Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Soi Sáng NIKAYA - Ý Căn - Pháp Trần - Ý Thức - Lợi Ích Của Sám Hối Diệt Ngã - Văn Tư Tu

2026-03-03 00:54:08
SOI SÁNG NIKĀYA

Ý CĂN- PHÁP TRẦN- Ý THỨC?

LỢI ÍCH CỦA SÁM HỐI DIỆT NGÃ? VĂN TƯ TU?

Thích Minh Thành

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày khai pháp của đạo tràng Nikāya tại chùa Bửu Liên. Chúng ta khai pháp muộn so với những năm trước, Minh Thành nghĩ rằng quý Phật tử cũng đã theo dõi các bài giảng được cập nhật mỗi ngày trên kênh linhquyphapan.vn cho nên hôm nay chúng ta sẽ có buổi pháp đàm, mọi người đã nghe giảng nhiều nhưng ít có cơ hội chia sẻ, thưa hỏi những nghi vấn, thắc mắc, khó khăn trong sự thực tập. Minh Thành mong chúng ta có buổi pháp đàm, mọi người sẽ nêu lên những sự trở ngại, khó khăn trong việc tu học, thực tập giáo pháp cũng như nối kết đạo tình thầy trò, huynh đệ đồng tu trong suốt thời gian vắng mặt vừa qua.

Phật tử 1: Nam mô từ phụ bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên sư cô, con kính bạch trên toàn thể đạo tràng. Con kính thưa sư phụ, con có một pháp hành xin hỏi sư phụ. Ở nhà con đọc Căn bản trí đến bài thứ mười là định nghĩa sáu pháp, trong bài đó con không hiểu chữ "ý" trong sáu căn: Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý và từ "pháp" trong sáu trần: Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp. Con đọc tiếp qua duyên sanh pháp đến phần "do duyên có ý và các pháp thọ; tưởng; hành sanh khởi ý thức, rõ biết thọ; tưởng; hành, sự hội tụ của ba pháp này là ý xúc. Do duyên có ý xúc sanh khởi thọ do ý xúc sanh và pháp tưởng, pháp tư". Con nghĩ ý căn và sáu trần là pháp trần, có phải đó là thọ; tưởng; hành không ạ, khi đọc duyên sanh pháp thì con thấy như vậy nhưng vẫn chưa hiểu, xin sư phụ soi sáng cho con. Mô Phật.

Sư Phụ: Trong tinh thần tu học chúng ta để ý như vậy là rất tốt. Người xưa nói "học phi vấn biện, vô do phát minh" nghĩa là học mà không hỏi, không bàn luận thì không do đâu mà vấn đề được sáng tỏ cho nên những gì chưa rõ thì phải hỏi. Câu hỏi này rất chính đáng, theo Minh Thành biết có rất nhiều người trong đạo tràng cũng chưa rõ, không những cư sĩ mà đến những vị Tăng Ni, thậm chí những vị ngồi thiền lâu năm nếu không được hướng dẫn hoặc học kĩ duyên sanh pháp của Nikāya cũng không biết ý xúc là gì, không rõ được pháp trần là gì cho nên cần nắm vững điều này. Ai biết thì hãy chia sẻ trước.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính trên sư phụ, kính trên sư cô, kính trên quý đạo hữu, con xin chia sẻ nếu có gì sai sót xin thầy chỉ dạy thêm cho con. Do duyên có ý, thọ; tưởng; hành sanh khởi ý thức, do duyên có ý thức sanh khởi thọ do ý xúc sanh, pháp tưởng, pháp tư. Con nhìn lại thân tâm thì con để ý cái tưởng, sự suy nghĩ và rõ biết cảm giác, rõ biết cái tưởng, rõ biết các pháp vận hành thì đó là ý xúc. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Cái này chúng ta phải nắm thật vững, nếu không sẽ không rõ cái nào là ý, cái nào là pháp và cái nào là thức. Ví dụ khi đang ngồi để ý trong tâm thì nghe có tiếng xe nẹt pô, nếu cho qua thì thôi, còn để ý thì trong tâm hiện ra hình bóng của người chạy xe tốc độ cao, mình có cảm giác khó chịu và có suy nghĩ "Tại sao lại chạy xe làm ồn ào, ảnh hưởng đến người khác". Mình để ý lại nội tâm gọi là ý căn tức là sự để ý vào bên trong, khi để ý thì pháp trần nghĩa là thọ; tưởng; hành bên trong hiện rõ ra, hiển lộ ra. Chữ "pháp" là pháp trần, là nội trần, là thọ; tưởng; hành trong tâm, lúc đó hình bóng, cảm giác khó chịu, có suy nghĩ bực mình về người nẹt pô hiện rõ trong tâm thì gọi là pháp trần, nội trần, là thọ; tưởng; hành, khi đó mình rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó gọi là ý thức. Cho nên:

Ý căn: Sự để ý.

Pháp trần (thọ; tưởng; hành): Hình bóng, cảm giác, suy nghĩ.

Ý thức: Sự rõ biết hình bóng, cảm giác, suy nghĩ.

