Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm Kinh Nikaya - Tầm là cái gì 1b

2026-03-03 00:54:07
Pháp Đàm Kinh Tạng Nikaya

Tâm Là Cái Gì 1b?

Thích Minh Thành

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân..sống quán thọ trên các cảm thọ... sống quán tâm trên tâm... sống quán pháp trên pháp. Nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Như vây quán thân, thọ, tâm, pháp là cái gì?

Chánh niệm tỉnh giác ở đây, chánh niệm này là Tứ Niệm Xứ, mới đầy đủ chánh niệm. Mà tứ niệm xứ là cái gì? Là nhìn lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang vận hành bên trong. Đó là tứ niệm xứ đó. Chứ đâu phải tứ niệm xứ là cái gì cao siêu đâu.

Mình ngồi đó mình đọc quán thân bất tịnh, quán thọ thì khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Mình ngồi mình đọc như vậy là mình chết, là mình giết tứ niệm xứ, học kiểu đó là mạc pháp, học kiểu đó là mạc pháp luôn, bây giờ giải thích tứ niệm xứ vậy đó. Hồi đó Minh Thành đi vô học cũng học như vậy. Quán thân bất tịnh, quán thọ thì khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã rồi xong. Cho nên pháp mạc luôn.

Ba chục năm ở trong chùa mà không biết tứ niệm xứ, không biết chánh pháp thật sự.

Chánh niệm tỉnh giác là gì? Thứ nhất là mình phải thành tựu trí tuệ tự thân, tứ là thấy được năm uẩn. Thấy được cái thân mấy chụ ký lô này là sắc uẩn. Thấy được cảm giác là thọ uẩn. Thấy được những hình bóng trong tâm là tưởng uẩn. Thấy được những lời nói lầm thầm, những suy nghĩ là hành uẩn. Và thấy được sự rõ biết là thức uẩn. Tất cả đều phải đứng trên trí năm uẩn mà thành lập. Nếu không thấy được năm uẩn thì không thể tu tứ niệm xứ một cách đầy đủ. Mình không biết tâm rồi sao mình tu, bởi vì ngũ uẩn là thân tâm mà. Thọ, tưởng, hành, thức là tâm mà. Mà tâm có bốn khía cạnh, cho nên thậm chí những nhà bác học, khoa học vĩ đại trên thế giới mà nói câu là tôi suy nghĩ. Vì cái suy nghĩ chỉ mới một uẩn thôi. Tức là người này ở trong vô minh. Tuy là đại học, bác học, nhà khoa mà đối với thánh trí của Phật là vô minh. Mà người đó còn không biết cái đó là hành uẩn nữa, người đó nhận hành uẩn là tâm của mình. Cho nên trước ánh sáng của chánh đẳng giác thì tất cả nhà khoa học, nhà bác học đều là vô minh. Và dục tham ái đối với năm uẩn.

Đây là trí huệ khủng đó. Trí huệ này là vỡ tung hết tất cả pháp. Làm cho thánh trí của mình sáng tỏ, thấu triệt hết tất cả. Vũ trụ, vạn vật, thân, tâm này đi được phơi bày ra chánh pháp hết. Đúng như câu mà ngày xưa những vị sau khi Đức Phật thuyết pháp rồi đều khen Đức Phật bằng câu là: Thật vi diệu thay, thưa tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống. Đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt có thể thấy sạch. Để phơi bày ra những gì bị che kín và chỉ đường cho những người lạc hướng. Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện, phương pháp con xin quy y thế tôn, con xin quy y thánh pháp, con xin quy y chúng tăng. Con nguyện từ đây cho đến mạng chung, suốt đười quy ngưỡng. Đó là câu tán thán thường thường sau khi Đức Phật nói pháp thì người ta tán thán câu đó.

Ngũ uẩn này là trí tuệ mà Đức Phật đem lại, cống hiến, một sự cống hiến vĩ đại cho muôn loài, chứ không phải cho nhân loại. Đây là thánh trí ngũ uẩn. Tất cả đều được phơi bày ra hết, tất cả những gì đã được dấu diếm hằng vô lượng kiếp, bây giờ được thánh trí ngũ uẩn phơi bày ra hết.

Mình khong thấy ngũ uẩn thì tu một ngàn năm nữa cũng không đi đến giác ngộ giải thoát. Tại vì mình nhận cái đó là mình, là của mình. Suy nghĩ là tôi, cảm giác này là tôi, những hình bóng này là tôi, nhận thức này là tôi, thân này là tôi, năm uẩn này là tôi. Cho nên thánh trí năm uẩn này mình thấy được rồi, mình mới thấy được gương mặt thật sự của Như Lai. Đức Phật chứng ngộ thánh trí năm uẩn, tóm thâu tất cả pháp ở trong vũ trụ. Tất cả những gì mình khổ, có phải khổ về năm uẩn không? Khổ về thân thể này, khổ về đống vật chất này, khổ vì những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tưởng này. Cho nên tóm lại câu này làm nên lịch sử của tạng kinh Nikaya. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Ngày nào mình còn ưa, còn thích, còn dục, còn cái, còn tham đắm với sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì ngày đó mình còn tiếp tục khổ. Cho đến khi nào không chơi với sắc, không chơi với thọ, không chơi với tưởng, không chơi với hành, không chơi với thức nữa. Nhàm chán, viễn ly, ly tham, từ bỏ, chấm dứt năm uẩn thì lúc đó là thể nhập thể giới bất tử.

