Tương Ưng Thọ 1 - CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG THỌ 1 – CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là tâm được khéo tích tập PAGEREF _Toc100719020 \h 1
1.Bài kinh “Trí tuệ” PAGEREF _Toc100719021 \h 1
2.Bài kinh “Trụ đá” PAGEREF _Toc100719022 \h 2
II.Tích tập trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly PAGEREF _Toc100719023 \h 4
III.Trái tim Thánh pháp PAGEREF _Toc100719024 \h 9
IV.Cốt tủy của sự tu PAGEREF _Toc100719025 \h 13
Thế nào là tâm được khéo tích tập
Bài kinh “Trí tuệ”
Trong bài kinh “Trí tuệ”, kinh Tăng Chi Bộ – tập IV, Đức Phật có dạy:
Này các Tỷ-kheo, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy nói như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
“Tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập”, câu này có nghĩa đơn giản là tâm của người tu được khéo léo tích tập. Trong đó “tích” là tích lũy, “tập” là tập hợp, nhóm họp, cất chứa, gìn giữ, vun bồi, vun đắp, tu tập trí tuệ.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, tâm của người tu không phải một cái tâm bình thường, không phải một cái tâm thông thường, không phải một cái tâm không có sự phòng hộ, bảo vệ, tu tập, tích tập, quản lí, chế ngự, kiểm soát… mà tâm của người tu là phải khéo được tích tập. Sau đó, Đức Phật cho chúng ta thấy chín phương diện của tâm được tích tập:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập?
1. "Ly tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
2. "Ly sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
3. "Ly si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
4. "Tánh không có tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
5. "Tánh không có sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
6. "Tánh không có si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
7. "Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
8. "Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
9. "Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
(Kinh Tăng Chi Bộ - Tập IV, 9. chương Chín Pháp, phẩm Chỗ cư trú các hữu tình, kinh Trí tuệ)
Bài kinh “Trụ đá”
Có rất nhiều bài kinh nói về trí tuệ, thiền định, pháp hành của Tôn giả Xá Lợi Phất. Sau đây chúng ta cùng nghe Tôn giả Xá Lợi Phất – bậc tướng quân của Chánh Pháp giảng giải lời dạy của Đức Thế Tôn để làm rõ, mở rộng bài kinh trên, chứ không tìm hiểu theo lời của những luận sư sau này. Đây là chúng ta lấy “kinh” giải thích cho kinh, chứ không lấy “luận” giải thích cho kinh.
Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Candikàputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:
– Này các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:
– Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.
Nghĩa là Đề Bà Đạt Đa lấy bài kinh của Đức Phật và thuyết pháp lại giống y như vậy. Khi nghe như thế, Tôn giả Xá Lợi Phất nói với Tôn giả Candikàputta là Đề Bà Đạt Đa thuyết pháp cho các Tỳ-kheo không đúng với tinh thần của Đức Phật. Sau ba lần như vậy, Ngài Xá Lợi Phất mới bắt đầu thuyết giảng bài kinh này:
Này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của con mắt, các sắc không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.
Ngài Xá Lợi Phất nói rằng, đối với một vị Tỳ-kheo có tâm chánh giải thoát, tức là vị Tỳ-kheo ly tham, ly sân, ly si, tánh không tham, không sân, không si… khi mắt nhìn thấy sắc thì các sắc không chinh phục được tâm vị Tỳ-kheo ấy, tâm vị ấy được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động và vị ấy tùy quán sự diệt tận của sắc đó.
Nếu các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ tai… nếu các hương do mũi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ mũi… nếu các vị do lưỡi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của lưỡi… nếu các xúc do thân nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của thân… nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý… các pháp không chinh phục, tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.
(Kinh Tăng Chi Bộ - Tập IV, chương Chín Pháp, phẩm Chỗ cư trú các hữu tình, kinh Trụ đá)
Cũng vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức, đi vào giới vứt của mắt; các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vứt của lỗ tai; các mùi hương đi vào trong mũi; những vị ngon nếm vào lưỡi; các sự xúc chạm êm ái đụng tới thân… thì vị ấy không bị ngoại trần: những sắc đẹp, những tiếng hay, những hương thơm, những vị ngon, những sự tiếp xúc, đụng chạm chinh phục tâm, tâm vị ấy được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động, bởi vì vị ấy “tùy quán sự diệt tận” của chúng. Đây là pháp hành rất sâu sắc trong sự tu học, nếu chỉ đọc kinh lướt qua thì không thể hiểu được.
Khi học kinh Nikāya thì chúng ta sẽ thấy rằng sự tu này không đơn giản như cách tu bây giờ. Sự tu học không đơn giản chỉ là niệm một câu, thở mấy hơi thở, muốn tu cái gì dễ, mở kinh ra đọc là xong. Nếu tu đơn giản như vậy thì không diệt nổi tham, sân, si, bản ngã. Trong khi đó, sự tu học này Đức Phật dạy rất kỹ để chúng ta có thể đủ sức đánh phá hết tất cả mọi góc độ, phương diện, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn.
Tích tập trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly
Đầu tiên, trong bài kinh “Trí tuệ”, Đức Phật nói rằng “tâm của người tu phải khéo tích tập”. Như đã nói, tích tập nghĩa là tích lũy, tập hợp, tích góp, tu tập, tụ tập, thực tập, tập vợt, tập luyện, khổ luyện. Từ “tập” trong tiếng Hán có nghĩa là làm tới làm lui, “tu” có nghĩa là sửa tới sửa lui đến khi nào không còn hư nữa, như vậy gọi là tu tập. Cũng như tập chạy xe đạp hay xe máy, từ té đến không còn té nữa, đến khi chạy điêu luyện thì thành những người tài xế lão luyện, chuyên nghiệp. Hoặc khi học chữ Nho, phải viết tới viết lui, ăn uống ngủ nghỉ đều nhớ đến thì mới thuộc được. Cũng vậy, “tích” là tích lũy, “tập” là tập hợp, tập vợt, tu tập, thực tập, thực hành, tập luyện để ly tham.
Vậy, tập là tập thế nào? Ví dụ, mình là người tu, đang đi một cách nhẹ nhàng, thong thả, đột nhiên thấy một cảnh quá đẹp thì nhảy vào chụp hình để đăng lên mạng xã hội, đó là tham cảnh đẹp, mất oai nghi, không có hộ trì các căn, không có thu thúc lục căn, mà thả lỏng các căn, buông lung, phóng dật. Các Phật tử nếu nhìn thấy thì sẽ nghĩ mình như thế nào? Tham vào cảnh đẹp như vậy là do không “tích tập ly tham”, đây mới chỉ là nói đến ngoại cảnh, trần cảnh, nếu là con người thì tham đến mức độ nào? Cho nên, khi thấy cảnh đẹp thì quán rằng đó chỉ là cảnh, đó là pháp diệt tận, pháp vô thường, pháp biến hoại, pháp tan hoại. Mình không nên nhớ đến nó, đừng chỉ nhìn thấy hoa nở mà không biết rằng nó sẽ tàn tạ, tả tơi. Như vậy, chúng ta cần phải quán ba pháp: vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Ba pháp quán này cực kỳ quan trọng.
Thế nào là “vị ngọt”? Khi duyên với sắc nào đó làm mình sinh ra hỷ lạc, khoan khoái, thích thú, vui sướng, đó là vị ngọt của sắc. Nó giết chết tất cả chúng sanh trong tam giới. Vì thế, chúng ta không chỉ tu đối với con người, mà còn phải tu với cảnh vật, nhiếp phục dục tham, sự thích thú, khoan khoái, yêu thích của mình đối với cảnh vật, đồ vật. Đây là Thánh trí huệ do Đức Phật chứng ngộ. Tức là cả vũ trụ, cả hành tinh, cả thế giới, cả Thái Dương hệ này, cả Tam miên Đại Thiên Thế giới này, bằng Thánh trí huệ, Đức Phật xuyên thủng qua một chữ “sắc pháp, sắc uẩn”. Phải tập nhận diện, nhắc mình thường xuyên rằng tất cả chỉ là sắc, mà sắc là vô thường, khổ và vô ngã. Thật vô cùng nguy hiểm và tác hại nếu say đắm trong các sắc và bị các sắc ràng buộc, ám ảnh. Như vậy thì mất hết đời tu của mình, khi đó “tóc mọc dài ra”, “tay bồng tay bế kèm theo tiếng oa oa”.
Tất cả chúng sanh đều bị chết bởi sắc. Không những chết mà còn chết đau, chết đớn, chết nhục, chết nhã, chết cay, chết đắng, chết tức, chết tưởi, chết bờ, chết bụi, chết không kịp chối, chết không kịp nói là cũng bởi vì vị ngọt ác độc. Có những người rõ ràng biết vào ngân hàng cướp tiền sẽ bị bỏ tù nhưng vẫn làm là tại vì mê vị ngọt này. Họ suy nghĩ rằng: “Tù thì tù nhưng cứ xài cho đã rồi tù tính sau”, đó là suy nghĩ vô minh, không biết đến tận cùng của sự nguy hại này, mà chỉ biết hậu quả trước mắt.