Khi ba pháp này biểu hiện ra thì tạo thành sự tiếp xúc, giao thoa, sự hội tụ ba pháp thì gọi là ý xúc, khi có ý xúc lại sanh ra thọ; tưởng; hành thứ hai, thọ; tưởng; hành thứ ba, thọ; tưởng; hành thứ tư… cứ như vậy và nó diễn ra rất nhanh. Đi vào việc nặng nề hơn chút, hai vợ chồng bất hòa gây gổ hoặc anh em cãi nhau, vấn đề là đã cãi nhau từ hôm qua nhưng nếu mình cho qua thì sẽ tạm thời lắng dịu, còn đào bới sâu vào vấn đề cãi nhau thì lại khác, đa số những người không biết tu hoặc tu không đến nơi sẽ lấy cái này lấp cái kia, tức là tìm việc khác để làm nhằm khỏa lấp sự tức giận hoặc nỗi buồn. Người ta có thể đi ăn, đi chơi, gặp bạn trò chuyện hoặc đi nhậu để quên đi chuyện buồn phiền, còn việc tu này không giống như vậy mà nhìn thẳng vào nỗi buồn, cơn giận đó để giải quyết cho nên tu đúng theo lời Đức Phật không phải để sung sướng, an nhàn mà phải có sự ưu tư, lo lắng để giải quyết vấn đề, không thể phớt lờ, bỏ qua mà trực diện nhìn vào vấn đề. Khi hình bóng người đó hiện ra, những cảm giác tức giận, bực bội hiện ra, những sự suy nghĩ về cuộc đối thoại, tâm mình đối thoại, nói tới nói lui, đưa ra biện luận trong đó và mình phải thấy được hết những điều này.

Mình phải hóa giải bằng cách nào? Điều này rất thực tế và thiết thực trong sự tu hành, Đức Phật dạy trong bài kinh Xuất ly giới, Tăng Chi Bộ kinh, tập III rằng:

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nói như sau: "Ta đã tu từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, sân tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, Hiền giả chớ có nói như vậy. Chớ có xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. Này Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, tuy vậy, sân tâm vẫn ngự trị, an trú; sự kiện như vậy không xảy ra, này Hiền giả, cái này có khả năng giải thoát sân tâm, tức là từ tâm giải thoát". (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Sáu Pháp, II. Phẩm Cần Phải Nhớ, (III) Xuất Ly Giới)

Có những vị không suy xét kĩ khi nói sẽ hiểu lầm, nhiều vị nói tâm từ không cần tu vì đã có sẵn, chỉ cần không sân là tự động có tâm từ, như vậy là trái lời Đức Phật vì ngài đã nói cần tu tập tâm từ cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, những từ này là cả một công phu thực tập. Sung mãn là đầy đủ, tràn đầy, trọn vẹn. Khi quý vị có sẵn xe trong nhà mà cần đi đâu thì cứ lên xe mà đi, cũng vậy, tu tập tâm từ cho đến khi nào muốn lên chiếc xe từ bi là lên thì mới gọi là tu thành cỗ xe, tức là cái đó ở trong người của mình. Căn cứ là chỗ mà mình ở nơi đó, y cứ, dựa vào đó. An trú là ở yên trong đó, tức là tâm mình đặt luôn ở trong từ bi. Chất chứa là một giờ tu một chút, một ngày tu một chút, hai ba ngày tu một chút rồi hai tháng, vài năm sau cũng như vậy thì gọi là chất chứa tâm từ. Sở dĩ mình có sân hận, tức giận, có tâm bực dọc, ác tâm, hại tâm, sân tâm là do tâm từ của mình không đầy đủ, không sung mãn, không kiên cố, không thành cỗ xe, không thành căn cứ, không có chất chứa, khéo léo, tinh cần tu tập tâm từ. Cho nên phải dùng tâm từ để hóa giải tâm sân nhưng phải tập từ những thứ nhỏ nhặt thường xuyên và liên tục thì tâm này mới an trú được, để tâm từ thành chiếc xe, mình muốn leo lên lúc nào cũng được, muốn nổ máy lúc nào là nổ máy, mình muốn đi đâu là chiếc xe đưa mình đến đó, như vậy mới gọi là trở thành cỗ xe, thành căn cứ địa. Mình càng sân nhiều chừng nào thì tâm từ càng ít chừng đó, sân vừa thì tâm từ có chút ít, sân ít thì tâm từ có nhiều, hết sân thì tâm từ mới viên mãn cho nên cần phát triển tâm hiền từ này. Đó là phần trả lời cho câu hỏi thứ nhất, thế nào là ý căn, thế nào là pháp trần, thế nào là ý thức, thế nào là ý thức và có ví dụ cụ thể để mình thấy khi sân lên phải tu tập như thế nào.

Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa sư cô, con kính thưa đại chúng. Thưa sư phụ, con có hai ý muốn trình pháp để hiểu rõ hơn về pháp, thứ nhất là khi con tụng kinh sám hối diệt ngã hằng đêm thì lời phát nguyện cuối bài pháp có câu "Lạy người cho con xả được bản ngã này ra. Lạy người cho con xả được bản ngã xấu xa, tồi tệ này ra. Lạy người cho con xả được bản ngã hư ảo, tạm bợ đi vào lòng đất". Thưa sư phụ, khi dùng từ "người" thì ý hành con khởi lên "Từ người này có lẽ là tất cả chúng sanh trên thế gian này" hay là từ "người" này dùng để chỉ Đức Phật, con còn phân vân ở chỗ này, xin thầy chỉ dạy cho con rõ thêm phần này.

