Nhiệt Tâm và Hổ Thẹn
Tâm Sự Với Người Xuất Gia
NHIỆT TÂM & HỔ THẸN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khắc ghi mục đích xuất gia PAGEREF _Toc112837490 \h 1
II. Hổ thẹn PAGEREF _Toc112837491 \h 7
III. Chánh niệm PAGEREF _Toc112837492 \h 14
I. Khắc ghi mục đích xuất gia
Trong chánh tạng Pāli, Đức Phật nói có năm nguyên nhân làm cho chánh pháp bị sụp đổ, bị thối đọa. Thứ nhất là không cung kính Phật-bậc Đạo sư, thứ hai là không cung kính pháp, thứ ba là không cung kính Tăng, thứ tư là không cung kính và tiếp đón các bậc trưởng thượng, thứ năm là không cung kính thiền định. Đó là nguyên nhân làm cho giáo pháp sụp đổ.
“Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho diệu pháp bị hỗn loạn và biến mất. Thế nào là năm?
Ở đây, này Kassapa, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ:
Sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư,
Sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh pháp,
Sống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăng,
Sống không tôn kính, không tùy thuận học giới,
Sống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền định.
Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), XIII. Tượng Pháp)
Mình phải luôn luôn nhớ đến lý tưởng của ngày đầu tiên xin cha mẹ cho mình đi xuất gia, điều này suốt cuộc đời tu mình không thể nào quên. Không một ngày nào mà quý huynh đệ không đặt lại câu hỏi này, riêng bản thân Minh Thành xuất gia gần 30 năm không một ngày nào mà Minh Thành không đặt lại câu hỏi Tại sao mình đi tu, đừng để mình quên mục đích cao quý, hiền thiện, tốt lành này. Năm lần bảy lượt xin gia đình mới được cho đi xuất gia chứ không phải dễ mà đi được, mình muốn đi xuất gia là phải vượt qua bao nhiêu chướng ngại của nội tâm, của hoàn cảnh, của cha mẹ, của người thân thương trong gia đình, thậm chí có những mối tình mình phải vứt bỏ.
Đó là ý chí hiền thiện, đó là cái chí hướng cao thượng và rộng lớn của người xuất gia. Mọi người nhắm mắt nhớ lại lần đầu tiên được thầy bổn sư cạo tóc, hình ảnh đó như thế nào? Thật sự rất quý, xúc động, thậm chí là mình chảy nước mắt, những người thân đứng bên cạnh cũng rơi lệ, hình ảnh này rất đẹp và cao quý của người tu. Đến ngày giờ này, sau khi xuất gia 4 năm, 5 năm, 7 năm… và mỗi khi mình cạo tóc thì mình có thấy điều này thiêng liêng giống như lần đầu tiên mình được thầy Bổn sư hớt ba ngọn tóc bỏ xuống hay là mình đã quên mất? Trong Trưởng Lão Tăng Kệ có nói đến một vị đi xuất gia, khi thầy Bổn sư khi đang cạo nhúm tóc thứ nhất là vị này đã chứng Sơ quả, cắt đến nhúm tóc thứ hai là vị này chứng Nhị quả, cắt đến nhúm tóc thứ ba là chứng Tam quả. Cuối cùng, thầy Bổn sư cắt đến nhúm tóc thứ tư là vị này chứng Tứ quả A-la-hán.
“Ngài sanh ra trong gia đình của dân tộc Mallà ở Anupiyà. Khi mới bảy tuổi, ngài được thấy bậc Ðạo Sư khi Thế Tôn viếng thăm xứ sở và nhà của ngài.
Ngài bị ảnh hưởng đến nỗi ngài xin phép bà nội cho được xuất gia với bậc Ðạo Sư, mẹ ngài đã mất khi sanh ngài. Bà nội ngài đưa ngài đến yết kiến đức Phật và đức Phật giao cho một Tỳ-kheo làm lễ xuất gia cho ngài. Ngài với nghiệp nhân quá khứ với ước vọng tương lai đang chín muồi, nên chứng được bốn quả liên tiếp chính trong khi ngài được cạo tóc.
Khi bậc Ðạo Sư từ giã xứ Mallà để đi về Vương Xá, Dabba thiền quán một mình, và muốn dùng thân để phục vụ giáo hội và nhận công việc phân phối chỗ ngủ, tổ chức các buổi ăn. Bậc Ðạo Sư chấp nhận công việc làm này, xác nhận sự thành công của ngài, khả năng thần thông của ngài, với ngón tay chói sáng của mình soi sáng cho các đồng Phạm hạnh về chỗ ngủ.”
(Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương I. Một Kệ, Phẩm Một, (V) Dabba (Thera. 2))
Ngày hôm nay nhìn lại lúc cạo tóc mình như thế nào hay là mình đã quen với việc cạo tóc này rồi nên mình quên đi cảm xúc, lý tưởng ban đầu, thậm chí mình quên luôn bài kệ. Mình cạo bỏ râu tóc này là mình mong muốn vứt bỏ hết tất cả những tham dục, vô minh và chấp ngã, mình đập tan cái tôi, diệt tận tham ái, mình thệ nguyện với bản thân như vậy thì việc cạo tóc mới có ý nghĩa, nếu không việc cạo tóc không khác gì người thế gian cạo tóc bên ngoài, hoàn toàn không có giá trị.
Phải thấy rõ được ý nghĩa tại sao mình cạo tóc, cạo tóc để làm gì và sự cạo tóc này đưa mình đến mục đích gì của đời sống xuất gia. Đây là sự tu tập không thể không có của một người xuất gia, nếu không tu tập cái này thì không thể giữ giới được. Hộ trì căn là phải luôn cẩn thận với cái nhìn và cái nghe, với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình. Khi Đức Phật thực tập dưới cội Bồ đề, lúc chuẩn bị chứng Chánh Đẳng Chánh Giác thì Đức Phật đã nói một câu mình phải lưu tâm:
“-- Chư Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư Tỳ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.
