Đức Thế Tôn Ơi! Con Biết Ơn Ngài Nhiều Lắm 4!
Đức Thế Tôn Ơi!
Con Biết Ơn Ngài Nhiều Lắm 4!
Thích Minh Thành
Ngày 15 tháng 05 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự xuất hiện của Đức Thế Tôn PAGEREF _Toc104903026 \h 1
II. Phúc lành khi được quy y Thế Tôn PAGEREF _Toc104903027 \h 2
III. Tu với lời nói PAGEREF _Toc104903028 \h 6
IV. Thiền quán – tác ý PAGEREF _Toc104903029 \h 11
V. Giới thứ năm PAGEREF _Toc104903030 \h 12
VI. Kinh Thánh Cầu PAGEREF _Toc104903031 \h 13
I. Sự xuất hiện của Đức Thế Tôn
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc Chánh biến tri vô thượng giác.
Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát,
Cúi đầu đảnh lễ Bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Hôm nay là ngày rằm tháng tư, là ngày tưởng nhớ đến sự xuất hiện của Đức Thế Tôn, tất cả người đệ tử Phật, dù tại gia hay xuất gia, cư sĩ hay tu sĩ trên khắp năm châu bốn biển, chúng ta cùng hướng về ngày Thánh đản, sự xuất hiện vô cùng quý báu.
Trong kinh Tăng Chi Bộ kinh, Đức Thế Tôn từng nói:
“Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”
(Bài kinh Như Lai, Phẩm Một Người – Chương Một Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 1)
Một người khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của người ấy là vi diệu, là khó gặp ở trên đời. Sự xuất hiện của người ấy không có người thứ hai, không có ai ngang bằng đồng bạn, không có ai có thể so sánh, không ai có thể tương trợ, là bậc tối thượng giữa loài hai chân.
Người ấy chính là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của người ấy là sự xuất hiện của con mắt lớn, sự xuất hiện của đại quan, sự xuất hiện của đại minh, của ánh sáng lớn. Là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ của bốn vô ngạ giải, là sự chứng ngộ của Thánh quả thứ nhất là Dự lưu, Thánh quả thứ hai là Nhất Lai, Thánh quả thứ ba là Bất lai, Thánh quả thứ tư là bậc A-la-hán, là bậc tối thượng nhất.
Sự xuất hiện của Đức Phật như vậy là vô lượng vô biên, vô số kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời. Chúng ta là những chúng sanh rất may mắn, phúc lành, phước báo, khó gặp, khó được nghe, khó được hiểu, khó được thấy tuy là chúng ta sanh ra sau Đức Phật hai ngàn mấy trăm năm. Nhưng hiện tại còn giáo pháp của Đức Phật, chúng ta còn được nghe, còn được học, còn được hiểu, hành trì thì đó là phúc lạc, lợi ích, phúc lành cho chúng ta.
Cũng như Tôn giả U-đa-di, trong khi Ngài ở một mình, Ngài chiêm nghiệm, thiền định, Ngài có suy nghĩ: “Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều đau khổ cho chúng ta! Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều hạnh phúc, an vui cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đem lại nhiều pháp lành cho chúng ta. Đã đoạn trừ nhiều pháp ác, bất thiện cho chúng ta.”
II. Phúc lành khi được quy y Thế Tôn
Quý vị có thấy Đức Phật đã đem lại nhiều an vui cho mình không? Thấy Đức Phật có đem lại cho chúng ta nhiều bình an, hạnh phúc và thiện pháp tu hành không? Ngài có giúp chúng ta trừ bỏ nhiều điều bất thiện, tội lỗi không?
Ví dụ như có quý Phật tử nói có tham, sân, si là Phật dạy diệt trừ tham, sân, si. Phật dạy về lòng từ bi, thương xót, phóng sanh, bố thí, từ bi, cứu khổ, ban vui, hiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ.
Mình học được những gì, tu những gì và ngăn chặn được những gì? Thấy được gì? Thấy được những cấu uế, rác bẩn trong người mình để sửa đổi cho sạch, thanh tịnh, tốt đẹp.
Như vậy, quý vị đã nhiêu ra được rất nhiều lợi ích của Phật pháp, còn một điều rất quan trọng mà Minh Thành nhắc quý vị là khi quý vị vừa bước vào làm đệ tử của Phật là Ngài đã bảo vệ cho quý vị ngay lập tức. Đó là giới. Điều này rất quan trọng. Như quý vị thấy căn nhà của mình, hàng rào, cánh cửa, chìa khóa, ổ khóa quan trọng không? Khi quý vị vừa phát âm về nương với Đức Phật thì Ngài đã bảo vệ cho quý vị khỏi rơi vào ba đường ác, bằng cách trao cho quý vị năm điều mà quý vị thực hiện theo thì quý vị có được bình an.
Mình cứ nghĩ rằng mình gặp tai nạn, bệnh hoạn mình mới sầu đau. Hay nghĩ là mình va vào những cảnh phá sản hay tật bệnh, tai nạn, chết chóc thì lúc đó mình mới thấy đau khổ, đó là mình chỉ thấy kết quả. Còn Đức Phật thấy nhân ngăn chặn được những cái đó. Tại sao mình phải giữ giới, không sát sanh? Tại sao mình phải ăn chay?
Tăng trưởng lòng từ bi, đó là nói hơi cao siêu. Nói thấp xuống là không giết hại chúng sanh, là mình bớt nghiệp sát. Vì tấm thân này từ ngày nó sanh ra, chưa sanh cũng đã sát sanh rồi, là gián tiếp. Như vậy thì tấm thân này bao nhiêu con gà, con vịt, con heo, con cá, con bò… Tức là sinh mạng của mình lớn hơn bao nhiêu thì nghiệp sát theo đó cũng chồng chất bấy nhiêu. Nếu mình không có trí tuệ để nhìn nhận đúng đắn về đời sống này thì mình mới ăn chay được mấy bữa thì mình nghĩ là mình cũng ngon lắm. Mà mình không biết là mình đã sát sanh bảy chục năm mà mình không nhớ, nhưng ăn chay mới được mấy ngày thì đã khoe tùm lum.
Vậy nên, bước đầu tiên, tâm từ bi của Đức Phật nên Ngài U-đa-di trong khi thiền định thì Ngài cảm xúc “Thế Tôn là vị đã đoạn trừ nhiều đau khổ cho chúng ta. Thế Tôn là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đem nhiều an lạc cho chúng ta, hướng dẫn cho chúng ta rất nhiều pháp lành.”
Đây là trong Trung Bộ Kinh. Chúng ta thấy chỉ một câu nói này thôi thì mình chiêm nghiệm thì thấy có rất nhiều ý nghĩa thâm sâu, sâu sắc, rộng lớn trong đó.
Đầu tiên Ngài kêu “Con giờ làm con Phật rồi, giảm bớt ăn mặn nha con. Giảm bớt giết hại chúng sanh nha con, giảm bớt đập mấy con muỗi chát chát nha con. Giảm bớt mua các cây quạt rột rột rơi xuống chết nha con! Giảm bớt đập gián nha! Giảm bớt đốt kiến nha! Giảm bớt hại những con ruồi nha! Tháng nên tập ăn chay!”
Ví như hôm nay quý vị đi chùa thì quý vị hỏi “Đi chùa đâu tôi lại không thấy phước!” Vậy thì bây giờ có thấy phước không? Vậy khi ăn cơm có phước không? Đó là không sát sanh.
Quý vị vào lạy một lạy thôi là quý vị hạ gục cái tôi cao to, phình trương của mình cúi xuống, hạ xuống, gập xuống, lễ xuống thì ngay nơi đó là phước sanh, công đức sanh. Hay khi quý vị ăn một bữa cơm chay là giảm được một nghiệp sát sanh. Quý vị lạy một lạy là giảm bớt tâm bản ngã, cống cao của mình xuống. Quý vị giữ gìn thân, miệng, ý khi vào chùa, không giống như ở chợ là thu thúc sáu căn, được phước ở trong đó.
Nên đó giải thích cho nhiều quý vị thấy đi chùa có phước sao? Lễ Phật Đản có lợi ích gì? Đó là quý vị còn nghe được những công đức, trí tuệ, đạo hạnh của Đức Thế Tôn. Ví như nghe được mười điều thì dù có tệ đến mấy thì cũng nghe được hai điều hay một điều, còn giỏi thì được năm, bảy, tám điều. Đó là thấy phước, là thiện pháp.
Quý vị thấy được Đức Phật rất thương mình, giúp mình nhiều lắm, đem lại nhiều thiện pháp, lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho mình rất nhiều.
Ví như một người cứ bị bệnh phải nằm liệt giường, chồng phải lo, con phải rầu, cha mẹ già còn phải chăm sóc. Quý vị có thấy khổ không? Nhưng vì người này sát sanh nên nghiệp nặng, khi sanh ra trong đời này lại mang theo một chứng bệnh nan y. Như quý vị thấy có rất nhiều bệnh dị dạng dị hình, dị tật, bệnh đau… Nên đó là nghiệp quả sát sanh đời trước nên đời này sanh ra với một tấm thân nan y, dị dạng, dị hình, dị tật, bệnh hoạn, tật nguyền, sát sanh.
Nên Đức Phật đã dạy mình giữ giới, bảo vệ cho mình để được sanh ra lành lặn, khỏe mạnh, tốt tươi. Như vậy có phước không?
