sư cô trình pháp có người bệnh là Ni sư, quý sư cô và mọi người đều hỏi thăm, đem thuốc, cạo gió hay cho nước trà gừng là con thấy ấm áp, hạnh phúc, con thấy có một sự an ủi rất lớn, đó chính là tâm tánh của người tu. Nhưng phải chăm sóc cho người ta bằng trí tuệ cho khéo léo, thiện xảo vì có khi người bệnh sẽ mệt mỏi, cảm thọ khó chịu nhiều mà mình chăm sóc mà không khéo lại làm người ta sân rồi mình cũng sân theo. Nhiều khi mình chăm sóc mà không có sự thiện xảo, trí tuệ để biết người đó thật sự cần cái gì, không cần cái gì, người bệnh muốn ngủ mà hở chút lại gọi, hở chút lại kêu rồi người ta bực mình, khó chịu, trong khi mình thương nhưng người ta khó chịu do bệnh chứ không phải người ta khỏe rồi mình trách móc "tại sao lo cho mà còn la tôi? Mai mốt đừng kêu tôi lo nữa nha", cả hai cùng sân là thất bại, do không có chánh niệm, thiện xảo, không có đủ từ tâm, trí sáng, tình thương và mắt mình không sáng tỏ.

Vì thế không phải nói từ tâm là ra đường thấy ai cũng cho tiền, không phải ai cũng lấy đâu, nhiều bà già 80 tuổi bán vé số mình cho mà nhất quyết không lấy, "thầy mua thì con mới lấy chứ con không có ăn xin", chúng ta có gặp trường hợp này không, không phải cho ai cũng lấy vì vậy phải tâm từ phải đúng người, đúng trường hợp, đúng hoàn cảnh. Cả trong gia đình cũng vậy, khi có người bệnh, khi có người đang khổ thì mình phải quán sát, mình đừng vội ồ ạt, cứ có tới tấp là hư chuyện, cứ từ từ quán sát xem họ thật sự cần cái gì, họ đang khó chịu ra sao. Cho uống thuốc cũng vậy, không phải gặp ai cũng đưa cho uống, có khi uống thuốc lại bệnh nặng thêm cho nên trí quán sát rất quan trọng cho nên trong kinh nói tất cả pháp lấy tuệ làm thượng thủ, lấy trí tuệ làm tối thượng.

Phải tập quan tâm đến nhau vì lúc đó mình rảnh có làm gì đâu, chỉ cần đem một ly trà gừng thôi cũng đủ. Có một cô bên Mỹ hơn 80 tuổi về thăm con, cô nói với em cô là đi lần này có chết cũng mãn nguyện, cô lên đây cứ đi chỗ này chỗ kia, mọi người ai cũng thấy cô yếu nhưng cô nhất định phải đi lên Thánh Pháp Viện, lên đến nơi thì trợn mắt, chảy nước miếng, chảy nước mũi, lạnh ngắt, xanh rờn nhưng thật sự phước đức, chư thiên ở đây gia hộ cho chúng ta vì hôm đó có cô điều dưỡng Đan Mạch đi theo, cô ấy nói chỉ trễ 2 phút thôi là chấm dứt mạng căn, nếu vậy thì xong chuyện, chỉ còn mình con ở đây. Lúc đó con phát hiện đầu tiên nên la lên, cô điều dưỡng chạy qua làm những việc trợ cứu, cô phải năn nỉ thì cô 80 tuổi mới chịu cắt cái quần mặc bó.

Khi tỉnh lại thì con mới kêu đem ly trà gừng lên, sau đó mới cắt đồ nhưng kéo chùa cắt mãi không được, cô điều dưỡng nói đến cái kéo trong chùa cũng tu luôn. Thật sự chư thiên rất gia hộ vì bình thường các vị đi chung xe với con là con thường kêu xuống trước, công việc con xong là con đi nhanh lắm nhưng hôm đó lên Quán Chiếu Đường thì thấy cô Hải Huệ là điều dưỡng đi sau thì con mới hỏi sao cô còn ở đây thì cô nói là muốn đi theo nên cho cô đi theo, nếu lúc đó mình chấp thủ kêu cô xuống trước thì xong rồi. Vì thế phải bình tĩnh quán sát, tâm từ rất quan trọng.

