Tỳ Kheo Thời Đức Phật 1 - Tự Tử Thành Thánh Tăng!
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tỳ Kheo Thời Đức Phật 1
Tự Tử Thành Thánh Tăng!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu chuyện vị Thánh Tăng Piyanjaha PAGEREF _Toc204010347 \h 1
II. Hướng dẫn tác ý PAGEREF _Toc204010348 \h 7
III. Tự tử thành Thánh Tăng PAGEREF _Toc204010349 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc204010350 \h 11
V. Câu chuyện Thánh Tăng Paccaya – Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc204010351 \h 13
I. Câu chuyện vị Thánh Tăng Piyanjaha
Trong quyển Linh Quy Nhật Tụng có đầy đủ tất cả những pháp hành về Nikāya vì tầm quan trọng của quyển này cho nên chưa có ấn bản ra ngoài, đợi cho hoàn chỉnh nhất, đầy đủ nhất mới in nhưng mà hiện nay mỗi khóa tu, các thiền sinh về tu học xuất gia ngắn hạn, nửa tháng mỗi một lần là vị nào cũng thỉnh một cuốn, có khi cả hai trăm vị thỉnh. Trong quyển này đầy đủ hết tất cả sự tu học về kinh tạng Nikāya và ba vị thường xuyên phát biểu và trả lời trúng những cái pháp thì bữa nay được lãnh thưởng.
Đây là cái món quà khích lệ thôi, tiếp theo chúng ta sẽ còn nhiều bộ sách giá trị nữa phải nhắm tinh thần khích lệ, sách tấn để chúng ta hoan hỉ học hỏi, tu học. Con có chia sẻ cho ở trên Linh Quy Pháp Ấn cũng khoảng gần chục buổi về Trưởng Lão Ni Kệ tức là Tỳ-kheo ni thời Đức Phật, chúng ta có muốn nghe thì lên nghe những câu chuyện rất là xúc động, đó là trích những mẫu chuyện, những sự kiện, những cuộc đời của các vị thánh Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật. Hôm nay chúng ta có thể trích vài cái mẩu chuyện ở trong Trưởng Lão Tăng Kệ để chúng ta thấy được đức hạnh, trí tuệ, sự tu tập của các bậc thánh hiền, để mình có một động lực, có một sức mạnh, có sự khích lệ để mình cố gắng phấn đấu. Có nhiều gương hạnh, chúng ta chịu khó về đọc Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ ở trong Tiểu Bộ kinh.
"Ngài được sanh ở Vesàli trong thời đức Phật hiện tại, trong một gia đình quý phái Licchavì. Khi lớn lên, ngài rất thích thú chiến tranh và trở thành một chiến sĩ không ai thắng nổi, sẵn sàng hy sinh những gì thân nhất của mình, đến nỗi ngài được đặt tên là Piyanjaha (vị từ bỏ những gì thân ái). Nhưng khi đức Phật đến Vesàli, ngài khởi lòng tin, xuất gia sống ở trong rừng, phát triển thiền quán, chứng quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, ngài nghĩ thật là khác biệt giữa thành công ở đời và thành công bậc Thánh. Với thiền quán ấy, ngài nói lên chánh trí, và tuyên bố bài kệ này:
Khi loài Người kiêu hãnh,
Hãy hạ thấp ông xuống,
Khi loài Người hạ thấp,
Hãy nâng cao tâm ông,
Hãy sống tại những chỗ,
Loài Người không muốn sống,
Tại chỗ ngồi ưa thích,
Chớ có nên thích thú." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Tám, (LXXVI) Piyanjaha (Thera. 11))
Khi ngài chứng quả A-la-hán ngài nghĩ thật là khác biệt giữa thành công ở đời và thành công của bậc thánh, khác xa lắm, khác rất là nhiều giữa thành công ở thế gian và thành công của bậc thánh. Cho nên chỗ này là chỗ mà chúng ta phải chiêm nghiệm kỹ, nhiều khi mình nghĩ mình đang thành công, thành tựu, thành tích, thành quả lắm nhưng mà thật sự đó là thành công của thế gian, không phải thành công của bậc thánh. Nếu mình không có được học, không có thấy đúng về pháp thì mình sẽ bị lẫn lộn và mình không biết được cái nào là cái gọi là chánh tinh tấn và tà tinh tấn, siêng đúng và siêng sai, mình không biết cái thành công nào của bậc thánh và cái thành công nào là của phàm phu.
"Khi loài Người kiêu hãnh,
Hãy hạ thấp ông xuống,
Khi loài Người hạ thấp,
Hãy nâng cao tâm ông," (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Tám, (LXXVI) Piyanjaha (Thera. 11))
Chúng ta hiểu bốn cái câu này như thế nào?
Sư thầy 1: A-di-đà Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng. "Khi loài Người kiêu hãnh" có nghĩa là mình tự kiêu, mình hãnh diện với những cái thành tựu, những cái thành công, với những cái gì mà mình đạt được như ước muốn, như ý nguyện, như cái tâm mà mình đã được mong cầu. Giống y chang người thế tục, khi người ta muốn có danh, được lên chức, được lên cái danh đó thì mình kiêu lắm, mình đi, mình khoe khoang, mình khoác lác, mình nổ banh nhà rồi mình hãnh diện rồi đi ưỡn ngực, mình không có xem ai ra gì nữa, mình kiêu ngạo, kiêu căng. Câu thứ hai "Hãy hạ thấp ông xuống" thì kêu mình phải biết thực tập cái tâm khiêm hạ giống như lấy cái đầu của mình m đặt dưới cái chân của thiên hạ vậy.
Ở đây kêu mình phải biết khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm cung, loại trừ cái bản ngã đó đi để mình để mình sớm trở về với cái sự vô ngã. Khi mình hạ thấp thì mình mới thương được nhiều người, mình mới không có cái tâm như người ta nói "thượng đội hạ đạp". Nếu mình có cái tâm kiêu hãnh, hãnh diện thì mình thường lọt vô thượng đội hạ đạp, ở trên thì mình nịnh, ở dưới thì mình không có xem ai ra gì hết, mình dễ đi vào con đường tà ma ngoại đạo, làm cho mọi người xung quanh không có ưa mình, ghét mình. Hai cái câu kế tiếp "khi loài người hạ thấp" là khi con người của mình tự ti hay là mình thấy mình rất là nhỏ nhoi, thấp bé, mình thấy mình không có tài năng gì, vô dụng, thật là vô năng, trong khi chư tổ dạy mình "Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ", kia là trượng phu, ta đây cũng là trượng phu, người ta có thể tu tập xuất gia, người ta có thể làm được việc đó, mình có thể căn tánh chưa có bằng họ, tài năng, đức độ mình chưa có bằng nhưng bằng sự nỗ lực, tinh tấn, kiên trì, trì chí, quyết tâm, dõng mãnh suốt đêm ngày thì chắc chắn mình từ một cái người độn căn hạ trí, ngu si, dốt nát thì thời gian cũng sẽ được nâng tầm lên và có thể từ hạ căn có thể chuyển lên trung căn, và có thể chuyển lên thượng căn. Từ một người chẳng có thành tích gì nếu nỗ lực học tập, nghiên cứu, chăm chỉ thực hành những cái đức tính tốt đẹp, biết ơn cha mẹ, hoặc là biết ơn ông bà, biết những cái những của cải cha mẹ làm ra rất là khổ sở để kiếm từng đồng từng cắt nuôi cho mình ăn học, để cho mình có được phương tiện để đến trường.
Mình cố gắng biết ơn, tri ơn, mình nỗ lực thì sau này mình sẽ có những thành tụ rất là to lớn, rất là đẹp đẽ và mình có thể chuyển nghiệp. Ở đây nói là khi mình thấy tự ti như vậy thì mình phải cố gắng nâng cao cái tâm thông của mình lên nâng để mình vượt bậc hơn, mình có ý chí, có động lực, có cái dõng mãnh, dõng khí để mình tiến bước trở thành những con người hữu ích, hữu dụng, làm lợi ích cho số đông, mang lại phước cho số đông, mang lại hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Khi mình "phóng hạ đồ đao lập địa thành phật" hay là ở trong thế gian cũng có câu nói thánh nhân cũng có quá khứ mà tội đồ cũng có tương lai, dù mình là kẻ ác nhân ác độc, quá khứ của mình tồi tệ, đâm cha thuốc chú, hay là tù tội, hay là cái gì đó nhưng khi gặp thiện hữu tri thức, được hóa đạo, mình quyết phóng hạ đồ đao rồi, hôm nay mình quyết trở thành một con người mới mẻ, tốt đẹp thì mình có thể bước lên những quả vị thánh hiền, mang lại hạnh phúc cho vô lượng vô biên chúng sanh. Cũng như trong nhà Phật của chúng ta có câu chuyện của Angulimāla, tướng cướp vô não từ một kẻ sát nhân bỏ đầu đao xuống thì chứng quả A-la-hán mang lợi ích cho vô lượng vô biên người. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Người ta kiêu hãnh thì mình hạ thấp xuống, khi người ta hạ thấp thì mình nâng cao tâm mình lên, hễ người ta cao thì mình thấp, người ta thấp thì mình cao, nói gọn là vậy.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy giáo thọ cùng đại chúng, theo con nghĩ câu thứ nhất "khi loài người kiêu hãnh, hãy hạ thấp ông xuống" có nghĩa là khi tất cả mọi người chạy theo tài, sắc, danh, thực, thùy, có nghĩa là họ bị đắm nhiễm ở trong những cái pháp thế gian này thì mình phải trở về với chính mình và mình không có nên chạy theo những cái ngũ dục đó để mình bị chi phối. Khi mình hạ thấp xuống thì mình quay về nội tâm của mình, mình sẽ tiếp cận với pháp hay là những cái thiện lành chứ không theo tài, sắc, danh, thực, thùy, những cái danh lợi của thế gian.
Câu thứ hai "khi loài người hạ thấp, hãy nâng cao tâm lên", con nghĩ một người nào đó bị những cái danh lợi của thế gian chi phối thì khi đó tâm của họ sẽ chạy theo ngũ dục, và họ không biết quay về với chính mình thì lúc này là mình lại đi ngược lại. Có nghĩa là theo con nghĩ câu này chỉ cho người xuất thế gian, tức là mình đi ngược với dòng đời, cho nên mình sẽ quay về với chánh pháp của Đức Phật dạy để mình hướng đến sự nỗ lực tu tập, để làm cho cái tâm của mình khác với tâm của mọi người ở thế gian. Dạ theo con là vậy, mô Phật.
Sư thầy 2: Dạ mô Phật, kính bạch thầy, kính thưa đại chúng, theo con hiểu câu này nói lên vị này rất là biết thời, có nghĩa là khi mọi người kiêu hãnh thì ngài luôn đứng ở phía sau để quan sát, để chiêm nghiệm nhưng mà con người chúng ta hạ liệt thì chính ngay lúc này là thời điểm tốt nhất để cho cái vị này bắt đầu xuất hiện giúp đỡ. Bài kệ này con nghĩ một điều quan trọng nhất vị này là một người biết thời chứ không phải là lúc nào họ cũng muốn thể hiện, dương dương tự đắc, luôn thấy được cái hoàn cảnh, cái môi trường và cái con người lúc đó như thế nào, tùy cảnh đó mà ngài đem cái tâm và cái hạnh của ngài thể hiện cho mọi người. Cũng giống như con nhớ đến một câu thơ "ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao", hai câu này thì theo con hiểu nó cũng giống như bốn câu của vị này đã nói. Con xin hết.
Sư Phụ: Cái ý nghĩa ở đây thì một vị tướng quân, một vị dũng sĩ, một vị chiến sĩ, một cái tinh thần đó thì chúng ta thấy là mạnh mẽ không? Can cường không? Cái tôi lớn không? Một người đi theo nghề võ, đi theo cái nghề chiến đấu, chiến sĩ, dũng sĩ là thường cái tôi phải rất là lớn, đang trong một cái sự thành đạt như vậy, trong một cái địa vị như vậy nhưng ngài nghe được chánh pháp của Đức Phật, ngài khởi lòng tin rồi ngài xuất gia thì ngài ở trong rừng. Chúng ta thấy đó là một sự từ bỏ hết sức mạnh mẽ, đây đang là tướng quân nhưng khi giác ngộ Phật pháp là bỏ vào trong rừng ở, cho nên cái điểm này là cái điểm mà tất cả chúng ta phải để ý rất nhiều.