Chư Tỳ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Chư Tỳ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Chư Tỳ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Chư Tỳ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.”
(Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song Tầm)
Sau đó Đức Phật đã chứng được Tam minh, vì vậy ba chữ không phóng dật rất quan trọng. Mỗi khi mình Bố tát, khi mình còn là Sa-di được các vị Hòa Thượng đọc 10 giới nhắc nhở mình thì cuối cùng nhắc lại chớ có buông lung, đừng có phóng dật, vì ba chữ này sẽ đưa mình thành tựu được sự nghiệp lớn của người xuất gia và mình phải luôn nhớ không được quên không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Nếu mình để thân tâm này nghĩ gì là nghĩ, nói gì là nói, làm gì là làm mà mình không chế ngự, không hộ trì các căn, mình không biết làm chủ được ba nghiệp thân – khẩu – ý thì trong kinh ví dụ giống như con voi.
“Ta tuyên bố rằng, này Udàyi, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, ai không phạm một tội về thân, về lời, về ý nghĩ, người ấy Ta nói rằng: "Người ấy là con voi".”
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (I) (43) Con Voi)
Đó là cái tâm không được tu tập, không được điều phục nên nét đẹp của Tỳ-kheo là sự thu thúc lục căn thanh tịnh giới, nếu không có điều này thì người xuất gia chỉ có cái vỏ mà không có ruột. Một trái dưa hấu chỉ có vỏ mà không có ruột thì chỉ để trưng cho đẹp chứ không làm gì được, cũng vậy, người xuất gia không có giới – định – huệ, không có chánh niệm tỉnh giác, không biết chế ngự và thu thúc sáu căn ba nghiệp thì sự xuất gia đó chỉ là trống trỗng, không có ý nghĩa lợi ích gì, mà còn bị sa đọa trong sự cúng dường, trong lòng tin, tin tưởng của Đàn-na tín thí.
Nếu mình không xuất gia mà lên Sài Gòn tạm trú trong căn phòng nhỏ thì mỗi tháng mình phải trả tiền phòng, tiền điện, nước, tiền xăng, tiền ăn uống bao nhiêu? Đơn giản nhất tiền sinh hoạt phí cũng phải 6-7 triệu một tháng, vậy thì một năm cỡ 80 triệu mà mình lên đây học 4 năm thì hết 320 triệu, nếu học thêm Cao đẳng 3 năm hoặc Học viện 4 năm nữa thì gần 700 triệu, đó là chưa kể nếu học lên Cao học hoặc Tiến sĩ thì số tiền là bạc tỷ. Vậy mình lấy gì trả số tiền đó nếu mình không tu tập giới – định – huệ?
Nhất định phải trả, không trả cách này thì cũng trả cách khác. Nếu mình không bước lên thánh đạo, thánh quả, nếu mình không giữ vững các thiện pháp để đời sau mình được sanh ra làm người để còn gặp thánh pháp tiếp tục tu tập mà mình để mất phước báo, mất công đức, mất những thiện pháp rồi sống cuộc đời buông lung phóng dật, không biết giữ phước, không biết tạo phước, không biết thực tập tuệ quán thì đời sau là nguyên nhân để mình thối đọa, nhất định mình phải trả cái nợ đó.
Nợ bây giờ có lời lãi rất nặng, nợ theo kiểu tín dụng đen và lãi rất cao vì người ta đầu tư cúng dường cho mình là người ta muốn có lợi ích chứ người ta đâu có đầu tư vào chỗ bị mất vốn, chẳng những người ta đưa tiền mà người ta còn quỳ lạy mình thì mọi người nghĩ rằng mình lấy gì trả lại món nợ đó nếu không tu học cho tốt? Nếu xét lại những điều này thì mọi người sẽ thấy rất sợ, nên trong kinh Đức Phật đã nói:
“Ở đây, này Upàli, vị Tỳ-kheo giữ giới sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (II) (32) Người Ðoạn Sự)
Đây là những điều Đức Phật đã nói trong chánh tạng Pali, không phải bản thân Minh Thành tự nói. Nếu mình có học Phật kĩ rồi chiêm nghiệm kĩ sẽ thấy rất sợ hãi. Không thể nào quỵt nợ người ta được, ngoài đời mình quỵt nợ rồi sẽ thấy hậu quả, không ai tha được cho mình. Còn người xuất gia là kẻ nợ của khắp thiên hạ.
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đổ nhân điểu
Vấn lộ bạch vân đầu.
Dịch nghĩa: Một bát cơm ngàn nhà,
Thân chơi muôn dặm xa,
Mắt xanh xem trần thế,
Mây trắng hỏi đường qua.
Trong bát cơm của mình là mồ hôi, nước mắt và máu hồng. Từng cái ghế mình ngồi đều là sự vất vả cực nhọc của Đàn-na tín thí. Trong từng chiếc xe mà mình chạy đều có huyết lệ của tất cả mọi người. Ngay cả ông bà, cha mẹ, cô bác của mình cúng dường trong đó thì mình phải tu học như thế nào để đền đáp lại lòng tin, tình thương, sự chăm sóc và cung kính đó. Mọi người phải chiêm nghiệm lại điều này thật kĩ chứ đừng xem thường, đừng sống trong sự lãng quên, quên đi mình là cái gì, mình là ai và mình sẽ đi đến đâu.