Đức Phật là gì? Là một bậc thoát ra khỏi năm uẩn.

Còn mình là gì? Mình say xưa, mình đam mê, mình thích thú, mình khao khát ở trong năm uẩn này. Mình khao khát thân người khác có phải là khao khát sắc uẩn không? Khao khát tiền bạc, tài sản có phải khao khát sắc uẩn không? Mình khao khát những cảm giác êm ái, người ta nuông chiều, có phải mình khao khát đối với cảm giác, thọ uẩn không? Mình ngồi đó mình tưởng tượng mai mốt mình sẽ như thế này, như thế kia, có phải là mình khao khát với tưởng uẩn không? Mình những suy nghĩ trong này, những suy nghĩ đã quá ta, suy nghĩ này có một không hai đó nha, suy nghĩ của tôi là ngon. Vậy mình có ưa thích trong hành uẩn không? Thức uẩn cũng vậy.

Thành ra tất cả chúng ta lòng vòng ở trong năm uẩn không đi ra được. Vĩnh viễn và vĩnh viễn, vô tận và vô tận. Nếu không có bậc chánh đẳng giác xuất hiện mà trình bày thánh trí năm uẩn này, thì vĩnh viễn. Này các Tỷ-kheo vô thuỷ luân hồi này, không thể chỉ ra khỏi điểm của nó được. Tất cả chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột. Máu đã đổ xuống, nước mắt đã đổ xuống, những sầu bi khổ ưu não đã đổ xuống. Này các Tỷ-kheo là đầy khắp bốn biển.

Xương là chất chồng như núi cao, mộ phần ngày càng lớn lên. Dòng sanh tử của mình đã đi qua đó. Không phải mình mới sống đây đâu, không phải mình mới có mặt một đời này đâu. Tất cả thân thể trong sáu nẻo luân hồi này mình đã trải qua hết. Mình đã dục, đã tham, đã ái. Mình đã vô minh, đã sân hận, đã si mê, đã bản ngã, đã tật đố, đã ganh tỵ, đã khen mình chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc chín ngàn tỉ lần rồi mà mình không chán. Mà mình tiếp tục dục nữa, tiếp tục tham nữa, tiếp thục ái nữa và tiếp tục khổ nữa. Khổ này nó tiếp diễn, tiếp diễn hoài hoài, bất tận trừ khi nào giác ngộ được thánh trí năm uẩn.

Thấy được bản chất của nó là vô thường, là khổ, và vô ngã, là trống rỗng. Để mình tử bỏ, ly tham, chấm dứt, thì lúc đó mới bắt đầu thánh trí xuất hiện. Và dòng luân hồi mình có khả năng thoát ra. Đây là một sự cống hiến vĩ đại, chưa từng có. Chín mươi mốt lần trái đất này thành hoại, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng kiến chín mươi mốt lần trái đất này hình thành và hoại diệt mà có sáu Đức Phật ra đời thôi.

Đức Phật chứng kiến chín mươi mốt lần trái đất thành hoại mà có sáu Đức Phật đời. Mà nếu bây giờ mình gặp trí huệ này mình không tu học nữa thì ôi thôi, mình sẽ còn chứng kiến tám nghìn lần trái đất thành hoại mình vẫn còn vô minh và khát ái ở trong năm uẩn. Bây giờ quý vị suy nghĩ có phải tối này mình đi tìm cái năm uẩn không? Đi tìm sắc, đi tìm những cảm giác, những nghĩ tưởng, chứ có cái gì khác đâu. Mà những cái gì là cái gì? Là cái vô thường, nó biết đổi nay còn mai mất, sớm nở tối tàn. Yêu đó là hận đó, được đó rồi mất đó, sống đó rồi chết đó. Cho nên Đức Phật nói làm sao: Này các Tỷ-kheo các ông bị sanh rồi đi tìm cái bị sanh, các ông bị già mà đi tìm cái bị già, các ông bị bệnh mà đi tìm cái bị bệnh, các ông bị chết mà đi tìm cái bị chết. Các ông bị sầu, bi, khổ, ưu, não mà lại đi tìm sầu, bi, khổ, ưu, não. Này các Tỷ-kheo Như Lai thấy bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, bị sầu, bị ưu, bị khổ, bị ưu, bị não. Như Lai đi tìm cái không sanh, tìm cái không già, không bệnh, không chết thì cuối cùng Như Lai đã chứng ngộ được cảnh giới bất tử. Cảnh giới chính là sự Thái Tử Tất Đạt Đa ra bốn cửa thành mà nhìn thấy được cảnh già, bệnh, chết. Và sau đó ngài về ngài suy nghĩ như thế nào? Ngài không muốn cảnh già, bệnh, chết đó. Ngài nói với phụ vương là nếu ngài không muốn đi xuất gia thì cho con đừng có già, đừng có bệnh, đừng có chết thì con không đi. Phụ Vương nói không được đâu, cái gì phụ vương cho được, chứ cái này không được đâu.