Bây giờ mình tu nói lý không à, nhất tu thị, nhị tu sơn, thứ ba mới tu chùa, những câu đó là câu của phàm phu nói, không phải câu của Đức Phật. Nếu mà nhất tu thị, nhị tu sơn vậy Đức Phật và các bậc thánh là thua mấy người ở chợ rồi. Tại sao Đức Phật không ở thành Ca-tỳ-la-vệ tu? Cho nên khi mình nghe một cái gì mà không dùng thánh trí tuệ để phán xét, mình suy xét cho sâu sắc là cái tâm mình dễ đi chạy theo lắm, khi mình chưa có thành tựu chánh tri kiến thì mình nghe một cái gì là mình dễ đi theo, nhất là số đông, chính vì vậy Đức Phật không phải người đó quyền uy nói là đúng sự thật, không phải đạo sư, sư phụ mình nói là đúng sự thật, không phải người đi trước là lúc nào nói cũng đúng sự thật, cũng phải truyền thống xưa bày nay làm là đúng sự thật. Đức Phật dạy mình dùng cái trí tuệ để xét soi ở trong thực tế coi nó là thiện hay là bất thiện, nó đem lại lạc hay nó đem lại tai hại, phải xét thật là kỹ.
"Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: 'Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau', thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Vị Ở Kesaputta)
Ở đây ngài ở trong một cái địa vị thành đạt, thành công như vậy mà ngài bỏ hết vô rừng sống rồi phát triển thiền quán chứng quả A-la-hán. Vì vậy chúng ta thấy ở đây mấy điều để chúng ta chê nghiệm, thứ nhất là sự viễn ly, đầu tiên khởi được lòng tin. Phải nghe giáo pháp trước, rồi ngài mới phát khởi lòng tin, khi phát khởi lòng tin rồi ngài sống viễn ly, khi sống viễn ly đó thì ngài triển khai thiền quán, phát triển thiền quán. Ở trong kinh thường nói rất là tắt, rất là gọn nhưng mà phải hiểu là cả một chặn đường, mồ hôi, nước mắt, máu và sinh mạng, không có đơn giản, trong kinh chỉ nói tóm tắt vậy thôi nhưng mình phải đặt cả một cái tâm tư vào đó, cả một tấm lòng của mình vào đó thì mình mới hiểu được trong kinh, chứ không phải sơ xài mấy câu vậy là chứng A-la-hán.
Khi ngài triển khai thiền quán như vậy thì đời sống đã viễn ly tức là cắt duyên xúc rồi, đương nhiên trong này có thiền định, thiền tuệ, thiền quán, khi thiền quán thì diệt các cái lậu hoặc và thành tựu thánh quả. Đây là trình tự của sự tu, cái đạo lộ, cái tuần tự, cái lớp lang, cái thứ lớp nhưng bây giờ chúng ta không chịu sống đời sống viễn ly. Lớp mình là cái duyên may mắn vô lượng là được nghe chánh pháp, cái duyên kế đó nữa là cũng có những người trong đây phát khởi lòng tin nhưng mà mình không thực tập những cái bước thiền quán cho nên mình chỉ dừng lại ở phát khởi lòng tin thôi. Mình có chiêm nghiệm một chút lên lớp vậy thôi, hoặc là về nhà chiêm nghiệm cho có rồi thôi, tu gieo duyên, tu chơi chơi chờ ngày qua đời, mình không có cắt duyên xúc, mình không có sống viễn ly, mình không có thiền định, mình không triển khai thiền quán, thiền tuệ làm sao mình đoạn tận các lậu hoặc, đoạn giảm các lậu hoặc.
Thành ra làm cái gì cũng có trình tự, có lớp lang, có thứ bậc chứ không phải nhảy vô là muốn chứng thánh quả, nhảy vô thiền định liền nhưng bây giờ cái tu của mình là vậy. Khi mình không nắm được đạo lộ, trình tự, thứ lớp nhảy vô là tu chánh định, nhảy vô là muốn của tâm yên lặng, đừng nghĩ gì hết. Giả sử nó được yên thì cái đó cũng là phàm phu thiền, không phải là thánh chánh định, không phải thánh định uẩn tại vì thánh định uẩn là nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, dục ái, lậu hoặc rồi nhiếp phục, chế ngự mà phải đúng pháp, đúng cách.
Khi mình thành công, thành đạt, thành tích, thành quả thì lúc đó người ta sẽ kiêu hãnh, kiêu căng, kiêu mạn, ngạo mạn, nhưng người tu của mình lại hạ thấp ngay lúc đó. Mình là cái nùi giẻ rách thôi, mình là cái bộ xương thôi, mình là đống tro tàn thôi, mình chả có là cái gì trên cuộc đời này, đặt đầu dưới chân của người ta, cái đó là mình nhiếp phục bản ngã, diệt tận bản ngã. Còn khi loài người hạ thấp thì hãy nâng cao tâm ông, hạ thấp là họ đắm chìm ở trong dục lạc, họ không có tinh thần hướng thượng, họ không muốn giải thoát, họ nghĩ "thầy ơi nghiệp con nặng lắm", "sư phụ ơi con giờ tu gieo duyên thôi chứ con thấy nghiệp con nặng lắm, con tu không được đâu, con không có thể nào đoạn tận hết lậu hoặc, phiền não được đâu". Đó là khi người ta hạ thấp thì hãy nâng cao tâm ông, mình phải quyết định một trăm phần trăm "con chắc chắn phải đoạn tận tham, sân, si, con phải dứt tất cả sanh tử trong đời này", không có hẹn "con tu gieo duyên nhiều kiếp nhiều đời sau con mới giải thoát", phải giải thoát ngay đời này. Đó là tinh thần của dũng sĩ, của chiến sĩ, của vô thượng sĩ.
"Hãy sống tại những chỗ,
Loài Người không muốn sống"
Hồi xưa con lên Linh Quy thì các cô con ở nước ngoài về thăm, ở quê lên thăm thì các cô nhìn thấy con để cái thau nhựa ở trên cái nóc mùng vì nước mưa dột xuống nóc mùng vì lúc đó con ở am tranh. Nhà ở là nhà tường ở chợ nhưng xuất gia ở trong vườn, trong cái vùng sâu rồi sau này đi lên Sài Gòn, đi lên trên núi cất cái âm tranh. Ở trong am tranh mà mưa dột ở trong cái thau nhựa trên nóc mùng, mấy cô thấy thì khóc, lúc con đưa mấy cô xuống núi vì cách đây cũng phải mười lăm, mười bảy năm trước thì mấy cô khóc nhưng mà con không có nói gì hết, mấy cô cứ nói là tội nghiệp con quá thì con nói trong bụng thôi con không có nói ra, sau này đó thì con mới nói không biết ai tội nghiệp ai.
Thật sự là sau này mấy cô cứ kiếm con khóc không, ở nhà lầu ở, nước ngoài mà cứ khóc "Thầy ơi giờ con khổ quá, thầy ơi thầy cứu con". Mình ở cái am tranh bị dột nước, đơn sơ, đơn giản, xung quanh không có gì hết nhưng mình an lạc còn hơn cõi trời vì mình có chánh pháp, vì mình có trí tuệ. Cái tâm mình tập được sự từ bỏ đối với những cái mà người ta yêu thích cho nên hãy sống tại những chỗ loài người không muốn sống, tại chỗ ngồi ưa thích chớ có nên thích thú. Phòng ở dưới có máy lạnh mà hôm nay đưa mình lên đây thì lúc đó cảm thọ mình như thế nào, suy nghĩ mình như thế nào, hình bóng như thế nào, nhận diện ngũ uẩn ngay lúc lớp ở dưới xin mượn lớp nên mình phải lên trên này, lúc đó thọ; tưởng; hành của mình như thế nào.
Sư thầy 3: A-di-đà Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng, khi tụi con ở được dưới phòng đó thì thấy người mình mát mẻ, thoải mái hơn, có những lúc trời nóng thì mình được cái sự tươi mát đó mình dễ ngủ, còn lên này thì nó bực, nó nóng và nó hắt vô người mình thấy khó chịu. Tại vì mình đã quen với cái không khí đó rồi, trên này cũng trang bị được gió thổi nhưng mà cái mát không có đưa lại cái sự ham thích giống như ở phòng dưới. A-di-đà Phật.
II. Hướng dẫn tác ý
Sư Phụ: Giờ con chỉ cho các thầy cô cách tác ý khi mình lên đây mà mình có sự so sánh với ở dưới có máy lạnh mát hơn, có máy điều hòa mát hơn, lên đây không có máy điều hòa thì tại sao mình không so sánh giờ này cha mẹ của mình có khi đang buôn tảo bán tần, mua gánh bán bưng, làm ngoài đồng, ngoài vườn, ngoài rẫy, cô bác, ông bà của mình. Mình tác ý như vậy đó, "mình có biết giờ này cha mẹ mình ở nhà đang làm gì không, mình có biết những chú, những dì, những thím của mình, những người trong gia đình của mình hiện tại giờ đang làm gì không. Tại sao mình ngồi trong lầu cao quạt mát mà mình còn so sánh với cái này cái kia hỡi cái tâm mê này? Hãy tỉnh ra đi, hãy xả bỏ cái tham ái đối với cái máy điều hòa đó".
Mình tác ý như vậy đó, rồi mình tác ý tới những cụ già mù lòa đi bán vé số, những bà cụ chín mươi tuổi còn đi bán rau, những đứa trẻ nhặt cái phế liệu trong đống rác để đi kiếm ăn, người ta đau khổ biết bao nhiêu. Khi mình tác ý được như vậy thì tự nhiên cái tâm ưa thích máy điều hòa đó lắng dịu, nó tan biến, nó thoát ra, rộng hơn nữa là mình tác ý rộng giờ này trong những cái thân của các con chó, những con giòi ở trong cầu tiêu, những loài súc sanh giờ này khổ như thế nào, rồi rộng hơn nữa là những loài con hồn vất vơ vất vưởng, hay là trong địa ngục, ở trong chảo dầu sôi, trong hỏa ngục. Chúng ta nghe bài kinh địa ngục con có chia sẻ, cả trăm cây số là tường đồng vách sắc cháy đỏ hừng hực hết mà chạy qua chạy lại trong đó tìm cái chỗ hở để thoát ra, lâu lâu cánh cửa hé ra thì chạy lại nhưng bị đẩy vô cháy đỏ lột da, phỏng da, kêu gào thảm thiết, hoặc là nuốt hòn sắc đỏ xuống dưới rồi ruột gan, phèo phổi đi theo, đó là những cái cảnh ở trong địa ngục.
"Này các Tỳ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ." (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Mình có học thì mình mới biết quán, mình quán cái đó thì tự động tất cả tâm tham ái, luyến ái của mình tan biến. Tất cả đều phải triển khai thiền quán hết, tất cả đều phải dùng tâm trị tâm, dùng tác ý để trị những cái dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã. Phải dùng cái roi quất nó, còn mình để trơ trơ vậy thì tu tới ngàn kiếp nữa cũng phàm phu, tham, sân, si, dục ái cũng y nguyên. Cho nên "hãy sống tại những chỗ loài người không muốn sống, tại chỗ ngồi ưa thích, chớ có nên thích thú", chỗ này rất quan trọng, khi mình ăn đồ ngon mà khởi cái thích lên, nó khoái lên, nó ham lên mình rầy nó liền. Khi lên chiếc xe đẹp, xe êm ấm mà nó ham, nó thích là mình rầy nó tại chỗ liền, khi nhìn thấy món đồ, cảnh đẹp mà nó khoái, nó thích là rầy la, nhiếp phục, chế ngự liền, nhiếp phục dục tham, đoạn thận dục tham, tẩy sạch dục tham ngay tại chỗ đó. Như vậy là sự tu của mình có miên mật, có liên tục, có kỹ lưỡng, tu khít khao, sát sao.