Có thể lần này là lần cuối cùng Minh Thành nói chuyện với các huynh đệ trong khóa học này. Một người được xuất gia, được bước vào trong trường Phật học của trung tâm thành phố như thế này thì mọi người phải biết thiện căn phước đức, nhân duyên của mình rất sâu dày vì vậy mình phải biết nắm bắt và trân trọng cơ hội ngàn năm có một này, giống như trong biển sanh tử mà mình đã lặn hụp, chìm đắm trong này mà mình vớ được cái phao thì đó là duyên lành của mình chứ đừng bỏ qua một cách lãng phí, hãy biết tận dụng nó.
Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ Tăng loạn bụi đời.
(Kinh Pháp Cú 22 – Phẩm Địa Ngục, kệ 313)
Đức Phật đã nói như vậy trong kinh Pháp Cú, việc đáng làm thì hãy làm và làm cùng tận khả năng của mình. Đem hết tâm lực – trí lực – sức lực để học và thực hành. Không phải mình tu chỉ cho mình mà mình còn đem thánh pháp quý báu này làm cho quang tông diệu tổ, đền đáp cho cha mẹ mình, cho những người thân thương, ân nghĩa, tình nghĩa nhất trong đời với mình.
II. Hổ thẹn
Mình tu học cho tốt thì khi ngồi để Phật tử quỳ lạy mình sẽ không thấy hổ thẹn nhiều, ngược lại mình không có giới hạnh, phước đức không chịu gieo trồng, mình lười nhác, làm biếng, trí huệ không tu tập thiền quán, không thực hành Tứ Niệm Xứ, không thực hành Bát Chánh Đạo, không quán chiếu Tứ Diệu Đế để thấy bản chất của cuộc đời mà mình ngồi cho người ta lạy thì mình có an tâm hay không? Hãy chiêm nghiệm sâu sắc cơ hội này để mình vượt thoát ra khỏi đống bùn lầy của phiền não, khổ đau.
“Nếu Tỳ-kheo trong khi đứng, ... nếu Tỳ-kheo trong khi ngồi ... nếu Tỳ-kheo trong khi nằm thức, tham, sân, si được từ bỏ ... hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi được đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỳ-kheo, nếu các Tỳ-kheo khi đang thức có sở hành như vậy; vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có xấu hổ, liên tục thường hằng tinh cần tinh tấn, siêng năng.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (II) (12) Chế Ngự)
Nếu người nào để cho các phiền não này vận hành thì Đức Thế Tôn chê người đó không biết xấu hổ, không có nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn trong giáo pháp của Như Lai. Như vậy tham, sân, hôn trầm, trạo hối, thùy miên là năm sự trói buộc và che đậy của nội tâm. Mình bị năm cái này che kín, sở dĩ trí huệ của mình không sáng tỏ được là do năm thứ này che mất. Chỉ mỗi việc tham ngủ thôi là ngồi trong ánh sáng nhưng là đang ở trong bóng tối của si mê, trong giờ học không lắng tai chú tâm nghe pháp mà lại tham nói chuyện, thì tham chính là dục.
Hoặc là ăn, uống trong lúc học, không thì ngồi vọng tưởng hoặc nghịch điện thoại… tất cả những cái này đều là triền cái, là kiết sử trói buộc của tâm. Đây là trạo cử, không ngồi yên được mà phải kiếm cái gì để làm, đó là một thứ phiền não rất nặng. Cho mình lăng xăng suốt ngày thì mình rất vui, cười nói đủ thứ còn nếu yêu cầu ngồi thiền một tiếng không nhúc nhích là chịu không nổi, đây là sự trói buộc của tâm, là sự trạo cử, cái tâm bị rạo rực, muốn làm này làm kia chứ không muốn ngồi yên. Nếu người nào bị cái này thì vĩnh viễn không bao giờ vào được sơ thiền vì sơ thiền là trạng thái tâm yên định lìa khỏi năm sự trói buộc này.
Ngay khi đang nghe pháp mà nếu lìa được năm cái này thì trạng thái hiện giờ là đang thể nhập trong sơ thiền chứ không phải ngồi nhắm mắt lim dim là sơ thiền, bất cứ lúc nào mình thực tập được thì chỗ đó mình vào được sơ thiền. Hoặc khi đang nghe pháp mà chỗ đó không hợp ý rồi mình nổi giận thì đó là sân triền cái, trong đó có tư tưởng chống cự lại thì phải dập tắt, chặt nó như chặt cây dừa, cây cau, bứng gốc nó thì lúc đó người này là người tinh tấn, siêng năng, nỗ lực, tinh cần trong thiện pháp của Như Lai, nếu mình để cho nó hoành hành, mình nuôi dưỡng nó để nó phát sanh ra thì đó là người không biết hổ thẹn, không biết xấu hổ trong giáo pháp của Như Lai.
Giống như trong nhà có con rắn mà mình cứ để nó ở vậy không đuổi nó ra, người chất chứa phiền não, không chịu diệt trừ giống như kẻ tâm thần ngoài thế gian vì không nhận định được đó là nguy hại, chúng sanh không nghe chánh pháp, không biết tu tập chánh pháp thì tất cả đều bị thần kinh của tâm linh, gọi là điên đảo vì không phân biệt được đâu là thiện pháp, đâu là bất thiện pháp, không phân biệt được cái nào đưa mình đến khổ, sầu bi khổ ưu não, cái nào đưa mình đến thanh lương Niết-bàn tịch tịnh giải thoát, mà không phân biệt được thì gọi là vô minh. Bây giờ mình là người tỉnh táo thấy trong nhà có con rắn thì lập tức mình sẽ phải đuổi nó ra, mình đâu phải thấy biết rồi tiếp tục ngủ.