Thì như vậy đó là cái lí do, cũng là cái mục đích, cũng là một sự thành tựu vĩ đại của Bồ Tác Tất Đạt Đa. Và cũng chính là sự có mặt của Đạo Phật, sự chứng ngộ của Đức Phật. Và sự đem lại lợi ích cho đa số, lợi lạc cho đa số, hạnh phúc cho đa số giữa chư thiên và loài người, chính là sự chứng ngộ thánh trí.

Tất cả chúng ta hiện nay tu, mình được học, mình được dạy, mình được hành trì mà đại đa số là ưa, là thích, là mê, là đắm ở trong năm uẩn. Đây là chánh pháp bị mai một hai ngàn năm, sau Đức Phật nhập diệt năm trăm năm là cái pháp này đã mai một cho tới bây giờ luôn. Không có ai giảng pháp này, giảng một phần rất là nhỏ thôi chứ không có đầy đủ thánh trí năm uẩn.

Cho nên Minh Thành có một nhân duyên chưa từng có. Mình Thành dám bỏ hai mươi tám năm tu học. Khi mà nhận được cái pháp này là từ đây cho đến ngày chết, là còn một cái hơi tàn nào, một cái sinh mạng nào, một thời gian nào cũng nói cái này, truyền bá pháp này.

Tất cả những gì mình khổ là khổ vì năm uẩn. Chỉ một sắc uẩn thôi mà mình chết trong đó rồi, chết trong đó ba ngàn lần. Bây giờ Minh Thành ví dụ một cái rất nhỏ thôi là mình đang đói bụng mà bước qua chỗ đó người ta mời mình ăn, mà đó là bữa tiệc bàn thì mười món, toàn những món ruộc không. Mà lúc đó người ta ngồi người ta nói chuyện mà lúc đó mình đói bụng thì trong đó mình có cảm giá gì?

Đây Minh Thành chỉ cho quý bị ba loại để mình phân biệt dục, ái và tham. Dục, ái và tham không phải nam nữ không, cái đó không tu cũng biết, chứ cần gì tu mới biết. Bên trong mình là một cảm giác thúc dục, nhanh nhanh mau mau lẹ lẹ đặng ăn. Dục là một cảm giác thúc dục, khi mình gắp mà không khéo khi mình gắp cái dục nó thúc dục mình gắp lẹ, gắp nhanh. Mà mấy người vun về nữa là bốn miếng tàu hủ mà gắp miếng bự nhất.

Cho nên có ông già đi tu phật thất chùa hoằng pháp, ổng tu xong Minh Thành hỏi: ông nhớ điều gì nhất.

Ông nói: Ông nhớ nhất mâm bốn miếng tàu hủ, mà cái ông đó ăn hai miếng. Ông đó gắp hết hai miếng.

Thì bây giờ mình trở lại vấn đề là gì? Một sự thúc dục, đó là dục. Khi mình gắp vô mình nhai, mình có thích không? Là ái.

Khi mình nhai miệng chưa hết, mình gắp miếng thứ hai mình cầm, chờ sẳn là tham. Tham là thêm.

Như vậy thì cái dục, tham, ái này hết sức là sâu sắc, không phải nam nữ không. Mà trong tất cả mọi trường hợp khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần là nó đều sanh khởi, an trú vận hành, hoạt động, chi phối và xâm chiếm thân tâm của mình, mà mình không thấy không biết thì đó là vô minh. Chính cái không thấy không biết này, cho nên những cái thọ sanh lên là thấy, an trú là thấy, chấm dứt là thấy. Những cái tưởng sanh lên là thấy. Để làm gì? Thấy nó mình mới điểm mặt, chỉ mặt, mình mới có khả năng từ từ nhiếp phục làm chủ nó. Một con người mà đã nhiếp phục, đã thấy, đã biết rõ tường tận thân tâm mình. Và có khả năng nhiếp phục, làm chủ, thì con người đó không tự chủ vậy là gì.

Thì như vậy nó tuyệt vời, nó siêu khoa học, nó không có bất cứ một hình ảnh nào mê tín nào trong đây, không có chút nào tà kiến trong đây. Nó sáng rõ như chỉ trong lòng bàn tay.