Thứ hai là khi con thiền quán bất tịnh và ba mươi hai thể trược của sư phụ dạy thì con thấy thân ngũ uẩn tứ đại này đều không có cái gì của mình, lúc đó ý hành khởi lên "nếu quán như vậy thì cái có và không ở trong bài quán này nằm ở đâu". Xin sư phụ chỉ dạy thêm cho con.

Sư Phụ: "Lạy người cho con bỏ cái tôi" thì chữ "người" đó quý vị hiểu như thế nào? Chữ "người" đó là người mà mình khởi bản ngã và nghĩa rộng hơn là tất cả chúng sanh, tất cả hữu tình. Trong đạo tràng có người này khởi bản ngã với người kia, người này ở giữa chúng quỳ xuống trước người mình khởi bản ngã để "xin cô/chị/chú hoặc thầy cho con được lạy để xả bản ngã". Tức là lạy người mà mình khởi bản ngã với họ, chỉ có lạy mới phá được bản ngã bên trong. Trong các sư cô cũng có sanh khởi bản ngã thì đến ngày tu hoặc ngày phát lồ nửa tháng thì các vị quỳ lạy với nhau rất đẹp, "lạy sư cô cho con bỏ bản ngã này ra, cho con xả cái ta đáng xấu hổ này. Lúc nào cũng muốn hơn, muốn thắng người ta nên con lạy để con diệt tận bản ngã xấu xa, thối tha, bẩn thỉu này. Chính cái này là thuốc độc, là rắn độc, con bị nọc độc của chấp ngã này làm con khổ". Có một Phật tử ngoài Hà Nội trước đây sống rất khổ đau vì ly dị chồng, sau đó ở với con nhưng hai mẹ con rất khổ vì người mẹ có bản ngã quá cao mà chính mẹ cũng thấy được như vậy, cũng đau khổ vì cái tôi. Sau khi học pháp sám hối diệt ngã, bày tỏ chân thành thì hai mẹ con rất xúc động, hạnh phúc ôm nhau khóc, người mẹ quỳ xuống xin lỗi và lạy đứa con, người con cũng khóc và quỳ lạy mẹ mình. Hai mẹ con lạy nhau, nước mắt ràng rụa trong sự hạnh phúc chưa từng có, sau này cô đã chia sẻ, hướng dẫn lại cho các Phật tử ở đạo tràng Nikāya Hà Nội, cô nói cô hạnh phúc, an lạc và cô nghĩ nếu không gặp Chánh Pháp này thì cả cuộc đời của cô không sống nổi. Bây giờ hai mẹ con thương quý nhau, vừa là mẹ con, vừa là chị em, bạn bè. Mỗi lần ra Hà Nội gặp cô là cô quỳ lạy dưới chân và khóc nức nở, nhưng không phải một lần, cô lên Linh Quy tu bảy ngày là khóc đủ bảy ngày trong sự hạnh phúc. Khi có được pháp diệt ngã này giống như bậc hiền trí chỉ cho mỏ vàng, cho nên hãy yêu quý, tôn thờ, đảnh lễ pháp diệt ngã này, tất cả chư Phật trong ba đời đều từ pháp diệt ngã này mà thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác cho nên thước đo sự thành tựu ở nơi trí tuệ của người tu chính là việc nhiếp phục bản ngã. Nếu chưa học pháp tàm quý, xấu hổ sợ hãi, chưa học cách quỳ lạy nhau, chưa học nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta có thể quỳ lạy người mình sân hận, bản ngã không? Nhưng bây giờ mình làm được vì đó là phép lạ của sự diệt ngã, phép màu của sự nhiếp phục cái tôi, thần thông của trí tuệ vô ngã, sự kì diệu của một người tu, đó là nét đẹp cao thượng, thánh thiện của đạo tràng Nikāya.