Điều thứ hai Ngài dạy mình: Không nên lấy của không cho. Tức là người ta cho không mình thì đừng lấy, dù cho đó là trái cà, trái ớt, cái bánh. Cái gì dù là nhỏ nhất nhưng người ta không cho thì không được lấy, muốn lấy thì phải xin. Tại sao lại như vậy? Vì nếu lấy như vậy là mình mang tội trộm cắp. Như quý vị thấy bây giờ trộm cắp rất nhiều, như chuyện có đứa nhỏ ngồi trong nhà đang cầm điện thoại chơi cũng đi vào giật lấy. Như vậy, quý vị thấy thật đáng báo động bởi ác nghiệp của chúng sanh đang tăng trưởng mạnh mẽ. Những ác nghiệp này tăng trưởng sẽ kéo theo những hậu quả đau khổ trong hiện tại và tương lai.
Như giờ mình sinh ra, làm ăn, tích lũy, gom góp ba chục năm, bốn chục năm, cuối cùng bị một người gạt làm tay trắng, phá sản thì quý vị có thấy đau khổ không? Thậm chí là điên loạn. Mình không muốn mình bị mất mát, cướp giật, lừa gạt thì mình đừng lừa gạt, đừng làm người khác bị mất mát, cướp giật. Như vậy thì tài sản của mình được vững chắc, được kiên cố, được an toàn, bảo vệ, sung túc, sung mãn. Đó là Đức Phật thương mình, muốn mình được như vậy. Vậy quý vị có muốn như vậy không hay muốn ăn trộm lại?
Vậy nên Đức Phật đang dạy những cái mình muốn nhưng nhiều khi mình không thấy. Như “Mới vào tu nhưng sao bắt mình giữ cái này cái kia, cái nọ khó vậy?” Không phải như vậy, đó là thương mình. Đó là tình thương sâu xa, tầm nhìn rộng lớn, nhiều đời nhiều kiếp sau, không phải chỉ thương ở trước mắt.
Quý vị thấy trên thế giới, nhất là những nước phát triển, văn minh, tiến bộ, người ta ăn chay rất nhiều, ăn rau củ, ăn đậu, ăn quả… Đó là chẳng những không gây nghiệp sát sanh mà còn bảo vệ được sức khỏe, đầu óc, tinh thần minh mẫn, sáng suốt. Sau đó là mình biết giữ giới, không lấy của không cho, không trộm cắp, thì quý vị thấy lúc xưa, nhà không đóng cửa cũng không sao, Minh Thành nhớ lúc nhỏ, khoảng hai ba mươi năm trước rất ít nghe ăn trộm, ăn cướp mà bây giờ thì hở chút là chôm, hở chút là trộm.
Vậy nên đó là ác, bất thiện pháp nhiều, nghiệp quả chúng sanh sẽ đi đến sự đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi.
Tiếp theo, Đức Phật dạy gia đình của mình, mình muốn an vui, muốn hạnh phúc, muốn thủy chung, răng long đầu bạc, bách niên giai lão nên Đức Phật đã dạy mình không tà dâm, không tà hạnh trong các dục, thủy chung một vợ một chồng, tôn trọng nhau, thương yêu nhau, chung thủy trước sau. Nhưng quý vị thấy giới trẻ bây giờ còn giữ được như vậy nhiều hay ít? Đó là mầm móng, nguyên nhân để đổ vỡ, để bất an, để bất hạnh, để không có hạnh phúc. Vì lòng tham dục của con người không biết tiết chế, chế ngự, nhiếp phục, không biết giữ gìn thì xã hội sẽ đi đến chỗ rối loạn về đạo đức, luân lý.
Trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói có hai pháp, tức là xấu hổ và sợ hãi (tàm quý). Nếu chúng sanh không có hai pháp trên, xấu hổ và sợ hãi, thì con không còn là con, cha không còn là cha, mẹ không còn là mẹ, vợ không còn là vợ, chồng không còn là chồng, thầy không còn là thầy, chị dâu, em rể không còn là chị dâu em rể nữa. Xã hội này sẽ rối loạn trật tự, giống như loài cầm thú.
Đức Phật nói hai pháp che chở, bảo vệ cho thế giới, cho chúng sanh, cho nhân loại là sự xấu hổ và sợ hãi đối với điều ác và bất thiện pháp. Khi mình làm điều xấu ác, tội lỗi thì mình phải xấu hổ, sợ hãi, lo lắng, sám hối. Mình làm những cái sai, cái quấy, cái tội lỗi mà mình trơ trơ thì thế gian sẽ sụp đổ luân thường, đạo đức, luân lý, trật tự của xã hội. Nên ở hiện tại việc này rất đáng báo động, nhưng Đức Phật đã nhìn ra được từ hai ngàn sáu trăm năm trước. Nên vừa mới làm đệ tử của Ngài thôi là “Con giữ gìn không tà hạnh trong các dục, sống chung thủy.”
Chúng ta có thấy được Ngài thương mình nhiều không? Có đem cho mình nhiều bình an, lợi ích, trừ diệt những tội lỗi, những ác bất thiện pháp, đem lại hạnh phúc, an lạc, an vui lâu dài không chỉ trong kiếp này mà nhiều đời khác. Như vậy quý vị có thấy được ân đức của Thế Tôn không?
Nên tên bài hôm nay Minh Thành đã đặt là Đức Thế Tôn ơi! Con biết ơn Ngài nhiều lắm! Con vừa bước vào cổng chùa là Ngài đã bảo bọc, chở che cho con, Ngài đã làm hàng rào, cánh cửa, chìa khóa, đưa cho con những nón bảo hiểm, khẩu trang, những thuốc ngăn chặn, phòng ngừa, bảo vệ. Quý vị thấy Đức Thế Tôn thương mình nhiều không? Mình có mang ơn, biết ơn, nhớ ơn, đội ơn, tri ơn, báo ơn Thế Tôn nhiều không?
Khi quý vị lạy Phật thì phải đọc những câu đó để tác ý “Đức Thế Tôn ơi! Con biết ơn Ngài nhiều lắm!” rồi lạy xuống một lạy, không đợi tới lễ Phật Đản mà hằng ngày cũng lạy vậy. “Đức Thế Tôn ơi! Con cảm ơn Ngài nhiều lắm!”, “Đức Thế Tôn ơi! Con mang ơn Ngài nhiều lắm!”, “Đức Thế Tôn ơi! Con đội ơn Ngài nhiều lắm!”, “Đức Thế Tôn ơi! Làm sao con trả hết ân đức của Ngài đây!” Đó là quý vị lạy Phật Đản, lạy ân đức của Phật. Đây là chưa đủ năm giới nhưng đã thấy được ân đức dào dạt của Ngài.
III. Tu với lời nói
Đức Thế Tôn dạy: Nói lời chân thật, nói lời cho đúng thời đúng lúc, nói lời cho từ ái, đừng nói dối, đừng nói lưỡi đôi chiều, đừng nói lời hung ác, đừng nói lời đâm thọt, đừng nói lời đâm thóc thọc bị gạo, đừng nói thêu dệt, đừng nói lời phù phiếm, vô ích. Mình có thích người ta dối gạt, mắng chửi, lừa đảo, đâm thọt mình không?
Như Khổng Tử nói
“Kỷ sở bất dục
Vật thi ư nhân.”
Ý nói: Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người ta. Mình có muốn rằng có ai giận mình thì mình thích không? Mà mình giận người ta nhiều không? Đó là bất công, không nhớ nhân quả, nói thì “Con biết rồi! Con học rồi! Con hiểu rồi!” nhưng khi ra sống thì không ứng dụng được. Mình không muốn hay ưa thích ai nói lời ác độc, chua cay, cay nhiệt, ghim gút với mình nên mình cũng đừng nói lời ghim gút, đâm chọt, đừng nói lời làm cho người ta nhức nhối, tức tối, nói mà về người ta ngủ không được, ăn cơm không được.
Khi mình nói như vậy thì chẳng những người kia họ nhức nhối, tức tối, họ bỏ ăn, mất ngủ, thù hận mà mình mỗi lần nhớ lại lời nói đó thì mình có an tâm, ray rứt, hối hận không? Đó là mình trạo cử, trong tâm mình ray rứt, hối hận. Thậm chí có lời nói mà suốt cuộc đời này người ta không quên, người ta oán hận, để trong bụng, thù. Và có những lời nói làm đổ vỡ cả gia đình, đổ vỡ cả hạnh phúc tan nát, huynh đệ tương tàn hoặc vợ chồng phân ly, mẹ con oán thù, không nhìn mặt nhau, đều chỉ là từ câu nói.
Vậy nên trong các giới có thân ba, ý ba, miệng là bốn. Như vậy nhưng không nhớ, cứ việc nói, nói trong thả ga, nói trong dục, thúc giục bên trong, cứ mê nói, thích nói, ham nói, dục nói. Nói xong rồi lại hối hận, ray rứt, trạo cử, làm cho mình bất an, làm cho người đau, làm cho mình khổ, làm người ta buồn, mình rầu, làm cho hai vợ chồng mà chọn câu nào nặng kí để nói cho nhau nghe, cho hả dạ thì xong rồi đi ra đi vào có dễ chịu không? Và mình hành hạ nhau, hành tội nhau bằng miệng lưỡi như vậy có thông minh không? Thông minh hay vô minh? Khôn hay không khôn? Sáng suốt hay là tối tăm? Vậy nhưng cứ tưởng là mình tu rất hay.