. Cái gì làm cho mình đau khổ? Dục làm cho mình đau khổ, nhiếp phục dục. Dục ở đâu? Ở trong cảm giác.

Sân làm cho mình khổ, sân ở đâu? Sân ở trong cảm giác, nhiếp phục sân.

Si làm cho mình khổ, si ở đâu? Si ở trong cảm giác. Nhiếp phục, trừ diệt, chấm dứt, chặt ngang nó. Giống chặt cây chuối, chặt cây dừa. Không cho nó tái sanh, không còn hiện hữu trong tương lai nữa. Đó là thánh trí của Phật đó, là diệt tận tham sân si. Một khi tham sân si sạch hết rồi thì Niết-bàn. Không còn tham sân si, mà tham sân si đối với cái gì? Đối với ngũ uẩn. Phải nhớ kĩ cái này nha. Tất cả những cái pháp đều phải đứng trên năm uẩn hết, nếu mà không có năm uẩn thì không có chân đứng, nhà mà không có móng

Mình nói mình tham, vậy tham cái gì? Một là tham sắc, hai là tham cảm giác, ba là tham những cái nghĩ tưởng, chứ có cái gì nữa đâu.

Cũng như giờ mình học được nhiều kiến thức Phật pháp mình đi ra mình nói liên thiên hết. Ai nói cái gì ra mình nói trật, sai, của tôi mới đúng. Cái đó là gì? Cái đó là thức ngũ uẩn. Mình đang bị trong đó mà mình không biết. Là kiến thủ, là chấp thủ, là thức thủ uẩn.

Vì cái thấy của mình không có căn cứ trên thánh trí của Phật. Hết sức là nguy hiểm, cái học bây giờ toàn là tổ này, tổ kia, tổ nọ. Mà mấy ông là tổ của chúng sanh nói thôi, chứ không phải là Đức Phật xác nhận đó là bậc đó là bậc thánh Alahan. Giờ mình phàm phu sao biết đó là ai, mà kêu đó thành tăng.

Ngay cả những vị gọi là thánh tăng, đó là phàm phu phong, mà đó không có giá trị. Mà phàm phu sao biết đó là thánh. Cho nên chỗ này Minh Thành nói một cái bí mật hết sức là quan trọng. Cái này có liên hệ đến lịch sử kiết tầm phật giáo. Nếu mình không biết, không nắm vững cái này là mình chết ngay thôi. Tất cả những cái mình học là rơi vào ngõ cụt hết. Là sau khi Đức Phật nhập diệt, là ngài Mahakadip kết tập kinh điển lần thứ nhất. Là trong lần kết tập này là năm trăm vị Alahan, mà Alahan này là Alahan xịn nha. Alahan này là có Đức Phật công nhận và lúc đó có ngài Mahakadip chủ trì. Ngài là đại thánh, bậc thánh. Cho nên lần kết tập lần thứ nhất là bốn bộ Nikaya, chưa có tiểu bộ nữa. Tiểu bộ là sau hai trăm mấy chục năm sau mới có bộ tiểu bộ, lúc đó chỉ có bốn bộ này thôi.

Còn lần kiết tập thứ hai là do sự tranh luận ở trong tăng đoàn, chia rẻ phân phái ra. Mà tất cả những người này là phàm tăng, thánh tăng làm gì có tranh luận, làm gì có phân phái. Cho nên chia thành hai mươi bộ phái, kết tập lần thứ hai, sau đó kết tập lần thứ ba, sau đó đến lần thứ năm lần thứ sáu. Về sau này những người đó ưa thích mấy bộ sau này mới chết đó chứ.

Cho nên lần kết tập thứ nhất không có luận tạng, không có vi diệu pháp. Mà bây giờ, chính Minh Thành đi qua các nước nam tông như Myanmar, là cái chỗ mà Phật giáo đứng nhất thế giới. Mà các vị tam tạng pháp sư Minh Thành đi vô đãnh lể cúng dường. Và bên đó là học tiến sĩ, một sư từ Việt Nam đi qua học rồi nói như thế nào? Chính sư này nói mà Minh Thành giật mình hết trơn, nổi da gà hết trơn. Là bên đây tạng vi diệu pháp mới là tinh hoa nhất, cốt lõi nhất còn kinh là thứ yếu, không quan trọng.