Thế nên, Đức Phật dạy, tu là phải phát huy sự nguy hại đến tận cùng, sung mãn. Có một bài kinh Đức Phật tâm sự với chính mình. Lúc đó Ngài tu mà vẫn chưa Chánh Giác, Ngài rà soát lại trong tâm để tìm nguyên nhân tại sao vẫn chưa giác ngộ, vẫn chưa thành tựu chánh giác, vẫn chưa thấu triệt tận cùng tất cả các pháp. Cuối cùng, Ngài mới thấy sự quán chiếu về nguy hại vẫn chưa sung mãn, vẫn chưa đầy đủ, cho nên Ngài phát huy sự nhìn sâu vào nguy hiểm và tác hại của các dục, của các sắc, của các ngũ uẩn. Ngài quán đến khi sung mãn, đầy đủ, tròn trịa thì lúc đó Ngài chứng ngộ, thành bậc Chánh Đẳng Giác. Từ đó, Ngài đi đến sự xuất ly một cách trọn vẹn thoát ra, còn nếu chưa đủ thì vẫn còn bị tham đắm.
Chúng ta không dám thử dù chỉ một chút xíu “bột trắng trắng” là vì mình biết sự tác hại và nguy hiểm của nó, nhờ đó mình rời xa, tránh xa, lìa xa, thoát xa. Thế nên, trong sự tu học này cần phát huy trí tuệ về sự nguy hiểm và tác hại, quán càng nhiều thì tự động tâm mình sẽ càng dễ rời xa, thoát ra, viễn ly, xuất ly, đoạn ly, xả ly. Nếu không quán nguy hại thì mình cứ sống đơ đơ, trơ trơ qua ngày đoạn tháng, người ta thích mình cũng thích, người ta khoái mình cũng khoái, chỉ kiềm lại một chút vậy thôi. Hơn nữa, có người thì kiềm nhưng có người thì bung ra tất cả những tham, sân, si là do sâu thẳm trong trí tuệ không nhìn ra được cái nguy hiểm, tác hại, khổ nạn, hiểm nạn, nguy nan, tai họa, tiềm ẩn hiểm họa ở trong sắc, trong dục, trong ái, trong tham. Họ không thấy trong những dục, tham, ái đó toàn là nước mắt, là máu, là chết chóc, là giành giật, là tranh đấu, là khổ ải... Vì không nhìn thấy hết sự nguy hiểm và tác hại nên mình tham đắm, chấp thủ, nắm giữ trong đó.
Chính vì vậy, trong sự tu tập này phải tích tập đầy đủ tư lương để thoát ra khỏi những nguy hại do tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã.... Vậy, thế nào là tâm “khéo” được“tích tập”?
Đó là chúng ta không ngừng tích lũy trí huệ, quán chiếu về sự diệt tận, luôn ghi nhớ: “Chết nha con, dịch nha con, chết dịch nha con, đi chơi hoài”. Thường xuyên tác ý nhắc nhở tâm rằng:“Không có giao tiếp với cư sĩ nhiều nghe không? Giao tiếp là phiền não, giao tiếp là tham, giao tiếp là ái!”. Bởi vì mầm mống của ái bên trong tâm ta còn rất dày, cho nên, lửa gần rơm không trầy thì trụa, không cháy cũng khét, không khét cũng hỏa hoạn. Vì vậy, cần phải tránh duyên, tránh xa, viễn ly, xả ly, xuất ly, đoạn ly khỏi tất cả những tham ái trói buộc. Nếu cứ nhào vào những vị ngọt trên cuộc đời này thì “ngọt mật chết ruồi. Biết bao con ruồi đã chết cũng vì không quán nguy hại, không quán xuất ly, không quán diệt tận về vị ngọt của mật.
Cũng vậy, nếu cứ lên đọc đọc, gõ gõ tìm vài bài kinh và nghĩ là tu rồi thì không thể nào thành tựu. Bởi vì người tu chúng ta phải tu trong sự quán xét, nghiền ngẫm, suy tư, chiêm nghiệm, thao thức, ray rức, giầy xéo từ sâu trong tâm của mình. Đức Phật nói là phải nước mắt đầy mặt, đấm ngực, lo lắng, sợ hãi, ưu tư, bất an lo cho phạm hạnh, lo cho sự nghiệp tu hành, lo cho đạo lộ giải thoát của mình, chứ không phải tu là khỏi lo gì nữa hết, nghĩ như vậy là sai. Người tu không cần lo về những danh lợi, tài sắc của thế gian nhưng phải lo để thành tựu Thánh Tri Kiến của bậc Thánh; lo để thành tựu gánh nặng của phạm hạnh; lo để thành tựu được Thượng Nhân Pháp; lo để diệt tận được tất cả dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Cho nên, tu là phải lo rất nhiều, chứ không phải tu mà cà lơ phất phơ, ẩn dương nương Phật qua ngày đoạn tháng, làm chùm rễ ăn bám xã hội. Tu là phải đầu tư rất nhiều tâm huyết, không ngừng suy tư, quán chiếu ngày đêm, tư duy quán sát, thiền định, thiền tư. Nhờ không ngừng quán chiếu, tư duy, tu tập như vậy nên tâm được khéo tích tập với đầy đủ trí tuệ.
Như Đức Phật đã tuyên bố:“Ly tham là tâm của ta, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ”. Nghĩa là không phải chúng ta muốn lìa tham là được ngay, mà cần phải tích tập với trí tuệ, bằng cách quán chiếu về sự nguy hiểm, tác hại, diệt tận, tan hoại của dục, tham, ái và tâm mình luôn luôn muốn thoát ra khỏi nó. Bởi lẽ, nếu mình thấy nó là hố than hừng thì có muốn nhào xuống không? Mình thấy nó là đống phân giòi thì có muốn bị dìm sâu xuống không? Mình biết nó là vực thẳm nhưng vẫn lái xe xuống luôn hay sao? Vì vậy, nhờ biết được những nguy hiểm, tác hại, thấy được sự thiêu cháy, nóng bức, nhiệt não, giết chóc, đau khổ, giành giật do dục, tham, ái đem lại mà mình muốn thoát ra. Mỗi ngày, cứ để tâm quán chiếu thật nhiều thì tự nhiên tâm sẽ rời xa ra.
Giống như khi chạy xe tới vực thẳm thì mình sẽ giật mình, đạp thắng lại và rẽ vào hướng khác ngay lập tức. Cũng vậy, khi thấy các dục, các sắc là vực thẳm, là hố sâu, là đau khổ, là nước mắt, là máu, là tai họa, là hiểm nguy, là hiểm nạn, là tai nạn, là khổ nạn, là khốn nạn, là nguy nan, là ách nạn. Trong kinh Nikāya Đức Phật dùng rất nhiều từ để quán chiếu, những từ đó là những pháp quán làm sanh khởi cảm thọ, cảm xúc, ví dụ như “ớn quá”, “ngao ngán quá”, “nhàm chán quá”, “nguy hiểm quá” .
Cứ tác ý, quán chiếu mỗi ngày như vậy gọi là tích tập, từ này cũng giống như các từ: tu tập, luyện tập, thực tập, thực hành, nhưng chữ “tích tập” rất hay, hiện tại chúng ta cũng đang tích tập. Tức là sau khi nghe pháp xong, mình cất giữ vào trong cảm thọ, suy tư, nhận thức của mình. Chúng ta đem vào, chất vào tâm này mỗi ngày một chút, một chút và biết giữ gìn, thực tập, đó gọi là thọ trì. Còn nghe xong mà từ lỗ tai này qua lỗ tai kia rồi lọt mất tiêu hết thì Đức Phật gọi là “trí tuệ bắp vế”, tức là để bánh, để kẹo lên bắp đùi lúc ngồi, đến khi đứng lên là rớt hết, không còn cái gì.
Cũng vậy, khi nghe pháp, chúng ta phải đưa những trí tuệ đó vào vào sâu trong cảm giác, cảm thọ của mình, đồng thời chất chứa vào trong suy nghĩ, tư tưởng, nhận thức để thường xuyên quán chiếu. Mình cất giữ những cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng, nhận thức đó giống như báu vật, kim cương, vàng rồng. Sau đó, mỗi ngày phải lấy ra nghiền ngẫm, tác ý, chiêm nghiệm thì mới thâm nhập được Thánh Tri Kiến, thể nhập được sự thấy, biết của bậc Thánh. Bằng không sẽ mãi mãi, vĩnh viễn sống trong phàm phu, ngu si, mê muội, tham ái, chấp thủ, say đắm, chìm đắm, đam mê, ngu xuẩn, khao khát, khát ái, thèm thuồng, nghèo đói, hèn hạ, đê tiện trong vị ngọt đó. Tất cả chúng sanh nếu không tu đều sẽ như vậy.