Còn nếu mình được ai cho món đồ quý như tượng Phật bằng vàng thì đương nhiên mình phải cất giữ thật kĩ, thì đó là thiện pháp được hộ trì còn bất thiện pháp phải được diệt trừ, đây chính là Tứ Chánh Cần trong đạo Phật. Trong tâm mình khởi lên bao nhiêu dục, sân, si mê, bao nhiêu tật đố mà mình cứ để cho nó khởi, không phát giác ra, không nhận diện được, không đoạn tận, tẩy sạch nó thì uổng cho đời sống xuất gia của mình.
Lên bồ đoàn ngồi tụng niệm rồi trở ra cũng y như cũ, bao nhiêu năm tu học mà không sửa đổi được gì, không điều chỉnh được gì thì việc tu học, tụng niệm chỉ có lợi ích ngoài da, không có giá trị bao nhiêu hết. Mình phải thực sự chuyển hóa trong nội tâm của mình, mình phải mạnh mẽ nhìn nhận những thói hư tật xấu, những bất thiện pháp tìm ẩn trong thân; miệng; ý của mình thì đó mới là sự nỗ lực của người xuất gia.
Phải tinh cần, tinh tấn chứ không được thụ động, lúc mới vào công quả để xuất gia thì siêng lắm, lúc còn là Sa-di cũng siêng năng lắm, tụng kinh niệm Phật, ngồi thiền rất đúng thời nhưng đến khi thọ giới Tỳ-kheo thì hết siêng vì "giờ tôi là thầy rồi", thất bại ngay chỗ này. Lúc đầu nghe pháp rất siêng năng, thường mở kinh ra đọc, đến khi ở lâu trong chùa nghe kinh hoài lại cảm thấy chán, muốn nghe về xe cộ, hàng hiệu hấp dẫn hơn, như vậy pháp thân đã mất, trí huệ thân bị thối lui, chí hướng giải thoát bị diệt vong.
Thật là đáng hổ thẹn, đáng xấu xa, nhục nhã!
Một người xuất gia mà lại không muốn nghe kinh, không thích nghe nữa, không thích tu học nữa mà lại thích chuyện đời, thích được bao thư dày cộm, thích được xe cộ, có chùa lớn, có tượng Phật hoành tráng thì đó là một sự xót xa, cay đắng cho một người xuất gia, cho nên khi nghe trong Tương Ưng Bộ kinh, phẩm Lợi Đắc Cung Kính sẽ cảm thấy rất xót xa, Đức Phật dùng những hình ảnh mà mình thấy thật sự xấu hổ, tự thân mình cảm thấy nhục nhã.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: "Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này".
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỳ-kheo khoe khoang như sau: "Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỳ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh".
Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỳ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỳ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn).
Người xuất gia không có chánh niệm tỉnh giác, không có Như lý tác ý, không có suy xét đúng pháp thì sự cung kính, lợi dưỡng cúng dường cũng giống như con giòi ăn phân. Mình hài lòng, thỏa mãn trong đó thì Đức Phật nói là đắng cay, ác độc, lợi đắc cung kính cúng dường này là sấm sét sẽ đánh mình chết.
“Này các Tỳ-kheo, sét đánh chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
Như vậy, khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Sét Ðánh)
Sự lợi đắc cung kính cúng dường này là miếng mồi câu của Ác ma, dính vào rồi dù cho có giãy giụa cỡ nào cũng không thoát ra được.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
Như vậy mình đừng thấy người ta được cung kính cúng dường nhiều, được lợi ích nhiều thì mình buồn tủi, đừng bao giờ có cái tâm đó. Mỗi người có cái phước riêng, có quả riêng, mình cố gắng làm rồi mình sẽ được nhưng nếu mình đi xuất gia vì những thứ này thì mình ở ngoài đời tự làm rồi muốn mua gì thì mua. Mình đi xuất gia là để mong cầu phá tan vô minh, tham ái và chấp thả, thành tựu được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đem lại lợi ích cho nhân thiên pháp giới chúng sanh.
Đó là Bồ đề tâm tối thượng của người xuất gia, phải quán chiếu sâu sắc về điều này. Cũng trong phẩm Lợi Đắc Cung Kính này Đức Phật lấy ví dụ có 2 con rùa nói chuyện với nhau, một con rùa khuyên con còn lại đừng qua bên kia, thợ săn sẽ bắt mất. Nhưng con này không đồng ý, nói là không thấy người thợ săn nào mà bên kia lại có cảnh đẹp. Vậy là con rùa này bò qua đó chơi nhưng cứ bò vòng lòng hoài thì gặp lại con rùa lúc trước khuyên, con rùa đó thấy vậy liền nói bạn bị mắc câu rồi nhưng con rùa này vẫn chối là không bị mắc câu, tôi chỉ thấy có sợi dây bị vướng thôi. Con rùa kia mới nói cha của anh, ông của anh cũng từng bị mắc câu như vậy, hôm nay đến phiên anh cũng bị mắc câu như vậy, chúng sẽ đem anh đi rồi tùy nghi sử dụng. Dây câu đó là sự lợi dưỡng cung kính cúng dường.
“Rồi này các Tỳ-kheo, một con rùa nói với một con rùa khác:
" -- Này Rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy".
Con rùa này, này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng nó với cây lao có dây.
Rồi con rùa ấy đi đến con rùa kia.
Này các Tỳ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với con rùa này:
" -- Này Rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia?"
" -- Này Rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia".
" -- Này Rùa thân mến, bạn có bị thương, bị bắn trúng không?"
" -- Này Rùa thân mến, tôi không bị thương, không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính theo trên lưng tôi".
" -- Này Rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này Rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, mà cha Bạn và Ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi, Rùa thân mến. Nay Bạn không còn thuộc chúng ta nữa!"