Chính pháp diệt ngã này sẽ gắn kết tình thân trong gia đình, cảm thông, tha thứ, chia sẻ nhiều hơn, diệt trừ ta đây, vênh váo, kết nối những người thân thương trong gia đình. Trước khi tu dòng pháp này mình cũng thương cha mẹ, sau khi tu dòng pháp này cũng thương nhưng thương một cách rất khác biệt, cái thương này tràn đầy sự hiểu và cảm thông cho nên quỳ lạy được cha mẹ là rất quý báu, ngay từ bây giờ phải tập lạy và xin lỗi chứ đừng đợi lên bàn thờ mới lạy là muộn màng, những khi mình khởi bản ngã, ta đây, cái tôi thì lạy và khóc thì mọi người sẽ thấy cha mẹ xúc động còn hơn mua mười thang thuốc bổ, đây là thuốc bổ tâm linh tinh thần sức sống, là nguồn sinh lực cho cha mẹ hạnh phúc. Chính việc quỳ lạy và xin lỗi trước cha mẹ là mình đang hoằng pháp, đang thể hiện pháp sống của Đức Phật, đó là sự cung kính, biết ơn, sự tàm quý, xấu hổ, sự nhận lỗi, xin lỗi, sửa đổi, đó là đại sám hối. Ai còn cha mẹ, nhất là cha mẹ gần đất xa trời thì hãy quỳ xuống thưa hết tất cả nỗi lòng, nhận lỗi từ nhỏ đến lớn, kể lên công ơn của cha mẹ đối với mình rồi sám hối, xin lỗi, nhận lỗi, sửa đổi và hứa trước cha mẹ mình sẽ bù đắp sẽ báo hiếu. Sám hối diệt ngã này có đầy đủ tất cả pháp, tình nghĩa vợ chồng sẽ được vung đắp, anh em được gắn liền, mẹ con cha con có tình thân, có biết ơn, báo ơn, đền ơn, ông bà cô bác… tất cả mọi người. Sự an tịnh, nhiếp phục, lắng dịu cái tôi, cái ta này sẽ thành tựu tất cả những pháp bình an, hạnh phúc trên cuộc đời này.

Mọi người hay nghĩ cứ bắt lạy diệt ngã hoài nhưng quý vị không thấy được lợi ích của việc này, hôm nay mình có nhân duyên để thấy được việc này. Diệt ngã là cái gốc để lên thân, ra cành nhánh, hoa quả. Quả của nó là quả bình an, hạnh phúc, tôn trọng, quý kính nhau, cho nên "xin lạy hết thảy mọi người cho con bỏ cái tôi, bỏ cái ta này". Có những vị ngồi đây nước mắt đang tuôn trào, mời cô chia sẻ, đây là bài học sống động để chứng minh cho mọi người.

Phật tử 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch sư cô, con kính bạch đạo hữu đạo tràng Nikāya. Kính thưa sư phụ, những điều thầy vừa nói đã chạm đến cội rễ của sự sám hối trong lòng con, bao lâu nay con đã muốn làm điều đó với ba mẹ. Từ khi tham gia đạo tràng Nikāya, học được pháp sám hối diệt ngã thì con thấy bản thân mình có quá nhiều điều phải sám hối với cha mẹ, bản thân con cũng vì bản ngã mà con vẫn chưa làm được điều này. Con quyết định chiều nay sau khi hết khóa tu sẽ gặp ba mẹ để sám hối nhưng con còn uẩn khúc, đối với người già khi quỳ lạy thì dường như khó có sự chấp nhận vì cha mẹ sẽ nghĩ mình còn sống mà con mình quỳ lạy như vậy sẽ không đồng ý, cha mẹ sẽ không hiểu được ý nguyện của con cho nên xin thầy hãy hướng dẫn con.

Sư Phụ: Tấm lòng chân thành của cô sẽ vượt qua hết tất cả. Cô nói lên bằng tất cả tấm lòng chân thành của cô.

Phật tử 4: Nhân tiện con cũng có điều thắc mắc về bản ngã trong gia đình con. Chồng con bản tính rất sân, khi con học về Nikāya thì con hiểu nên bản thân con cũng tập để diệt ngã và tham sân si. Mỗi khi chồng con bị bên ngoài tác động thì cái sân tích tụ trong người quá nhiều nên dù là điều nhỏ nhặt cũng làm sân tràn lên, con muốn giúp chồng con ngăn chặn cái sân nhưng khi con muốn giúp thì chồng con đều nói "bà cứ ở trên trời không à", điều này làm con rất buồn, con không thấy giận nhưng buồn vì không biết cách nào giúp chồng. Xin sư phụ chỉ giúp con.