Điều đặc biệt ở trong kinh Nikāya là đưa những lời Phật dạy vào sâu trong cảm thọ, khai mở trí tuệ để chuyển hóa những nhận thức phàm phu, những thấy biết theo vô minh, những say đắm trong vị ngọt thành sự thấy biết của bậc Thánh. Vị ngọt này đầy rẫy khốn nạn, khốn đốn, hoạn nạn, ách nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan nhưng chúng sanh vì điên loạn, mù lòa, si ám, vô minh nên vẫn chạy theo, đuổi theo, tìm kiếm, truy tầm, khao khát, thèm thuồng, dù chết vô số lần nhưng vẫn không tỉnh. Chúng ta như những người giết người bị tuyên án tử hình mà vẫn đứng cười, ngu si, thật sự vô minh không thể nói. Khi không còn tàm quý, xấu hổ, sợ hãi gì nữa, đó là tận cùng của vô minh.
Trái tim Thánh pháp
Cho nên, trái tim của Đức Phật, con mắt của mười hai phần giáo, cốt tủy của toàn bộ Đại tạng Nikāya nằm ở chỗ khi nhìn lại là biết tâm đang ở trạng thái nào. Có chín phương diện về tâm được khéo tích tập được Đức Phật nêu rõ.
"Ly tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. Tâm mình có ly tham đối với sắc chưa? Khấy cảnh đẹp có tham, có thích, có muốn, có ưa, có lưu luyến, có bịn rịn muốn chụp hình không, có đăng lên khoe không? Lâu lâu có tự xem lại những hình ảnh quá khứ rồi cười một mình và thấy đã, sướng, khoái không? Những hình ảnh đó là sắc quá khứ, nếu còn ưa thích sắc là còn ưa thích khổ, vì sắc là pháp diệt tận.
"Ly sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. Tâm mình có lìa sân chưa? Nếu đã ly sân, không ưa sân nữa thì khi có một cảm giác bực bội sanh khởi là lập tức tẩy sạch, diệt tận, đánh đuổi ngay lập tức. Ngược lại, cứ giận ba ngày, bảy ngày, có khi cả tháng, mấy tháng vẫn còn chưa hết thì như vậy là không có “tích tập ly sân”. Khi đó, mình còn chấp nhận cảm giác bực bội, còn ưa thích cảm thọ sân hận, còn chất chứa những cảm giác nóng đốt, thiêu. Còn khi có sự “tích tập ly sân” thì lúc lồng ngực vừa ấm ấm, cảm giác sân giận vừa mống khởi, chúng ta tác ý ngay: “Thôi nha, đừng quậy, đừng đốt nhà, đốt chùa nha con, đừng phóng hỏa, giết người nha con. An tịnh, mát mẻ, lắng dịu, ngọt ngào, thanh lương đi. Hãy biến hoàn toàn khỏi tâm ta hỡi những cảm giác ngu si, mê muội, sân hận này. Ta sẽ tẩy sạch và diệt tận tất cả”. Cứ tác ý hoài như vậy sẽ quen, sau này mới vừa bực bội thì tác ý: “Có gì đâu mà giận”. Đó mới là “khéo tích tập”, khéo léo “tích tập”, thiện xảo “tích tập”, “tích tập” một cách nghệ thuật, một cách mĩ thuật, “tích tập” rất là đẹp. Giống như chơi bóng đá, mình chơi thiệt là đẹp, thì sự tu tập của mình cũng vậy, phải khéo léo, thiện xảo trong sự quán tâm, trong sự tẩy rửa những sân hận, cấu uế, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu của mình.
"Ly si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. Tâm mình có ly si chưa hay ngồi tu học mà hai mắt đờ ra, mặt thảm sầu? Vậy mà không chịu tích tập ly si, cứ dung túng những cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, khờ khờ, si si, không chịu đánh đuổi, tẩy sạch, diệt tận chúng. Thế nên ngồi tu học một lúc là đơ đơ, xong nghiêng nghiêng đầu, rồi rạp cả người xuống luôn. Thật tồi bại, thấp hèn vì không tích tập ly si, mà lại chấp nhận cảm giác si, chấp nhận hôn trầm, chấp nhận vô minh. Ngày nào cũng để cho si mê xâm chiếm mà không chịu tích tập tỉnh giác, chánh niệm. Thậm chí còn để cho cái si sanh khởi, an trú, xâm chiếm, áp đảo, lật ngã mình ngay pháp hội linh thiêng của các bậc hiền trí. Người ta ở trong ánh sáng, mình ở trong bóng đêm si ám, ngu si.
Hơn nữa, mình cũng chưa từng biết chiến đấu, không biết đưa ra những phương pháp tác chiến làm sao để hai con mắt mở lên giống như Tôn Ngộ Không từ lò Bát Quái thoát ra, nhìn tới đâu xẹt tới đó. Phải dùng con mắt trí huệ của Ngộ Không, tác ý: “Thật là xót thương cho mi, thật là tội nghiệp cho mi, thật là đau khổ cho mi, đi tu mà một đống si mê”. Thường xuyên la rầy tâm, quở trách tâm, chửi mắng tâm của mình: “Mày đi tu mấy năm mà một đống ngu si vậy hả, mày đi tu bao nhiêu năm báo cha, báo mẹ để giờ mày tham lam phải không, mày đi tu mà gặp ai cũng sân hận hết phải không, mày có nhục nhã không, mày có tồi bại không”. Đó chính là tuệ lực, là Thánh Tư duy, là sức mạnh của trí huệ, là suy nghĩ của Bậc Thánh, là suy nghĩ chân chánh.
Chúng ta phải dùng Như lý tác ý đánh mạnh vào những si mê trong nội tâm này để nhiệt tâm, tinh cần tu học. Còn cứ đơ đơ, trơ trơ, tu ngày càng tệ, ngày càng buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn, bất kính, vô lễ… thì cuộc đời tu của mình là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải tác ý mạnh, làm cho cảm thọ trong tâm sợ hãi, làm cho những con ma buông lung phóng dật, những con ma thả lỏng run sợ, không dám ngủ nữa. Đó gọi là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ. Cần tác ý mỗi ngày, lúc có si càng phải tác ý và cả khi chưa có si cũng phải tác ý, vì đợi đến khi si mê mới tác ý thì sẽ không kịp. Nếu bình thường mình không tác ý, không thao vợt, không rèn binh luyện tướng, không có chuẩn bị, không có sửa soạn, lúc lâm trận vũ khí đã hư hỏng, súng không có đạn… như vậy thì làm sao chiến đấu được. Cho nên, Đức Phật dùng từ “tích tập” hay vô cùng và đồng thời Ngài còn thêm chữ “khéo”, tức là phải khéo léo tích tập trí tuệ trong sự tu học này.
“Tánh không có chuyển hướng về dục hữu”, trong đó, “dục hữu” là dục giới, tức là tâm mình lìa tham đối với thế giới của dục, “không có chuyển hướng” là không quay lại nữa. Ví dụ, đây là dục giới, thế giới của dục, tâm của người tu ly tham, muốn hướng đi ra ngoài, thế nên phải củng cố, tích tập, tu tập, tác ý, nghĩ nhớ, quán chiếu, tư duy, thiền định để làm sao đi ra chứ không chuyển hướng quay vào trở lại.
Nếu tu không đúng Chánh Pháp, tu không được bậc Đại Thiện tri thức, Chánh tri kiến chỉ dẫn thì mình sẽ không có tâm đi ra này. Còn khi thành tựu được tâm hướng đi ra này một cách mạnh mẽ và xác quyết một trăm phần trăm là đạt Dự Lưu, Tu-đà-hoàn. Khi tâm hướng đi ra này vô cùng mãnh mẽ, lớn lao thì lúc đó là Hướng Dự Lưu. Khi quyết định trăm phần trăm đi ra không còn quay lại nữa là đạt Nhập Lưu. Còn đa số chúng ta đều lẩn quẩn trong ngũ uẩn này không muốn ra thì đó là “nhập Thai”, tức là ở trong địa vị của phàm phu. Chỉ khi nào tâm mình xác quyết muốn hướng ra khỏi ngũ uẩn, ra khỏi tam giới thì lúc đó mới bắt đầu dự vào bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật.
Tương tự, câu thứ tám là “sắc hữu, tức là cõi sắc, cõi của chư Thiên. Câu thứ chín là “vô sắc hữu” là cõi không có sắc của các tầng Trời cao cấp, không có sắc tướng, hình tướng nữa mà chỉ sống bằng tâm tưởng, thọ, tưởng, hành. Nhưng những cảnh giới đó rất là vi tế và tuổi thọ rất khủng khiếp…
Như vậy, qua bài kinh “Trí tuệ”, Đức Phật đã dạy cho chúng ta biết thế nào “khéo tích tập trí tuệ” trong sự tu tập này để đi đến chỗ xa lìa, thoát ra tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Qua đó, chúng ta cũng thấy rằng, sự diệt tận tham, sân, si không hề đơn giản, chỉ bậc Thánh mới thấy tham, sân, si đến hết nguồn cơn. Không được xem thường tham, sân, si, vì bất cứ lúc nào cũng có thể chết vì nó, chết tức, chết tưởi, chết bờ, chết bụi, chết từ vô lượng kiếp tới giờ, chết không kịp ngáp, chết không kịp chôn, chết không kịp chối, chết nhục, chết nhã, chết cay, chết đắng là với tham, sân, si này. Vì thế, đừng bao giờ xem thường phiền não, đừng xem thường những sắc dục, nó đã nuốt mình vô lượng, vô biên kiếp.