Nên tu miệng rất quan trọng. Đức Phật thương mình nên đã dạy: Con nhớ nha con! Mới vào chùa đừng nói dối trá, hung dữ, nói hai lưỡi, nói thóc thọc bị gạo phù phiếm thêu dệt, chuyện bé xé ra to, chuyện to làm ra bự, chuyện bự làm ra hình sự.
Mình biết tu hạnh phúc này là mình hạnh phúc hơn nửa cuộc đời. Mình ngồi nhẹ nhàng thở, cảm nhận cảm giác an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, ngọt ngào sướng biết bao nhưng lại muốn kiếm chuyện, nói chuyện này chuyện kia, nói chuyện bà bảy bà tám, sau đó lại phải quấy, thị phi rồi phiền não, bỏ ăn, mất ngủ, nghỉ làm, bệnh rồi nằm bệnh. Đó là không biết tu miệng.
Nên thường kêu mình niệm Phật là như vậy, nên quán “Đừng nói nhiều lời lung tung, thôi niệm Phật đi cho giảm bớt nói lại! Niệm pháp đi, đọc kinh để tu cái miệng, tu tâm, tu thân.” Vậy nên Đức Phật đã dạy mình: nói đúng thời, nói với từ tâm, nói với lời hòa nhã, nói đúng sự thật, nói lời có lợi ích.
Nên Đức Phật đưa ra đây là lời nói xấu ác, tội lỗi, khổ đau; đây là lời nói tốt lành, hạnh phúc, an vui. Không phải Đức Phật cấm không cho nói chuyện, tịnh khẩu mà là có miệng để nói chuyện nhưng nói như thế nào để mình an, người vui, để trong nhà hài hòa, ấm cúng, để gắn kết tình thân, để xây đắp gia đình, để vun vén, tưới tẩm tình thương, sự thấu hiểu, cảm thông, tha thứ với nhau.
Vậy nên tu lời nói là hết sức quan trọng.
Ngày xưa có một thầy Tỳ-kheo vu khống tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên xúc phạm người đó. Nhưng hai Ngài đó không có như vậy, vì Tỳ-kheo ganh tị, thấy hai bậc đại Thánh của tăng đoàn, đức độ và đức hạnh. Đức Thế Tôn cũng nói hai vị ấy có khả năng thay thế Đức Phật lãnh đạo tăng đoàn. Thì khi đó tâm phàm phu chưa chứng Thánh ganh tị, đố kị, hỏi “Tại sao ổng được vậy còn tôi không được vậy!” nên vu khống cho bậc Thánh.
Lúc đó Đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Kokàlika “Ông chớ nói như vậy!” thì người đó nói “Không, có như vậy!” Khi đó có một vị đồng tu với Tỳ-kheo nào, vị này đã chứng Thánh quả thứ ba ở trên Tịnh Cư Thiên hiện xuống trước mặt và khuyên bảo “Thầy đừng nói tôn giả Xa-lợi-phất và Mục-kiền-liên như vậy! Nguy hiểm cho thầy, đau khổ dài lâu!” Thì người Tỳ-kheo đó trả lời “Ông đã chứng được Thánh quả Bất Lai ở trên cung trời Tịnh Cư thì ông tới đây làm gì? Chuyện của tôi!” Đó là sân hận rồi thì bất kể ai, thần thánh gì cũng không kể.
Sau khi chuyện đó xảy ra, trên người vị Tỳ-kheo đó nổi những đốt mụn, lúc đầu chỉ là nhỏ xíu nhưng dần dần lớn lên như hạt đậu xanh, lớn đến hạt đậu phộng, lớn giống như trái tắt, trái hạnh, lớn như trái chanh chỉ là mủ máu trong đó, lớn như quả quýt, quả cam rồi bể ra làm vị Tỳ-kheo đó chết đọa xuống địa ngục ngay lập tức vì vu khống cho bậc Thánh.
Đức Thế Tôn từng dạy bài kệ:
“Người sống ở đời
Búa để trong miệng,
Sở dĩ chém mình
Do lời nói ác.”
(Trích trong Luật Sa-di)
Nên câu chuyện này để chúng ta nghiền ngẫm, quán chiếu, làm đề mục tư duy, nghiền ngẫm, mỗi khi mình nói ra với tâm sân hận, bực bội, khó chịu, ganh tị, đố kỵ thì mình phải quán chiếu “Đây là lưỡi liềm, đây là búa chém mình.” Tự mình cầm cây búa chặt trong người mình thì có sợ không? Tự mình cầm cây búa bén chặt vào vậy thì máu đổ, mỡ thịt trào ra.
Vậy nên cần phải hết sức cẩn thận trong lời nói. Đức Thế Tôn nhiều đời nhiều kiếp tu tập ở lời nói, Ngài luôn nói lời chân thật, nói lời từ ái, nói đúng thời, đúng sự thật, nói lời có lợi ích cho người ta. Nên lời Ngài nói ra là ba ngàn đại thiên thế giới. Mỗi khi lời nói của Ngài phát ra thì trong ba ngàn đại thiên thế giới chúng sanh có thể nghe được, những người nghe đều có cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, cung kính, tin tưởng, lắng nghe.
Lời nói của Ngài giống như sóng biển, hải triều âm, giống như chuông thần, giống như cam lộ, sương ngọt. Lời nói của Ngài giống như sự thật, là ánh sáng của mặt trời, lời nói của Ngài đem lại lợi ích, hạnh phúc, đem lại an lạc cho chúng sanh. Vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người, cho số đông mà Ngài nói.
Còn giờ mình nói với một tâm sân si, tâm ngã mạn, hơn thua, tâm cứ muốn phần thắng, giành phần đúng về mình. Khi hai vợ chồng nói qua nói lại thì mình muốn giành phần đúng hay chịu phần thua? Muốn nhường nhịn hay muốn hơn? Vì khi giận lên, sân lên, bản ngã lên thì cứ muốn đúng.
Chúng ta nhìn chung quanh chúng ta, những thân ngũ uẩn, tứ đại đau khổ, ác nghiệp “Nên làm người không muốn, muốn làm mèo đúng không?” Mình nên quán chiếu, hỏi mình như vậy. Cứ tham lam hoài, tham ái, cứ sân hoài thì mình tự hỏi “Giờ làm người không muốn, muốn làm con chó hở chút là sủa, hở chút là sân, là cự vậy?” Như mình đang đi ở ngoài đường nhưng con chó từ trong đâu cũng có thể nhào ra rượt theo sủa. Đó là do tâm sân hận, đời trước cũng là người nhưng tâm sân hận, bản ngã nên sanh ra thân lông lá như vậy.
Nên khi mình nhìn chung quanh những chúng sanh thì mình nhìn thấy mình trong đó, chúng sanh trong đó, ngũ uẩn trong đó để mình cẩn thận lo tu. Nên nhớ trong miệng có gì?
“Người sống ở đời
Búa để trong miệng,
Sở dĩ chém mình
Do lời nói ác.”
Quý vị thấy mình nhớ mỗi lời mình nói ra đều ngọt ngào, dễ thương, từ ái. Quý vị thích uống nước cam với mật ong, thích uống cà phê sữa không? Quý vị thích uống chanh mà không có đường hay mật ong không? Nên đừng chua chát với người ta vì mình không thích chua chát, đừng ghim gút với người ta vì mình không thích ghim gút, đừng cay đắng với người ta vì mình không thích đắng cay. Nên có câu:
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
“Người tu tâm thật là hiền,
Trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên.”
Chúng ta thấy có hiền không? Có thấy bình yên, có thấy trong lòng ngực mình có một cảm giác ngọt ngào, ấm áp, dễ chịu, dạt dào không? Vậy nên làm cho nó lan tỏa, dạt dào, thấm đượm.
IV. Thiền quán – tác ý
Mình nuôi dưỡng cảm xúc ngọt ngào của mình, mình nuôi dưỡng cảm giác dễ thương của mình, mình nuôi dưỡng những cảm thọ hiền thiện, hiền hòa, dễ chịu, dễ thương, an lạc.
Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta cách, nhưng tự nhiên gặp ai mình cũng bực bội, mình nghe gì cũng bức xúc, gặp hành động nào cũng ghim gút thì như vậy là mình khổ đau hay mình hạnh phúc? Tại sao mình lại đi chất chứa những cảm giác đó với chồng mình, con mình, anh chị em mình làm chi? Sao mình dại khờ, mình trẻ thơ quá vậy? Sao tâm mình nhỏ hẹp quá vậy?
Đức Thế Tôn ơi, hôm nay là ngày đản sanh của Ngài, con nhớ ơn Ngài nhiều lắm. Chúng ta cùng nhìn lên Thánh tượng, của Bồ Tát khi mới đản sanh.
Đức Thế Tôn ơi, con nhớ ơn Ngài nhiều lắm. Con hứa với Ngài từ nay trở đi con tập giảm bớt sát sanh, đoạn trừ sát sanh, nuôi dưỡng lòng từ. Đức Thế Tôn ơi, từ nay trở đi, con hứa với Ngài, con sẽ không lấy của không cho, biết bảo vệ tài sản của mình và Người, tôn trọng tài sản của mọi người.
Đức Thế Tôn ơi con hứa với Ngài, con sẽ sống thủy chung, sống tôn trọng gia đình, sống bảo vệ hạnh phúc. Đức Thế Tôn ơi, con biết ơn Ngài nhiều lắm, hôm nay ngày đản sanh của Ngài, con hứa với Ngài, con sẽ nói lời chân thật, nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời có lợi ích, nói với tâm từ ái.