II. Tăng thượng tâm

Hôm đó chúng ta ngồi ngoài trời mà mưa thì thọ; tưởng; hành của chúng ta ra sao? Chúng ta sợ mưa, dao động, nghĩ là phải xách Bồ-đoàn, tọa cụ chạy vô sợ mưa bệnh nhưng khi con tác ý cam lồ pháp vũ thì thấy nhẹ nhàng, cho nên tất cả mọi cái nói theo ngoài đời là phải bình tĩnh, đừng có phản ứng nhanh, đừng có phản ứng vội, đừng loạn động lên. Trong tùng lâm bách trượng thanh quy, thập nhị tắc của ngài Bách Trượng thiền sư Trung Quốc có câu "nguy lấy không loạn làm định lực" nghĩa là khi gặp nguy hiểm thì lấy tâm an định, tâm không loạn động làm định lực.

Con hỏi thầy Huệ hôm đó thầy thấy sao thì thầy nói vui quá, mưa xuống như vậy là hạnh phúc lắm, mỗi người có tâm tác ý khác nhau cho nên mỗi khi nguy hiểm rất cần sự bất loạn, đừng có loạn động. Các vị ở gần con khổ lắm vì con muốn rèn luyện cho các vị đó có công lực, con thấy chỉ một chút thôi mà lăng xăng, luýnh quýnh là con rầy, phải tập cho mình có niệm lực, có định lực, niệm lực. Chỉ vì vài giọt mưa mà mình lăng xăng lên thì đến khi có bão sẽ thế nào?

Thời điểm dịch bệnh xảy ra, ở đây đang giảng bài mà bên kia gió thổi nóc nhà dựng đứng lên, con vẫn nói đại chúng an tịnh, lắng dịu, nghe pháp bình thường, động đất cũng ngồi đây nghe pháp, an trú vào pháp. Bây giờ mình chạy lăng xăng lên thì làm được gì? Gió thổi cũng bay mất, mình chạy ra còn nguy hiểm hơn, nếu động đất mình vẫn ngồi nghe pháp, an trú vào pháp thì có chết mình cũng sanh lên thiên giới, còn tâm rối loạn, động loạn, kinh hãi khi chết sẽ đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho nên việc giữ bình tĩnh, định lực là rất quan trọng, cực kì quan trọng.

Trong khi thiền quán mà những vị đã ở đây lâu hoặc là những vị đã tu lâu mà ngồi cứ gãi chỗ này, gãi chỗ kia, gỡ tấm y là con không có hài lòng, đó là không có định lực, phải tập nhiếp phục các cảm thọ. Nếu bình thường còn không tập được thì khi hữu sự làm sao an định? Vì thế phải cố gắng tập trong lúc ngồi thiền, trong khi thiền quán, nghe pháp, cố gắng tập, trong khi bình thường còn minh mẫn, còn có sức khỏe, thân thể còn cường tráng còn không chịu tập thì khi có bão tố đến, động đất đến, dịch bệnh đến mình nhiễm bệnh, chiến tranh nổ ra, nhà cháy, nước trôi, lũ lụt thì làm sao mình giữ được.

Đó là tăng thượng tâm học, phải tập bình tĩnh, nếu lỡ như bây giờ mình có chết thì đó là cái nghiệp kết thúc chứ có gì đâu. Con ở lầu 4 trên chùa Bửu Liên, mỗi lần xe tải chạy qua là cái phòng lắc lư, trên lầu cao là tháp hòa thượng, chú Tân lên ngồi có khi hoảng hồn, chú hỏi sư phụ không sợ hả thì giờ có sập xuống thì khỏe thôi cho nên trong nguy hiểm phải lấy bất loạn làm định lực. Có nhiều vị sân si đủ thứ chuyện nhưng mình cứ im lặng như không có chuyện gì thì từ từ cũng hóa giải.