Một người tu chân chánh là một người tu thao thức, trăn trở, đau khổ, dày vò, luôn luôn phải tìm đủ mọi cách dùng những phương pháp, tác chiến, chiến thuật, chiến lược để chiến thắng. “Kẻ địch gian ác nhất trên thế gian này là dục”. Trong Tây du kí, Tôn Ngộ Không bảy mươi hai phép thần thông, mắt lửa tròng vang, cây thiết bảng quậy từ Long Cung cho đến Thiên Đình, dùng đủ mọi cách mà còn chiến thắng không nỗi mấy con yêu tinh. Mấy con yêu tinh đó đại diện cho dục, tham, sân, si, bản ngã. Chúng không phải bên ngoài, mà ở ngay trong tâm, trong ngũ uẩn, trong những cảm giác, nghĩ, tưởng của mình. Do nhìn không thấy nên cứ tưởng tham, sân, si, vô minh, bản ngã chỉ ở bên ngoài.
Cho nên trong Tây du kí, ban đầu yêu quái và thầy trò Đường Tăng đánh nhau dữ dội, đến cuối cùng chủ nhân của các con yêu quái đó đến thu phục chúng, quăng cái vòng cổ xuống là nó biến thành con sư tử và các vị đó nói: “Con này là đồ cưỡi của tôi, là vật nuôi trong nhà”. “Trong nhà” nghĩa là ở trong nội tâm chính mình, chứ không phải đâu xa. Thế nhưng, trong nội tâm mình là cọp, là beo, là sư tử, là rắn rết, là bò cạp; trong nội tâm mình là những cái ác bất thiện pháp, những rác bẩn, cấu nhiễm, cấu uế, man trá, xảo ngụy, kiêu căng, phóng dật, cao ngạo, bản ngã. Trong tâm này đầy dẫy ác và bất thiện pháp nhưng mà mình không thấy, suốt ngày chỉ lo nhìn người ta. Vì con mắt chỉ nhìn ra bên ngoài, không có nhìn vào trong nên suốt ngày cứ phê, làm quan tòa, thẩm phán, chánh án xét xử người khác nhưng không thấy “tim, gan, phèo, phổi” của chính mình.
Như vậy, sự nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta đang học là “quay ngược trở lại để nhìn vào bên trong”. Nhìn vào bên trong để xem hình bóng bên trong là hình bóng gì, suy nghĩ bên trong là suy nghĩ cái gì, cảm giác bên trong là cảm giác gì. Khi có cái gì ở trong tâm thì phải nhìn thấy, nếu bên trong có tham, dục, ái là phải tác ý, chế ngự, nhiếp phục và phải đoạn tận, tẩy sạch. Nếu có sận hận là phải làm cho an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Tu tập tâm hiền, tâm từ, nếu có si mê phải dùng tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ đánh phá cho tỉnh giác, chánh niệm, trí tuệ.
Cốt tủy của sự tu
Sự tu này không phải một ngày, một tuần, một tháng, mà là sự tích tập nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều đời. Có người chỉ mới tu ba tháng, sáu tháng, tám tháng, năm năm, thọ giới xong thì vênh vênh, váo váo, lơ lơ, láo láo, hỗn láo, bất kính với các bậc trưởng thượng, nghĩ rằng: “Tôi là Tỳ-kheo, ông cũng Tỳ-kheo”, những điều này là hết sức nguy hiểm, đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bởi lẽ, càng tu lâu, giới đức càng cao thì sự khiêm hạ, cung kính của mình càng phải tăng trưởng và phát triển, đó mới là thuận pháp. Còn mới thọ giới, học được một chút thì xem thầy tổ, giáo thọ không ra gì thì những thứ đó là tai họa, là sự thối đọa ở trong thiện pháp. “Thối” là lùi lại, “đọa” là rơi xuống, nghĩa là rơi xuống vực sâu mà người đó không sợ, không biết.
Cho nên, hai chữ “tàm quý” trong kinh tạng Nikāya, tức là xấu hổ và sợ hãi là hai pháp quyết định Thánh quả. Minh Thành chia sẻ rất nhiều về chủ đề “Nhục nhã sanh Thánh quả”, bởi vì trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật có nói:” Dòng chảy của tàm quý đưa đến Thánh quả”. Nếu trong tâm một người không thấy xấu hổ khi mình tham dục, không thấy xấu hổ khi mình sân hận, không thấy xấu hổ khi mình si mê, không thấy xấu hổ khi mình bản ngã, ta đây, người này không thấy xấu hổ, không thấy nhục nhã, không thấy lo sợ gì hết thì người này hết thuốc chữa. Mặt khác, nếu người này còn nhìn lại, còn thấy sám hối, còn thấy xấu hổ, còn thấy lo sợ, còn thấy sai trái thì người này có khả năng cứu chữa. Người càng thấy nhiều những xấu hổ, tàm quý chừng nào thì càng dễ dàng nhập vào Thánh quả, Thánh đạo. Thế nên, tàm quý là hai pháp rất quan trọng, quyết định sự tu của mình. Một người trơ trơ, đơ đơ, làm ác, làm bất thiện pháp mà cũng không biết tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn thì người này chắc chắn sẽ rơi vào tam đường ác đạo.
Chính vì vậy, chúng ta tự nhìn lại mình và khéo léo “tích tập”, nếu tu mà để rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì uổng phí vô cùng. Phải cẩn thận thật nhiều đối với nghiệp quả; cẩn thận thật nhiều đối với từng suy nghĩ, từng cảm thọ, từng hình bóng trong tâm. Luôn quán sát, kiểm tra, kiểm soát, theo dõi từng ý niệm, từng suy nghĩ xem đó là thiện hay bất thiện; suy nghĩ này có tham hay ly tham; suy nghĩ này có dục hay không; suy nghĩ này có ái hay không; suy nghĩ này có sân hay không; các cảm thọ này có tham lam, sân hận, si mê hay không, nếu có phải lập tức tác ý diệt trừ. Đây là sự tích tập khéo léo mỗi ngày để diệt tận tất cả những rác bẩn, lấy chổi chà quét nó ra khỏi căn nhà nội tâm trong sạch của mình. Bằng không trong tâm mình toàn chất chứa những rác bẩn, cấu uế, cấu nhiễm. Tu càng ngày cấu nhiễm càng nhiều mà mình không biết gì thì thật quá đau đớn, đau xót, đau lòng, đau khổ, vì càng tu càng đi tới lậu hoặc, càng tu càng đi đến những cấu bẩn.
Trong sự tu của chúng ta, Đức Phật có dạy rằng:
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
(Kinh Pháp cú – phẩm Hiền trí – kệ 76)
Phật dạy, người nào được bậc Hiền trí chỉ lỗi và khiển trách, giống như chỉ chỗ chôn vàng, cần phải biết ơn các vị ấy. Chúng ta dễ thấy rằng, sự tu bây giờ không ai dám nói đến ai nữa, vì nói sẽ đụng chạm, để mặc ai làm gì làm, cứ như vậy thì những ác bất thiện pháp sanh khởi càng nhiều. Nếu bây giờ mình may mắn được gặp những bậc Hiền trí chỉ lỗi, nhắc nhở, giống như chỉ mình kho báu, đó mới đúng là tâm của người tu. Thông thường, chúng sanh thích được o bế, nói ngọt, khen tặng mà không biết đó là nói dóc, nói gạt nhưng họ lại khoái, thích những lời không đúng sự thật đó.
Vì vậy, chúng ta phải nhìn ra được đâu là vị nói lời chân thành, chân chánh, chân thật, chân pháp, đó mới là giá trị, quý giá, mình tu để tìm sự chân thật đó. Đức Phật gọi là chân nhân, là bậc hiếm có ở trên đời, bậc Hiền Thánh. Rất khó gặp những bậc như vậy trong vô lượng, vô biên kiếp chứ đừng nói trong một đời. Những vị đó là những vị thành tựu được Thánh tri kiến, Thánh trí huệ, Thượng nhân pháp, thành tựu những đức hạnh cao quý, hiền thiện mà chúng sanh không thể có. Bằng tâm chân thành, tha thiết, khát ngưỡng, tôn trọng, tôn kính thì mình sẽ gặp được những bậc ấy. Những bậc ấy sẽ khai hóa, chỉ điểm cho mình thấy những thứ mà mình không thể tưởng tượng được trên cuộc đời này. Minh Thành là người hết sức may mắn khi gặp được bậc chân nhân, thánh nhân. Khi được vị ấy chỉ dẫn thì Minh Thành sốc toàn tập, vì trước này cứ tưởng tượng mình tu ngon lắm, tới chừng được chỉ rõ ra thì mình giật mình, vô cùng xấu hổ và tàm quý.