III. Tự tử thành Thánh Tăng
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Sau khi ngài đã khởi lòng tin phát tâm xuất gia rồi sống viễn ly ở trên một ngọn đồi, lấy đề tài thiền quán luôn nhưng ngài không thể chặn đứng được các cái dục tưởng khởi lên. Những hình bóng của dục ở trong tâm cứ ám ảnh hoài, nó cứ sanh khởi lên, những cái hình bóng dục trước khi ngài xuất gia đó. Như vậy thì ta sống còn có ý nghĩa gì nữa, với một cái nội tâm dơ bẩn như vậy thì ta sống còn có ý nghĩa gì nữa.
"Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Ta không thể chặn đứng được những cái tư tưởng về dục này khởi lên thì đời này ta sống còn ý nghĩa gì nữa, với một thân tâm đầy nhơ nhớp, bẩn thiểu, cấu uế như vậy thì ta chết đi còn sướng hơn, còn tốt hơn. ngài leo lên đỉnh núi tính nhảy xuống tự tử, ngài như lý tác ý tự nói với chính mình "ta sẽ giết mi, ta sẽ giết mi, ta sẽ giết mi", đó là những cái dục tưởng, những hình bóng về dục, những cái tư tưởng, suy tư về dục, những cái cảm giác về dục đó, ta sẽ giết mi.
Hãy xem cuộc đời của ngươi đi, bây giờ cuộc đời của ngươi chấm dứt ở đây rồi đời của ngươi sẽ chết ở trên ngọn núi này. Ngọn núi của danh, của tiếng này, bây giờ ngươi chết ở trong một cái bụi cây rậm rạp che kín như vậy, ngươi hãy chấm dứt cuộc đời ngươi tại nơi này đi. Tự ngài tác ý, tự trách móc mình như vậy và khi mà ngài tự trách móc mình như vậy là ngài phát triển thiền quán, ngay lúc đó ngài triển khai thiền quán, quán chiếu đề mục của mình và đề mục của ngài là chắc chắn là bất tịnh quán, là ba mươi hai thể trược, là chín giai đoạn tử thi, là sự nguy hại của dục. Ngài quán chiếu, triển khai thiền quán thì đoạn tận ái diệt, sạch hết các lậu hoặc, chứng quả A-la-hán ngay cái lúc sắp tự vẫn.
"Ta sẽ giết ngươi, ta sẽ giết ngươi, ta sẽ giết ngươi, bây giờ ta sống còn ý nghĩa gì nữa, thôi ta chết đi với một cái tâm cấu uế, bẩn thiểu, nhơ nhớp, tồi bại như vậy thì thôi chết đi chứ sống làm chi nữa", ngay lúc đó ngài triển khai thiền quán và đoạn tận tất cả những cái dục, tham, ái, ái tận ngài giải thoát, chứng thánh quả A-la-hán và bài kệ ở trên trở thành chứng đạo kệ của ngài, bài kệ chứng đạo, đắc đạo, là bài kệ thành đạo.
Chúng ta có chê nghiệm gì, suy nghĩ gì về cuộc đời của ngài Mahànàma này không ạ? Chúng ta thấy cái dục nó ghê gớm không? Cắt hết tất cả duyên xúc, là không có tiếp xúc với những đối tượng sanh khởi dục nữa nhưng mà pháp tưởng pháp tư, những bóng dáng, những suy nghĩ, những cảm xúc đã từng tiếp xúc lúc trước bây giờ nó sống lại, không gặp những cái đó nữa, những đối tượng không có thấy, không có tiếp xúc nữa nhưng mà những cái đã tiếp xúc, hình bóng, cảm giác suy nghĩ nó quậy ở trong tâm. Chúng ta có thao thức với vấn đề này không? Có ưu tư, có trăn trở không?
IV. Trình pháp
Sư thầy 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa toàn thể đại chúng, thông qua cuộc đời của ngài Mahànàma con có một số suy nghĩ về ngài, một bậc thánh ở trong nhà Phật. Đúng là những cuộc đời của những bậc thánh thì nó quá là vĩ đại, nó quá là tuyệt vời, đây là một tấm gương thật là sáng, có thể nói là một đức hạnh tuyệt diệu khi một con người đã phát khởi lòng tin xuất gia tu tập sống viễn ly rồi còn bị những cái phiền não quậy, phải cố gắng tác ý thật là mạnh mẽ, thật là dõng mãnh, giống như không có sợ chết luôn. Ngài cảm thấy cuộc đời của mình tồi tệ quá, nếu sống mà bị những cái pháp tưởng, pháp tư, bị những cái phiền não, cấu uế, lậu hoặc cứ quậy hoài, nó làm lòng mình cứ động hoài thì cuộc sống không có lợi ích.
Giống như giáo thọ vừa kể cho chúng con nghe thì ngài nói "ngươi hãy chết đi, ngươi hãy chết đi", giống như xả bất liễu tử, không còn luyến tiếc cái thân mạng này và cố gắng dõng mãnh, tinh tấn, kiên trì phát triển thiền quán để đoạn tận những cái lậu hoặc. Một tấm gương thật là tốt đẹp để cho chúng ta học tập và noi theo, với con thì những cái phiền não, lậu hoặc này cũng quậy nhiều lắm nhưng mà mình thấy mình chưa có dõng mảnh như ngài nên mình không có đoạn được, nó quậy hoài, nó bất an, nó không có được an lành nên hôm nay được học tấm gương của ngài Mahànàma con cũng sẽ cố gắng noi gương ngài tác ý thật là mạnh, phải cố gắng dõng mãnh để giảm phiền não, cấu uế, những cái hình bóng, suy nghĩ quậy mình để thanh tịnh cõi lòng, để cố gắng để đền ơn, đền đáp tứ trọng ơn. A-di-đà Phật, con có đôi lời.
Sư thầy 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể chư huynh đệ qua, câu chuyện mà thầy vừa kể cho chúng con nghe thì con thấy thứ nhất là lòng tin của ngài đối với chánh pháp và đối với Đức Phật rất là lớn để cho ngài khởi được sự viễn ly, chấp nhận xả bỏ để tìm một nơi vắng vẻ tu tập. Nhưng khi phát khởi thiền quán thì ngài không chặn đứng được những cái dục tưởng, chứng tỏ là nó quấy rầy, nó cứ đến và nó hiện diện trong tâm của ngài, ngài thấy rõ điều đó nhưng không thể tìm cách để diệt được nó và ngài chọn cái cách nghĩ mình phải la rầy cái tâm, quở mắng cái tâm của mình. Dùng cái đáng sợ nhất, cái mà đem đến cái khổ nặng nề nhất đó chính là cái chết, có thể khi mình nghe đến đây mình tưởng tượng giống như ngài đứng trước một cái vách núi đối diện với cái sợ hãi đó để buộc cái tâm, những cái dục này lắng động và kèm theo đó là cái tâm của ngài lúc nào cũng tư duy thiền quán.
Từ chỗ thân cái tâm này đối diện tới cái cảnh quá sợ hãi như vậy, những cái dục lắng yên, lúc đó thiền quán của ngài giống như bông hoa được nở ra, ngài tiến triển thêm trên cái công đoạn thiền quán đó và chứng được cái quả. Con nghĩ trong cuộc sống của mình, mình chưa có bao giờ đối diện với cái chết, mình không bao giờ mình có thể phát khởi được cái sự xả bỏ tột bậc mà mình hay dễ vui hay xuôi theo những cái ham muốn của mình, đừng nói chi đời sống viễn ly mình đã không thể làm được, rồi huống gì mình dám dùng cái chết để uy hiếp chính thân tâm của mình và ngài thì làm được điều đó, cho thấy đây một bài học cho mình. Dạ con xin hết.
Sư Phụ: Rất là rất, là tốt, chúng ta là phải chiêm nghiệm mình tu học mà mình cứ tu phớt phớt như vậy là không bao giờ đi đến cái thành tựu. Chúng ta thấy không, đâu phải các bậc thánh vô đơn giản vậy rồi chứng ngộ đâu, các ngài phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, thậm chí là liều mạng đối diện với cái chết mới có được các thành tựu vĩ đại như vậy. Chúng ta nhìn nhận ra ngày hôm nay chúng ta tu sao? Cái tâm tha thiết cầu đạo, cái tâm nỗ lực quyết chí, cái tâm phải mạnh mẽ, kiên cường, tinh tấn để nhiếp phục tất cả những cái cấu uế, ô nhiễm ở trong thân tâm của mình, mình có được bao nhiêu hay là mình cứ dễ vui, mình cứ qua ngày, mình cứ chấp nhận với cái trạng thái cấu nhiễm này?
V. Câu chuyện Thánh Tăng Paccaya – Khuyến tấn tu tập
Chúng ta thấy các ngài không, "ta sẽ giết ngươi, ta sẽ giết ngươi", đối diện với cái chết, thà chết thì chết chứ không có để cho cái ô nhiễm này tồn tại trong tâm, cái thân ngài đương nhiên là được rời xa rồi, bây giờ cái tâm chưa rời xa, nó chưa viễn ly, thân viễn ly mà tâm chưa viễn ly và cuối cùng trong sự tu hành quyết tử mà ngài thật sự thành tựu được tâm viễn ly luôn đối với các dục. Đây là những bài học vô giá, quý báu, trước nay chúng ta học lý thuyết nhiều thì ngày hôm nay mình thấy được sự thực hành của các bậc thánh, người thật việc thật, sự thật, lẽ thật, chân thật ở trong cái pháp, mình phải ưu tư, mình suy tư, mình tư duy, mình chiêm nghiệm, những cái bài này về chúng ta đọc tới đọc lui, tụng đi tụng lại rồi nghiền ngẫm viết bài trình pháp ra và gửi lên cho con. Mình viết ra chiêm nghiệm như thế nào về cuộc đời của các bậc thánh, quán chiếu lại tự thân của mình suy tư gì, mình học được những cái gì từ đó, nhìn lại tự thân của mình như thế nào. Chúng ta thấy sự tinh tấn của các ngài rất là quyết liệt.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Rohi trong một gia đình hoàng tộc, và được đặt tên là Paccaya. Thọ hưởng gia tài khi phụ thân mệnh chung, ngài tuyên bố tổ chức một đàn bố thí rất lớn và một số đông người tụ họp. Trong cuộc tụ họp này, bậc Đạo Sư ngồi trên một ngai vàng trong một ngôi nhà trang hoàng châu báu." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Lúc đó Đức Thế Tôn ngồi trên ghế bằng vàng vì ngài là hoàng tộc hoàng thất, Đức Thế Tôn chúng ta rất được các bậc đế vương cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng.
"Ðức Phật thuyết pháp, trong khi mọi người ngắm, chiêm ngưỡng ngài. Phần lớn dân chúng hiểu lời đức Bổn Sư dạy, nhưng ngài Paccaya đi xa hơn." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Tức là những người hội tụ để nghe thì phần lớn họ chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn, cái tướng hảo của Đức Phật cũng như họ chiêm ngưỡng cái sự lắp lánh của hoàng kim, của châu báu trang hoàng ngay chỗ pháp tọa của Như Lai. Người ta cũng hiểu lời dạy của Phật nhưng mà ngài đi xa hơn nữa.
"Thúc đẩy bởi nghiệp duyên đời trước, ngài từ bỏ tài sản và xuất gia như trước kia ngài đã phát nguyện dưới thời đức Phật Kassapa, nay ngài đã phát nguyện, khi đã vào am tranh tu hành, nếu chưa giải thoát thời không ra khỏi am này và cuối cùng thiền quán được phát triển, trí tuệ được thuần thục, ngài chứng quả A-la-hán." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Chúng ta biết đây là dòng dõi của hoàng thất, hoàng tộc mà buổi nghe pháp là từ bỏ đi xuất gia, trong đây nói cái nhân duyên của ngài đã tu tập từ thời rất là xa xưa, nhiều đời ngài đã huân tập. Khi ngài đi vào trong am tranh tu hành thì ngài có phát nguyện nếu chưa giải thoát thì không ra khỏi am này, phải tu thành công, thành tựu, diệt hết tham, sân, si thì lúc đó mới ra khỏi, còn không là ở trong đó luôn và cuối cùng ngài triển khai thiền quán, trí tuệ được thuần thục và ngài chứng quả A-la-hán. Nói thì đơn giản như vậy nhưng mà bây giờ chúng ta từ từ nghe cái sự nhọc nhằn của ngài trong cái am đó như thế nào.