Nhiều khi con nghe có người nói có chuyện này chuyện kia thì con cứ để đó, đang loạn nên không giải quyết, quay trở về an trú tâm, mất cái này cái kia là chuyện bình thường, mất sự an định tâm mới là cái mất lớn lao, đó là ước muốn sắc bén tăng thượng tâm học. Bất cứ lúc nào mình cũng phải để ý vào tâm mình hết sức sắc bén, không để nó dễ dàng dao động, giữ tâm như giữ thành ngoài biên ải cho nên mất gì cũng được, mất thân cũng được nhưng đừng để mất tâm, đừng để mất thánh trí tuệ vì đó mới là tài sản tối thượng của mình. Khi ra đi mình đem cái tâm an định và thánh trí tuệ đó đi theo, còn tài sản vật chất không thể mang theo nên tại sao lại quan trọng những thứ đó?

Nhìn thấy đang quét nhà, lau dọn toilet nhưng vẫn an trú trong cảm giác toàn thân, vẫn quán bất tịnh, vẫn nhìn ra được cái thân này là thùng phân di động, công ty sản xuất nguồn nước tiểu, có gì để lên mặt với kiêu căng, vừa làm việc vừa thâm quán trí tuệ chứ không phải để cho cuốn vào công việc, sân si lên thì đó là tạp thiện, làm có phước nhưng tâm sân hận. Say mê làm việc nên quên mất tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ cho nên từ ngày xuất gia đến giờ con rất sợ công việc làm mất tâm, lúc nào con thấy công việc nhiều quá là đóng cửa lại không tiếp ai hết, đến giờ cơm cho miếng cơm để đó chứ đừng kêu gì hết. Mình phải trông chừng những con nghé con, những con bê con

III. Nội xét tự thân 2

"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: 'Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?' Và này các Tỳ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỳ-kheo, một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, sau khi chú tâm chú ý, chuyên chú toàn tâm trí, vị này lóng tai nghe Pháp. Vị này biết rõ như sau : 'Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu'. Như vậy là trí thứ sáu mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không có thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Đây là sức mạnh của bậc Dự Lưu, vị này toàn tâm toàn ý nghe pháp, chú tâm chú ý, chuyên chú toàn tâm trí, lóng tai nghe Pháp, đây là đặc tính của bậc Dự Lưu, đây là trí thứ sáu của bậc Dự Lưu, mình đang đi trên thánh đạo và dần dần thành tựu những đức tính này. Lúc nào nghe pháp cũng chú tâm chú ý, tập trung tâm ý vì đó là đặc tính của bậc hiền trí, hiền thánh. Đừng có nghe một cách hững hờ, đừng nghe một cách lơ ngơ, đừng nghe một cách dễ vui mà hãy nghe bằng cách tập trung tâm ý, lóng tai nghe pháp, đặt toàn tâm toàn trí của mình vào lời dạy của bậc Thánh.

"Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị này chứng được nghĩa tín thọ (atthaveda), Pháp tín thọ (Dhammaveda), và sự hân hoan tương ứng với pháp; vị này hiểu rõ như sau: 'Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu'. Như vậy là trí thứ bảy mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng" (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Vị này chứng được nghĩ tín thọ, pháp tín thọ, sự hân hoan tương ứng với pháp. Nghĩa tín thọ là khi nghe giảng về ngũ uẩn thì mình hiểu, mình tin nhận, mình tin bao nhiêu là tùy theo mức độ, còn trong kinh nói chứng nghĩa là trọn vẹn, còn mình có lúc tin sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải tôi, không phải của tôi nhưng có lúc lại không thấy năm uẩn nữa mà chỉ thấy một đại uẩn tôi, lúc đó quên hết. Chứng được pháp tín thọ là hiểu được nghĩa trong kinh Đức Phật nói và tin nhận cái pháp hành đó, vị này nghe hiểu và thực hành, có một sự hân hoan với pháp, đó là pháp hỷ, pháp lạc.

"Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!"

(Kinh Pháp Cú 24 – Phẩm Tham Ái, kệ 354)

Vị này vui thích, hân hoan vì bị mù mấy chục năm nhưng nay đã sáng mắt, cái nhà dơ mấy chục năm mà nay tổng vệ sinh sạch sẽ nên mình vui. Mắt mù được sáng giống như đi lạc đường có người chỉ đường, giống như những cái gì ngã đổ được dựng đứng trở lại. Vị này vui trong pháp, không có niềm vui nào so sánh nổi với niềm vui này, nghĩ về pháp là vui, nghe kinh thì càng vui thì làm sao có thể ngủ gục cho nên còn ngủ gục khi nghe pháp là chưa chứng được Dự Lưu. Người đã thành tựu chánh kiến mà nghe pháp thì họ rất hân hoan, từng câu, từng lời, từng chữ rót vào tim, rót vào trí não, nghe tới đâu thấm tới đó, rung động từng lỗ chân lông, cảm thọ lan tỏa, chấn động, cái đó là thọ pháp, đó là nghĩa tín thọ và pháp tín thọ, tin nhận nghĩa trong kinh và pháp trong đó rồi thực hành theo đó, đó là trí thứ bảy của bậc Dự Lưu.

Đầu tiên là phải diệt năm triền cái thì mới thấy như thật, biết như thật được, nếu chưa diệt năm triền cái là cái thấy biết của mình không đúng sự thật, ví dụ người mình thương thật thương mà người đó sai mình vẫn bênh vực, ví dụ nói đụng chạm đến chồng con là không được cho nên chắc chắn mình sẽ bị thiên lệch về phía người mà mình yêu thương, còn nếu không thì tối thiểu mình cũng phải từ hướng Dự Lưu đến A-la-hán. Mình thường hay bị nghiêng lệch với một là người mình thương và hai là người mình ghét, khi nào hết bị thiên lệch là lúc đó không còn năm triền cái nữa, ví dụ giữa một người lạ bị đánh và ba mình bị đánh thì cảm giác sẽ không giống nhau vì thế tu là phải diệt năm triền cái, nửa tháng này là cơ hội tốt nhất vì có môi trường, có thầy, có bạn, có đại chúng, có huynh đệ, nửa tháng này dùng hết công lực để diệt nó.

Thứ hai là có được tâm định tĩnh, tâm dừng lặng. Thứ ba là tri kiến tối thượng chỉ có người tu chánh pháp mới có được, chỉ có nhìn thấy được năm uẩn, quán chiếu ba cảm thọ, thấy được tham, sân, si, vô minh, dục ái, bản ngã, thấy được khổ trong năm uẩn, chỉ có đệ tử chân chánh của Đức Phật, Thánh đệ tử mới thành tựu được cái thấy đúng của bậc Thánh, ngoài ra không thể có được. Trí thứ tư là khi có lỗi thì phải lập tức bày tỏ sám hối, không có che giấu, che kín, trí thứ năm là nhiệt tình giúp đỡ dù việc lớn hay việc nhỏ đối với người cùng tu hành với mình, có những điều mình làm được nhưng vẫn không quên nỗ lực tăng thượng trong giới, định, tuệ. Thứ sáu là khi nghe pháp rất chú tâm, chú ý, toàn tâm lắng tai nghe pháp, đó gọi là thanh văn, thứ bảy là đạt được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ và sự hân hoan tương ứng với pháp, hiểu được pháp, thực hành pháp thì vui với pháp.

Khi mình nhận diện được ngũ uẩn thì mình vui, khi thấy được tham, sân, si và nhiếp phục được đôi phần mình cũng thấy vui, hoan hỉ, hạnh phúc, khi bắt được bản ngã quỳ xuống lạy người ta thì lúc đó mình thấy nhẹ nhõm, hiền hòa, dễ thương. Đó là bảy đặc tính của một bậc chân tu, mình cần phải cố gắng lên, tiến lên.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.