TƯƠNG ƯNG THỌ 1 – CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế nào là tâm được khéo tích tập PAGEREF _Toc100719020 \h 1
1.Bài kinh “Trí tuệ” PAGEREF _Toc100719021 \h 1
2.Bài kinh “Trụ đá” PAGEREF _Toc100719022 \h 2
II.Tích tập trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly PAGEREF _Toc100719023 \h 4
III.Trái tim Thánh pháp PAGEREF _Toc100719024 \h 9
IV.Cốt tủy của sự tu PAGEREF _Toc100719025 \h 13
Thế nào là tâm được khéo tích tập
Bài kinh “Trí tuệ”
Trong bài kinh “Trí tuệ”, kinh Tăng Chi Bộ – tập IV, Đức Phật có dạy:
Này các Tỷ-kheo, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy nói như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
“Tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập”, câu này có nghĩa đơn giản là tâm của người tu được khéo léo tích tập. Trong đó “tích” là tích lũy, “tập” là tập hợp, nhóm họp, cất chứa, gìn giữ, vun bồi, vun đắp, tu tập trí tuệ.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, tâm của người tu không phải một cái tâm bình thường, không phải một cái tâm thông thường, không phải một cái tâm không có sự phòng hộ, bảo vệ, tu tập, tích tập, quản lí, chế ngự, kiểm soát… mà tâm của người tu là phải khéo được tích tập. Sau đó, Đức Phật cho chúng ta thấy chín phương diện của tâm được tích tập:
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập?
1. "Ly tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
2. "Ly sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
3. "Ly si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
4. "Tánh không có tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
5. "Tánh không có sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
6. "Tánh không có si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
7. "Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
8. "Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
9. "Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.
(Kinh Tăng Chi Bộ - Tập IV, 9. chương Chín Pháp, phẩm Chỗ cư trú các hữu tình, kinh Trí tuệ)
Bài kinh “Trụ đá”
Có rất nhiều bài kinh nói về trí tuệ, thiền định, pháp hành của Tôn giả Xá Lợi Phất. Sau đây chúng ta cùng nghe Tôn giả Xá Lợi Phất – bậc tướng quân của Chánh Pháp giảng giải lời dạy của Đức Thế Tôn để làm rõ, mở rộng bài kinh trên, chứ không tìm hiểu theo lời của những luận sư sau này. Đây là chúng ta lấy “kinh” giải thích cho kinh, chứ không lấy “luận” giải thích cho kinh.
Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Candikàputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:
– Này các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.
Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:
– Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””. Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: “Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: “Ta rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa””.
Nghĩa là Đề Bà Đạt Đa lấy bài kinh của Đức Phật và thuyết pháp lại giống y như vậy. Khi nghe như thế, Tôn giả Xá Lợi Phất nói với Tôn giả Candikàputta là Đề Bà Đạt Đa thuyết pháp cho các Tỳ-kheo không đúng với tinh thần của Đức Phật. Sau ba lần như vậy, Ngài Xá Lợi Phất mới bắt đầu thuyết giảng bài kinh này:
Này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của con mắt, các sắc không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.
Ngài Xá Lợi Phất nói rằng, đối với một vị Tỳ-kheo có tâm chánh giải thoát, tức là vị Tỳ-kheo ly tham, ly sân, ly si, tánh không tham, không sân, không si… khi mắt nhìn thấy sắc thì các sắc không chinh phục được tâm vị Tỳ-kheo ấy, tâm vị ấy được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động và vị ấy tùy quán sự diệt tận của sắc đó.
Nếu các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ tai… nếu các hương do mũi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ mũi… nếu các vị do lưỡi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của lưỡi… nếu các xúc do thân nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của thân… nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý… các pháp không chinh phục, tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.
(Kinh Tăng Chi Bộ - Tập IV, chương Chín Pháp, phẩm Chỗ cư trú các hữu tình, kinh Trụ đá)
Cũng vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức, đi vào giới vứt của mắt; các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vứt của lỗ tai; các mùi hương đi vào trong mũi; những vị ngon nếm vào lưỡi; các sự xúc chạm êm ái đụng tới thân… thì vị ấy không bị ngoại trần: những sắc đẹp, những tiếng hay, những hương thơm, những vị ngon, những sự tiếp xúc, đụng chạm chinh phục tâm, tâm vị ấy được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động, bởi vì vị ấy “tùy quán sự diệt tận” của chúng. Đây là pháp hành rất sâu sắc trong sự tu học, nếu chỉ đọc kinh lướt qua thì không thể hiểu được.
Khi học kinh Nikāya thì chúng ta sẽ thấy rằng sự tu này không đơn giản như cách tu bây giờ. Sự tu học không đơn giản chỉ là niệm một câu, thở mấy hơi thở, muốn tu cái gì dễ, mở kinh ra đọc là xong. Nếu tu đơn giản như vậy thì không diệt nổi tham, sân, si, bản ngã. Trong khi đó, sự tu học này Đức Phật dạy rất kỹ để chúng ta có thể đủ sức đánh phá hết tất cả mọi góc độ, phương diện, căn, trần, thức, xứ, giới, uẩn.
Tích tập trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly
Đầu tiên, trong bài kinh “Trí tuệ”, Đức Phật nói rằng “tâm của người tu phải khéo tích tập”. Như đã nói, tích tập nghĩa là tích lũy, tập hợp, tích góp, tu tập, tụ tập, thực tập, tập vợt, tập luyện, khổ luyện. Từ “tập” trong tiếng Hán có nghĩa là làm tới làm lui, “tu” có nghĩa là sửa tới sửa lui đến khi nào không còn hư nữa, như vậy gọi là tu tập. Cũng như tập chạy xe đạp hay xe máy, từ té đến không còn té nữa, đến khi chạy điêu luyện thì thành những người tài xế lão luyện, chuyên nghiệp. Hoặc khi học chữ Nho, phải viết tới viết lui, ăn uống ngủ nghỉ đều nhớ đến thì mới thuộc được. Cũng vậy, “tích” là tích lũy, “tập” là tập hợp, tập vợt, tu tập, thực tập, thực hành, tập luyện để ly tham.
Vậy, tập là tập thế nào? Ví dụ, mình là người tu, đang đi một cách nhẹ nhàng, thong thả, đột nhiên thấy một cảnh quá đẹp thì nhảy vào chụp hình để đăng lên mạng xã hội, đó là tham cảnh đẹp, mất oai nghi, không có hộ trì các căn, không có thu thúc lục căn, mà thả lỏng các căn, buông lung, phóng dật. Các Phật tử nếu nhìn thấy thì sẽ nghĩ mình như thế nào? Tham vào cảnh đẹp như vậy là do không “tích tập ly tham”, đây mới chỉ là nói đến ngoại cảnh, trần cảnh, nếu là con người thì tham đến mức độ nào? Cho nên, khi thấy cảnh đẹp thì quán rằng đó chỉ là cảnh, đó là pháp diệt tận, pháp vô thường, pháp biến hoại, pháp tan hoại. Mình không nên nhớ đến nó, đừng chỉ nhìn thấy hoa nở mà không biết rằng nó sẽ tàn tạ, tả tơi. Như vậy, chúng ta cần phải quán ba pháp: vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly. Ba pháp quán này cực kỳ quan trọng.
Thế nào là “vị ngọt”? Khi duyên với sắc nào đó làm mình sinh ra hỷ lạc, khoan khoái, thích thú, vui sướng, đó là vị ngọt của sắc. Nó giết chết tất cả chúng sanh trong tam giới. Vì thế, chúng ta không chỉ tu đối với con người, mà còn phải tu với cảnh vật, nhiếp phục dục tham, sự thích thú, khoan khoái, yêu thích của mình đối với cảnh vật, đồ vật. Đây là Thánh trí huệ do Đức Phật chứng ngộ. Tức là cả vũ trụ, cả hành tinh, cả thế giới, cả Thái Dương hệ này, cả Tam miên Đại Thiên Thế giới này, bằng Thánh trí huệ, Đức Phật xuyên thủng qua một chữ “sắc pháp, sắc uẩn”. Phải tập nhận diện, nhắc mình thường xuyên rằng tất cả chỉ là sắc, mà sắc là vô thường, khổ và vô ngã. Thật vô cùng nguy hiểm và tác hại nếu say đắm trong các sắc và bị các sắc ràng buộc, ám ảnh. Như vậy thì mất hết đời tu của mình, khi đó “tóc mọc dài ra”, “tay bồng tay bế kèm theo tiếng oa oa”.
Tất cả chúng sanh đều bị chết bởi sắc. Không những chết mà còn chết đau, chết đớn, chết nhục, chết nhã, chết cay, chết đắng, chết tức, chết tưởi, chết bờ, chết bụi, chết không kịp chối, chết không kịp nói là cũng bởi vì vị ngọt ác độc. Có những người rõ ràng biết vào ngân hàng cướp tiền sẽ bị bỏ tù nhưng vẫn làm là tại vì mê vị ngọt này. Họ suy nghĩ rằng: “Tù thì tù nhưng cứ xài cho đã rồi tù tính sau”, đó là suy nghĩ vô minh, không biết đến tận cùng của sự nguy hại này, mà chỉ biết hậu quả trước mắt.