Đức Thế Tôn ơi, con sẽ từ bỏ nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm. Đức Thế Tôn ơi, con biết rồi, con hiểu rồi, con cảm nhậnđược lòng từ của Ngài rồi! Con biết ơn, cảm ơn, mang ơn, đội ơn Ngài nhiều lắm và con sẽ sống đúng pháp, hành trì pháp để cúng dường với sự cúng dường tối thượng lên Đức Thế Tôn.
V. Giới thứ năm
Đức Thế Tôn thương mình nhiều lắm, quý vị có biết không? Đó chỉ là bốn giới, còn giới thứ năm là: mới bước vào làm đệ tử của Ngài: “Con đừng các chất say sưa, nghiện ngập, sống trong si mê, điên đảo nha con. Không sử dụng những chất rượu, những chất làm say sưa, những chất làm cho nghiện ngập, cho ngu si, cho điên đảo. Con nhớ sống đời thức tỉnh nha con, sống đời chánh niệm, sống đời luôn luôn nhìn thấy được nhân quả, nghiệp báo trong mọi ý nghĩ, lời nói và hành động nha con.”
Có nhiều bài kinh Đức Thế Tôn dạy Ngài La-hầu-la:
“Trước khi ông suy nghĩ, ông phải xét nét thật kĩ. Trong khi ông suy nghĩ, ông phải xét nét thật kĩ. Sau khi ông suy nghĩ, ông phải xét nét thật kĩ suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, có tội hay không có tội, có lợi ích hay làm tổn hại cho mình và người?”, “Trước khi suy nghĩ, trong khi suy nghĩ và sau khi suy nghĩ, con phải xét kĩ nha con! Đừng suy nghĩ cái gì làm hại mình, hại người, làm khổ mình làm khổ người nha con! Đừng suy nghĩ cái gì làm tổn thương mình, tổn thương cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè của mình nha con!”
“Này các Tỳ-kheo, này La-hầu-la, này các vị, trước khi con nói con phải xem xét thật kĩ lời nói này có lợi hay có hại cho con. Trong khi con đang nói con phải xét kĩ lời nói này có làm khổ cho con, có làm khổ cho người khác không con? Sau khi con nói rồi, con phải xét kĩ lời nói đó là thiện hay bất thiện, tốt hay xấu, lợi hay hại. Con nhớ kĩ nha con.
Này các Tỳ-kheo, này La-hầu-la, này các vị, trước khi làm phải xem xét thật kĩ, trước khi làm công việc gì cũng phải xem xét kĩ nhân quả, nghiệp báo, trong khi làm cũng xem xét kĩ lành hay dữ, thiện hay ác, tội hay phước, đem lại kết quả an vui hay đau khổ. Sau khi làm suy xét kĩ nha quý vị, thiện ác, đúng sai, lành dữ, tội phước. Suy xét kĩ nha!”
Đức Thế Tôn ơi, giờ này con quỳ dưới chân của Ngài, giờ này con mới hiểu ra tình thương của Ngài là vô bờ. Chúng ta hãy hướng mắt nhìn lên Thánh tượng của Ngài. Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới hiểu ra lòng đại bi vô tận của người. Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới thông tỏa ra được trái tim bao la, trùm khắp hoàn vũ của Như Lai. Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới cảm thông được:
“Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau.”
VI. Kinh Thánh Cầu
Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới hiểu được tâm từ của Ngài, giờ đây con mới hiểu được thế nào là tình thương sâu thẳm của Ngài, giờ đây con mới cảm nhận được thế nào là trí tuệ, sự thấy biết cùng tột của Như Lai.
“Này các Tỳ-kheo, này các vị, khi ta chưa thành Chánh Giác, khi ta còn là Bồ Tát, khi ta còn là Thái tử, ta tự mình nhìn thấy ta phải bị sanh, bị lo lắng, bị bất an, bị khổ sầu trong sự có mặt này. Ta tự mình nhìn thấy ta phải bất an, lo lắng trong cái thân bệnh tật, bệnh hoạn này, trong cái thân đầy rẫy sự lo sợ, sự tai nạn vô thường, trống vắng này.
Này các Tỳ-kheo, này các vị, khi ta chưa thành Chánh Giác, khi ta còn là Bồ Tát, khi ta còn là Thái tử, ta tự nhìn thấy chính tự thân ta bị già nua, tóc bạc, mắt mờ, lưng còng, gối mỏi, ta nhìn thấy cái già áp đảo và xâm chiếm chúng sanh. Ta nhìn thấy cái bệnh, cái chết bao phủ hữu tình, vạn loại. Ta thấy mình bị sanh, bị bệnh, bị già, bị chết. Ta thấy mình bị lo lắng, bị bất an, bị khổ sầu, bị sợ hãi, bị lo âu, bị phiền não.
Này các Tỳ-kheo, này các vị, ta đi tìm cái không bị sanh, ta từ bỏ mẹ cha, vợ đẹp, con xinh, ta từ bỏ ngai vàng, vương vị, hoàng bào, ta từ bỏ quyền uy tối thượng của nhân loại. Ta dấn thân đi tìm cái gì không bị già, không bị bệnh, không bị chết. Ta dấn thân nửa đêm vượt hoàng thành, ta tìm cái bất tử, ta đi tìm cái không chết, ta đi tìm cái không bị lo lắng, không bất an, không sầu não, không khổ đau.
Này các vị, chúng sanh bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết lại đi tìm cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết. Chúng sanh bị tham lam bao phủ, bị nóng giận thêu đốt, bị si mê vây quanh, lại đi tìm cái tham lam, nóng giận, si mê. Chúng sanh bị khổ sầu, bị bất an, bị sợ hãi, chúng sanh lại đi tìm cái khổ sầu, bị bất an, bị sợ hãi.
Này các Tỳ-kheo, Như Lai đi tìm cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, Như Lai đi tìm cái không sầu bi, u não. Như Lai đi tìm cái không tham, sân, si. Như Lai đi tìm cái bất tử.
Này các Tỳ-kheo, hôm nay Như Lai chứng thành Chánh Giác, đạt được bất tử và Như Lai từ khi thành đạo dưới cội bồ đề đến khi nhắm mắt ở Ta-la sông thọ 64:11 ta chỉ nói có hai điều sự thật về đau khổ của đời sống, và phương pháp tiêu diệt và chấm dứt khổ đau.
Con đường thoát khổ của ta chính là bốn sự thật mà bậc Thánh giác ngộ, con đường thoát khổ của ta chính là phương pháp Tám đúng thần thánh mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, và hôm nay Như Lai cũng đi con đường ấy. Đi con đường ấy, Như Lai thấy được sanh, già, bệnh, chết, thấy được vô minh, tham ái và chấp thủ. Như Lai đoạn tận, tẩy sạch, không còn cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai và Như Lai chứng thành bất tử của Niết-bàn.
Này các Tỳ-kheo, giáo pháp của ta là con đường đưa đến sự bất tử, con đường đưa đến sự nhìn thấy được bộ mặt thật sự của tham lam, nóng giận, si mê, vô minh và bản ngã, là nguyên nhân của tất cả những dòng nước mắt, máu lệ và đau khổ trên hành tinh này. Đạo lộ của Như Lai là đạo lộ ly tham, lìa tham đối với đời sống, thân xác, đối với tài sản, vật chất này, Như Lai hoàn toàn thoát ra.”
Như Lai hoàn toàn chứng ngộ con đường bất tử của Niết-bàn và tất cả đạo lộ đó, Thế Tôn đã tuyên thuyết. Và ngày hôm nay, chư tăng, những bậc tu hành đúng Chánh pháp đã đem tiếp nối và truyền thừa dòng Thánh trí bất tử, ly tham, giải thoát đó.
Quý vị có thấy hạnh phúc, vui sướng, xúc động, cảm nhận không? Giống như văng vẳng đâu đây là lời của bậc Từ Tôn còn vang vọng ở bên tai. Văng vẳng đâu đây là Thánh trí bất tử của Đức Phật: “Đây là khổ, khổ là đây! Thánh chuông vang đọng, trời mây muôn ngàn.”
“Cái gì sanh phải diệt, cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan. Ngũ uẩn này, tứ đại này, đây là khổ, khổ là đây! Thánh chuông vang đọng, trời mây muôn ngàn.”
Tất cả chúng ta thật là phúc lạc, phúc báo, thật là hạnh phúc tối thượng, hy hữu, thù thắng khi giờ này có mặt tại nơi Thánh địa này, được nghe Thánh pháp này, được đi trên Thánh đạo này. Phúc lành, phúc đức, phúc báo, thật là phúc lạc cho quý vị, ngày hôm nay quý vị được tắm gội trong dòng Thánh thủy của Đức Thế Tôn. Ngày hôm nay quý vị được dạt dào những cảm xúc tuyệt vời, vi diệu và nhiệm màu chưa từng có trong dòng sanh tử vô lượng, vô biên kiếp vừa qua.
Hân hoan lên, hạnh phúc lên, vui sướng lên vì được nghe Khổ Thánh Trí, vì được thọ Thánh giới của Đức Phật, vì được hưởng thụ Thánh pháp tối thượng của Như Lai.
“Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.”
Con Biết Ơn Ngài Nhiều Lắm 4!