"Ðể kỷ niệm thành quả này, ngài nói lên quả chứng của ngài, ngang qua những bài kệ như sau:
Năm ngày ta xuất gia,
Hữu học, ý chưa đạt,
Ta trú hạnh viễn ly,
Tâm phát nguyện như sau:
Ta sẽ không ăn uống,
Không ra ngoài tinh xá,
Ta sẽ không nằm xuống,
Không nằm một bên hông,
Nếu mũi tên tham ái,
Chưa rút nhổ lên được.
Hạnh ta sống như vậy,
Hãy nhìn ta tinh cần,
Ba minh ta đạt được,
Lời Phật dạy làm xong" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Sau khi ngày xuất gia được năm ngày thì ngài phát tâm rời xa xóm làng, rời xa cung điện, rời xa dinh thực và sống trong cái am tranh. Chúng ta thấy hồi xưa đều như vậy hết, còn mình bây giờ sao ạ? Đó là hoàng thất ở trong cung điện, sau năm ngày xuất gia thôi là sống đời sống viễn ly, ở trong cái am tranh vắng, phát nguyện sẽ không ăn uống, không đi ra khỏi chùa, không có đi ra khỏi tinh xá, không đi ra khỏi cái am cốc của mình, ta sẽ không nằm xuống, dầu cho là nằm nghiêng bên phải cũng không nằm luôn nếu mũi tên tham ái chưa rút nhổ lên được. Chúng ta thấy cái chí khí của người xưa không? Cái tâm đạo đó, đó là bồ đề tâm, tâm cầu giác ngộ đó, đó là đại hùng, đại lực, tinh tấn lực, dõng mãnh lực, tượng vương lực, sư vương lực, mãnh hổ lực, uy hùng lực.
Cái sự tinh tấn của ta là như vậy, cái sự nỗ lực của ta là như vậy, cái sự cố gắng của ta là như vậy, các vị hãy nhìn cái hạnh sống ta như vậy. Ba minh là túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, nhìn thấy được tất cả các đời, những cái kiếp sanh tử quá khứ của mình, thấy được tất cả những cái dòng sanh tử của chúng sinh và sạch hết tất cả các lậu hoặc tham, sân, si, dục ái, diệt tận hết tất cả, mũi tên tham ái này được rút nhổ lên một cách hoàn toàn. Như vậy ba minh ta đạt được, lời Phật dạy làm xong, ca khúc khải hoàn ca, tuyên bố dõng dạt giữa chư thiên và loài người sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn chở lui trạng thái này nữa.
Mình bây giờ nhập thất được mấy lần? Sống một mình được bao nhiêu thời gian? Có một ngày nào mình tu trọn một ngày mà tâm huyết, tất cả tâm lực mình dồn hết tu thử một ngày một đêm có chưa? Đừng nói đêm mà chỉ một ngày thôi đã có chưa mà đòi chứng quả, đòi đắc đạo, đòi diệt khổ? Chúng ta chiêm nghiệm như thế nào về cuộc đời của ngài Paccaya, chúng ta chiêm nghiệm như thế nào, suy tư như thế nào, quán chiến như thế nào, rút ra được bài học như thế nào từ cuộc đời của ngài? Vậy mà những cái này ít ai được học, không ai để ý tới mấy cái này.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, dạ con kính bạch trên thầy, qua cuộc đời của ngài Paccaya thì con thấy ngài là một người mà có đầy đủ mọi thứ giống như từ một nơi dòng dõi hoàng tộc, tất cả mọi thứ đều có hết, cũng tương tự giống như Đức Phật của mình là ngài đã quyết tâm từ bỏ mọi thứ và đã phát ra lời thệ nguyện cũng giống với Đức Phật. Qua đây thì con thấy ngài với cái tâm rất là mạnh mẽ, và quyết chỉ một lần trong một cuộc đời này của mình là mình phải làm được, đoạn tận được tất cả những dục ái và những tham, sân, si của mình để chứng được quả vị A-la-hán.
Qua đây chúng ta thấy hiện tại chúng con cũng là người xuất gia nhưng hầu như chúng con chưa có học được cái sự quyết tâm, tinh tấn, nỗ lực hết mình hay là sự từ bỏ mọi thứ, trong khi ngài có tất cả mọi thứ nhưng ngài đã từ bỏ hết tất cả, còn mình gọi là người xuất gia là từ bỏ tất cả nhưng thực tế thì tự thân con thấy là mình chưa có từ bỏ, con thấy cái gì mình cũng có thậm chí là mình còn ôm về cho mình rất là nhiều. Dạ qua cuộc đời của ngài cũng rút ra một bài học là mình phải tự nỗ lực bản thân với một cái quyết tâm mạnh mẽ phải cố gắng từ bỏ dần dần, trước hết là từ bỏ những cái uế trược và những tham ái, cũng như từ bỏ những tham, sân, si rồi từ đó nỗ lực tu tập thiền quán để thành tựu được thánh trí.
Sư Phụ: Đó là lý do mà tại sao con hay mời chúng ta trình pháp, chúng ta thấy không, kêu mình lên trình pháp mình không biết gì trình hết, mình không có dụng công phu, mình không có tu, mình không có quay trở lại để đối diện chính mình để đánh phá, để chùi rửa, để tẩy sạch, để chiến đấu với một nội tâm đầy cấu nhiễm, rác bẩn. Mình sống qua ngày đoạn tháng vất vơ vất vưởng, sống cho hết ngày, hết tháng, hết năm, hết đời, mình không có một cái tinh thần hướng thượng, tăng thượng, cần phải có cái đó. Dục như ý túc không có thành tựu thì làm sao có tấn như ý túc, một cái sự mong muốn, khao khát, một trái tim nóng bỏng, nhiệt huyết, phải có cái đó, không có cái đó thì không có làm gì được hết.
Chúng ta không có muốn giác ngộ, không có muốn đoạn tận tham, sân, si, tại vì không có thấy khổ thì làm sao muốn diệt khổ. Chính vì vậy mà cái chánh kiến là phải thành tựu, chúng ta đây giờ có học hai, ba năm nữa thì cái học của chúng ta mục đích là để thấy đúng được sự thật về ngũ uẩn, về sự khổ đau nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sự bất an, sự tai họa, sự lo lắng, sự khổ sầu, sự biến hoại, sự hoại diệt, sự tan nát, sự huỷ hoại, bao nhiêu những thứ nó bủa vây, nó bao vây, nó vây hãm mình vậy mà mình ngồi đó nhăn răng ra cười, gọi là ở trong chỗ bóng đêm sao không tìm ngọn đèn đó. Đức Phật nói trong kinh Pháp Cú đó, hoàn toàn là cái tâm mù lòa, cái tâm hôn mê, cái tâm si ám, mà cái này thì chúng ta phải tu tập và học rất sâu sắc thì mới thấy được còn không là mình không cảm nhận được đâu.
Mình nghĩ "giờ tôi tu ngon rồi", "con không có giận ai, không có gây lộn với ai hết, thôi vậy được rồi, tu ngon rồi", không phải đơn giản như vậy, phải đối diện với nội tâm của mình và phải moi móc những cái gì còn trong hóc, trong xó, trong kẹt là móc hết, trong tủ, giường, móc ra hết tất cả chuột chết, gián chết, thằn lằn, tắc kè chết, chỗ nào cứt chó, cứt mèo là móc hết ra xử lý hết toàn bộ, tổng vệ sinh nội tâm của mình là cả một cái công cuộc đánh phá, tẩy sạch, lau chùi. Còn bây giờ ngày nay là chúng ta thấy người tu được bao nhiêu người, nói được học thôi cái giáo pháp như vậy thôi là đã khó rồi, làm cho mình phát khởi lên một cái cảm thọ nhiệt huyết, nóng bỏng, cháy hừng hực, rực lửa lên là một cái tâm nhiệt thành, nhiệt tình, nhiệt tâm tinh cần để mình có một sự thúc đẩy mạnh mẽ tiến về phía trước.
Mình để tâm là lúc nào cũng nhìn ngũ uẩn, lúc nào cũng quán chiếu cảm thọ hết, lúc nào cũng chăm chú để dập mấy cái thằng tham, sân, si, dục ái, nó xuất hiện là đập vô đầu, đánh cho nó tơi bời, tơi tả, tan hoang, tan rã, diệt tận hết chúng nó, đó là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc và cuối cùng là tư duy như ý túc là mình nghĩ mọi cách làm sao để diệt chúng nó, ruồng tận hang ổ, xào huyệt chúng, diệt tận nó, không có cơ hội sanh khởi trở lại trong tương lai. Đó mới là tinh thần của dũng sĩ, của chiến sĩ, của khất sĩ đi theo bậc vô thượng sĩ.
Bây giờ mấy người có được cái này? Ai hướng dẫn mình? Phải quán xét cho sâu sắc, chiêm nghiệm cho thật sâu sắc, ngay cái giờ ra chơi mười lăm phút sắp tới đây ngồi đó chiêm nghiệm, không có nói chuyện vui cười gì hết. Mẹ mình chết thì mình có cười được không? Cha mình chết ngay trước hòm đó mình giỡn được không? Mình có một cái tâm đau xót, ray rứt, đau đớn, đau khổ, một cái tâm thao thức, trăn trở trong công cuộc giác ngộ, tu hành thành tựu của mình, phải có cái đó, không có cái đó thì không có tu được, mất cái đó là không có tu được. Mình không có sống vất vơ vất vưởng, sống qua ngày đoạn tháng như lục bình trôi sông, thấy đám ma thì cũng thức tỉnh được chút, về thì cũng ráng ngồi thiền được hai ba thời, lên tụng kinh rồi ba bữa rồi cũng trở lại mê nữa, xong ba bốn tháng gặp Covid hay cái gì đó "Trời ơi giờ cũng ráng tu nhe, vô thường", rồi xong năm ba ngày, bảy ngày cũng mê trở lại, cũng tham nữa, không có sự tỉnh giác, nó không kéo dài được, không có an trú được trong cảm thọ, tâm mình không an trú được pháp.
Cho nên phải chiêm nghiệm cho thật sâu sắc về bản chất của sự tu tập, chư Tỳ-kheo thánh Tăng ngày xưa hay là các vị Tỳ-kheo còn phàm Tăng thời Đức Phật chỉ có hai việc thôi, một là im lặng như bậc thánh ngồi thiền định, hai là pháp đàm triển khai thiền quán, chỉ có hai việc đó cho nên các ngài mau đắc đạo, còn mình giờ giỏi lắm, nhiều công chuyện lắm.
./.
Tỳ Kheo Thời Đức Phật 1
Tự Tử Thành Thánh Tăng!
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu chuyện vị Thánh Tăng Piyanjaha PAGEREF _Toc204010347 \h 1
II. Hướng dẫn tác ý PAGEREF _Toc204010348 \h 7
III. Tự tử thành Thánh Tăng PAGEREF _Toc204010349 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc204010350 \h 11
V. Câu chuyện Thánh Tăng Paccaya – Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc204010351 \h 13
I. Câu chuyện vị Thánh Tăng Piyanjaha
Trong quyển Linh Quy Nhật Tụng có đầy đủ tất cả những pháp hành về Nikāya vì tầm quan trọng của quyển này cho nên chưa có ấn bản ra ngoài, đợi cho hoàn chỉnh nhất, đầy đủ nhất mới in nhưng mà hiện nay mỗi khóa tu, các thiền sinh về tu học xuất gia ngắn hạn, nửa tháng mỗi một lần là vị nào cũng thỉnh một cuốn, có khi cả hai trăm vị thỉnh. Trong quyển này đầy đủ hết tất cả sự tu học về kinh tạng Nikāya và ba vị thường xuyên phát biểu và trả lời trúng những cái pháp thì bữa nay được lãnh thưởng.