Thế nên, Đức Phật dạy, tu là phải phát huy sự nguy hại đến tận cùng, sung mãn. Có một bài kinh Đức Phật tâm sự với chính mình. Lúc đó Ngài tu mà vẫn chưa Chánh Giác, Ngài rà soát lại trong tâm để tìm nguyên nhân tại sao vẫn chưa giác ngộ, vẫn chưa thành tựu chánh giác, vẫn chưa thấu triệt tận cùng tất cả các pháp. Cuối cùng, Ngài mới thấy sự quán chiếu về nguy hại vẫn chưa sung mãn, vẫn chưa đầy đủ, cho nên Ngài phát huy sự nhìn sâu vào nguy hiểm và tác hại của các dục, của các sắc, của các ngũ uẩn. Ngài quán đến khi sung mãn, đầy đủ, tròn trịa thì lúc đó Ngài chứng ngộ, thành bậc Chánh Đẳng Giác. Từ đó, Ngài đi đến sự xuất ly một cách trọn vẹn thoát ra, còn nếu chưa đủ thì vẫn còn bị tham đắm.
Chúng ta không dám thử dù chỉ một chút xíu “bột trắng trắng” là vì mình biết sự tác hại và nguy hiểm của nó, nhờ đó mình rời xa, tránh xa, lìa xa, thoát xa. Thế nên, trong sự tu học này cần phát huy trí tuệ về sự nguy hiểm và tác hại, quán càng nhiều thì tự động tâm mình sẽ càng dễ rời xa, thoát ra, viễn ly, xuất ly, đoạn ly, xả ly. Nếu không quán nguy hại thì mình cứ sống đơ đơ, trơ trơ qua ngày đoạn tháng, người ta thích mình cũng thích, người ta khoái mình cũng khoái, chỉ kiềm lại một chút vậy thôi. Hơn nữa, có người thì kiềm nhưng có người thì bung ra tất cả những tham, sân, si là do sâu thẳm trong trí tuệ không nhìn ra được cái nguy hiểm, tác hại, khổ nạn, hiểm nạn, nguy nan, tai họa, tiềm ẩn hiểm họa ở trong sắc, trong dục, trong ái, trong tham. Họ không thấy trong những dục, tham, ái đó toàn là nước mắt, là máu, là chết chóc, là giành giật, là tranh đấu, là khổ ải... Vì không nhìn thấy hết sự nguy hiểm và tác hại nên mình tham đắm, chấp thủ, nắm giữ trong đó.
Chính vì vậy, trong sự tu tập này phải tích tập đầy đủ tư lương để thoát ra khỏi những nguy hại do tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã.... Vậy, thế nào là tâm “khéo” được“tích tập”?
Đó là chúng ta không ngừng tích lũy trí huệ, quán chiếu về sự diệt tận, luôn ghi nhớ: “Chết nha con, dịch nha con, chết dịch nha con, đi chơi hoài”. Thường xuyên tác ý nhắc nhở tâm rằng:“Không có giao tiếp với cư sĩ nhiều nghe không? Giao tiếp là phiền não, giao tiếp là tham, giao tiếp là ái!”. Bởi vì mầm mống của ái bên trong tâm ta còn rất dày, cho nên, lửa gần rơm không trầy thì trụa, không cháy cũng khét, không khét cũng hỏa hoạn. Vì vậy, cần phải tránh duyên, tránh xa, viễn ly, xả ly, xuất ly, đoạn ly khỏi tất cả những tham ái trói buộc. Nếu cứ nhào vào những vị ngọt trên cuộc đời này thì “ngọt mật chết ruồi. Biết bao con ruồi đã chết cũng vì không quán nguy hại, không quán xuất ly, không quán diệt tận về vị ngọt của mật.
Cũng vậy, nếu cứ lên đọc đọc, gõ gõ tìm vài bài kinh và nghĩ là tu rồi thì không thể nào thành tựu. Bởi vì người tu chúng ta phải tu trong sự quán xét, nghiền ngẫm, suy tư, chiêm nghiệm, thao thức, ray rức, giầy xéo từ sâu trong tâm của mình. Đức Phật nói là phải nước mắt đầy mặt, đấm ngực, lo lắng, sợ hãi, ưu tư, bất an lo cho phạm hạnh, lo cho sự nghiệp tu hành, lo cho đạo lộ giải thoát của mình, chứ không phải tu là khỏi lo gì nữa hết, nghĩ như vậy là sai. Người tu không cần lo về những danh lợi, tài sắc của thế gian nhưng phải lo để thành tựu Thánh Tri Kiến của bậc Thánh; lo để thành tựu gánh nặng của phạm hạnh; lo để thành tựu được Thượng Nhân Pháp; lo để diệt tận được tất cả dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã.
Cho nên, tu là phải lo rất nhiều, chứ không phải tu mà cà lơ phất phơ, ẩn dương nương Phật qua ngày đoạn tháng, làm chùm rễ ăn bám xã hội. Tu là phải đầu tư rất nhiều tâm huyết, không ngừng suy tư, quán chiếu ngày đêm, tư duy quán sát, thiền định, thiền tư. Nhờ không ngừng quán chiếu, tư duy, tu tập như vậy nên tâm được khéo tích tập với đầy đủ trí tuệ.
Như Đức Phật đã tuyên bố:“Ly tham là tâm của ta, như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ”. Nghĩa là không phải chúng ta muốn lìa tham là được ngay, mà cần phải tích tập với trí tuệ, bằng cách quán chiếu về sự nguy hiểm, tác hại, diệt tận, tan hoại của dục, tham, ái và tâm mình luôn luôn muốn thoát ra khỏi nó. Bởi lẽ, nếu mình thấy nó là hố than hừng thì có muốn nhào xuống không? Mình thấy nó là đống phân giòi thì có muốn bị dìm sâu xuống không? Mình biết nó là vực thẳm nhưng vẫn lái xe xuống luôn hay sao? Vì vậy, nhờ biết được những nguy hiểm, tác hại, thấy được sự thiêu cháy, nóng bức, nhiệt não, giết chóc, đau khổ, giành giật do dục, tham, ái đem lại mà mình muốn thoát ra. Mỗi ngày, cứ để tâm quán chiếu thật nhiều thì tự nhiên tâm sẽ rời xa ra.
Giống như khi chạy xe tới vực thẳm thì mình sẽ giật mình, đạp thắng lại và rẽ vào hướng khác ngay lập tức. Cũng vậy, khi thấy các dục, các sắc là vực thẳm, là hố sâu, là đau khổ, là nước mắt, là máu, là tai họa, là hiểm nguy, là hiểm nạn, là tai nạn, là khổ nạn, là khốn nạn, là nguy nan, là ách nạn. Trong kinh Nikāya Đức Phật dùng rất nhiều từ để quán chiếu, những từ đó là những pháp quán làm sanh khởi cảm thọ, cảm xúc, ví dụ như “ớn quá”, “ngao ngán quá”, “nhàm chán quá”, “nguy hiểm quá” .
Cứ tác ý, quán chiếu mỗi ngày như vậy gọi là tích tập, từ này cũng giống như các từ: tu tập, luyện tập, thực tập, thực hành, nhưng chữ “tích tập” rất hay, hiện tại chúng ta cũng đang tích tập. Tức là sau khi nghe pháp xong, mình cất giữ vào trong cảm thọ, suy tư, nhận thức của mình. Chúng ta đem vào, chất vào tâm này mỗi ngày một chút, một chút và biết giữ gìn, thực tập, đó gọi là thọ trì. Còn nghe xong mà từ lỗ tai này qua lỗ tai kia rồi lọt mất tiêu hết thì Đức Phật gọi là “trí tuệ bắp vế”, tức là để bánh, để kẹo lên bắp đùi lúc ngồi, đến khi đứng lên là rớt hết, không còn cái gì.
Cũng vậy, khi nghe pháp, chúng ta phải đưa những trí tuệ đó vào vào sâu trong cảm giác, cảm thọ của mình, đồng thời chất chứa vào trong suy nghĩ, tư tưởng, nhận thức để thường xuyên quán chiếu. Mình cất giữ những cảm giác, suy nghĩ, tư tưởng, nhận thức đó giống như báu vật, kim cương, vàng rồng. Sau đó, mỗi ngày phải lấy ra nghiền ngẫm, tác ý, chiêm nghiệm thì mới thâm nhập được Thánh Tri Kiến, thể nhập được sự thấy, biết của bậc Thánh. Bằng không sẽ mãi mãi, vĩnh viễn sống trong phàm phu, ngu si, mê muội, tham ái, chấp thủ, say đắm, chìm đắm, đam mê, ngu xuẩn, khao khát, khát ái, thèm thuồng, nghèo đói, hèn hạ, đê tiện trong vị ngọt đó. Tất cả chúng sanh nếu không tu đều sẽ như vậy.