Thích Minh Thành
Ngày 15 tháng 05 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sự xuất hiện của Đức Thế Tôn PAGEREF _Toc104903026 \h 1
II. Phúc lành khi được quy y Thế Tôn PAGEREF _Toc104903027 \h 2
III. Tu với lời nói PAGEREF _Toc104903028 \h 6
IV. Thiền quán – tác ý PAGEREF _Toc104903029 \h 11
V. Giới thứ năm PAGEREF _Toc104903030 \h 12
VI. Kinh Thánh Cầu PAGEREF _Toc104903031 \h 13
I. Sự xuất hiện của Đức Thế Tôn
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc Chánh biến tri vô thượng giác.
Cúi đầu đảnh lễ giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát,
Cúi đầu đảnh lễ Bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính thưa các bậc hiền trí, tăng ni và quý Phật tử.
Hôm nay là ngày rằm tháng tư, là ngày tưởng nhớ đến sự xuất hiện của Đức Thế Tôn, tất cả người đệ tử Phật, dù tại gia hay xuất gia, cư sĩ hay tu sĩ trên khắp năm châu bốn biển, chúng ta cùng hướng về ngày Thánh đản, sự xuất hiện vô cùng quý báu.
Trong kinh Tăng Chi Bộ kinh, Đức Thế Tôn từng nói:
“Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”
(Bài kinh Như Lai, Phẩm Một Người – Chương Một Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh tập 1)
Một người khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện của người ấy là vi diệu, là khó gặp ở trên đời. Sự xuất hiện của người ấy không có người thứ hai, không có ai ngang bằng đồng bạn, không có ai có thể so sánh, không ai có thể tương trợ, là bậc tối thượng giữa loài hai chân.
Người ấy chính là Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác. Sự xuất hiện của người ấy là sự xuất hiện của con mắt lớn, sự xuất hiện của đại quan, sự xuất hiện của đại minh, của ánh sáng lớn. Là sự xuất hiện của sáu vô thượng, là sự chứng ngộ của bốn vô ngạ giải, là sự chứng ngộ của Thánh quả thứ nhất là Dự lưu, Thánh quả thứ hai là Nhất Lai, Thánh quả thứ ba là Bất lai, Thánh quả thứ tư là bậc A-la-hán, là bậc tối thượng nhất.
Sự xuất hiện của Đức Phật như vậy là vô lượng vô biên, vô số kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời. Chúng ta là những chúng sanh rất may mắn, phúc lành, phước báo, khó gặp, khó được nghe, khó được hiểu, khó được thấy tuy là chúng ta sanh ra sau Đức Phật hai ngàn mấy trăm năm. Nhưng hiện tại còn giáo pháp của Đức Phật, chúng ta còn được nghe, còn được học, còn được hiểu, hành trì thì đó là phúc lạc, lợi ích, phúc lành cho chúng ta.
Cũng như Tôn giả U-đa-di, trong khi Ngài ở một mình, Ngài chiêm nghiệm, thiền định, Ngài có suy nghĩ: “Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều đau khổ cho chúng ta! Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều hạnh phúc, an vui cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đem lại nhiều pháp lành cho chúng ta. Đã đoạn trừ nhiều pháp ác, bất thiện cho chúng ta.”
II. Phúc lành khi được quy y Thế Tôn
Quý vị có thấy Đức Phật đã đem lại nhiều an vui cho mình không? Thấy Đức Phật có đem lại cho chúng ta nhiều bình an, hạnh phúc và thiện pháp tu hành không? Ngài có giúp chúng ta trừ bỏ nhiều điều bất thiện, tội lỗi không?
Ví dụ như có quý Phật tử nói có tham, sân, si là Phật dạy diệt trừ tham, sân, si. Phật dạy về lòng từ bi, thương xót, phóng sanh, bố thí, từ bi, cứu khổ, ban vui, hiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ.
Mình học được những gì, tu những gì và ngăn chặn được những gì? Thấy được gì? Thấy được những cấu uế, rác bẩn trong người mình để sửa đổi cho sạch, thanh tịnh, tốt đẹp.
Như vậy, quý vị đã nhiêu ra được rất nhiều lợi ích của Phật pháp, còn một điều rất quan trọng mà Minh Thành nhắc quý vị là khi quý vị vừa bước vào làm đệ tử của Phật là Ngài đã bảo vệ cho quý vị ngay lập tức. Đó là giới. Điều này rất quan trọng. Như quý vị thấy căn nhà của mình, hàng rào, cánh cửa, chìa khóa, ổ khóa quan trọng không? Khi quý vị vừa phát âm về nương với Đức Phật thì Ngài đã bảo vệ cho quý vị khỏi rơi vào ba đường ác, bằng cách trao cho quý vị năm điều mà quý vị thực hiện theo thì quý vị có được bình an.
Mình cứ nghĩ rằng mình gặp tai nạn, bệnh hoạn mình mới sầu đau. Hay nghĩ là mình va vào những cảnh phá sản hay tật bệnh, tai nạn, chết chóc thì lúc đó mình mới thấy đau khổ, đó là mình chỉ thấy kết quả. Còn Đức Phật thấy nhân ngăn chặn được những cái đó. Tại sao mình phải giữ giới, không sát sanh? Tại sao mình phải ăn chay?
Tăng trưởng lòng từ bi, đó là nói hơi cao siêu. Nói thấp xuống là không giết hại chúng sanh, là mình bớt nghiệp sát. Vì tấm thân này từ ngày nó sanh ra, chưa sanh cũng đã sát sanh rồi, là gián tiếp. Như vậy thì tấm thân này bao nhiêu con gà, con vịt, con heo, con cá, con bò… Tức là sinh mạng của mình lớn hơn bao nhiêu thì nghiệp sát theo đó cũng chồng chất bấy nhiêu. Nếu mình không có trí tuệ để nhìn nhận đúng đắn về đời sống này thì mình mới ăn chay được mấy bữa thì mình nghĩ là mình cũng ngon lắm. Mà mình không biết là mình đã sát sanh bảy chục năm mà mình không nhớ, nhưng ăn chay mới được mấy ngày thì đã khoe tùm lum.
Vậy nên, bước đầu tiên, tâm từ bi của Đức Phật nên Ngài U-đa-di trong khi thiền định thì Ngài cảm xúc “Thế Tôn là vị đã đoạn trừ nhiều đau khổ cho chúng ta. Thế Tôn là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đem nhiều an lạc cho chúng ta, hướng dẫn cho chúng ta rất nhiều pháp lành.”
Đây là trong Trung Bộ Kinh. Chúng ta thấy chỉ một câu nói này thôi thì mình chiêm nghiệm thì thấy có rất nhiều ý nghĩa thâm sâu, sâu sắc, rộng lớn trong đó.
Đầu tiên Ngài kêu “Con giờ làm con Phật rồi, giảm bớt ăn mặn nha con. Giảm bớt giết hại chúng sanh nha con, giảm bớt đập mấy con muỗi chát chát nha con. Giảm bớt mua các cây quạt rột rột rơi xuống chết nha con! Giảm bớt đập gián nha! Giảm bớt đốt kiến nha! Giảm bớt hại những con ruồi nha! Tháng nên tập ăn chay!”
Ví như hôm nay quý vị đi chùa thì quý vị hỏi “Đi chùa đâu tôi lại không thấy phước!” Vậy thì bây giờ có thấy phước không? Vậy khi ăn cơm có phước không? Đó là không sát sanh.
Quý vị vào lạy một lạy thôi là quý vị hạ gục cái tôi cao to, phình trương của mình cúi xuống, hạ xuống, gập xuống, lễ xuống thì ngay nơi đó là phước sanh, công đức sanh. Hay khi quý vị ăn một bữa cơm chay là giảm được một nghiệp sát sanh. Quý vị lạy một lạy là giảm bớt tâm bản ngã, cống cao của mình xuống. Quý vị giữ gìn thân, miệng, ý khi vào chùa, không giống như ở chợ là thu thúc sáu căn, được phước ở trong đó.
Nên đó giải thích cho nhiều quý vị thấy đi chùa có phước sao? Lễ Phật Đản có lợi ích gì? Đó là quý vị còn nghe được những công đức, trí tuệ, đạo hạnh của Đức Thế Tôn. Ví như nghe được mười điều thì dù có tệ đến mấy thì cũng nghe được hai điều hay một điều, còn giỏi thì được năm, bảy, tám điều. Đó là thấy phước, là thiện pháp.
Quý vị thấy được Đức Phật rất thương mình, giúp mình nhiều lắm, đem lại nhiều thiện pháp, lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho mình rất nhiều.
Ví như một người cứ bị bệnh phải nằm liệt giường, chồng phải lo, con phải rầu, cha mẹ già còn phải chăm sóc. Quý vị có thấy khổ không? Nhưng vì người này sát sanh nên nghiệp nặng, khi sanh ra trong đời này lại mang theo một chứng bệnh nan y. Như quý vị thấy có rất nhiều bệnh dị dạng dị hình, dị tật, bệnh đau… Nên đó là nghiệp quả sát sanh đời trước nên đời này sanh ra với một tấm thân nan y, dị dạng, dị hình, dị tật, bệnh hoạn, tật nguyền, sát sanh.
Nên Đức Phật đã dạy mình giữ giới, bảo vệ cho mình để được sanh ra lành lặn, khỏe mạnh, tốt tươi. Như vậy có phước không?