Đây là cái món quà khích lệ thôi, tiếp theo chúng ta sẽ còn nhiều bộ sách giá trị nữa phải nhắm tinh thần khích lệ, sách tấn để chúng ta hoan hỉ học hỏi, tu học. Con có chia sẻ cho ở trên Linh Quy Pháp Ấn cũng khoảng gần chục buổi về Trưởng Lão Ni Kệ tức là Tỳ-kheo ni thời Đức Phật, chúng ta có muốn nghe thì lên nghe những câu chuyện rất là xúc động, đó là trích những mẫu chuyện, những sự kiện, những cuộc đời của các vị thánh Tỳ-kheo Ni thời Đức Phật. Hôm nay chúng ta có thể trích vài cái mẩu chuyện ở trong Trưởng Lão Tăng Kệ để chúng ta thấy được đức hạnh, trí tuệ, sự tu tập của các bậc thánh hiền, để mình có một động lực, có một sức mạnh, có sự khích lệ để mình cố gắng phấn đấu. Có nhiều gương hạnh, chúng ta chịu khó về đọc Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ ở trong Tiểu Bộ kinh.
"Ngài được sanh ở Vesàli trong thời đức Phật hiện tại, trong một gia đình quý phái Licchavì. Khi lớn lên, ngài rất thích thú chiến tranh và trở thành một chiến sĩ không ai thắng nổi, sẵn sàng hy sinh những gì thân nhất của mình, đến nỗi ngài được đặt tên là Piyanjaha (vị từ bỏ những gì thân ái). Nhưng khi đức Phật đến Vesàli, ngài khởi lòng tin, xuất gia sống ở trong rừng, phát triển thiền quán, chứng quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, ngài nghĩ thật là khác biệt giữa thành công ở đời và thành công bậc Thánh. Với thiền quán ấy, ngài nói lên chánh trí, và tuyên bố bài kệ này:
Khi loài Người kiêu hãnh,
Hãy hạ thấp ông xuống,
Khi loài Người hạ thấp,
Hãy nâng cao tâm ông,
Hãy sống tại những chỗ,
Loài Người không muốn sống,
Tại chỗ ngồi ưa thích,
Chớ có nên thích thú." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Tám, (LXXVI) Piyanjaha (Thera. 11))
Khi ngài chứng quả A-la-hán ngài nghĩ thật là khác biệt giữa thành công ở đời và thành công của bậc thánh, khác xa lắm, khác rất là nhiều giữa thành công ở thế gian và thành công của bậc thánh. Cho nên chỗ này là chỗ mà chúng ta phải chiêm nghiệm kỹ, nhiều khi mình nghĩ mình đang thành công, thành tựu, thành tích, thành quả lắm nhưng mà thật sự đó là thành công của thế gian, không phải thành công của bậc thánh. Nếu mình không có được học, không có thấy đúng về pháp thì mình sẽ bị lẫn lộn và mình không biết được cái nào là cái gọi là chánh tinh tấn và tà tinh tấn, siêng đúng và siêng sai, mình không biết cái thành công nào của bậc thánh và cái thành công nào là của phàm phu.
"Khi loài Người kiêu hãnh,
Hãy hạ thấp ông xuống,
Khi loài Người hạ thấp,
Hãy nâng cao tâm ông," (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Tám, (LXXVI) Piyanjaha (Thera. 11))
Chúng ta hiểu bốn cái câu này như thế nào?
Sư thầy 1: A-di-đà Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng. "Khi loài Người kiêu hãnh" có nghĩa là mình tự kiêu, mình hãnh diện với những cái thành tựu, những cái thành công, với những cái gì mà mình đạt được như ước muốn, như ý nguyện, như cái tâm mà mình đã được mong cầu. Giống y chang người thế tục, khi người ta muốn có danh, được lên chức, được lên cái danh đó thì mình kiêu lắm, mình đi, mình khoe khoang, mình khoác lác, mình nổ banh nhà rồi mình hãnh diện rồi đi ưỡn ngực, mình không có xem ai ra gì nữa, mình kiêu ngạo, kiêu căng. Câu thứ hai "Hãy hạ thấp ông xuống" thì kêu mình phải biết thực tập cái tâm khiêm hạ giống như lấy cái đầu của mình m đặt dưới cái chân của thiên hạ vậy.
Ở đây kêu mình phải biết khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, khiêm cung, loại trừ cái bản ngã đó đi để mình để mình sớm trở về với cái sự vô ngã. Khi mình hạ thấp thì mình mới thương được nhiều người, mình mới không có cái tâm như người ta nói "thượng đội hạ đạp". Nếu mình có cái tâm kiêu hãnh, hãnh diện thì mình thường lọt vô thượng đội hạ đạp, ở trên thì mình nịnh, ở dưới thì mình không có xem ai ra gì hết, mình dễ đi vào con đường tà ma ngoại đạo, làm cho mọi người xung quanh không có ưa mình, ghét mình. Hai cái câu kế tiếp "khi loài người hạ thấp" là khi con người của mình tự ti hay là mình thấy mình rất là nhỏ nhoi, thấp bé, mình thấy mình không có tài năng gì, vô dụng, thật là vô năng, trong khi chư tổ dạy mình "Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ", kia là trượng phu, ta đây cũng là trượng phu, người ta có thể tu tập xuất gia, người ta có thể làm được việc đó, mình có thể căn tánh chưa có bằng họ, tài năng, đức độ mình chưa có bằng nhưng bằng sự nỗ lực, tinh tấn, kiên trì, trì chí, quyết tâm, dõng mãnh suốt đêm ngày thì chắc chắn mình từ một cái người độn căn hạ trí, ngu si, dốt nát thì thời gian cũng sẽ được nâng tầm lên và có thể từ hạ căn có thể chuyển lên trung căn, và có thể chuyển lên thượng căn. Từ một người chẳng có thành tích gì nếu nỗ lực học tập, nghiên cứu, chăm chỉ thực hành những cái đức tính tốt đẹp, biết ơn cha mẹ, hoặc là biết ơn ông bà, biết những cái những của cải cha mẹ làm ra rất là khổ sở để kiếm từng đồng từng cắt nuôi cho mình ăn học, để cho mình có được phương tiện để đến trường.
Mình cố gắng biết ơn, tri ơn, mình nỗ lực thì sau này mình sẽ có những thành tụ rất là to lớn, rất là đẹp đẽ và mình có thể chuyển nghiệp. Ở đây nói là khi mình thấy tự ti như vậy thì mình phải cố gắng nâng cao cái tâm thông của mình lên nâng để mình vượt bậc hơn, mình có ý chí, có động lực, có cái dõng mãnh, dõng khí để mình tiến bước trở thành những con người hữu ích, hữu dụng, làm lợi ích cho số đông, mang lại phước cho số đông, mang lại hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Khi mình "phóng hạ đồ đao lập địa thành phật" hay là ở trong thế gian cũng có câu nói thánh nhân cũng có quá khứ mà tội đồ cũng có tương lai, dù mình là kẻ ác nhân ác độc, quá khứ của mình tồi tệ, đâm cha thuốc chú, hay là tù tội, hay là cái gì đó nhưng khi gặp thiện hữu tri thức, được hóa đạo, mình quyết phóng hạ đồ đao rồi, hôm nay mình quyết trở thành một con người mới mẻ, tốt đẹp thì mình có thể bước lên những quả vị thánh hiền, mang lại hạnh phúc cho vô lượng vô biên chúng sanh. Cũng như trong nhà Phật của chúng ta có câu chuyện của Angulimāla, tướng cướp vô não từ một kẻ sát nhân bỏ đầu đao xuống thì chứng quả A-la-hán mang lợi ích cho vô lượng vô biên người. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Người ta kiêu hãnh thì mình hạ thấp xuống, khi người ta hạ thấp thì mình nâng cao tâm mình lên, hễ người ta cao thì mình thấp, người ta thấp thì mình cao, nói gọn là vậy.
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên thầy giáo thọ cùng đại chúng, theo con nghĩ câu thứ nhất "khi loài người kiêu hãnh, hãy hạ thấp ông xuống" có nghĩa là khi tất cả mọi người chạy theo tài, sắc, danh, thực, thùy, có nghĩa là họ bị đắm nhiễm ở trong những cái pháp thế gian này thì mình phải trở về với chính mình và mình không có nên chạy theo những cái ngũ dục đó để mình bị chi phối. Khi mình hạ thấp xuống thì mình quay về nội tâm của mình, mình sẽ tiếp cận với pháp hay là những cái thiện lành chứ không theo tài, sắc, danh, thực, thùy, những cái danh lợi của thế gian.
Câu thứ hai "khi loài người hạ thấp, hãy nâng cao tâm lên", con nghĩ một người nào đó bị những cái danh lợi của thế gian chi phối thì khi đó tâm của họ sẽ chạy theo ngũ dục, và họ không biết quay về với chính mình thì lúc này là mình lại đi ngược lại. Có nghĩa là theo con nghĩ câu này chỉ cho người xuất thế gian, tức là mình đi ngược với dòng đời, cho nên mình sẽ quay về với chánh pháp của Đức Phật dạy để mình hướng đến sự nỗ lực tu tập, để làm cho cái tâm của mình khác với tâm của mọi người ở thế gian. Dạ theo con là vậy, mô Phật.
Sư thầy 2: Dạ mô Phật, kính bạch thầy, kính thưa đại chúng, theo con hiểu câu này nói lên vị này rất là biết thời, có nghĩa là khi mọi người kiêu hãnh thì ngài luôn đứng ở phía sau để quan sát, để chiêm nghiệm nhưng mà con người chúng ta hạ liệt thì chính ngay lúc này là thời điểm tốt nhất để cho cái vị này bắt đầu xuất hiện giúp đỡ. Bài kệ này con nghĩ một điều quan trọng nhất vị này là một người biết thời chứ không phải là lúc nào họ cũng muốn thể hiện, dương dương tự đắc, luôn thấy được cái hoàn cảnh, cái môi trường và cái con người lúc đó như thế nào, tùy cảnh đó mà ngài đem cái tâm và cái hạnh của ngài thể hiện cho mọi người. Cũng giống như con nhớ đến một câu thơ "ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao", hai câu này thì theo con hiểu nó cũng giống như bốn câu của vị này đã nói. Con xin hết.
Sư Phụ: Cái ý nghĩa ở đây thì một vị tướng quân, một vị dũng sĩ, một vị chiến sĩ, một cái tinh thần đó thì chúng ta thấy là mạnh mẽ không? Can cường không? Cái tôi lớn không? Một người đi theo nghề võ, đi theo cái nghề chiến đấu, chiến sĩ, dũng sĩ là thường cái tôi phải rất là lớn, đang trong một cái sự thành đạt như vậy, trong một cái địa vị như vậy nhưng ngài nghe được chánh pháp của Đức Phật, ngài khởi lòng tin rồi ngài xuất gia thì ngài ở trong rừng. Chúng ta thấy đó là một sự từ bỏ hết sức mạnh mẽ, đây đang là tướng quân nhưng khi giác ngộ Phật pháp là bỏ vào trong rừng ở, cho nên cái điểm này là cái điểm mà tất cả chúng ta phải để ý rất nhiều.
Bây giờ mình tu nói lý không à, nhất tu thị, nhị tu sơn, thứ ba mới tu chùa, những câu đó là câu của phàm phu nói, không phải câu của Đức Phật. Nếu mà nhất tu thị, nhị tu sơn vậy Đức Phật và các bậc thánh là thua mấy người ở chợ rồi. Tại sao Đức Phật không ở thành Ca-tỳ-la-vệ tu? Cho nên khi mình nghe một cái gì mà không dùng thánh trí tuệ để phán xét, mình suy xét cho sâu sắc là cái tâm mình dễ đi chạy theo lắm, khi mình chưa có thành tựu chánh tri kiến thì mình nghe một cái gì là mình dễ đi theo, nhất là số đông, chính vì vậy Đức Phật không phải người đó quyền uy nói là đúng sự thật, không phải đạo sư, sư phụ mình nói là đúng sự thật, không phải người đi trước là lúc nào nói cũng đúng sự thật, cũng phải truyền thống xưa bày nay làm là đúng sự thật. Đức Phật dạy mình dùng cái trí tuệ để xét soi ở trong thực tế coi nó là thiện hay là bất thiện, nó đem lại lạc hay nó đem lại tai hại, phải xét thật là kỹ.
"Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: 'Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau', thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, VII. Phẩm Lớn, Các Vị Ở Kesaputta)
Ở đây ngài ở trong một cái địa vị thành đạt, thành công như vậy mà ngài bỏ hết vô rừng sống rồi phát triển thiền quán chứng quả A-la-hán. Vì vậy chúng ta thấy ở đây mấy điều để chúng ta chê nghiệm, thứ nhất là sự viễn ly, đầu tiên khởi được lòng tin. Phải nghe giáo pháp trước, rồi ngài mới phát khởi lòng tin, khi phát khởi lòng tin rồi ngài sống viễn ly, khi sống viễn ly đó thì ngài triển khai thiền quán, phát triển thiền quán. Ở trong kinh thường nói rất là tắt, rất là gọn nhưng mà phải hiểu là cả một chặn đường, mồ hôi, nước mắt, máu và sinh mạng, không có đơn giản, trong kinh chỉ nói tóm tắt vậy thôi nhưng mình phải đặt cả một cái tâm tư vào đó, cả một tấm lòng của mình vào đó thì mình mới hiểu được trong kinh, chứ không phải sơ xài mấy câu vậy là chứng A-la-hán.
Khi ngài triển khai thiền quán như vậy thì đời sống đã viễn ly tức là cắt duyên xúc rồi, đương nhiên trong này có thiền định, thiền tuệ, thiền quán, khi thiền quán thì diệt các cái lậu hoặc và thành tựu thánh quả. Đây là trình tự của sự tu, cái đạo lộ, cái tuần tự, cái lớp lang, cái thứ lớp nhưng bây giờ chúng ta không chịu sống đời sống viễn ly. Lớp mình là cái duyên may mắn vô lượng là được nghe chánh pháp, cái duyên kế đó nữa là cũng có những người trong đây phát khởi lòng tin nhưng mà mình không thực tập những cái bước thiền quán cho nên mình chỉ dừng lại ở phát khởi lòng tin thôi. Mình có chiêm nghiệm một chút lên lớp vậy thôi, hoặc là về nhà chiêm nghiệm cho có rồi thôi, tu gieo duyên, tu chơi chơi chờ ngày qua đời, mình không có cắt duyên xúc, mình không có sống viễn ly, mình không có thiền định, mình không triển khai thiền quán, thiền tuệ làm sao mình đoạn tận các lậu hoặc, đoạn giảm các lậu hoặc.
Thành ra làm cái gì cũng có trình tự, có lớp lang, có thứ bậc chứ không phải nhảy vô là muốn chứng thánh quả, nhảy vô thiền định liền nhưng bây giờ cái tu của mình là vậy. Khi mình không nắm được đạo lộ, trình tự, thứ lớp nhảy vô là tu chánh định, nhảy vô là muốn của tâm yên lặng, đừng nghĩ gì hết. Giả sử nó được yên thì cái đó cũng là phàm phu thiền, không phải là thánh chánh định, không phải thánh định uẩn tại vì thánh định uẩn là nhìn thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, dục ái, lậu hoặc rồi nhiếp phục, chế ngự mà phải đúng pháp, đúng cách.
Khi mình thành công, thành đạt, thành tích, thành quả thì lúc đó người ta sẽ kiêu hãnh, kiêu căng, kiêu mạn, ngạo mạn, nhưng người tu của mình lại hạ thấp ngay lúc đó. Mình là cái nùi giẻ rách thôi, mình là cái bộ xương thôi, mình là đống tro tàn thôi, mình chả có là cái gì trên cuộc đời này, đặt đầu dưới chân của người ta, cái đó là mình nhiếp phục bản ngã, diệt tận bản ngã. Còn khi loài người hạ thấp thì hãy nâng cao tâm ông, hạ thấp là họ đắm chìm ở trong dục lạc, họ không có tinh thần hướng thượng, họ không muốn giải thoát, họ nghĩ "thầy ơi nghiệp con nặng lắm", "sư phụ ơi con giờ tu gieo duyên thôi chứ con thấy nghiệp con nặng lắm, con tu không được đâu, con không có thể nào đoạn tận hết lậu hoặc, phiền não được đâu". Đó là khi người ta hạ thấp thì hãy nâng cao tâm ông, mình phải quyết định một trăm phần trăm "con chắc chắn phải đoạn tận tham, sân, si, con phải dứt tất cả sanh tử trong đời này", không có hẹn "con tu gieo duyên nhiều kiếp nhiều đời sau con mới giải thoát", phải giải thoát ngay đời này. Đó là tinh thần của dũng sĩ, của chiến sĩ, của vô thượng sĩ.
"Hãy sống tại những chỗ,
Loài Người không muốn sống"
Hồi xưa con lên Linh Quy thì các cô con ở nước ngoài về thăm, ở quê lên thăm thì các cô nhìn thấy con để cái thau nhựa ở trên cái nóc mùng vì nước mưa dột xuống nóc mùng vì lúc đó con ở am tranh. Nhà ở là nhà tường ở chợ nhưng xuất gia ở trong vườn, trong cái vùng sâu rồi sau này đi lên Sài Gòn, đi lên trên núi cất cái âm tranh. Ở trong am tranh mà mưa dột ở trong cái thau nhựa trên nóc mùng, mấy cô thấy thì khóc, lúc con đưa mấy cô xuống núi vì cách đây cũng phải mười lăm, mười bảy năm trước thì mấy cô khóc nhưng mà con không có nói gì hết, mấy cô cứ nói là tội nghiệp con quá thì con nói trong bụng thôi con không có nói ra, sau này đó thì con mới nói không biết ai tội nghiệp ai.
Thật sự là sau này mấy cô cứ kiếm con khóc không, ở nhà lầu ở, nước ngoài mà cứ khóc "Thầy ơi giờ con khổ quá, thầy ơi thầy cứu con". Mình ở cái am tranh bị dột nước, đơn sơ, đơn giản, xung quanh không có gì hết nhưng mình an lạc còn hơn cõi trời vì mình có chánh pháp, vì mình có trí tuệ. Cái tâm mình tập được sự từ bỏ đối với những cái mà người ta yêu thích cho nên hãy sống tại những chỗ loài người không muốn sống, tại chỗ ngồi ưa thích chớ có nên thích thú. Phòng ở dưới có máy lạnh mà hôm nay đưa mình lên đây thì lúc đó cảm thọ mình như thế nào, suy nghĩ mình như thế nào, hình bóng như thế nào, nhận diện ngũ uẩn ngay lúc lớp ở dưới xin mượn lớp nên mình phải lên trên này, lúc đó thọ; tưởng; hành của mình như thế nào.
Sư thầy 3: A-di-đà Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư cùng đại chúng, khi tụi con ở được dưới phòng đó thì thấy người mình mát mẻ, thoải mái hơn, có những lúc trời nóng thì mình được cái sự tươi mát đó mình dễ ngủ, còn lên này thì nó bực, nó nóng và nó hắt vô người mình thấy khó chịu. Tại vì mình đã quen với cái không khí đó rồi, trên này cũng trang bị được gió thổi nhưng mà cái mát không có đưa lại cái sự ham thích giống như ở phòng dưới. A-di-đà Phật.
II. Hướng dẫn tác ý
Sư Phụ: Giờ con chỉ cho các thầy cô cách tác ý khi mình lên đây mà mình có sự so sánh với ở dưới có máy lạnh mát hơn, có máy điều hòa mát hơn, lên đây không có máy điều hòa thì tại sao mình không so sánh giờ này cha mẹ của mình có khi đang buôn tảo bán tần, mua gánh bán bưng, làm ngoài đồng, ngoài vườn, ngoài rẫy, cô bác, ông bà của mình. Mình tác ý như vậy đó, "mình có biết giờ này cha mẹ mình ở nhà đang làm gì không, mình có biết những chú, những dì, những thím của mình, những người trong gia đình của mình hiện tại giờ đang làm gì không. Tại sao mình ngồi trong lầu cao quạt mát mà mình còn so sánh với cái này cái kia hỡi cái tâm mê này? Hãy tỉnh ra đi, hãy xả bỏ cái tham ái đối với cái máy điều hòa đó".
Mình tác ý như vậy đó, rồi mình tác ý tới những cụ già mù lòa đi bán vé số, những bà cụ chín mươi tuổi còn đi bán rau, những đứa trẻ nhặt cái phế liệu trong đống rác để đi kiếm ăn, người ta đau khổ biết bao nhiêu. Khi mình tác ý được như vậy thì tự nhiên cái tâm ưa thích máy điều hòa đó lắng dịu, nó tan biến, nó thoát ra, rộng hơn nữa là mình tác ý rộng giờ này trong những cái thân của các con chó, những con giòi ở trong cầu tiêu, những loài súc sanh giờ này khổ như thế nào, rồi rộng hơn nữa là những loài con hồn vất vơ vất vưởng, hay là trong địa ngục, ở trong chảo dầu sôi, trong hỏa ngục. Chúng ta nghe bài kinh địa ngục con có chia sẻ, cả trăm cây số là tường đồng vách sắc cháy đỏ hừng hực hết mà chạy qua chạy lại trong đó tìm cái chỗ hở để thoát ra, lâu lâu cánh cửa hé ra thì chạy lại nhưng bị đẩy vô cháy đỏ lột da, phỏng da, kêu gào thảm thiết, hoặc là nuốt hòn sắc đỏ xuống dưới rồi ruột gan, phèo phổi đi theo, đó là những cái cảnh ở trong địa ngục.
"Này các Tỳ-kheo, từ tường phía Ðông của Ðại địa ngục ấy, những ngọn lửa bừng cháy lên được thổi tạt đến tường phía Tây. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Tây được thổi tạt đến tường phía Ðông. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Bắc được thổi tạt đến tường phía Nam. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ tường phía Nam được thổi tạt đến tường phía Bắc. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Dưới, được thổi tạt lên phía Trên. Những ngọn lửa bừng cháy lên từ phía Trên, được thổi tạt xuống phía Dưới. Người ấy ở đây cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời rất lâu dài, khi cửa phía Ðông của Ðại địa ngục được mở ra. Người ấy chạy vào đấy rất nhanh và mau lẹ. Khi người ấy chạy rất nhanh và mau lẹ, da ngoài bị cháy, da trong bị cháy, thịt bị cháy, dây gân bị cháy, xương bị khói xông đen. Sự trốn thoát của người ấy là như vậy. Này các Tỳ-kheo, dù cho người ấy có cố gắng rất nhiều, cửa vẫn đóng chống lại người ấy. Tại đây người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mệnh chung cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ.
Rồi này các Tỳ-kheo, những người coi giữ Ðịa ngục, câu người ấy lên với móc câu, đặt người ấy trên đất và nói với người ấy: 'Này Người kia, Ngươi muốn gì?' Người ấy nói: 'Thưa các Ngài, tôi đói bụng'. Rồi này các Tỳ-kheo, các người coi giữ Ðịa ngục lấy cọc sắt nung đỏ cạy miệng người ấy và nhét vào miệng người ấy những cục đồng nung đỏ, cháy đỏ, cháy thành ngọn, cháy đỏ rực. Môi người ấy bị cháy, miệng bị cháy, cổ họng bị cháy, ngực bị cháy. Và kéo theo một ruột lớn, ruột nhỏ, các cục đồng ấy rơi ra ngoài từ phía dưới. Ở đấy, người ấy cảm thọ những cảm giác đau đớn, thống khổ, khốc liệt. Nhưng người ấy không có thể mạng chung, cho đến khi ác nghiệp của người ấy chưa được tiêu trừ." (Trung Bộ Kinh, 130. Kinh Thiên sứ)
Mình có học thì mình mới biết quán, mình quán cái đó thì tự động tất cả tâm tham ái, luyến ái của mình tan biến. Tất cả đều phải triển khai thiền quán hết, tất cả đều phải dùng tâm trị tâm, dùng tác ý để trị những cái dục, tham, ái, sân si, vô minh, bản ngã. Phải dùng cái roi quất nó, còn mình để trơ trơ vậy thì tu tới ngàn kiếp nữa cũng phàm phu, tham, sân, si, dục ái cũng y nguyên. Cho nên "hãy sống tại những chỗ loài người không muốn sống, tại chỗ ngồi ưa thích, chớ có nên thích thú", chỗ này rất quan trọng, khi mình ăn đồ ngon mà khởi cái thích lên, nó khoái lên, nó ham lên mình rầy nó liền. Khi lên chiếc xe đẹp, xe êm ấm mà nó ham, nó thích là mình rầy nó tại chỗ liền, khi nhìn thấy món đồ, cảnh đẹp mà nó khoái, nó thích là rầy la, nhiếp phục, chế ngự liền, nhiếp phục dục tham, đoạn thận dục tham, tẩy sạch dục tham ngay tại chỗ đó. Như vậy là sự tu của mình có miên mật, có liên tục, có kỹ lưỡng, tu khít khao, sát sao.