Điều đặc biệt ở trong kinh Nikāya là đưa những lời Phật dạy vào sâu trong cảm thọ, khai mở trí tuệ để chuyển hóa những nhận thức phàm phu, những thấy biết theo vô minh, những say đắm trong vị ngọt thành sự thấy biết của bậc Thánh. Vị ngọt này đầy rẫy khốn nạn, khốn đốn, hoạn nạn, ách nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan nhưng chúng sanh vì điên loạn, mù lòa, si ám, vô minh nên vẫn chạy theo, đuổi theo, tìm kiếm, truy tầm, khao khát, thèm thuồng, dù chết vô số lần nhưng vẫn không tỉnh. Chúng ta như những người giết người bị tuyên án tử hình mà vẫn đứng cười, ngu si, thật sự vô minh không thể nói. Khi không còn tàm quý, xấu hổ, sợ hãi gì nữa, đó là tận cùng của vô minh.
Trái tim Thánh pháp
Cho nên, trái tim của Đức Phật, con mắt của mười hai phần giáo, cốt tủy của toàn bộ Đại tạng Nikāya nằm ở chỗ khi nhìn lại là biết tâm đang ở trạng thái nào. Có chín phương diện về tâm được khéo tích tập được Đức Phật nêu rõ.
"Ly tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. Tâm mình có ly tham đối với sắc chưa? Khấy cảnh đẹp có tham, có thích, có muốn, có ưa, có lưu luyến, có bịn rịn muốn chụp hình không, có đăng lên khoe không? Lâu lâu có tự xem lại những hình ảnh quá khứ rồi cười một mình và thấy đã, sướng, khoái không? Những hình ảnh đó là sắc quá khứ, nếu còn ưa thích sắc là còn ưa thích khổ, vì sắc là pháp diệt tận.
"Ly sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. Tâm mình có lìa sân chưa? Nếu đã ly sân, không ưa sân nữa thì khi có một cảm giác bực bội sanh khởi là lập tức tẩy sạch, diệt tận, đánh đuổi ngay lập tức. Ngược lại, cứ giận ba ngày, bảy ngày, có khi cả tháng, mấy tháng vẫn còn chưa hết thì như vậy là không có “tích tập ly sân”. Khi đó, mình còn chấp nhận cảm giác bực bội, còn ưa thích cảm thọ sân hận, còn chất chứa những cảm giác nóng đốt, thiêu. Còn khi có sự “tích tập ly sân” thì lúc lồng ngực vừa ấm ấm, cảm giác sân giận vừa mống khởi, chúng ta tác ý ngay: “Thôi nha, đừng quậy, đừng đốt nhà, đốt chùa nha con, đừng phóng hỏa, giết người nha con. An tịnh, mát mẻ, lắng dịu, ngọt ngào, thanh lương đi. Hãy biến hoàn toàn khỏi tâm ta hỡi những cảm giác ngu si, mê muội, sân hận này. Ta sẽ tẩy sạch và diệt tận tất cả”. Cứ tác ý hoài như vậy sẽ quen, sau này mới vừa bực bội thì tác ý: “Có gì đâu mà giận”. Đó mới là “khéo tích tập”, khéo léo “tích tập”, thiện xảo “tích tập”, “tích tập” một cách nghệ thuật, một cách mĩ thuật, “tích tập” rất là đẹp. Giống như chơi bóng đá, mình chơi thiệt là đẹp, thì sự tu tập của mình cũng vậy, phải khéo léo, thiện xảo trong sự quán tâm, trong sự tẩy rửa những sân hận, cấu uế, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu của mình.
"Ly si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. Tâm mình có ly si chưa hay ngồi tu học mà hai mắt đờ ra, mặt thảm sầu? Vậy mà không chịu tích tập ly si, cứ dung túng những cảm thọ đơ đơ, trơ trơ, khờ khờ, si si, không chịu đánh đuổi, tẩy sạch, diệt tận chúng. Thế nên ngồi tu học một lúc là đơ đơ, xong nghiêng nghiêng đầu, rồi rạp cả người xuống luôn. Thật tồi bại, thấp hèn vì không tích tập ly si, mà lại chấp nhận cảm giác si, chấp nhận hôn trầm, chấp nhận vô minh. Ngày nào cũng để cho si mê xâm chiếm mà không chịu tích tập tỉnh giác, chánh niệm. Thậm chí còn để cho cái si sanh khởi, an trú, xâm chiếm, áp đảo, lật ngã mình ngay pháp hội linh thiêng của các bậc hiền trí. Người ta ở trong ánh sáng, mình ở trong bóng đêm si ám, ngu si.
Hơn nữa, mình cũng chưa từng biết chiến đấu, không biết đưa ra những phương pháp tác chiến làm sao để hai con mắt mở lên giống như Tôn Ngộ Không từ lò Bát Quái thoát ra, nhìn tới đâu xẹt tới đó. Phải dùng con mắt trí huệ của Ngộ Không, tác ý: “Thật là xót thương cho mi, thật là tội nghiệp cho mi, thật là đau khổ cho mi, đi tu mà một đống si mê”. Thường xuyên la rầy tâm, quở trách tâm, chửi mắng tâm của mình: “Mày đi tu mấy năm mà một đống ngu si vậy hả, mày đi tu bao nhiêu năm báo cha, báo mẹ để giờ mày tham lam phải không, mày đi tu mà gặp ai cũng sân hận hết phải không, mày có nhục nhã không, mày có tồi bại không”. Đó chính là tuệ lực, là Thánh Tư duy, là sức mạnh của trí huệ, là suy nghĩ của Bậc Thánh, là suy nghĩ chân chánh.
Chúng ta phải dùng Như lý tác ý đánh mạnh vào những si mê trong nội tâm này để nhiệt tâm, tinh cần tu học. Còn cứ đơ đơ, trơ trơ, tu ngày càng tệ, ngày càng buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn, bất kính, vô lễ… thì cuộc đời tu của mình là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải tác ý mạnh, làm cho cảm thọ trong tâm sợ hãi, làm cho những con ma buông lung phóng dật, những con ma thả lỏng run sợ, không dám ngủ nữa. Đó gọi là tuệ lực, là sức mạnh của trí tuệ. Cần tác ý mỗi ngày, lúc có si càng phải tác ý và cả khi chưa có si cũng phải tác ý, vì đợi đến khi si mê mới tác ý thì sẽ không kịp. Nếu bình thường mình không tác ý, không thao vợt, không rèn binh luyện tướng, không có chuẩn bị, không có sửa soạn, lúc lâm trận vũ khí đã hư hỏng, súng không có đạn… như vậy thì làm sao chiến đấu được. Cho nên, Đức Phật dùng từ “tích tập” hay vô cùng và đồng thời Ngài còn thêm chữ “khéo”, tức là phải khéo léo tích tập trí tuệ trong sự tu học này.
“Tánh không có chuyển hướng về dục hữu”, trong đó, “dục hữu” là dục giới, tức là tâm mình lìa tham đối với thế giới của dục, “không có chuyển hướng” là không quay lại nữa. Ví dụ, đây là dục giới, thế giới của dục, tâm của người tu ly tham, muốn hướng đi ra ngoài, thế nên phải củng cố, tích tập, tu tập, tác ý, nghĩ nhớ, quán chiếu, tư duy, thiền định để làm sao đi ra chứ không chuyển hướng quay vào trở lại.
Nếu tu không đúng Chánh Pháp, tu không được bậc Đại Thiện tri thức, Chánh tri kiến chỉ dẫn thì mình sẽ không có tâm đi ra này. Còn khi thành tựu được tâm hướng đi ra này một cách mạnh mẽ và xác quyết một trăm phần trăm là đạt Dự Lưu, Tu-đà-hoàn. Khi tâm hướng đi ra này vô cùng mãnh mẽ, lớn lao thì lúc đó là Hướng Dự Lưu. Khi quyết định trăm phần trăm đi ra không còn quay lại nữa là đạt Nhập Lưu. Còn đa số chúng ta đều lẩn quẩn trong ngũ uẩn này không muốn ra thì đó là “nhập Thai”, tức là ở trong địa vị của phàm phu. Chỉ khi nào tâm mình xác quyết muốn hướng ra khỏi ngũ uẩn, ra khỏi tam giới thì lúc đó mới bắt đầu dự vào bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật.
Tương tự, câu thứ tám là “sắc hữu, tức là cõi sắc, cõi của chư Thiên. Câu thứ chín là “vô sắc hữu” là cõi không có sắc của các tầng Trời cao cấp, không có sắc tướng, hình tướng nữa mà chỉ sống bằng tâm tưởng, thọ, tưởng, hành. Nhưng những cảnh giới đó rất là vi tế và tuổi thọ rất khủng khiếp…
Như vậy, qua bài kinh “Trí tuệ”, Đức Phật đã dạy cho chúng ta biết thế nào “khéo tích tập trí tuệ” trong sự tu tập này để đi đến chỗ xa lìa, thoát ra tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Qua đó, chúng ta cũng thấy rằng, sự diệt tận tham, sân, si không hề đơn giản, chỉ bậc Thánh mới thấy tham, sân, si đến hết nguồn cơn. Không được xem thường tham, sân, si, vì bất cứ lúc nào cũng có thể chết vì nó, chết tức, chết tưởi, chết bờ, chết bụi, chết từ vô lượng kiếp tới giờ, chết không kịp ngáp, chết không kịp chôn, chết không kịp chối, chết nhục, chết nhã, chết cay, chết đắng là với tham, sân, si này. Vì thế, đừng bao giờ xem thường phiền não, đừng xem thường những sắc dục, nó đã nuốt mình vô lượng, vô biên kiếp.