Điều thứ hai Ngài dạy mình: Không nên lấy của không cho. Tức là người ta cho không mình thì đừng lấy, dù cho đó là trái cà, trái ớt, cái bánh. Cái gì dù là nhỏ nhất nhưng người ta không cho thì không được lấy, muốn lấy thì phải xin. Tại sao lại như vậy? Vì nếu lấy như vậy là mình mang tội trộm cắp. Như quý vị thấy bây giờ trộm cắp rất nhiều, như chuyện có đứa nhỏ ngồi trong nhà đang cầm điện thoại chơi cũng đi vào giật lấy. Như vậy, quý vị thấy thật đáng báo động bởi ác nghiệp của chúng sanh đang tăng trưởng mạnh mẽ. Những ác nghiệp này tăng trưởng sẽ kéo theo những hậu quả đau khổ trong hiện tại và tương lai.
Như giờ mình sinh ra, làm ăn, tích lũy, gom góp ba chục năm, bốn chục năm, cuối cùng bị một người gạt làm tay trắng, phá sản thì quý vị có thấy đau khổ không? Thậm chí là điên loạn. Mình không muốn mình bị mất mát, cướp giật, lừa gạt thì mình đừng lừa gạt, đừng làm người khác bị mất mát, cướp giật. Như vậy thì tài sản của mình được vững chắc, được kiên cố, được an toàn, bảo vệ, sung túc, sung mãn. Đó là Đức Phật thương mình, muốn mình được như vậy. Vậy quý vị có muốn như vậy không hay muốn ăn trộm lại?
Vậy nên Đức Phật đang dạy những cái mình muốn nhưng nhiều khi mình không thấy. Như “Mới vào tu nhưng sao bắt mình giữ cái này cái kia, cái nọ khó vậy?” Không phải như vậy, đó là thương mình. Đó là tình thương sâu xa, tầm nhìn rộng lớn, nhiều đời nhiều kiếp sau, không phải chỉ thương ở trước mắt.
Quý vị thấy trên thế giới, nhất là những nước phát triển, văn minh, tiến bộ, người ta ăn chay rất nhiều, ăn rau củ, ăn đậu, ăn quả… Đó là chẳng những không gây nghiệp sát sanh mà còn bảo vệ được sức khỏe, đầu óc, tinh thần minh mẫn, sáng suốt. Sau đó là mình biết giữ giới, không lấy của không cho, không trộm cắp, thì quý vị thấy lúc xưa, nhà không đóng cửa cũng không sao, Minh Thành nhớ lúc nhỏ, khoảng hai ba mươi năm trước rất ít nghe ăn trộm, ăn cướp mà bây giờ thì hở chút là chôm, hở chút là trộm.
Vậy nên đó là ác, bất thiện pháp nhiều, nghiệp quả chúng sanh sẽ đi đến sự đau khổ, bất an, lo lắng, sợ hãi.
Tiếp theo, Đức Phật dạy gia đình của mình, mình muốn an vui, muốn hạnh phúc, muốn thủy chung, răng long đầu bạc, bách niên giai lão nên Đức Phật đã dạy mình không tà dâm, không tà hạnh trong các dục, thủy chung một vợ một chồng, tôn trọng nhau, thương yêu nhau, chung thủy trước sau. Nhưng quý vị thấy giới trẻ bây giờ còn giữ được như vậy nhiều hay ít? Đó là mầm móng, nguyên nhân để đổ vỡ, để bất an, để bất hạnh, để không có hạnh phúc. Vì lòng tham dục của con người không biết tiết chế, chế ngự, nhiếp phục, không biết giữ gìn thì xã hội sẽ đi đến chỗ rối loạn về đạo đức, luân lý.
Trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói có hai pháp, tức là xấu hổ và sợ hãi (tàm quý). Nếu chúng sanh không có hai pháp trên, xấu hổ và sợ hãi, thì con không còn là con, cha không còn là cha, mẹ không còn là mẹ, vợ không còn là vợ, chồng không còn là chồng, thầy không còn là thầy, chị dâu, em rể không còn là chị dâu em rể nữa. Xã hội này sẽ rối loạn trật tự, giống như loài cầm thú.
Đức Phật nói hai pháp che chở, bảo vệ cho thế giới, cho chúng sanh, cho nhân loại là sự xấu hổ và sợ hãi đối với điều ác và bất thiện pháp. Khi mình làm điều xấu ác, tội lỗi thì mình phải xấu hổ, sợ hãi, lo lắng, sám hối. Mình làm những cái sai, cái quấy, cái tội lỗi mà mình trơ trơ thì thế gian sẽ sụp đổ luân thường, đạo đức, luân lý, trật tự của xã hội. Nên ở hiện tại việc này rất đáng báo động, nhưng Đức Phật đã nhìn ra được từ hai ngàn sáu trăm năm trước. Nên vừa mới làm đệ tử của Ngài thôi là “Con giữ gìn không tà hạnh trong các dục, sống chung thủy.”
Chúng ta có thấy được Ngài thương mình nhiều không? Có đem cho mình nhiều bình an, lợi ích, trừ diệt những tội lỗi, những ác bất thiện pháp, đem lại hạnh phúc, an lạc, an vui lâu dài không chỉ trong kiếp này mà nhiều đời khác. Như vậy quý vị có thấy được ân đức của Thế Tôn không?
Nên tên bài hôm nay Minh Thành đã đặt là Đức Thế Tôn ơi! Con biết ơn Ngài nhiều lắm! Con vừa bước vào cổng chùa là Ngài đã bảo bọc, chở che cho con, Ngài đã làm hàng rào, cánh cửa, chìa khóa, đưa cho con những nón bảo hiểm, khẩu trang, những thuốc ngăn chặn, phòng ngừa, bảo vệ. Quý vị thấy Đức Thế Tôn thương mình nhiều không? Mình có mang ơn, biết ơn, nhớ ơn, đội ơn, tri ơn, báo ơn Thế Tôn nhiều không?
Khi quý vị lạy Phật thì phải đọc những câu đó để tác ý “Đức Thế Tôn ơi! Con biết ơn Ngài nhiều lắm!” rồi lạy xuống một lạy, không đợi tới lễ Phật Đản mà hằng ngày cũng lạy vậy. “Đức Thế Tôn ơi! Con cảm ơn Ngài nhiều lắm!”, “Đức Thế Tôn ơi! Con mang ơn Ngài nhiều lắm!”, “Đức Thế Tôn ơi! Con đội ơn Ngài nhiều lắm!”, “Đức Thế Tôn ơi! Làm sao con trả hết ân đức của Ngài đây!” Đó là quý vị lạy Phật Đản, lạy ân đức của Phật. Đây là chưa đủ năm giới nhưng đã thấy được ân đức dào dạt của Ngài.
III. Tu với lời nói
Đức Thế Tôn dạy: Nói lời chân thật, nói lời cho đúng thời đúng lúc, nói lời cho từ ái, đừng nói dối, đừng nói lưỡi đôi chiều, đừng nói lời hung ác, đừng nói lời đâm thọt, đừng nói lời đâm thóc thọc bị gạo, đừng nói thêu dệt, đừng nói lời phù phiếm, vô ích. Mình có thích người ta dối gạt, mắng chửi, lừa đảo, đâm thọt mình không?
Như Khổng Tử nói
“Kỷ sở bất dục
Vật thi ư nhân.”
Ý nói: Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người ta. Mình có muốn rằng có ai giận mình thì mình thích không? Mà mình giận người ta nhiều không? Đó là bất công, không nhớ nhân quả, nói thì “Con biết rồi! Con học rồi! Con hiểu rồi!” nhưng khi ra sống thì không ứng dụng được. Mình không muốn hay ưa thích ai nói lời ác độc, chua cay, cay nhiệt, ghim gút với mình nên mình cũng đừng nói lời ghim gút, đâm chọt, đừng nói lời làm cho người ta nhức nhối, tức tối, nói mà về người ta ngủ không được, ăn cơm không được.
Khi mình nói như vậy thì chẳng những người kia họ nhức nhối, tức tối, họ bỏ ăn, mất ngủ, thù hận mà mình mỗi lần nhớ lại lời nói đó thì mình có an tâm, ray rứt, hối hận không? Đó là mình trạo cử, trong tâm mình ray rứt, hối hận. Thậm chí có lời nói mà suốt cuộc đời này người ta không quên, người ta oán hận, để trong bụng, thù. Và có những lời nói làm đổ vỡ cả gia đình, đổ vỡ cả hạnh phúc tan nát, huynh đệ tương tàn hoặc vợ chồng phân ly, mẹ con oán thù, không nhìn mặt nhau, đều chỉ là từ câu nói.
Vậy nên trong các giới có thân ba, ý ba, miệng là bốn. Như vậy nhưng không nhớ, cứ việc nói, nói trong thả ga, nói trong dục, thúc giục bên trong, cứ mê nói, thích nói, ham nói, dục nói. Nói xong rồi lại hối hận, ray rứt, trạo cử, làm cho mình bất an, làm cho người đau, làm cho mình khổ, làm người ta buồn, mình rầu, làm cho hai vợ chồng mà chọn câu nào nặng kí để nói cho nhau nghe, cho hả dạ thì xong rồi đi ra đi vào có dễ chịu không? Và mình hành hạ nhau, hành tội nhau bằng miệng lưỡi như vậy có thông minh không? Thông minh hay vô minh? Khôn hay không khôn? Sáng suốt hay là tối tăm? Vậy nhưng cứ tưởng là mình tu rất hay.