III. Tự tử thành Thánh Tăng
"Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi trong gia đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Mahànàma, ngài được nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài làm thiền quán, ngài sống trên một ngọn đồi tên là Nesàdka. Không thể chận đứng được các dục tưởng khởi lên, ngài tuyên bố: 'Ðời này của ta có ý nghĩa gì, với tâm tư uế nhiễm như vậy'." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Sau khi ngài đã khởi lòng tin phát tâm xuất gia rồi sống viễn ly ở trên một ngọn đồi, lấy đề tài thiền quán luôn nhưng ngài không thể chặn đứng được các cái dục tưởng khởi lên. Những hình bóng của dục ở trong tâm cứ ám ảnh hoài, nó cứ sanh khởi lên, những cái hình bóng dục trước khi ngài xuất gia đó. Như vậy thì ta sống còn có ý nghĩa gì nữa, với một cái nội tâm dơ bẩn như vậy thì ta sống còn có ý nghĩa gì nữa.
"Tự nhàm chán với chính mình, ngài leo lên một đỉnh núi, và như muốn lao mình xuống, ngài nói với chính mình như nói với một người khác: 'Ta sẽ giết nó!' với bài kệ như sau:
Hãy xem, sao đời nay,
Lại chấm dứt ở đây,
Với hòn núi nhiều ngọn,
Và nhiều cây cối này?
Núi Nesàdaka,
Một ngọn núi có danh,
Rập rạp với cỏ cây,
Che kín trùm tất cả.
Tự mình trách móc như vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Bài kệ trên trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười Hai, (CXV). Mahànàma (Thera. 16))
Ta không thể chặn đứng được những cái tư tưởng về dục này khởi lên thì đời này ta sống còn ý nghĩa gì nữa, với một thân tâm đầy nhơ nhớp, bẩn thiểu, cấu uế như vậy thì ta chết đi còn sướng hơn, còn tốt hơn. ngài leo lên đỉnh núi tính nhảy xuống tự tử, ngài như lý tác ý tự nói với chính mình "ta sẽ giết mi, ta sẽ giết mi, ta sẽ giết mi", đó là những cái dục tưởng, những hình bóng về dục, những cái tư tưởng, suy tư về dục, những cái cảm giác về dục đó, ta sẽ giết mi.
Hãy xem cuộc đời của ngươi đi, bây giờ cuộc đời của ngươi chấm dứt ở đây rồi đời của ngươi sẽ chết ở trên ngọn núi này. Ngọn núi của danh, của tiếng này, bây giờ ngươi chết ở trong một cái bụi cây rậm rạp che kín như vậy, ngươi hãy chấm dứt cuộc đời ngươi tại nơi này đi. Tự ngài tác ý, tự trách móc mình như vậy và khi mà ngài tự trách móc mình như vậy là ngài phát triển thiền quán, ngay lúc đó ngài triển khai thiền quán, quán chiếu đề mục của mình và đề mục của ngài là chắc chắn là bất tịnh quán, là ba mươi hai thể trược, là chín giai đoạn tử thi, là sự nguy hại của dục. Ngài quán chiếu, triển khai thiền quán thì đoạn tận ái diệt, sạch hết các lậu hoặc, chứng quả A-la-hán ngay cái lúc sắp tự vẫn.
"Ta sẽ giết ngươi, ta sẽ giết ngươi, ta sẽ giết ngươi, bây giờ ta sống còn ý nghĩa gì nữa, thôi ta chết đi với một cái tâm cấu uế, bẩn thiểu, nhơ nhớp, tồi bại như vậy thì thôi chết đi chứ sống làm chi nữa", ngay lúc đó ngài triển khai thiền quán và đoạn tận tất cả những cái dục, tham, ái, ái tận ngài giải thoát, chứng thánh quả A-la-hán và bài kệ ở trên trở thành chứng đạo kệ của ngài, bài kệ chứng đạo, đắc đạo, là bài kệ thành đạo.
Chúng ta có chê nghiệm gì, suy nghĩ gì về cuộc đời của ngài Mahànàma này không ạ? Chúng ta thấy cái dục nó ghê gớm không? Cắt hết tất cả duyên xúc, là không có tiếp xúc với những đối tượng sanh khởi dục nữa nhưng mà pháp tưởng pháp tư, những bóng dáng, những suy nghĩ, những cảm xúc đã từng tiếp xúc lúc trước bây giờ nó sống lại, không gặp những cái đó nữa, những đối tượng không có thấy, không có tiếp xúc nữa nhưng mà những cái đã tiếp xúc, hình bóng, cảm giác suy nghĩ nó quậy ở trong tâm. Chúng ta có thao thức với vấn đề này không? Có ưu tư, có trăn trở không?
IV. Trình pháp
Sư thầy 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa toàn thể đại chúng, thông qua cuộc đời của ngài Mahànàma con có một số suy nghĩ về ngài, một bậc thánh ở trong nhà Phật. Đúng là những cuộc đời của những bậc thánh thì nó quá là vĩ đại, nó quá là tuyệt vời, đây là một tấm gương thật là sáng, có thể nói là một đức hạnh tuyệt diệu khi một con người đã phát khởi lòng tin xuất gia tu tập sống viễn ly rồi còn bị những cái phiền não quậy, phải cố gắng tác ý thật là mạnh mẽ, thật là dõng mãnh, giống như không có sợ chết luôn. Ngài cảm thấy cuộc đời của mình tồi tệ quá, nếu sống mà bị những cái pháp tưởng, pháp tư, bị những cái phiền não, cấu uế, lậu hoặc cứ quậy hoài, nó làm lòng mình cứ động hoài thì cuộc sống không có lợi ích.
Giống như giáo thọ vừa kể cho chúng con nghe thì ngài nói "ngươi hãy chết đi, ngươi hãy chết đi", giống như xả bất liễu tử, không còn luyến tiếc cái thân mạng này và cố gắng dõng mãnh, tinh tấn, kiên trì phát triển thiền quán để đoạn tận những cái lậu hoặc. Một tấm gương thật là tốt đẹp để cho chúng ta học tập và noi theo, với con thì những cái phiền não, lậu hoặc này cũng quậy nhiều lắm nhưng mà mình thấy mình chưa có dõng mảnh như ngài nên mình không có đoạn được, nó quậy hoài, nó bất an, nó không có được an lành nên hôm nay được học tấm gương của ngài Mahànàma con cũng sẽ cố gắng noi gương ngài tác ý thật là mạnh, phải cố gắng dõng mãnh để giảm phiền não, cấu uế, những cái hình bóng, suy nghĩ quậy mình để thanh tịnh cõi lòng, để cố gắng để đền ơn, đền đáp tứ trọng ơn. A-di-đà Phật, con có đôi lời.
Sư thầy 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng toàn thể chư huynh đệ qua, câu chuyện mà thầy vừa kể cho chúng con nghe thì con thấy thứ nhất là lòng tin của ngài đối với chánh pháp và đối với Đức Phật rất là lớn để cho ngài khởi được sự viễn ly, chấp nhận xả bỏ để tìm một nơi vắng vẻ tu tập. Nhưng khi phát khởi thiền quán thì ngài không chặn đứng được những cái dục tưởng, chứng tỏ là nó quấy rầy, nó cứ đến và nó hiện diện trong tâm của ngài, ngài thấy rõ điều đó nhưng không thể tìm cách để diệt được nó và ngài chọn cái cách nghĩ mình phải la rầy cái tâm, quở mắng cái tâm của mình. Dùng cái đáng sợ nhất, cái mà đem đến cái khổ nặng nề nhất đó chính là cái chết, có thể khi mình nghe đến đây mình tưởng tượng giống như ngài đứng trước một cái vách núi đối diện với cái sợ hãi đó để buộc cái tâm, những cái dục này lắng động và kèm theo đó là cái tâm của ngài lúc nào cũng tư duy thiền quán.
Từ chỗ thân cái tâm này đối diện tới cái cảnh quá sợ hãi như vậy, những cái dục lắng yên, lúc đó thiền quán của ngài giống như bông hoa được nở ra, ngài tiến triển thêm trên cái công đoạn thiền quán đó và chứng được cái quả. Con nghĩ trong cuộc sống của mình, mình chưa có bao giờ đối diện với cái chết, mình không bao giờ mình có thể phát khởi được cái sự xả bỏ tột bậc mà mình hay dễ vui hay xuôi theo những cái ham muốn của mình, đừng nói chi đời sống viễn ly mình đã không thể làm được, rồi huống gì mình dám dùng cái chết để uy hiếp chính thân tâm của mình và ngài thì làm được điều đó, cho thấy đây một bài học cho mình. Dạ con xin hết.
Sư Phụ: Rất là rất, là tốt, chúng ta là phải chiêm nghiệm mình tu học mà mình cứ tu phớt phớt như vậy là không bao giờ đi đến cái thành tựu. Chúng ta thấy không, đâu phải các bậc thánh vô đơn giản vậy rồi chứng ngộ đâu, các ngài phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, thậm chí là liều mạng đối diện với cái chết mới có được các thành tựu vĩ đại như vậy. Chúng ta nhìn nhận ra ngày hôm nay chúng ta tu sao? Cái tâm tha thiết cầu đạo, cái tâm nỗ lực quyết chí, cái tâm phải mạnh mẽ, kiên cường, tinh tấn để nhiếp phục tất cả những cái cấu uế, ô nhiễm ở trong thân tâm của mình, mình có được bao nhiêu hay là mình cứ dễ vui, mình cứ qua ngày, mình cứ chấp nhận với cái trạng thái cấu nhiễm này?
V. Câu chuyện Thánh Tăng Paccaya – Khuyến tấn tu tập
Chúng ta thấy các ngài không, "ta sẽ giết ngươi, ta sẽ giết ngươi", đối diện với cái chết, thà chết thì chết chứ không có để cho cái ô nhiễm này tồn tại trong tâm, cái thân ngài đương nhiên là được rời xa rồi, bây giờ cái tâm chưa rời xa, nó chưa viễn ly, thân viễn ly mà tâm chưa viễn ly và cuối cùng trong sự tu hành quyết tử mà ngài thật sự thành tựu được tâm viễn ly luôn đối với các dục. Đây là những bài học vô giá, quý báu, trước nay chúng ta học lý thuyết nhiều thì ngày hôm nay mình thấy được sự thực hành của các bậc thánh, người thật việc thật, sự thật, lẽ thật, chân thật ở trong cái pháp, mình phải ưu tư, mình suy tư, mình tư duy, mình chiêm nghiệm, những cái bài này về chúng ta đọc tới đọc lui, tụng đi tụng lại rồi nghiền ngẫm viết bài trình pháp ra và gửi lên cho con. Mình viết ra chiêm nghiệm như thế nào về cuộc đời của các bậc thánh, quán chiếu lại tự thân của mình suy tư gì, mình học được những cái gì từ đó, nhìn lại tự thân của mình như thế nào. Chúng ta thấy sự tinh tấn của các ngài rất là quyết liệt.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Rohi trong một gia đình hoàng tộc, và được đặt tên là Paccaya. Thọ hưởng gia tài khi phụ thân mệnh chung, ngài tuyên bố tổ chức một đàn bố thí rất lớn và một số đông người tụ họp. Trong cuộc tụ họp này, bậc Đạo Sư ngồi trên một ngai vàng trong một ngôi nhà trang hoàng châu báu." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Lúc đó Đức Thế Tôn ngồi trên ghế bằng vàng vì ngài là hoàng tộc hoàng thất, Đức Thế Tôn chúng ta rất được các bậc đế vương cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng.