Người thợ săn, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ác ma. Cái lao, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng. Sợi dây, này các Tỳ-kheo, chỉ cho hỷ tham.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng, hưởng thọ và ái luyến; vị ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Con Rùa)
III. Chánh niệm
Phải thật thận trọng, mọi người đừng thấy có người khen ngợi là thích. Ban đầu thì khen "thầy ơi, thầy có tướng hảo quá, con thấy thầy tu tinh tấn có phước tướng con quý thầy lắm, kính thầy lắm", vài bữa thì cúng thân, lâu lâu lại một lần, sau đó 2-3 ngày lại rồi cuối cùng "sao con thấy thầy con thương quá". Vậy là bắt đầu cái lưỡi câu lòi ra, nhưng quan trọng là mình có ý thức được đó là lưỡi câu không hay mình cắn câu luôn. Thật sự rất là nguy hiểm, mình phải có sự chánh niệm tỉnh giác, thận trọng, luôn đề phòng, tự mình dò xét mình xem nội tâm của mình nếu sanh ra sự ái nhiễm, dính mắc thì phải tẩy rửa, dùng Như lý tác ý quở trách "cái này là cái xấu hổ, mình đi xuất gia vì những thứ này hay sao? Mình bỏ cha bỏ mẹ để đi làm điều này sao? Đây là nguyên nhân đẩy mình đi vào vòng khốn cùng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chính cái này là ác ma đưa mình vào vòng tâm tối của vô minh".
Mình đánh tan tâm niệm dính mắc, tham ái, chấp thủ trong đó, sau đó mình quán chiếu dục là rắn độc, là mũi tên, lưỡi câu, miếng mồi cho ác ma, dục là kẻ sát nhân giết người. Đây là những câu mà Đức Phật gọi là pháp lệnh trong kinh tạng Nikāya và phải học thuộc để khi dục, sân, phiền não khởi lên là mình lấy ra dùng để tẩy rửa nó, giống như Chuẩn Đề Vương Bồ Tát có 18 tay cầm 18 loại binh đao, vũ khí, hễ thấy tên ác ma nào là chém tức thì. Trong Tây Du Kí, Đường Tăng nhìn chỉ thấy đó là cô gái, ông già, bà già nhưng khi Tôn Ngộ Không nhìn thì đó là bạch cốt tinh nên phải giết, mà giết sạch hết thì thành sát tặc đại sư, thành A-la-hán.
Còn không thì mình bị các ác, bất thiện pháp giết ngược lại thì mình thành tù nhân của nó. Vậy chọn lựa để thành thánh nhân hay tù nhân là do bản thân mình, đó là sự tinh cần nỗ lực của người xuất gia, cho nên phải tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm. Niệm chính là chánh niệm, mà chánh niệm là Tứ Niệm Xứ, là luôn thấy được tính chất bất tịnh của thân này, phải quán chiếu ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi, những điều này ngày nào cũng phải quán chiếu, còn nếu không quán chiếu sẽ bị tham dục nhiếp phục, nó nhận chìm mình xuống vòng xoáy của dục.
Phải thực tập Tứ Niệm Xứ cho nhuần nhuyễn, quán bất tịnh thường xuyên, phải xem những hình ảnh những con giòi, những con kên kên ăn xác chết, đó cũng là mình, thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ). Điều này phải được quán chiếu cho sâu sắc để trí huệ được khai mở, lúc nào mình cũng phải nhìn thấy thực tính của thân này, đó là do ngũ uẩn tứ đại kết hợp. Điều này được quán chiếu liên tục không ngơi nghỉ thì gọi là an trú niệm.
Thân được khinh an, không có cuồng nhiệt. Mình tu tập thân được khinh an thì lúc đó sẽ rất nhẹ nhàng, lúc nào thân cũng ở trong trạng thái thảnh thơi, an tịnh chứ không có xôn xao, cuồng nhiệt, không có nóng bỏng quay cuồng. Thân tu tập, tâm tu tập, miệng tu tập, mình đưa tất cả vào chỗ thảnh thơi, nhẹ nhàng, trong mọi lúc mọi nơi đều giữ cho tâm được chánh niệm, thân được khinh an, sức mạnh của người tu là làm chủ được thân tâm.
Còn hạnh phúc nào vui bằng hạnh phúc khi mình làm chủ được thân tâm chính mình, đó mới là người tự do thật sự. Còn đằng này mình muốn yên mà yên không được, muốn tỉnh mà cứ ngủ, mình muốn bất động mà thân cứ giao động thì đây là sự trói buộc chứ không phải tự do. Tâm được định tĩnh nhất tâm, đây là một cái tâm thuần nhất, nhận diện được các cảm giác đang diễn ra trong thân ngay giây phút hiện tại. Nếu người xuất gia ý thức đúng thì rất quý, rất đẹp, rất cao thượng. Đức Thế Tôn khen ngợi hàng đệ tử của Ngài là chúng trung tôn, là hội chúng thù thắng trong tất cả hội chúng ở thế gian này nếu thật sự thực tập đúng theo lời Phật dạy.
“Có hai loại hội chúng này, này các Tỳ-kheo. Thế nào là hai?