Nên tu miệng rất quan trọng. Đức Phật thương mình nên đã dạy: Con nhớ nha con! Mới vào chùa đừng nói dối trá, hung dữ, nói hai lưỡi, nói thóc thọc bị gạo phù phiếm thêu dệt, chuyện bé xé ra to, chuyện to làm ra bự, chuyện bự làm ra hình sự.
Mình biết tu hạnh phúc này là mình hạnh phúc hơn nửa cuộc đời. Mình ngồi nhẹ nhàng thở, cảm nhận cảm giác an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, ngọt ngào sướng biết bao nhưng lại muốn kiếm chuyện, nói chuyện này chuyện kia, nói chuyện bà bảy bà tám, sau đó lại phải quấy, thị phi rồi phiền não, bỏ ăn, mất ngủ, nghỉ làm, bệnh rồi nằm bệnh. Đó là không biết tu miệng.
Nên thường kêu mình niệm Phật là như vậy, nên quán “Đừng nói nhiều lời lung tung, thôi niệm Phật đi cho giảm bớt nói lại! Niệm pháp đi, đọc kinh để tu cái miệng, tu tâm, tu thân.” Vậy nên Đức Phật đã dạy mình: nói đúng thời, nói với từ tâm, nói với lời hòa nhã, nói đúng sự thật, nói lời có lợi ích.
Nên Đức Phật đưa ra đây là lời nói xấu ác, tội lỗi, khổ đau; đây là lời nói tốt lành, hạnh phúc, an vui. Không phải Đức Phật cấm không cho nói chuyện, tịnh khẩu mà là có miệng để nói chuyện nhưng nói như thế nào để mình an, người vui, để trong nhà hài hòa, ấm cúng, để gắn kết tình thân, để xây đắp gia đình, để vun vén, tưới tẩm tình thương, sự thấu hiểu, cảm thông, tha thứ với nhau.
Vậy nên tu lời nói là hết sức quan trọng.
Ngày xưa có một thầy Tỳ-kheo vu khống tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên xúc phạm người đó. Nhưng hai Ngài đó không có như vậy, vì Tỳ-kheo ganh tị, thấy hai bậc đại Thánh của tăng đoàn, đức độ và đức hạnh. Đức Thế Tôn cũng nói hai vị ấy có khả năng thay thế Đức Phật lãnh đạo tăng đoàn. Thì khi đó tâm phàm phu chưa chứng Thánh ganh tị, đố kị, hỏi “Tại sao ổng được vậy còn tôi không được vậy!” nên vu khống cho bậc Thánh.
Lúc đó Đức Thế Tôn nói với Tỳ-kheo Kokàlika “Ông chớ nói như vậy!” thì người đó nói “Không, có như vậy!” Khi đó có một vị đồng tu với Tỳ-kheo nào, vị này đã chứng Thánh quả thứ ba ở trên Tịnh Cư Thiên hiện xuống trước mặt và khuyên bảo “Thầy đừng nói tôn giả Xa-lợi-phất và Mục-kiền-liên như vậy! Nguy hiểm cho thầy, đau khổ dài lâu!” Thì người Tỳ-kheo đó trả lời “Ông đã chứng được Thánh quả Bất Lai ở trên cung trời Tịnh Cư thì ông tới đây làm gì? Chuyện của tôi!” Đó là sân hận rồi thì bất kể ai, thần thánh gì cũng không kể.
Sau khi chuyện đó xảy ra, trên người vị Tỳ-kheo đó nổi những đốt mụn, lúc đầu chỉ là nhỏ xíu nhưng dần dần lớn lên như hạt đậu xanh, lớn đến hạt đậu phộng, lớn giống như trái tắt, trái hạnh, lớn như trái chanh chỉ là mủ máu trong đó, lớn như quả quýt, quả cam rồi bể ra làm vị Tỳ-kheo đó chết đọa xuống địa ngục ngay lập tức vì vu khống cho bậc Thánh.
Đức Thế Tôn từng dạy bài kệ:
“Người sống ở đời
Búa để trong miệng,
Sở dĩ chém mình
Do lời nói ác.”
(Trích trong Luật Sa-di)
Nên câu chuyện này để chúng ta nghiền ngẫm, quán chiếu, làm đề mục tư duy, nghiền ngẫm, mỗi khi mình nói ra với tâm sân hận, bực bội, khó chịu, ganh tị, đố kỵ thì mình phải quán chiếu “Đây là lưỡi liềm, đây là búa chém mình.” Tự mình cầm cây búa chặt trong người mình thì có sợ không? Tự mình cầm cây búa bén chặt vào vậy thì máu đổ, mỡ thịt trào ra.
Vậy nên cần phải hết sức cẩn thận trong lời nói. Đức Thế Tôn nhiều đời nhiều kiếp tu tập ở lời nói, Ngài luôn nói lời chân thật, nói lời từ ái, nói đúng thời, đúng sự thật, nói lời có lợi ích cho người ta. Nên lời Ngài nói ra là ba ngàn đại thiên thế giới. Mỗi khi lời nói của Ngài phát ra thì trong ba ngàn đại thiên thế giới chúng sanh có thể nghe được, những người nghe đều có cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, cung kính, tin tưởng, lắng nghe.
Lời nói của Ngài giống như sóng biển, hải triều âm, giống như chuông thần, giống như cam lộ, sương ngọt. Lời nói của Ngài giống như sự thật, là ánh sáng của mặt trời, lời nói của Ngài đem lại lợi ích, hạnh phúc, đem lại an lạc cho chúng sanh. Vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người, cho số đông mà Ngài nói.
Còn giờ mình nói với một tâm sân si, tâm ngã mạn, hơn thua, tâm cứ muốn phần thắng, giành phần đúng về mình. Khi hai vợ chồng nói qua nói lại thì mình muốn giành phần đúng hay chịu phần thua? Muốn nhường nhịn hay muốn hơn? Vì khi giận lên, sân lên, bản ngã lên thì cứ muốn đúng.
Chúng ta nhìn chung quanh chúng ta, những thân ngũ uẩn, tứ đại đau khổ, ác nghiệp “Nên làm người không muốn, muốn làm mèo đúng không?” Mình nên quán chiếu, hỏi mình như vậy. Cứ tham lam hoài, tham ái, cứ sân hoài thì mình tự hỏi “Giờ làm người không muốn, muốn làm con chó hở chút là sủa, hở chút là sân, là cự vậy?” Như mình đang đi ở ngoài đường nhưng con chó từ trong đâu cũng có thể nhào ra rượt theo sủa. Đó là do tâm sân hận, đời trước cũng là người nhưng tâm sân hận, bản ngã nên sanh ra thân lông lá như vậy.
Nên khi mình nhìn chung quanh những chúng sanh thì mình nhìn thấy mình trong đó, chúng sanh trong đó, ngũ uẩn trong đó để mình cẩn thận lo tu. Nên nhớ trong miệng có gì?
“Người sống ở đời
Búa để trong miệng,
Sở dĩ chém mình
Do lời nói ác.”
Quý vị thấy mình nhớ mỗi lời mình nói ra đều ngọt ngào, dễ thương, từ ái. Quý vị thích uống nước cam với mật ong, thích uống cà phê sữa không? Quý vị thích uống chanh mà không có đường hay mật ong không? Nên đừng chua chát với người ta vì mình không thích chua chát, đừng ghim gút với người ta vì mình không thích ghim gút, đừng cay đắng với người ta vì mình không thích đắng cay. Nên có câu:
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
“Người tu tâm thật là hiền,
Trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên.”
Chúng ta thấy có hiền không? Có thấy bình yên, có thấy trong lòng ngực mình có một cảm giác ngọt ngào, ấm áp, dễ chịu, dạt dào không? Vậy nên làm cho nó lan tỏa, dạt dào, thấm đượm.
IV. Thiền quán – tác ý
Mình nuôi dưỡng cảm xúc ngọt ngào của mình, mình nuôi dưỡng cảm giác dễ thương của mình, mình nuôi dưỡng những cảm thọ hiền thiện, hiền hòa, dễ chịu, dễ thương, an lạc.
Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta cách, nhưng tự nhiên gặp ai mình cũng bực bội, mình nghe gì cũng bức xúc, gặp hành động nào cũng ghim gút thì như vậy là mình khổ đau hay mình hạnh phúc? Tại sao mình lại đi chất chứa những cảm giác đó với chồng mình, con mình, anh chị em mình làm chi? Sao mình dại khờ, mình trẻ thơ quá vậy? Sao tâm mình nhỏ hẹp quá vậy?
Đức Thế Tôn ơi, hôm nay là ngày đản sanh của Ngài, con nhớ ơn Ngài nhiều lắm. Chúng ta cùng nhìn lên Thánh tượng, của Bồ Tát khi mới đản sanh.
Đức Thế Tôn ơi, con nhớ ơn Ngài nhiều lắm. Con hứa với Ngài từ nay trở đi con tập giảm bớt sát sanh, đoạn trừ sát sanh, nuôi dưỡng lòng từ. Đức Thế Tôn ơi, từ nay trở đi, con hứa với Ngài, con sẽ không lấy của không cho, biết bảo vệ tài sản của mình và Người, tôn trọng tài sản của mọi người.
Đức Thế Tôn ơi con hứa với Ngài, con sẽ sống thủy chung, sống tôn trọng gia đình, sống bảo vệ hạnh phúc. Đức Thế Tôn ơi, con biết ơn Ngài nhiều lắm, hôm nay ngày đản sanh của Ngài, con hứa với Ngài, con sẽ nói lời chân thật, nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời có lợi ích, nói với tâm từ ái.