Sư Phụ: Trong thanh quy đạo tràng có ghi: Muốn góp ý người nào cần đúng thời, đúng lúc, nói với từ tâm và không phải lời nào mình nói người ta cũng nghe, nhất là với người thân của mình cho nên việc trở về tự thân chính mình là quan trọng nhất, tức là mình phải lo tu tập tâm từ để khi người ta sân với mình thì mình không sân lại, người ta giận mình thì mình không giận lại, đó là thành công rất lớn của mình. Còn mình muốn chuyển hóa một ai đó là một chuyện không hề đơn giản, đó là cả một sự đầu tư rất nhiều cho nên tự thân của mình nhiếp phục cái sân của chính mình, tu tập tâm từ được kiên cố, vững chắc. Sau đó đối với những người thân phải khuyên bảo, nhắc nhở từ từ đúng lúc, đúng người, đúng hoàn cảnh, nói đúng lời sự thật bằng từ tâm của mình thì từ từ người ta cũng sẽ cảm nhận được. Vợ chồng, cha con, anh em với nhau đều có duyên nghiệp, biết tu thì bớt chút, còn không biết tu lại có nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Chúng ta phải siêng năng, tinh tấn trong pháp và luật, tùy nhân duyên với những người trong gia đình thì mình từ từ khuyên bảo, nhắc nhở, chia sẻ, hướng dẫn một cách kiên trì với từ tâm. Người Phật tử vừa rồi cũng nhờ sám hối diệt ngã mà cô hóa giải được bất hòa trong gia đình nhiều năm, lúc xưa rất nặng nề khổ sở cho nên pháp tu sám hối diệt ngã hằng ngày này rất cần thiết. Minh Thành có bài "Thiền quán sám hối diệt ngã", mọi người mở bài này lên lạy theo hoặc ngồi thiền theo đó, vừa nghe vừa hướng tâm vào cảm thọ để giáo dục, huấn luyện cảm thọ để cảm thọ từ từ thay đổi, chuyển hóa. Lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya là sự huấn luyện, dạy dỗ, chuyển hóa, giáo dục trong các dòng cảm thọ, chỗ này là chỗ thâm sâu mà ít có chỗ nào học được, không dừng lại hình thức bên ngoài mà còn đi sâu vào bên trong làm thay đổi cảm xúc, cảm giác của mình và điều này cực kì quan trọng. Mỗi khi sám hối diệt ngã phải thấy hình bóng của mình là quỳ lạy và chắp tay cúi đầu chứ không còn hất mặt như xưa, trở nên hiền hòa, lắng dịu, dễ thương, làm con ngoan của Đức Phật, luôn an trú trong sự tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, khiêm nhường, khiêm cung. Chúng ta phải khéo tu trong gia đình mình, ở chùa lại dễ tu hơn ở nhà, tu ngay trong nhà thì đó mới là lớp học, là nơi làm bài tập và cũng là nơi để mình thi. Những người thân thương, gần gũi với mình lại là những người mình bung tập khí, thói quen, nghiệp ra, còn ra đường gặp người lạ mình rất lịch sự, nhẹ nhàng, văn minh, đó cũng là lý do tại sao lúc đầu mới quen rất yêu thương nhau, còn cưới về ở chung là mình bung ra hết thói hư tật xấu vì mình đã xem đó là người trong nhà nên thỏa sức bung ra. Đây là sai lầm, người càng thân chừng nào phải càng tu kĩ chừng đó, phải để ý tâm sân, bản ngã thật kĩ và tu tâm từ thật chắc chắn, phải nhớ lục hòa kính để ứng dụng vào gia đình, nói lời hiền hòa, suy nghĩ hiền hòa, hành động hiền hòa. Lợi hòa đồng quân là khi xưa đi khất thực rồi chia nhau ăn nhưng trong nhà cũng phải lợi hòa đồng quân, ông bà có câu "ăn cư lạc nghiệp" còn trong đạo là ở nhà an bình thì mình mới đi tu được vì thế phải ứng dụng lục hòa, ứng dụng sự nhiếp phục sân và trải tâm từ thường xuyên. Những người nào mình có nhiều thành kiến, mình sân nhiều thì mình càng phải tu nhiều hơn, trải tâm từ thật nhiều.

Câu hỏi thứ hai của cô về quán tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Đức Phật dạy mình nhìn thấy sự bất tịnh, chính cái này mới phá được sự chấp thủ, tham ái, sự dính mắc của mình trong đời sống này. Bất cứ thứ gì mình cũng bị dính mắc, đó là do mình không biết bản chất của sự vật đó, đó cũng là lý do Đức Phật dạy phải nhìn lại sự thật, bản chất của thân này là như vậy, bản chất nó là như thế không thể vượt khỏi bản chất ấy.

Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).

Vô minh của chúng sanh quá nhiều, tham ái quá dày nên Đức Phật phải đưa ra nhiều phương pháp để đối trị cho nên nói rằng tu một cái là đủ thì không được. Mình chỉ mới tu pháp diệt ngã, còn tâm sân, tâm tham ái chưa nhiếp phục được, vì thế cần diệt dục, diệt tâm hướng ngoại, tập tâm hiền từ nhưng cần linh động, uyển chuyển trong sự tu tập. Lúc đang sân thì cần nhiếp phục cảm thọ và trải tâm từ, lúc đang tham đắm vào sự hiện hữu này thì phải quán chiếu tứ đại, ba mươi hai thể trược để phá trừ. Khi thấy không có gì là tôi, không có gì của tôi trên cuộc đời này thì mình sẽ sống an lạc như chư Thiên ở cõi trời Quang Âm thiên, đây là cõi trời lấy sự hỷ lạc làm sự sống, không ăn uống gì cả và thân phát ra ánh sáng.

Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. (Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)

Sở dĩ mình khổ đau vì cái gì mình cũng nghĩ của mình. Trong kinh Đại niệm xứ ghi lại tham ái của con người rất khủng khiếp, cần niệm câu "không có gì là tôi, không có gì của tôi" như niệm thần chú. Nếu Minh Thành nghĩ rằng cái nào ở đây cũng của Minh Thành thì chỉ cần nó bị hư hao hay bị lấy mất thì Minh Thành sẽ rất khổ, buồn đau, sầu bi. Đức Phật nói thế giới này có tan hoại, tất cả biển lớn khô kiệt, nước chỉ bằng dấu chân trâu nhưng Như Lai không tuyên bố chúng sanh chấm dứt đau khổ vì vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Thế giới này có thể hoại diệt nhưng sự đau khổ của chúng sanh không thể chấm dứt vì chúng sanh bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc.

Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Vô minh, tham ái rất khủng khiếp, nó đã ở trong xương tủy mình trong vô lượng kiếp, nếu không gỡ nó ra từ từ thì mình đau khổ liên tục, vì thế không những phải quán tứ đại, ba mươi hai thể trược mà mỗi khi thấy cái gì cũng quán "cái này không phải là tôi, không phải của tôi", mỗi khi soi gương thấy con mắt, gương mặt, lỗ tai thì quán "thân này không phải là tôi, không phải của tôi. Thân này là tứ đại, do cha mẹ tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng, nó vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt".

Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)

Cứ mỗi lần tham ái, dính mắc là mình niệm câu này tác ý để tháo gỡ từ từ, trí tuệ nhìn thấy như vậy mới đưa đến sự bình an. Đừng tìm gì nữa mà chỉ cần thành tựu cái trí không thấy cái gì là của mình thì mới đưa mình đến bến bờ bình an. Nếu quý vị thấy tất cả mọi thứ trên đời này không có gì là mình, không có gì của mình thì Minh Thành và tất cả tam giới chúc mừng quý vị, cầm cờ chiến thắng vẫy trên đỉnh tam giới, thành tựu Thánh quả không có gì là tôi, không có gì của tôi, mong mọi người tu đạt đến đó, không còn gì làm mình khổ nữa mà đạt đến tâm bất động giải thoát.

Diệu Nhã: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Bạch thầy, bạch sư cô và các bạn đồng tu trong đạo tràng. Diệu Nhã có điều chưa rõ xin thầy chỉ dẫn, Diệu Nhã biết được rằng theo kinh pháp và những lời giảng dạy của thầy khi muốn tu phải có văn – tư – tu, trong cái tu đó có tư duy và quán, có những quán niệm, câu niệm. Như vậy những điều này khác nhau như thế nào và nó giúp mình như thế nào, thưa thầy? Có rất nhiều câu niệm, mỗi câu niệm dạy chúng ta một điều khác nhau vậy khi quán – tư – niệm thì nó giống và khác nhau như thế nào, thưa thầy?

Sư Phụ: Trong sự tu của mình có ba phần là văn – tư – tu. Phần văn là nghe kinh, nghe giảng, nghe pháp, khi nghe như vậy sẽ thành tựu một loại trí tuệ và trí tuệ này do nghe mà có được. Trí tuệ do nghe mà có được không đi sâu vào não mà sẽ bị quên đi.

Trí tuệ thứ hai là do suy tư, tư duy, nghiền ngẫm, tác động tâm ý (tác ý), quán chiếu thì đây gọi là tư tuệ, tư là suy tư, quán chiếu, quán sát. Ví dụ mình nghe "thân này là vô thường, những cảm giác này là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là khổ đau, phiền não", mình nghe qua rồi thôi nhưng khi lấy đó làm đề mục để nghiền ngẫm thì mới thấy cảm giác của mình thay đổi nhanh quá, mới thấy vui đó lại buồn đó, hết hình bóng này lại đến hình bóng khác nhưng đều có hờn trách, oán hận… Mình thấy rõ hình bóng, cảm giác này đưa đến khổ đau, làm cho mình phiền não, suy nghĩ về người khác "tại sao đối xử với mình như vậy", "tại sao lại làm như thế với mình", mình thấy càng suy nghĩ thì càng phiền não cho nên mình mới thấy ngũ uẩn này là phiền não, khổ đau, vô thường. Nếu đề mục là ba mươi hai thể trược, nghe một lần rồi thôi sẽ khác với ngày nào mình cũng ngồi yên tịnh để nhìn vào thân thể này là như vậy, mình nhắc nhở, quán tưởng, suy xét sẽ khác với khi nghe một lần, nó sẽ thấm vào đầu, vào cảm thọ của mình và nó sẽ lưu lại trong thân tâm, gọi là an trú, thiện pháp an trú, trí tuệ an trí, Thánh Pháp an trú, sự thật an trú, như vậy những pháp đó được chất chứa, khéo léo tinh cần, siêng năng tinh tấn. Mình tích tập, suy nghĩ, nghiền ngẫm, quán chiếu những hình bóng đó "tóc, lông, móng, răng, gân, xương… đều trống rỗng, không ai trong đó. Chỉ có tim, gan, máu, thịt, xương, phủ ngoài một lớp da trơn láng, che hết vô vàng thứ nhớp nhơ". Cứ lặp tới lặp lui sự suy nghĩ như vậy thì những hình bóng đó hiện ra, cảm giác chất chứa và mình lưu giữ, tích lũy mà những thứ này là trí tuệ, sự thật, giác ngộ. Bình thường khi đã tích lũy như vậy thì khi có chuyện như bị chê bai thì mình cũng thấy bình thường "thân thể bất tịnh này thì có gì đáng khen, người ta chê là đúng rồi". Tư tuệ được phát triển nên khi có chuyện thì tư tuệ lấy ra sử dụng được, nó có thể ứng phó với những thứ phiền não, tham sân si, bản ngã. Chính lúc đó, suy nghĩ mà mình đã huân tập, chất chứa, tăng trưởng, phát triển, an trú thì mình lấy suy nghĩ đó ra sử dụng, nó như cái kho trong cảm thọ, suy nghĩ, nhận thức, hình bóng trong tâm.