Hội chúng không thù thắng
Hội chúng thù thắng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng không thù thắng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các trưởng lão Tỳ-kheo sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không có gia sức tinh tấn để đạt đến những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Còn lớp hậu nhân, tùy thuận hậu kiến của họ, sống trong sự đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không có gia sức tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng không thù thắng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng thù thắng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các trưởng lão Tỳ-kheo không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, có gia sức tinh tấn để đạt đến những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Còn lớp hậu nhân, tùy thuận hậu kiến của họ, không sống trong sự đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, có gia sức tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng thù thắng.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Mình muốn thực tập đúng lời Phật dạy thì phải học cho đúng pháp, còn bây giờ tà pháp lẫn lộn với chánh pháp, mình phải lấy năm bộ kinh Nikāya làm thánh điển y cứ, đó là lời gốc của Phật dạy. Tất cả những gì Đức Phật dạy nằm trong đó, lấy đó làm chuẩn tắc tu hành và nó sẽ đưa mình đến chỗ tịnh lạc thanh lương, đó là con đường độc nhất đưa đến chánh trí Niết-bàn giải thoát. Cho nên mình ý thức được giá trị quý báu của đời sống xuất gia thì mọi người sẽ thấy rất vui, mình nghe pháp trong sự nhiệt tâm tinh cần, trong sự thực hành tha thiết nỗ lực thì mình sẽ có được pháp hỷ, pháp lạc, có khinh an, có định rồi mình sẽ thấy biết như thật.
Thấy biết đúng sự thật rồi mình sẽ nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhàm chán đối với tất cả vật ở trên đời, từ đó mình sẽ lìa tham dục hoàn toàn thì mình sẽ được giải thoát và mình biết được đây là sự giải thoát, vậy là mình thành tựu được cứu cánh đời sống Phạm hạnh của người xuất gia. Đó là giá trị vĩ đại, đó là cái mà mọi người bỏ hết tất cả để thành tựu rồi đem cái này về để dâng lên cho cha mẹ, cho ông bà tổ tiên, cho dòng tộc, dâng cái này lên cho Đàn-na tín thí, những người đã tin tưởng, cúng dường, hi vọng, đặt hết niềm tin vào mình và đảnh lễ mình. Mình đem cái này để đền trả lại thì đó là sự xuất ly vĩ đại của người xuất gia. Kính chúc tất cả các huynh đệ có được niềm an lạc.
./.
NHIỆT TÂM & HỔ THẸN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khắc ghi mục đích xuất gia PAGEREF _Toc112837490 \h 1
II. Hổ thẹn PAGEREF _Toc112837491 \h 7
III. Chánh niệm PAGEREF _Toc112837492 \h 14
I. Khắc ghi mục đích xuất gia
Trong chánh tạng Pāli, Đức Phật nói có năm nguyên nhân làm cho chánh pháp bị sụp đổ, bị thối đọa. Thứ nhất là không cung kính Phật-bậc Đạo sư, thứ hai là không cung kính pháp, thứ ba là không cung kính Tăng, thứ tư là không cung kính và tiếp đón các bậc trưởng thượng, thứ năm là không cung kính thiền định. Đó là nguyên nhân làm cho giáo pháp sụp đổ.
“Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho diệu pháp bị hỗn loạn và biến mất. Thế nào là năm?
Ở đây, này Kassapa, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ:
Sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư,
Sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh pháp,
Sống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăng,
Sống không tôn kính, không tùy thuận học giới,
Sống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền định.
Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp), XIII. Tượng Pháp)
Mình phải luôn luôn nhớ đến lý tưởng của ngày đầu tiên xin cha mẹ cho mình đi xuất gia, điều này suốt cuộc đời tu mình không thể nào quên. Không một ngày nào mà quý huynh đệ không đặt lại câu hỏi này, riêng bản thân Minh Thành xuất gia gần 30 năm không một ngày nào mà Minh Thành không đặt lại câu hỏi Tại sao mình đi tu, đừng để mình quên mục đích cao quý, hiền thiện, tốt lành này. Năm lần bảy lượt xin gia đình mới được cho đi xuất gia chứ không phải dễ mà đi được, mình muốn đi xuất gia là phải vượt qua bao nhiêu chướng ngại của nội tâm, của hoàn cảnh, của cha mẹ, của người thân thương trong gia đình, thậm chí có những mối tình mình phải vứt bỏ.
Đó là ý chí hiền thiện, đó là cái chí hướng cao thượng và rộng lớn của người xuất gia. Mọi người nhắm mắt nhớ lại lần đầu tiên được thầy bổn sư cạo tóc, hình ảnh đó như thế nào? Thật sự rất quý, xúc động, thậm chí là mình chảy nước mắt, những người thân đứng bên cạnh cũng rơi lệ, hình ảnh này rất đẹp và cao quý của người tu. Đến ngày giờ này, sau khi xuất gia 4 năm, 5 năm, 7 năm… và mỗi khi mình cạo tóc thì mình có thấy điều này thiêng liêng giống như lần đầu tiên mình được thầy Bổn sư hớt ba ngọn tóc bỏ xuống hay là mình đã quên mất? Trong Trưởng Lão Tăng Kệ có nói đến một vị đi xuất gia, khi thầy Bổn sư khi đang cạo nhúm tóc thứ nhất là vị này đã chứng Sơ quả, cắt đến nhúm tóc thứ hai là vị này chứng Nhị quả, cắt đến nhúm tóc thứ ba là chứng Tam quả. Cuối cùng, thầy Bổn sư cắt đến nhúm tóc thứ tư là vị này chứng Tứ quả A-la-hán.
“Ngài sanh ra trong gia đình của dân tộc Mallà ở Anupiyà. Khi mới bảy tuổi, ngài được thấy bậc Ðạo Sư khi Thế Tôn viếng thăm xứ sở và nhà của ngài.
Ngài bị ảnh hưởng đến nỗi ngài xin phép bà nội cho được xuất gia với bậc Ðạo Sư, mẹ ngài đã mất khi sanh ngài. Bà nội ngài đưa ngài đến yết kiến đức Phật và đức Phật giao cho một Tỳ-kheo làm lễ xuất gia cho ngài. Ngài với nghiệp nhân quá khứ với ước vọng tương lai đang chín muồi, nên chứng được bốn quả liên tiếp chính trong khi ngài được cạo tóc.