Mà bây giờ bên đó đi theo vi diệu pháp. Đại đa số phật giáo nam tông mình cũng vậy. Đây là một sự hết sức là đau lòng và cay đắng. Đừng nói chi phát triển, mình không nói rồi đó, mà ngay cả nguyên thuỷ, nam tông mà không chú trọng tạng kinh thật sự của Đức Phật. Mà tạng vi diệu pháp là bao nhiêu lần kết tập về sau, hàng trăm năm sau, mấy trăm năm sau mới xuất hiện. Là của những người sau này chú giải lời của Phật. Mà bây giờ đi học ở đâu? Tại sao vậy? Tại vì tạng kinh đó, tu chứng mới có thể thấy biết được. Nếu mà không tu chứng, không thể hiểu được. Mà mấy tạng sau là tri thức, kiến thức, học thức, giống như triết lý vậy đó. Thì lấy cái đó biện luận, giảng dạy, làm học thuyết. Thì cái đó là dễ lắm. Chính chỗ đó làm cho chánh pháp mai một và hiện tại bây giờ dù cho có giảng kinh Nikaya, cũng giảng theo kiến thức, nghiên cứu, giảng theo kiểu học thức. Còn đưa ra một đạo lộ tu hành thì chưa. Đây là một sự đau lòng cay đắng. Và Minh Thành hết sức là may mắn và đánh đổi cả cuộc đời mình đi tìm và cuối cùng tìm ra. Cho nên bây giờ Minh Thành đang thắp sáng lên ngọn đèn thánh pháp này. Hiện tại đã có 8 đạo tràng trong nước, ngoài nước được thành lập và tu học theo cuốn sách này.

Chánh pháp trong cuốn sách này cũng là tứ niệm xứ. Cho nên học cái này nó tuyệt vời lắm. Không phải mình học một cái là mình nhiếp phục được liền, mình từ bỏ năm uẩn. Đó là không phải. Mà mình thấy, mình biết cái đạo lộ mình như vậy, mình đang đứng ở đâu. Nếu mà mình nhiếp phục được một phần nào tham, sân, si, bản ngã, thì ít nhất mình cũng không rơi vào con đường tăm tối, thói đoạ. Mình sẽ ở trong cảnh giới của Nhân thiên, mình lần lần mình nuôi tâm hướng dự lưu. Để lần lần mình bước vào trí huệ thực sự của Đức Phật. Cái đó quá tuyệt vời rồi.

Bây giờ một đống như vậy hột xoàn giả, một viên lớn là thật, chọ cái nào? Nó là như vậy, sự việc nó là như vậy. Cho nên hiện tại bây giờ Minh Thành đang khôi phục lại chánh pháp hai ngàn năm trước.

Tuy sự tu học của mình cũng chưa phải thâm sâu. Nhưng sự tin tưởng, thấy biết về pháp tuyệt đối là không lay động. Nó rõ ràng, nó rành rẽ. Con đường và phương pháp mình nắm vững cho nên mình có một lòng tin bất động. Chính mình thực tập, sẽ thấy, sẽ biết tham, sân, si vận hành như thế nào, phương pháp nhiếp phục như thế nào, con đường thoát ra như thế nào, rất là rõ. Tuyệt vời lắm.

Phát triển về tài chính nó có nhiều phương diện. Đối với người xuất gia là khác, đối với cư sĩ hiểu đạo sâu sắc là khác, mà đối với một người cư sĩ mới bình thường là khác.

Mình có hai hướng tu tập. Một hướng là nhân thiên pháp, một hướng là bất tử pháp.

Nhân thiên pháp là những công việc phước báu, lành thiện ở trong luân hồi.

Nếu như mình tham muốn chân chánh thì cái đó không có tội. Mình làm nghề chân chánh, không lừa gạt người ta, không có đi đồ lậu, không bán thuốc phiện. Không làm năm nghề Đức Phật nói không thực hành, là tà mạng đó. Là không bán rượu, không bán thịt, không bán người, không bán vũ khí và không bán thuốc độc. Đó là năm nghề Đức Phật gọi là tà mạng. Nếu mình không làm năm nghề đó, làm nghề chân chánh đàng thì mình không có tội.

Đó là nhân thiên pháp, nếu mà bất tử pháp là khác. Bất tử pháp thì người này vẫn làm bình thường như vậy. Mà những cái làm của người này không bị tham đắm trong đó. Mà làm vì bổn phận, làm vì trách nhiệm và làm những cái đó để hộ trì tam bảo, để in kinh ấn tống, để duy trì ngọn đèn chánh pháp với thế gian, thì cái đó một đẳng cấp khác nữa. Không phải ai làm cái gì mình cũng nói người ta tham hết là không phải. Cho nên nó phân biệt ra hai cái là nhân thiên pháp và bất thiện pháp nó khác nhau.

Người tu nhân thiên pháp là người đó không chấm dứt sanh tử. Người đó muốn còn đời sau để hưởng nữa, thì vẫn được. Nhưng mà còn đời sau, còn luân hồi sanh tử thì nó còn rơi lọt, không biết được. Khi nào nhập lưu tu đạo hoàng, thì Đức Phật sát huyết người này tiến thẳng đến chánh giác. Còn nếu chưa nhập lưu thì rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh dễ ợt. Hằng ngày mình đọc báo chí tin tức là toàn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh không. Những kẻ giết, người xâm hại ngay trong hiện tại thì đã vô địa ngục rồi, ngục tù rồi, đừng nói chi nhắm mắt. Một cái tâm sân hận, một cái tâm tham dục như vậy, một cái tâm si ám như vậy thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mà vô đó là khủng khiếp lắm, một ngàn năm ở mình thì ở dưới đó mới một ngày một đêm. Mà sống trong đó một ngàn tuổi, là tính ra nhiêu. Ngàn năm có một ngày, một ngàn tuổi ra bao nhiêu? Vô số kể, thật khủng khiếp.