Tư duy đó một khi đã thâm nhập thì dùng cái đó để tu, tu khi có chuyện đến với mình. Sân hận đến thì mình dùng được tâm từ vì hằng ngày mình đã tu tập, tích lũy, tác ý tâm từ. Tham dục đến thì sử dụng được bất tịnh vì hằng ngày mình đã tu tập, quán chiếu. Vô minh đến thì dùng được trí tuệ, tinh cần tinh tấn, mạnh mẽ, sáng tỏ để phá tan. Bản ngã đến thì dùng sự diệt ngã, khiêm cung đánh phá nó. Như vậy sẽ thành tu tuệ, mà tu đến viên mãn thì đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tân si, thể nhập Thánh trí, diệt tham sân si, thoát ly sanh tử.

Thể nhập Thánh trí bằng cách Như lý tác ý, tức là suy nghĩ và quán chiếu. Có hai phần là chỉ và quán, một phần làm cho tâm yên tịnh, lắng dịu, từ sự yên tịnh, lắng dịu đó mới nhìn sâu vào bản chất của các pháp. Lúc đầu tác ý để nhắc nhở rồi từ từ sẽ thấm, sau đó mới nhìn thấy và thẩm thấu và cuối cùng là thể nhập, một khi đã thể nhập và chứng nhập thì không bị mất đi cái thấy biết đó nữa mà lúc nào cũng thấy đúng như vậy, hoàn toàn nhiếp phục, ly tham, ly dục thì lúc đó mình không cần quán, không cần tưởng vì đã thành tựu. Trên đây là ba giai đoạn của sự tu, đầu tiên phải nghe nhiều lần cho đến khi viên mãn, tức là những điều cần nghe mình đã nghe. Sau đó tư duy, tác ý, suy ngẫm, quán tưởng. Khi quán thì dùng hết thọ; tưởng; hành; thức, mình trải tâm từ đến những người miền Trung bị lũ lụt thì hình ảnh miền trung bão lụt hiện ra, cảm giác xót thương khởi lên, suy nghĩ tội nghiệp cảnh đời bất hạnh sanh khởi thì lúc đó cả ngũ uẩn vận hành trong tâm từ, tình thương lan tỏa cho đến khi cảm xúc trào dâng, nước mắt tuôn ra. Mỗi lần như vậy thì nó sẽ gội rửa những tâm sân, tâm hại và được thấm nhuần từ tâm, trí tuệ, tình thương. Mình ăn một hột cơm không no, ăn một muỗng không no mà phải ăn ít nhất một chén, ngày nào cũng ăn như vậy thì từ bé cho đến giờ nặng mấy chục cân, ăn nhiều ngày, ăn nhiều năm cho đến vài chục năm thì kết quả là cái thân nặng bảy mươi kí trong khi lúc đầu chỉ có ba bốn kí lô. Cũng vậy, sự tu tập này đòi hỏi thức ăn cho trí tuệ, thức ăn cho từ bi, cứ suy tư, quán chiếu, nghiền ngẫm, nhìn sâu vào bản chất của thân thể này, của đời sống này rồi phát khởi tình thương cho chính mình thật nhiều. Tội nghiệp cho mình khi cả một chặng đường dài mấy chục năm qua sống trong kiêu căng, ganh tị, đố kị, làm khổ mình khổ người, tự hại mình và hại người, vô minh mà cứ nghĩ là thông minh. Chúng ta sanh khởi lên sự tàm quý, thấy xấu hổ với Đức Phật và các bậc Thánh Tăng, thấy xấu hổ trước Tam Bảo và nước mắt tuôn trào, sợ hãi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mình quán chiếu dòng luân hồi đầy oan nghiệt này, chúng ta cứ lặp tới lặp lui sự sân hận, thiêu đốt, bốc cháy với nhau, chúng ta cứ lặp tới lặp lui sự tham lam, lam dục, tham ái, khát ái, chúng ta cứ lặp tới lặp lui cái tôi, cái ta, nhân ngã bỉ thử, hành hạ nhau trong vô lượng vô biên kiếp. Quán chiếu cả một dòng luân hồi như vậy để thấy đau xót cho chính mình, nếu chúng ta cứ vô minh, tham sân si, bản ngã như vậy thì đời sống kế tiếp sẽ tái diễn, lại phải đau khổ, trôi nổi, quay cuồng, điên đảo, phải đầy rẫy sự lo toan, bất an, sợ hãi. Chúng ta thấy ngao ngán, nhàm chán, viễn ly, muốn thoát ra khỏi bốn cái ách này: Dục ách, hữu ách, kiến ách và vô minh ách. Những cái ách này đã đè nặng chúng ta, cứ khao khát, mơ mộng, ước ao hoài. Kiến ách là kiến chấp về thân, đi đâu cũng tôi, cũng ta. Hữu ách là sự hiện hữu, lúc nào cũng yêu thích, say đắm trong sự hiện hữu, không biết cái hiện hữu này là khổ nên cứ nghĩ nó là vui rồi nắm chặt nó. Vô minh là không thấy được ngũ uẩn, không thấy được sự chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não và khổ đau. Thật sự thấy sự chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não và khổ đau mới gỡ được ách vô minh và những dục, thân kiến, sự đam mê hiện hữu từ từ theo đó cũng được tháo gỡ. Vì thế chúng ta cần cố gắng thật nhiều để giữ lửa trong đạo tràng Nikāya, "dù ai nói ngả nói nghiêng. Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân", vững như núi Tu Di. Phải thành tựu tịnh tín bất động đối với Chánh Pháp này, phải nhìn thấy đời sống này chỉ là những đống tham sân si, vô minh và bản ngã. Mục đích, sứ mạng duy nhất của chúng ta là phải dọn hết những đống đó thì mới hết khổ, song song đó Đức Phật dạy người cư sĩ phải biết bố thí làm phước, sau đó là giữ giới, do có giới thế gian mới đứng vững, đời sống mới an bình, nếu không có giới cả vũ trụ sẽ điên loạn vì giới là trật tự của hành tinh cho nên giữ giới rất quan trọng, từ chính tự thân cho đến gia đình có giữ giới mới có an bình cho thân tâm. Sau đó Đức Phật thuyết về nhân quả của sanh Thiên các cõi trời cho hàng cư sĩ để mọi người biết rằng ngoài thế giới mình đang ở còn những thế giới thù thắng, cao thượng, vi diệu, phước báo, công đức hơn để khuyến khích mọi người tu các thiện pháp, cho nên trong ngày tu cần cố gắng giữ tám giới sẽ đem lại phúc lạc, lợi ích dài lâu trong hiện tại và tương lai. Cố gắng giữ gìn các giới pháp, có những vị nữ tu bên Nam Tông suốt đời giữ gìn bát quan trai giới cho nên trong ngày tu Nikāya cố gắng giữ gìn tám giới của Đức Phật, nhân quả rất thù thắng, vi diệu. Sau khi Đức Phật nói về bố thí, giới, nhân quả của các cõi trời thì Đức Phật nói về nhân quả của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nghĩa là ngài đưa ra hai thái cực giữa thiện ác, khổ lạc, pháp đen và pháp trắng, Đức Phật nói về nhân quả, nghiệp quả để mình thấy được rồi cố gắng chọn nghiệp trắng tránh nghiệp đen. Sau khi Đức Phật nói về nghiệp báo của các cõi trời và địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì Đức Phật mới trình bày sự nguy hiểm và sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục và lợi ích của việc thoát ra. Cho nên sự tư duy của chúng ta chính là tư duy về nguy hiểm và tác hại của tham sân si, vô minh và bản ngã, thường xuyên suy nghĩ về sự nguy hiểm và tác hại của tham sân si để thoát ra. Mỗi khi nó sanh khởi trong tâm thì phải suy nghĩ hậu quả sẽ dẫn đến điều gì, nó làm cho mình đau khổ thế nào và phải thấy lợi ích của việc thoát ra khỏi nó. Khi Thế Tôn thấy tâm của người đó đã sẵn sàng, như thuận, không còn năm triền cái, tâm phấn khởi, hoan hỉ thì ngài mới thuyết pháp được các chư Phật tán dương đề cao: Khổ – Tập – Diệt – Đạo. Diệt trừ được năm triền cái là dục tham, sân, hôn trầm – thụy miên, trạo cử, hoài nghi thì Đức Phật mới thuyết Tứ Thánh Đế, là pháp mà các bậc Chánh Đẳng Giác tán dương và đề cao.