Một người tu chân chánh là một người tu thao thức, trăn trở, đau khổ, dày vò, luôn luôn phải tìm đủ mọi cách dùng những phương pháp, tác chiến, chiến thuật, chiến lược để chiến thắng. “Kẻ địch gian ác nhất trên thế gian này là dục”. Trong Tây du kí, Tôn Ngộ Không bảy mươi hai phép thần thông, mắt lửa tròng vang, cây thiết bảng quậy từ Long Cung cho đến Thiên Đình, dùng đủ mọi cách mà còn chiến thắng không nỗi mấy con yêu tinh. Mấy con yêu tinh đó đại diện cho dục, tham, sân, si, bản ngã. Chúng không phải bên ngoài, mà ở ngay trong tâm, trong ngũ uẩn, trong những cảm giác, nghĩ, tưởng của mình. Do nhìn không thấy nên cứ tưởng tham, sân, si, vô minh, bản ngã chỉ ở bên ngoài.
Cho nên trong Tây du kí, ban đầu yêu quái và thầy trò Đường Tăng đánh nhau dữ dội, đến cuối cùng chủ nhân của các con yêu quái đó đến thu phục chúng, quăng cái vòng cổ xuống là nó biến thành con sư tử và các vị đó nói: “Con này là đồ cưỡi của tôi, là vật nuôi trong nhà”. “Trong nhà” nghĩa là ở trong nội tâm chính mình, chứ không phải đâu xa. Thế nhưng, trong nội tâm mình là cọp, là beo, là sư tử, là rắn rết, là bò cạp; trong nội tâm mình là những cái ác bất thiện pháp, những rác bẩn, cấu nhiễm, cấu uế, man trá, xảo ngụy, kiêu căng, phóng dật, cao ngạo, bản ngã. Trong tâm này đầy dẫy ác và bất thiện pháp nhưng mà mình không thấy, suốt ngày chỉ lo nhìn người ta. Vì con mắt chỉ nhìn ra bên ngoài, không có nhìn vào trong nên suốt ngày cứ phê, làm quan tòa, thẩm phán, chánh án xét xử người khác nhưng không thấy “tim, gan, phèo, phổi” của chính mình.
Như vậy, sự nhận diện ngũ uẩn mà chúng ta đang học là “quay ngược trở lại để nhìn vào bên trong”. Nhìn vào bên trong để xem hình bóng bên trong là hình bóng gì, suy nghĩ bên trong là suy nghĩ cái gì, cảm giác bên trong là cảm giác gì. Khi có cái gì ở trong tâm thì phải nhìn thấy, nếu bên trong có tham, dục, ái là phải tác ý, chế ngự, nhiếp phục và phải đoạn tận, tẩy sạch. Nếu có sận hận là phải làm cho an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương. Tu tập tâm hiền, tâm từ, nếu có si mê phải dùng tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ đánh phá cho tỉnh giác, chánh niệm, trí tuệ.
Cốt tủy của sự tu
Sự tu này không phải một ngày, một tuần, một tháng, mà là sự tích tập nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều đời. Có người chỉ mới tu ba tháng, sáu tháng, tám tháng, năm năm, thọ giới xong thì vênh vênh, váo váo, lơ lơ, láo láo, hỗn láo, bất kính với các bậc trưởng thượng, nghĩ rằng: “Tôi là Tỳ-kheo, ông cũng Tỳ-kheo”, những điều này là hết sức nguy hiểm, đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bởi lẽ, càng tu lâu, giới đức càng cao thì sự khiêm hạ, cung kính của mình càng phải tăng trưởng và phát triển, đó mới là thuận pháp. Còn mới thọ giới, học được một chút thì xem thầy tổ, giáo thọ không ra gì thì những thứ đó là tai họa, là sự thối đọa ở trong thiện pháp. “Thối” là lùi lại, “đọa” là rơi xuống, nghĩa là rơi xuống vực sâu mà người đó không sợ, không biết.
Cho nên, hai chữ “tàm quý” trong kinh tạng Nikāya, tức là xấu hổ và sợ hãi là hai pháp quyết định Thánh quả. Minh Thành chia sẻ rất nhiều về chủ đề “Nhục nhã sanh Thánh quả”, bởi vì trong kinh Tăng Chi Bộ, Đức Phật có nói:” Dòng chảy của tàm quý đưa đến Thánh quả”. Nếu trong tâm một người không thấy xấu hổ khi mình tham dục, không thấy xấu hổ khi mình sân hận, không thấy xấu hổ khi mình si mê, không thấy xấu hổ khi mình bản ngã, ta đây, người này không thấy xấu hổ, không thấy nhục nhã, không thấy lo sợ gì hết thì người này hết thuốc chữa. Mặt khác, nếu người này còn nhìn lại, còn thấy sám hối, còn thấy xấu hổ, còn thấy lo sợ, còn thấy sai trái thì người này có khả năng cứu chữa. Người càng thấy nhiều những xấu hổ, tàm quý chừng nào thì càng dễ dàng nhập vào Thánh quả, Thánh đạo. Thế nên, tàm quý là hai pháp rất quan trọng, quyết định sự tu của mình. Một người trơ trơ, đơ đơ, làm ác, làm bất thiện pháp mà cũng không biết tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn thì người này chắc chắn sẽ rơi vào tam đường ác đạo.
Chính vì vậy, chúng ta tự nhìn lại mình và khéo léo “tích tập”, nếu tu mà để rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì uổng phí vô cùng. Phải cẩn thận thật nhiều đối với nghiệp quả; cẩn thận thật nhiều đối với từng suy nghĩ, từng cảm thọ, từng hình bóng trong tâm. Luôn quán sát, kiểm tra, kiểm soát, theo dõi từng ý niệm, từng suy nghĩ xem đó là thiện hay bất thiện; suy nghĩ này có tham hay ly tham; suy nghĩ này có dục hay không; suy nghĩ này có ái hay không; suy nghĩ này có sân hay không; các cảm thọ này có tham lam, sân hận, si mê hay không, nếu có phải lập tức tác ý diệt trừ. Đây là sự tích tập khéo léo mỗi ngày để diệt tận tất cả những rác bẩn, lấy chổi chà quét nó ra khỏi căn nhà nội tâm trong sạch của mình. Bằng không trong tâm mình toàn chất chứa những rác bẩn, cấu uế, cấu nhiễm. Tu càng ngày cấu nhiễm càng nhiều mà mình không biết gì thì thật quá đau đớn, đau xót, đau lòng, đau khổ, vì càng tu càng đi tới lậu hoặc, càng tu càng đi đến những cấu bẩn.
Trong sự tu của chúng ta, Đức Phật có dạy rằng:
Nếu thấy bậc hiền trí,
Chỉ lỗi và khiển trách,
Như chỉ chỗ chôn vàng
Hãy thân cận người trí!
Thân cận người như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu.
(Kinh Pháp cú – phẩm Hiền trí – kệ 76)
Phật dạy, người nào được bậc Hiền trí chỉ lỗi và khiển trách, giống như chỉ chỗ chôn vàng, cần phải biết ơn các vị ấy. Chúng ta dễ thấy rằng, sự tu bây giờ không ai dám nói đến ai nữa, vì nói sẽ đụng chạm, để mặc ai làm gì làm, cứ như vậy thì những ác bất thiện pháp sanh khởi càng nhiều. Nếu bây giờ mình may mắn được gặp những bậc Hiền trí chỉ lỗi, nhắc nhở, giống như chỉ mình kho báu, đó mới đúng là tâm của người tu. Thông thường, chúng sanh thích được o bế, nói ngọt, khen tặng mà không biết đó là nói dóc, nói gạt nhưng họ lại khoái, thích những lời không đúng sự thật đó.
Vì vậy, chúng ta phải nhìn ra được đâu là vị nói lời chân thành, chân chánh, chân thật, chân pháp, đó mới là giá trị, quý giá, mình tu để tìm sự chân thật đó. Đức Phật gọi là chân nhân, là bậc hiếm có ở trên đời, bậc Hiền Thánh. Rất khó gặp những bậc như vậy trong vô lượng, vô biên kiếp chứ đừng nói trong một đời. Những vị đó là những vị thành tựu được Thánh tri kiến, Thánh trí huệ, Thượng nhân pháp, thành tựu những đức hạnh cao quý, hiền thiện mà chúng sanh không thể có. Bằng tâm chân thành, tha thiết, khát ngưỡng, tôn trọng, tôn kính thì mình sẽ gặp được những bậc ấy. Những bậc ấy sẽ khai hóa, chỉ điểm cho mình thấy những thứ mà mình không thể tưởng tượng được trên cuộc đời này. Minh Thành là người hết sức may mắn khi gặp được bậc chân nhân, thánh nhân. Khi được vị ấy chỉ dẫn thì Minh Thành sốc toàn tập, vì trước này cứ tưởng tượng mình tu ngon lắm, tới chừng được chỉ rõ ra thì mình giật mình, vô cùng xấu hổ và tàm quý.