Nhưng mà cái thọ uẩn hết sức quan trọng. Đức Phật nói: tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, nơi cảm giác. Tại vì cái thọ này đặc biệt, nó gắn kết thân và tâm. Cho nên sân lên người ta nhìn cái sắc người ta biết mình sân. Chứ cái tưởng của mình người ta không đọc được, cái thức của mình người ta không biết. Nhưng mà cảm thọ của mình biểu hiện trên thân mình nó có chỗ.

Ví dụ: Dục khởi nó có chỗ, sân khởi nó có chỗ, tham khởi nó có chỗ và si khởi nhìn cái mặt biết không?

Cho nên cái thọ là một cái chỗ hội tụ tất cả pháp. Cho nên cái thọ này là sự gắn kết giữa thân và tâm. Cho nên mình tu chỗ quán thọ là chỗ quan trọng nhất, tuyệt đối quan trọng. Muốn nhìn cái gì trong thân tâm mình, nhìn vô cái thọ là nó hiện ra hết. Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, bài kinh Cội Rễ trong Tăng Chi Bộ kinh. Trong cảm thọ, trong cảm giác nó hội tụ ở đó hết.

Ví dụ: Ông xã đi làm về mệt, mới bước vào nhà nói một câu gì đó tự nhiên mình bực mình, mình thấy khó chịu. Mình phải thấy được cảm giác đó và tại sao mình khó chịu vậy. Mình phải hoá giải cảm giác đó liền, mình biết cảm giác này là không tốt, cảm giác này là không nên. Nhiều khi ổng đi làm về ổng mệt, mình phải có sự thông cảm, phải có sự quan tâm, phải có sự độ lượng tha thứ. Mình hoá giải cảm thọ lập tức, mới vừa khởi lên là mình hoá giải liền, không cho nó bùng phát lên. Mình không có chấp nhận một cảm giác sân, một cảm giác khó chịu, mình không có làm cho nó tăng tưởng, phát triển, bành trướng. Mà mình có một hướng chấm dứt, hướng từ bỏ, hướng tẩy sạch. Là đó sự tu rất là thâm sâu.

Còn cái kia nó khởi lên một cái là mình chấp nhận, không những vậy mà mình còn làm cho nó lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển, bành trướng. Đức Phật còn dùng từ là áp đảo, là mình chết trong cảm thọ đó luôn.

Ba mươi bảy phẩm trà đạo là các khía cạnh của năm uẩn đối với thiện pháp. Mà phải nhìn thấy năm uẩn rồi mới tu tập được, nếu không nhìn thấy được năm uẩn thì ba mươi bảy phẩm trà đạo chỉ còn trên lí thuyết thôi.

Ví dụ: Chánh kiến là thấy được năm uẩn. Rồi bây giờ chánh tư duy là gì? Là một sự suy nghĩ đánh đuổi những ham muốn, những nóng giận, những cái hại người ta. Những suy nghĩ đó thuộc về cái gì uẩn? Đó là thuộc về hành uẩn. Rồi sự tinh tấn của mình, mình cũng dùng những cảm giác, suy nghĩ, tác ý. Thì nó cũng thuộc về hành uẩn, thọ uẩn. Cho nên ba mươi bảy phẩm trà đạo cũng phải đứng trên ngũ uẩn. Nếu không đứng trên ngũ uẩn là sụp đổ hết. Tại vì ngũ uẩn là thân tâm mình, mình không biết thân tâm mình thì làm sao mình tu. Mình không nhìn thấy được những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thì làm sao mình tu. Giống như điều đó mình bước vào nhà mà mình mở của mình đi vô vậy.

Mình thành tựu trí ngũ uẩn thì chỗ đó mình tu học cái gì cũng vững chắc, cũng có nền tảng. Còn nếu không là trên suy tưởng thôi.

Đến để mà thấy tức là mình quay trở về mình nhìn ra thân thể, cảm giác, những nghĩ tưởng, nhận thức trong thân tâm của mình.

Khi có tham mình biết, nhưng mà không phải biết không. Mà để cho nó sanh rồi nó diệt, mà mình phải dùng nhiều phương pháp đánh đuổi, tẩy sạch, trừ diệt nó. Thì đó gọi là tinh cần, đó gọi là tinh tấn trong bát chánh đạo.