Rồi Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho tướng quân Sìha, tức là thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục, những lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tướng quân Sìha, tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phần khởi, tâm được hoan hỉ, Ngài mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: "Khổ, Tập, Diệt, Ðạo". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (II). Tướng Quân Sìha)

Vì thế trước tiên cần diệt năm triền cái trong giờ tu, hôn trầm và trạo cử, sân và tham, hoài nghi đối với pháp, diệt được những cái này Đức Phật mới nói sự thật về khổ đau, nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ. Đây là trình tự giảng pháp của Đức Phật và trình tự tu học của người cư sĩ, phải biết bố thí, giữ giới, quán chiếu nghiệp quả, tu tập nghiệp trắng trừ bỏ nghiệp đen, soi xét sâu sắc vào sự nguy hiểm, tác hại hạ liệt, ô nhiễm của tham sân si, suy nghĩ về lợi ích của việc thoát ra, xuất ly khỏi những thứ này, sau đó mới tu tập bốn Thánh đế, phải nhìn thấy cuộc đời này là đau khổ và tìm con đường thoát ra.

Sáng nay chúng ta có buổi khai pháp, mồi lại ngọn lửa Thánh trí tuệ sau khi ăn tết dài trong thời điểm dịch bệnh, gắn kết tình thân trong đạo tràng, chúng ta tinh cần tinh tấn, nỗ lực mạnh mẽ trong sự tu. Giờ này còn chần chừ sẽ trễ chuyến thuyền Bát Nhã cuối cùng của thời mạt pháp, chúng ta hãy phát khởi tâm mạnh mẽ, hoan hỉ trong sự tu học.

Nguyện đem công đức hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.