Đức Thế Tôn ơi, con sẽ từ bỏ nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, nói lời ác độc, nói lời phù phiếm. Đức Thế Tôn ơi, con biết rồi, con hiểu rồi, con cảm nhậnđược lòng từ của Ngài rồi! Con biết ơn, cảm ơn, mang ơn, đội ơn Ngài nhiều lắm và con sẽ sống đúng pháp, hành trì pháp để cúng dường với sự cúng dường tối thượng lên Đức Thế Tôn.
V. Giới thứ năm
Đức Thế Tôn thương mình nhiều lắm, quý vị có biết không? Đó chỉ là bốn giới, còn giới thứ năm là: mới bước vào làm đệ tử của Ngài: “Con đừng các chất say sưa, nghiện ngập, sống trong si mê, điên đảo nha con. Không sử dụng những chất rượu, những chất làm say sưa, những chất làm cho nghiện ngập, cho ngu si, cho điên đảo. Con nhớ sống đời thức tỉnh nha con, sống đời chánh niệm, sống đời luôn luôn nhìn thấy được nhân quả, nghiệp báo trong mọi ý nghĩ, lời nói và hành động nha con.”
Có nhiều bài kinh Đức Thế Tôn dạy Ngài La-hầu-la:
“Trước khi ông suy nghĩ, ông phải xét nét thật kĩ. Trong khi ông suy nghĩ, ông phải xét nét thật kĩ. Sau khi ông suy nghĩ, ông phải xét nét thật kĩ suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, có tội hay không có tội, có lợi ích hay làm tổn hại cho mình và người?”, “Trước khi suy nghĩ, trong khi suy nghĩ và sau khi suy nghĩ, con phải xét kĩ nha con! Đừng suy nghĩ cái gì làm hại mình, hại người, làm khổ mình làm khổ người nha con! Đừng suy nghĩ cái gì làm tổn thương mình, tổn thương cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè của mình nha con!”
“Này các Tỳ-kheo, này La-hầu-la, này các vị, trước khi con nói con phải xem xét thật kĩ lời nói này có lợi hay có hại cho con. Trong khi con đang nói con phải xét kĩ lời nói này có làm khổ cho con, có làm khổ cho người khác không con? Sau khi con nói rồi, con phải xét kĩ lời nói đó là thiện hay bất thiện, tốt hay xấu, lợi hay hại. Con nhớ kĩ nha con.
Này các Tỳ-kheo, này La-hầu-la, này các vị, trước khi làm phải xem xét thật kĩ, trước khi làm công việc gì cũng phải xem xét kĩ nhân quả, nghiệp báo, trong khi làm cũng xem xét kĩ lành hay dữ, thiện hay ác, tội hay phước, đem lại kết quả an vui hay đau khổ. Sau khi làm suy xét kĩ nha quý vị, thiện ác, đúng sai, lành dữ, tội phước. Suy xét kĩ nha!”
Đức Thế Tôn ơi, giờ này con quỳ dưới chân của Ngài, giờ này con mới hiểu ra tình thương của Ngài là vô bờ. Chúng ta hãy hướng mắt nhìn lên Thánh tượng của Ngài. Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới hiểu ra lòng đại bi vô tận của người. Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới thông tỏa ra được trái tim bao la, trùm khắp hoàn vũ của Như Lai. Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới cảm thông được:
“Mỗi người một nỗi khổ
Mỗi loài một niềm đau,
Xin cùng nhau thấu hiểu
Những đau khổ trong nhau.”
VI. Kinh Thánh Cầu
Đức Thế Tôn ơi, giờ đây con mới hiểu được tâm từ của Ngài, giờ đây con mới hiểu được thế nào là tình thương sâu thẳm của Ngài, giờ đây con mới cảm nhận được thế nào là trí tuệ, sự thấy biết cùng tột của Như Lai.
“Này các Tỳ-kheo, này các vị, khi ta chưa thành Chánh Giác, khi ta còn là Bồ Tát, khi ta còn là Thái tử, ta tự mình nhìn thấy ta phải bị sanh, bị lo lắng, bị bất an, bị khổ sầu trong sự có mặt này. Ta tự mình nhìn thấy ta phải bất an, lo lắng trong cái thân bệnh tật, bệnh hoạn này, trong cái thân đầy rẫy sự lo sợ, sự tai nạn vô thường, trống vắng này.
Này các Tỳ-kheo, này các vị, khi ta chưa thành Chánh Giác, khi ta còn là Bồ Tát, khi ta còn là Thái tử, ta tự nhìn thấy chính tự thân ta bị già nua, tóc bạc, mắt mờ, lưng còng, gối mỏi, ta nhìn thấy cái già áp đảo và xâm chiếm chúng sanh. Ta nhìn thấy cái bệnh, cái chết bao phủ hữu tình, vạn loại. Ta thấy mình bị sanh, bị bệnh, bị già, bị chết. Ta thấy mình bị lo lắng, bị bất an, bị khổ sầu, bị sợ hãi, bị lo âu, bị phiền não.
Này các Tỳ-kheo, này các vị, ta đi tìm cái không bị sanh, ta từ bỏ mẹ cha, vợ đẹp, con xinh, ta từ bỏ ngai vàng, vương vị, hoàng bào, ta từ bỏ quyền uy tối thượng của nhân loại. Ta dấn thân đi tìm cái gì không bị già, không bị bệnh, không bị chết. Ta dấn thân nửa đêm vượt hoàng thành, ta tìm cái bất tử, ta đi tìm cái không chết, ta đi tìm cái không bị lo lắng, không bất an, không sầu não, không khổ đau.
Này các vị, chúng sanh bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết lại đi tìm cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết. Chúng sanh bị tham lam bao phủ, bị nóng giận thêu đốt, bị si mê vây quanh, lại đi tìm cái tham lam, nóng giận, si mê. Chúng sanh bị khổ sầu, bị bất an, bị sợ hãi, chúng sanh lại đi tìm cái khổ sầu, bị bất an, bị sợ hãi.
Này các Tỳ-kheo, Như Lai đi tìm cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, Như Lai đi tìm cái không sầu bi, u não. Như Lai đi tìm cái không tham, sân, si. Như Lai đi tìm cái bất tử.
Này các Tỳ-kheo, hôm nay Như Lai chứng thành Chánh Giác, đạt được bất tử và Như Lai từ khi thành đạo dưới cội bồ đề đến khi nhắm mắt ở Ta-la sông thọ 64:11 ta chỉ nói có hai điều sự thật về đau khổ của đời sống, và phương pháp tiêu diệt và chấm dứt khổ đau.
Con đường thoát khổ của ta chính là bốn sự thật mà bậc Thánh giác ngộ, con đường thoát khổ của ta chính là phương pháp Tám đúng thần thánh mà tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác thuở xưa đã đi qua, và hôm nay Như Lai cũng đi con đường ấy. Đi con đường ấy, Như Lai thấy được sanh, già, bệnh, chết, thấy được vô minh, tham ái và chấp thủ. Như Lai đoạn tận, tẩy sạch, không còn cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai và Như Lai chứng thành bất tử của Niết-bàn.
Này các Tỳ-kheo, giáo pháp của ta là con đường đưa đến sự bất tử, con đường đưa đến sự nhìn thấy được bộ mặt thật sự của tham lam, nóng giận, si mê, vô minh và bản ngã, là nguyên nhân của tất cả những dòng nước mắt, máu lệ và đau khổ trên hành tinh này. Đạo lộ của Như Lai là đạo lộ ly tham, lìa tham đối với đời sống, thân xác, đối với tài sản, vật chất này, Như Lai hoàn toàn thoát ra.”
Như Lai hoàn toàn chứng ngộ con đường bất tử của Niết-bàn và tất cả đạo lộ đó, Thế Tôn đã tuyên thuyết. Và ngày hôm nay, chư tăng, những bậc tu hành đúng Chánh pháp đã đem tiếp nối và truyền thừa dòng Thánh trí bất tử, ly tham, giải thoát đó.
Quý vị có thấy hạnh phúc, vui sướng, xúc động, cảm nhận không? Giống như văng vẳng đâu đây là lời của bậc Từ Tôn còn vang vọng ở bên tai. Văng vẳng đâu đây là Thánh trí bất tử của Đức Phật: “Đây là khổ, khổ là đây! Thánh chuông vang đọng, trời mây muôn ngàn.”
“Cái gì sanh phải diệt, cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan. Ngũ uẩn này, tứ đại này, đây là khổ, khổ là đây! Thánh chuông vang đọng, trời mây muôn ngàn.”
Tất cả chúng ta thật là phúc lạc, phúc báo, thật là hạnh phúc tối thượng, hy hữu, thù thắng khi giờ này có mặt tại nơi Thánh địa này, được nghe Thánh pháp này, được đi trên Thánh đạo này. Phúc lành, phúc đức, phúc báo, thật là phúc lạc cho quý vị, ngày hôm nay quý vị được tắm gội trong dòng Thánh thủy của Đức Thế Tôn. Ngày hôm nay quý vị được dạt dào những cảm xúc tuyệt vời, vi diệu và nhiệm màu chưa từng có trong dòng sanh tử vô lượng, vô biên kiếp vừa qua.
Hân hoan lên, hạnh phúc lên, vui sướng lên vì được nghe Khổ Thánh Trí, vì được thọ Thánh giới của Đức Phật, vì được hưởng thụ Thánh pháp tối thượng của Như Lai.
“Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.”