Khi mà mình thấy như vậy, mình tác ý, đánh đuổi, nhiếp phục, tẩy sạch nó thì như vậy mình sẽ có khả năng hướng thượng. Mà điều đó tự mình thấy, tự mình biết. Tự mình biết mình có tham, tự mình thấy mình đã diệt những cái tham nào. Tự mình biết mình có sân và tự mình biết mình đã nhiếp phục được bao nhiêu phần. Tự mình biết mình có si và mình đã dùng những phương pháp đánh đuổi như nào. Cái đó là tự mình biết, tự mình thấy. Và những điều đó giúp mình thăng hoa, hướng thượng trong pháp và luật của Như Lai.

Bước tới, dừng lại không có quan trọng. Đó chỉ là một hình ảnh Đức Phật nói với một cái biểu trưng.

Tức là bọc lưu đó là gì? Dục bọc lưu, kiến bọc lưu, hữu bọc lưu, vô minh bọc lưu.

Bốn dòng thác lũ này cuốn hết chúng sanh trong tam giới. Bọc lưu là dòng thác lũ. Bởi vì cái dục trong người mình, cái ham muốn trong người mình nó là một dòng thác lũ nó cuốn trôi mình đi. Suốt một cuộc đời của mình bị ham muốn nó cuốn trôi mình. Nó cuốn trôi mình từ khi sanh ra cho đến chến luôn đó là dục bọc lưu.

Rồi hữu bọc lưu, kiến bọc lưu, vô minh bọc lưu. Hữu bọc lưu là dòng thác lũ thứ hai. Là ưa thích sự hiện hữu. Nếu mình nói nghĩa mà dễ hiểu là mình rất ưa thích thể hiện mình. Nghĩa sâu là mình ưa thích sự hiện hữu trong luân hồi, mình ưa thích có mặt trong ngũ uẩn. Cho nên nói tu mà chám dứt ngũ uẩn, tu mà nói giải thoát, chứng ngộ cái gì đó, tu là mình thích. Nếu nói tu là đây là đời sống cuối cùng, không còn đời sống nào khác nữa, thì mình sợ liền. Sợ không? Không còn đời sống nữa.

Đại đa số người ta muốn tu để đời sau người ta hưởng, tu là được cái này, được cái kia. Tu mà được cái gì đó thì mình mới tu chứ. Thì như vậy là dòng thác lũ thứ hai là hữu bọc lưu. Tức là dòng thác lũ trong sự mình muốn hiện hữu, muốn có mặt, muốn tồn tại ở trong năm uẩn này.

Ví dụ: Mình nói đơn giản là nhốt mình trong nhà một ngày không gặp ai hết, không mạng, không gì hết thì mình có buồn không? Mình có muốn đi tiếp xúc không? Mình có muốn bấm điện thoại không? Những cái thúc dục, muốn đó là dục bọc lưu đó. Mình không có chiến thắng được cái dục đó, cái mong muốn đó, cái thúc dục trong đó. Mình muốn gặp người này, gặp người kia để nói chuyện này nọ kia, còn ngồi thiền là mình khó chịu. Ngồi là mệt lắm, ngồi đối diện nội tâm mình làm biếng lắm. Còn ngồi nói chuyện café mình nói chuyện ba bốn tiếng không sao hết. Nhưng mà ngồi thiền nữa tiếng là mệt. Thấy chưa? Như vậy là gì? Nhìn sâu vô trong là một dòng thác lũ của dục, một dòng thác lũ của hiện hữu, một dòng thác lũ của kiến chấp.

Những cái hiểu biết của mình đã học, mà giờ nói sai một cái là mình khó chịu lắm, không phải dễ đâu. Kiến bọc lưu. Những cái thấy biết của mình, những cái tích luỹ thấy biết của mình, cái đó trở thành dòng thác lũ và nhấn chìm mình ở trong sanh tử. Khung khiếp không? Tại cái thấy biết của luân hồi, thấy biết của vô minh, thấy biết của nghiệp. Chứ không phải thấy biết của thánh trí. Nếu mà căn cứ vào kinh Nikaya, thấy biết đúng như vây đó, thì gọi là thấy biết của bậc thánh, tri kiến của bậc thánh. Còn cái thấy biết của mình là thấy biết trong ngũ uẩn, thấy biết trong nghiệp. Thấy biết trong vô minh, trong chấp ngã, mình bấu cứng như vậy là kiến bọc lưu, chết chìm.

Rồi gì nữa? Vô minh bọc lưu. Là sự không thấy, không biết của mình về năm uẩn. Không thấy không biết về cảm giác, không thấy không biết về tham sân si, không thấy không biết về những cấu uế của nội tâm mình không thấy, không biết. Mình không thấy, không biết thì mình đâu biết tâm mình là cái gì đâu. Rồi càng không biết tham sân si sanh khởi ở đâu, tại sao nó sanh khởi, nó an trú như thế nào, nó quậy phá mình như thế nào, nó áp đảo mình như thế nào, nó làm cho làm cho mình khổ não như thế nào, mà mình cứ tưởng người kia làm cho mình khổ không thôi. Tại người kia, tại bà kia, tại nó. Mình không biết tại tham sân si bản ngã, mình không biết tại cái gốc khổ của nó là ngũ uẩn, là ngũ thủ uẩn. Là sự bám chặt vào trong năm uẩn. Thì cái đó mới khổ, mình không thấy được điều đó. Thì chính điều đó là cái dòng thác lũ thú tư. Gọi là vô minh bọc lưu.