"Ðức Phật thuyết pháp, trong khi mọi người ngắm, chiêm ngưỡng ngài. Phần lớn dân chúng hiểu lời đức Bổn Sư dạy, nhưng ngài Paccaya đi xa hơn." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Tức là những người hội tụ để nghe thì phần lớn họ chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn, cái tướng hảo của Đức Phật cũng như họ chiêm ngưỡng cái sự lắp lánh của hoàng kim, của châu báu trang hoàng ngay chỗ pháp tọa của Như Lai. Người ta cũng hiểu lời dạy của Phật nhưng mà ngài đi xa hơn nữa.
"Thúc đẩy bởi nghiệp duyên đời trước, ngài từ bỏ tài sản và xuất gia như trước kia ngài đã phát nguyện dưới thời đức Phật Kassapa, nay ngài đã phát nguyện, khi đã vào am tranh tu hành, nếu chưa giải thoát thời không ra khỏi am này và cuối cùng thiền quán được phát triển, trí tuệ được thuần thục, ngài chứng quả A-la-hán." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Chúng ta biết đây là dòng dõi của hoàng thất, hoàng tộc mà buổi nghe pháp là từ bỏ đi xuất gia, trong đây nói cái nhân duyên của ngài đã tu tập từ thời rất là xa xưa, nhiều đời ngài đã huân tập. Khi ngài đi vào trong am tranh tu hành thì ngài có phát nguyện nếu chưa giải thoát thì không ra khỏi am này, phải tu thành công, thành tựu, diệt hết tham, sân, si thì lúc đó mới ra khỏi, còn không là ở trong đó luôn và cuối cùng ngài triển khai thiền quán, trí tuệ được thuần thục và ngài chứng quả A-la-hán. Nói thì đơn giản như vậy nhưng mà bây giờ chúng ta từ từ nghe cái sự nhọc nhằn của ngài trong cái am đó như thế nào.
"Ðể kỷ niệm thành quả này, ngài nói lên quả chứng của ngài, ngang qua những bài kệ như sau:
Năm ngày ta xuất gia,
Hữu học, ý chưa đạt,
Ta trú hạnh viễn ly,
Tâm phát nguyện như sau:
Ta sẽ không ăn uống,
Không ra ngoài tinh xá,
Ta sẽ không nằm xuống,
Không nằm một bên hông,
Nếu mũi tên tham ái,
Chưa rút nhổ lên được.
Hạnh ta sống như vậy,
Hãy nhìn ta tinh cần,
Ba minh ta đạt được,
Lời Phật dạy làm xong" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương III. Phẩm Ba Kệ, (CLXXI). Paccaya (Thera. 29))
Sau khi ngày xuất gia được năm ngày thì ngài phát tâm rời xa xóm làng, rời xa cung điện, rời xa dinh thực và sống trong cái am tranh. Chúng ta thấy hồi xưa đều như vậy hết, còn mình bây giờ sao ạ? Đó là hoàng thất ở trong cung điện, sau năm ngày xuất gia thôi là sống đời sống viễn ly, ở trong cái am tranh vắng, phát nguyện sẽ không ăn uống, không đi ra khỏi chùa, không có đi ra khỏi tinh xá, không đi ra khỏi cái am cốc của mình, ta sẽ không nằm xuống, dầu cho là nằm nghiêng bên phải cũng không nằm luôn nếu mũi tên tham ái chưa rút nhổ lên được. Chúng ta thấy cái chí khí của người xưa không? Cái tâm đạo đó, đó là bồ đề tâm, tâm cầu giác ngộ đó, đó là đại hùng, đại lực, tinh tấn lực, dõng mãnh lực, tượng vương lực, sư vương lực, mãnh hổ lực, uy hùng lực.
Cái sự tinh tấn của ta là như vậy, cái sự nỗ lực của ta là như vậy, cái sự cố gắng của ta là như vậy, các vị hãy nhìn cái hạnh sống ta như vậy. Ba minh là túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, nhìn thấy được tất cả các đời, những cái kiếp sanh tử quá khứ của mình, thấy được tất cả những cái dòng sanh tử của chúng sinh và sạch hết tất cả các lậu hoặc tham, sân, si, dục ái, diệt tận hết tất cả, mũi tên tham ái này được rút nhổ lên một cách hoàn toàn. Như vậy ba minh ta đạt được, lời Phật dạy làm xong, ca khúc khải hoàn ca, tuyên bố dõng dạt giữa chư thiên và loài người sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn chở lui trạng thái này nữa.
Mình bây giờ nhập thất được mấy lần? Sống một mình được bao nhiêu thời gian? Có một ngày nào mình tu trọn một ngày mà tâm huyết, tất cả tâm lực mình dồn hết tu thử một ngày một đêm có chưa? Đừng nói đêm mà chỉ một ngày thôi đã có chưa mà đòi chứng quả, đòi đắc đạo, đòi diệt khổ? Chúng ta chiêm nghiệm như thế nào về cuộc đời của ngài Paccaya, chúng ta chiêm nghiệm như thế nào, suy tư như thế nào, quán chiến như thế nào, rút ra được bài học như thế nào từ cuộc đời của ngài? Vậy mà những cái này ít ai được học, không ai để ý tới mấy cái này.
Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, dạ con kính bạch trên thầy, qua cuộc đời của ngài Paccaya thì con thấy ngài là một người mà có đầy đủ mọi thứ giống như từ một nơi dòng dõi hoàng tộc, tất cả mọi thứ đều có hết, cũng tương tự giống như Đức Phật của mình là ngài đã quyết tâm từ bỏ mọi thứ và đã phát ra lời thệ nguyện cũng giống với Đức Phật. Qua đây thì con thấy ngài với cái tâm rất là mạnh mẽ, và quyết chỉ một lần trong một cuộc đời này của mình là mình phải làm được, đoạn tận được tất cả những dục ái và những tham, sân, si của mình để chứng được quả vị A-la-hán.
Qua đây chúng ta thấy hiện tại chúng con cũng là người xuất gia nhưng hầu như chúng con chưa có học được cái sự quyết tâm, tinh tấn, nỗ lực hết mình hay là sự từ bỏ mọi thứ, trong khi ngài có tất cả mọi thứ nhưng ngài đã từ bỏ hết tất cả, còn mình gọi là người xuất gia là từ bỏ tất cả nhưng thực tế thì tự thân con thấy là mình chưa có từ bỏ, con thấy cái gì mình cũng có thậm chí là mình còn ôm về cho mình rất là nhiều. Dạ qua cuộc đời của ngài cũng rút ra một bài học là mình phải tự nỗ lực bản thân với một cái quyết tâm mạnh mẽ phải cố gắng từ bỏ dần dần, trước hết là từ bỏ những cái uế trược và những tham ái, cũng như từ bỏ những tham, sân, si rồi từ đó nỗ lực tu tập thiền quán để thành tựu được thánh trí.
Sư Phụ: Đó là lý do mà tại sao con hay mời chúng ta trình pháp, chúng ta thấy không, kêu mình lên trình pháp mình không biết gì trình hết, mình không có dụng công phu, mình không có tu, mình không có quay trở lại để đối diện chính mình để đánh phá, để chùi rửa, để tẩy sạch, để chiến đấu với một nội tâm đầy cấu nhiễm, rác bẩn. Mình sống qua ngày đoạn tháng vất vơ vất vưởng, sống cho hết ngày, hết tháng, hết năm, hết đời, mình không có một cái tinh thần hướng thượng, tăng thượng, cần phải có cái đó. Dục như ý túc không có thành tựu thì làm sao có tấn như ý túc, một cái sự mong muốn, khao khát, một trái tim nóng bỏng, nhiệt huyết, phải có cái đó, không có cái đó thì không có làm gì được hết.
Chúng ta không có muốn giác ngộ, không có muốn đoạn tận tham, sân, si, tại vì không có thấy khổ thì làm sao muốn diệt khổ. Chính vì vậy mà cái chánh kiến là phải thành tựu, chúng ta đây giờ có học hai, ba năm nữa thì cái học của chúng ta mục đích là để thấy đúng được sự thật về ngũ uẩn, về sự khổ đau nhiều khía cạnh, phương diện, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Sự bất an, sự tai họa, sự lo lắng, sự khổ sầu, sự biến hoại, sự hoại diệt, sự tan nát, sự huỷ hoại, bao nhiêu những thứ nó bủa vây, nó bao vây, nó vây hãm mình vậy mà mình ngồi đó nhăn răng ra cười, gọi là ở trong chỗ bóng đêm sao không tìm ngọn đèn đó. Đức Phật nói trong kinh Pháp Cú đó, hoàn toàn là cái tâm mù lòa, cái tâm hôn mê, cái tâm si ám, mà cái này thì chúng ta phải tu tập và học rất sâu sắc thì mới thấy được còn không là mình không cảm nhận được đâu.
Mình nghĩ "giờ tôi tu ngon rồi", "con không có giận ai, không có gây lộn với ai hết, thôi vậy được rồi, tu ngon rồi", không phải đơn giản như vậy, phải đối diện với nội tâm của mình và phải moi móc những cái gì còn trong hóc, trong xó, trong kẹt là móc hết, trong tủ, giường, móc ra hết tất cả chuột chết, gián chết, thằn lằn, tắc kè chết, chỗ nào cứt chó, cứt mèo là móc hết ra xử lý hết toàn bộ, tổng vệ sinh nội tâm của mình là cả một cái công cuộc đánh phá, tẩy sạch, lau chùi. Còn bây giờ ngày nay là chúng ta thấy người tu được bao nhiêu người, nói được học thôi cái giáo pháp như vậy thôi là đã khó rồi, làm cho mình phát khởi lên một cái cảm thọ nhiệt huyết, nóng bỏng, cháy hừng hực, rực lửa lên là một cái tâm nhiệt thành, nhiệt tình, nhiệt tâm tinh cần để mình có một sự thúc đẩy mạnh mẽ tiến về phía trước.
Mình để tâm là lúc nào cũng nhìn ngũ uẩn, lúc nào cũng quán chiếu cảm thọ hết, lúc nào cũng chăm chú để dập mấy cái thằng tham, sân, si, dục ái, nó xuất hiện là đập vô đầu, đánh cho nó tơi bời, tơi tả, tan hoang, tan rã, diệt tận hết chúng nó, đó là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc và cuối cùng là tư duy như ý túc là mình nghĩ mọi cách làm sao để diệt chúng nó, ruồng tận hang ổ, xào huyệt chúng, diệt tận nó, không có cơ hội sanh khởi trở lại trong tương lai. Đó mới là tinh thần của dũng sĩ, của chiến sĩ, của khất sĩ đi theo bậc vô thượng sĩ.
Bây giờ mấy người có được cái này? Ai hướng dẫn mình? Phải quán xét cho sâu sắc, chiêm nghiệm cho thật sâu sắc, ngay cái giờ ra chơi mười lăm phút sắp tới đây ngồi đó chiêm nghiệm, không có nói chuyện vui cười gì hết. Mẹ mình chết thì mình có cười được không? Cha mình chết ngay trước hòm đó mình giỡn được không? Mình có một cái tâm đau xót, ray rứt, đau đớn, đau khổ, một cái tâm thao thức, trăn trở trong công cuộc giác ngộ, tu hành thành tựu của mình, phải có cái đó, không có cái đó thì không có tu được, mất cái đó là không có tu được. Mình không có sống vất vơ vất vưởng, sống qua ngày đoạn tháng như lục bình trôi sông, thấy đám ma thì cũng thức tỉnh được chút, về thì cũng ráng ngồi thiền được hai ba thời, lên tụng kinh rồi ba bữa rồi cũng trở lại mê nữa, xong ba bốn tháng gặp Covid hay cái gì đó "Trời ơi giờ cũng ráng tu nhe, vô thường", rồi xong năm ba ngày, bảy ngày cũng mê trở lại, cũng tham nữa, không có sự tỉnh giác, nó không kéo dài được, không có an trú được trong cảm thọ, tâm mình không an trú được pháp.
Cho nên phải chiêm nghiệm cho thật sâu sắc về bản chất của sự tu tập, chư Tỳ-kheo thánh Tăng ngày xưa hay là các vị Tỳ-kheo còn phàm Tăng thời Đức Phật chỉ có hai việc thôi, một là im lặng như bậc thánh ngồi thiền định, hai là pháp đàm triển khai thiền quán, chỉ có hai việc đó cho nên các ngài mau đắc đạo, còn mình giờ giỏi lắm, nhiều công chuyện lắm.
./.