Cho nên ta không tiến tới, ta không đứng lại. Vì ta không nhìn thấy những thứ này là thứ vô thường, những thứ vô ngã, những thứ duyên sanh, những thứ trống rống, những thứ không có thật thì ta thoát ra thôi. Cần gì đứng liên tiến lại gì đâu.

Tại vì mình thấy nó thiệt, thì mình mới có tiến lên, đứng lại, làm gì để thoát ra. Còn Đức Thế Tôn nhìn thấu được bản chất của nó là trống rỗng, nó là bong bóng, nó là bọt nước. Cho nên không quan trọng ở chỗ dừng lại, hay tiến lên mà quan trọng mình thấy được cái bản chất của tứ lưu, bốn dòng thác lũ. Đức Thế Tôn vượt ra dục tham đối với bốn dòng thác lũ này.

Mình tu hiểu biết rồi, mà nghĩ giờ bỏ hết trơn sao ta. Mình hiểu biết rồi mà nó cũng bình định, nó không muốn đi. Có lúc mình quyết định đi, có hồi mình nói thôi tiếc, tiếc giờ năm uẩn bỏ hết sao. Thì trong thời gian này mình phải tác ý mạnh luôn. Khi mình xác định luôn thì lúc đó hướng dự lưu, cho đến nhập lưu thánh quả. Là chính thức bước vào dòng trí huệ, không còn thói đoạ, không còn thói chuyển, không còn thói lui, không còn lui sụp. Sát huyết một trăm phần trăm tất cả là năm uẩn, mà năm uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã. Bản chất của nó là như vậy. Sát huyết một trăm phần trăm không còn giao động nữa. Mà khi mình đang hướng tới mạnh mẽ, siêng năng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm thì cái đó là hướng dự lưu, là đã bước vào bốn đôi tám chúng của hiền thánh. Đây là đa văn thánh đệ tử thật sự của Đức Phật.

Còn mình chưa thấy được năm uẩn thì mình còn xa, mình ở vòng ngoài, chưa gọi là đệ tử của Đức Phật, chưa gọi là đa văn thánh đệ tử. Nếu mình chưa thấy năm uẩn. Chưa thấy được mục đích li tham năm uẩn trên cuộc đời này, thì mình còn dài dài. Dòng luân hồi còn vô tận, mênh mông.

Bốn đôi tám chúng là gì?

Bốn đôi tám chúng là bốn thánh quả, là bốn bậc hướng đến thánh quả đó.

Sơ quả là tu đạo hoàng.

Nhị quả, tam quả rồi tứ quả.

Rồi có bốn cái quả hướng tới bốn cái quả đó. Giống như một người đậu đại học và một người đang luyện thi đại học.

Ví dụ: Vị này đang hướng tới quả thứ nhất, hướng tới quả thứ hai, hướng tới quả thứ ba, hướng tới quả thứ tư. Thì cái đó mới gọi là bốn đôi tám chúng, hiền thành của Phật.

Mà những vị này thành tựu trí năm uẩn của Phật hết. Không có vị nào không thành tựu trí năm uần mà được vô bốn đôi tám chúng đó hết. Tại vì trí năm uẩn là thân tâm của mình chứ đâu phải là cái gì đâu. Mình không thấy biết thân tâm của mình thì làm sao mình nhìn được những rác bẩn, cấu uế, tham sân si bản ngã. Rồi làm sao mình trừ diệt.

Đang có cảm giác sân mình phải tác ý trừ diệt. Chứ mình không phải cố gắng đi theo cái sân đó. Đó là không phải. Tức là mình biết có cảm giác sân, khó chịu, thì mình phải tìm cách hoá giải cảm giác đó. Chứ không phải mình đi theo nó, mình biết nó làm cái gì. Mình biết có nó rồi mình đánh đuổi nó, mình tẩy sạch nó.

Ví dụ: Mình biết trong nhà mình có con rắn độc thì mình phải tìm cách đuổi nó ra. Chứ không phải mình biết nó rồi, mình xem nó bò đi đâu, nó ra làm sao, nó màu gì. Không phải, mà là tìm cách mình đánh đuổi nó càng mau càng tốt. Chứ không phải mục đích mình thấy cái sân, để mình hiểu cái sân là không phải. Mà là biết sân để mình đánh đuổi cái sân nó ra. Hồi trước mình không biết cái sân, vị trí nó ở chỗ nào. Mình biết vị trí nó ở trong cảm thọ, ở trong cảm giác, thì mình dùng từ tâm, dùng quán vô thường, để mình quán chiếu.