Khi bậc Ðạo Sư từ giã xứ Mallà để đi về Vương Xá, Dabba thiền quán một mình, và muốn dùng thân để phục vụ giáo hội và nhận công việc phân phối chỗ ngủ, tổ chức các buổi ăn. Bậc Ðạo Sư chấp nhận công việc làm này, xác nhận sự thành công của ngài, khả năng thần thông của ngài, với ngón tay chói sáng của mình soi sáng cho các đồng Phạm hạnh về chỗ ngủ.”
(Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương I. Một Kệ, Phẩm Một, (V) Dabba (Thera. 2))
Ngày hôm nay nhìn lại lúc cạo tóc mình như thế nào hay là mình đã quen với việc cạo tóc này rồi nên mình quên đi cảm xúc, lý tưởng ban đầu, thậm chí mình quên luôn bài kệ. Mình cạo bỏ râu tóc này là mình mong muốn vứt bỏ hết tất cả những tham dục, vô minh và chấp ngã, mình đập tan cái tôi, diệt tận tham ái, mình thệ nguyện với bản thân như vậy thì việc cạo tóc mới có ý nghĩa, nếu không việc cạo tóc không khác gì người thế gian cạo tóc bên ngoài, hoàn toàn không có giá trị.
Phải thấy rõ được ý nghĩa tại sao mình cạo tóc, cạo tóc để làm gì và sự cạo tóc này đưa mình đến mục đích gì của đời sống xuất gia. Đây là sự tu tập không thể không có của một người xuất gia, nếu không tu tập cái này thì không thể giữ giới được. Hộ trì căn là phải luôn cẩn thận với cái nhìn và cái nghe, với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình. Khi Đức Phật thực tập dưới cội Bồ đề, lúc chuẩn bị chứng Chánh Đẳng Chánh Giác thì Đức Phật đã nói một câu mình phải lưu tâm:
“-- Chư Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư Tỳ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.
Chư Tỳ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Chư Tỳ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Chư Tỳ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Chư Tỳ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh cần.”
(Trung Bộ Kinh, 19. Kinh Song Tầm)
Sau đó Đức Phật đã chứng được Tam minh, vì vậy ba chữ không phóng dật rất quan trọng. Mỗi khi mình Bố tát, khi mình còn là Sa-di được các vị Hòa Thượng đọc 10 giới nhắc nhở mình thì cuối cùng nhắc lại chớ có buông lung, đừng có phóng dật, vì ba chữ này sẽ đưa mình thành tựu được sự nghiệp lớn của người xuất gia và mình phải luôn nhớ không được quên không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực. Nếu mình để thân tâm này nghĩ gì là nghĩ, nói gì là nói, làm gì là làm mà mình không chế ngự, không hộ trì các căn, mình không biết làm chủ được ba nghiệp thân – khẩu – ý thì trong kinh ví dụ giống như con voi.
“Ta tuyên bố rằng, này Udàyi, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, ai không phạm một tội về thân, về lời, về ý nghĩ, người ấy Ta nói rằng: "Người ấy là con voi".”
(Tăng Chi Bộ, Chương VI - Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (I) (43) Con Voi)
Đó là cái tâm không được tu tập, không được điều phục nên nét đẹp của Tỳ-kheo là sự thu thúc lục căn thanh tịnh giới, nếu không có điều này thì người xuất gia chỉ có cái vỏ mà không có ruột. Một trái dưa hấu chỉ có vỏ mà không có ruột thì chỉ để trưng cho đẹp chứ không làm gì được, cũng vậy, người xuất gia không có giới – định – huệ, không có chánh niệm tỉnh giác, không biết chế ngự và thu thúc sáu căn ba nghiệp thì sự xuất gia đó chỉ là trống trỗng, không có ý nghĩa lợi ích gì, mà còn bị sa đọa trong sự cúng dường, trong lòng tin, tin tưởng của Đàn-na tín thí.
Nếu mình không xuất gia mà lên Sài Gòn tạm trú trong căn phòng nhỏ thì mỗi tháng mình phải trả tiền phòng, tiền điện, nước, tiền xăng, tiền ăn uống bao nhiêu? Đơn giản nhất tiền sinh hoạt phí cũng phải 6-7 triệu một tháng, vậy thì một năm cỡ 80 triệu mà mình lên đây học 4 năm thì hết 320 triệu, nếu học thêm Cao đẳng 3 năm hoặc Học viện 4 năm nữa thì gần 700 triệu, đó là chưa kể nếu học lên Cao học hoặc Tiến sĩ thì số tiền là bạc tỷ. Vậy mình lấy gì trả số tiền đó nếu mình không tu tập giới – định – huệ?
Nhất định phải trả, không trả cách này thì cũng trả cách khác. Nếu mình không bước lên thánh đạo, thánh quả, nếu mình không giữ vững các thiện pháp để đời sau mình được sanh ra làm người để còn gặp thánh pháp tiếp tục tu tập mà mình để mất phước báo, mất công đức, mất những thiện pháp rồi sống cuộc đời buông lung phóng dật, không biết giữ phước, không biết tạo phước, không biết thực tập tuệ quán thì đời sau là nguyên nhân để mình thối đọa, nhất định mình phải trả cái nợ đó.
Nợ bây giờ có lời lãi rất nặng, nợ theo kiểu tín dụng đen và lãi rất cao vì người ta đầu tư cúng dường cho mình là người ta muốn có lợi ích chứ người ta đâu có đầu tư vào chỗ bị mất vốn, chẳng những người ta đưa tiền mà người ta còn quỳ lạy mình thì mọi người nghĩ rằng mình lấy gì trả lại món nợ đó nếu không tu học cho tốt? Nếu xét lại những điều này thì mọi người sẽ thấy rất sợ, nên trong kinh Đức Phật đã nói:
“Ở đây, này Upàli, vị Tỳ-kheo giữ giới sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe.”
(Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, IV. Phẩm Upàli Và Ananda, (II) (32) Người Ðoạn Sự)
Đây là những điều Đức Phật đã nói trong chánh tạng Pali, không phải bản thân Minh Thành tự nói. Nếu mình có học Phật kĩ rồi chiêm nghiệm kĩ sẽ thấy rất sợ hãi. Không thể nào quỵt nợ người ta được, ngoài đời mình quỵt nợ rồi sẽ thấy hậu quả, không ai tha được cho mình. Còn người xuất gia là kẻ nợ của khắp thiên hạ.
Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đổ nhân điểu
Vấn lộ bạch vân đầu.
Dịch nghĩa: Một bát cơm ngàn nhà,
Thân chơi muôn dặm xa,
Mắt xanh xem trần thế,
Mây trắng hỏi đường qua.
Trong bát cơm của mình là mồ hôi, nước mắt và máu hồng. Từng cái ghế mình ngồi đều là sự vất vả cực nhọc của Đàn-na tín thí. Trong từng chiếc xe mà mình chạy đều có huyết lệ của tất cả mọi người. Ngay cả ông bà, cha mẹ, cô bác của mình cúng dường trong đó thì mình phải tu học như thế nào để đền đáp lại lòng tin, tình thương, sự chăm sóc và cung kính đó. Mọi người phải chiêm nghiệm lại điều này thật kĩ chứ đừng xem thường, đừng sống trong sự lãng quên, quên đi mình là cái gì, mình là ai và mình sẽ đi đến đâu.
Có thể lần này là lần cuối cùng Minh Thành nói chuyện với các huynh đệ trong khóa học này. Một người được xuất gia, được bước vào trong trường Phật học của trung tâm thành phố như thế này thì mọi người phải biết thiện căn phước đức, nhân duyên của mình rất sâu dày vì vậy mình phải biết nắm bắt và trân trọng cơ hội ngàn năm có một này, giống như trong biển sanh tử mà mình đã lặn hụp, chìm đắm trong này mà mình vớ được cái phao thì đó là duyên lành của mình chứ đừng bỏ qua một cách lãng phí, hãy biết tận dụng nó.
Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ Tăng loạn bụi đời.
(Kinh Pháp Cú 22 – Phẩm Địa Ngục, kệ 313)
Đức Phật đã nói như vậy trong kinh Pháp Cú, việc đáng làm thì hãy làm và làm cùng tận khả năng của mình. Đem hết tâm lực – trí lực – sức lực để học và thực hành. Không phải mình tu chỉ cho mình mà mình còn đem thánh pháp quý báu này làm cho quang tông diệu tổ, đền đáp cho cha mẹ mình, cho những người thân thương, ân nghĩa, tình nghĩa nhất trong đời với mình.
II. Hổ thẹn
Mình tu học cho tốt thì khi ngồi để Phật tử quỳ lạy mình sẽ không thấy hổ thẹn nhiều, ngược lại mình không có giới hạnh, phước đức không chịu gieo trồng, mình lười nhác, làm biếng, trí huệ không tu tập thiền quán, không thực hành Tứ Niệm Xứ, không thực hành Bát Chánh Đạo, không quán chiếu Tứ Diệu Đế để thấy bản chất của cuộc đời mà mình ngồi cho người ta lạy thì mình có an tâm hay không? Hãy chiêm nghiệm sâu sắc cơ hội này để mình vượt thoát ra khỏi đống bùn lầy của phiền não, khổ đau.
“Nếu Tỳ-kheo trong khi đứng, ... nếu Tỳ-kheo trong khi ngồi ... nếu Tỳ-kheo trong khi nằm thức, tham, sân, si được từ bỏ ... hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi được đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỳ-kheo, nếu các Tỳ-kheo khi đang thức có sở hành như vậy; vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có xấu hổ, liên tục thường hằng tinh cần tinh tấn, siêng năng.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, II. Phẩm Hành, (II) (12) Chế Ngự)
Nếu người nào để cho các phiền não này vận hành thì Đức Thế Tôn chê người đó không biết xấu hổ, không có nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn trong giáo pháp của Như Lai. Như vậy tham, sân, hôn trầm, trạo hối, thùy miên là năm sự trói buộc và che đậy của nội tâm. Mình bị năm cái này che kín, sở dĩ trí huệ của mình không sáng tỏ được là do năm thứ này che mất. Chỉ mỗi việc tham ngủ thôi là ngồi trong ánh sáng nhưng là đang ở trong bóng tối của si mê, trong giờ học không lắng tai chú tâm nghe pháp mà lại tham nói chuyện, thì tham chính là dục.
Hoặc là ăn, uống trong lúc học, không thì ngồi vọng tưởng hoặc nghịch điện thoại… tất cả những cái này đều là triền cái, là kiết sử trói buộc của tâm. Đây là trạo cử, không ngồi yên được mà phải kiếm cái gì để làm, đó là một thứ phiền não rất nặng. Cho mình lăng xăng suốt ngày thì mình rất vui, cười nói đủ thứ còn nếu yêu cầu ngồi thiền một tiếng không nhúc nhích là chịu không nổi, đây là sự trói buộc của tâm, là sự trạo cử, cái tâm bị rạo rực, muốn làm này làm kia chứ không muốn ngồi yên. Nếu người nào bị cái này thì vĩnh viễn không bao giờ vào được sơ thiền vì sơ thiền là trạng thái tâm yên định lìa khỏi năm sự trói buộc này.
Ngay khi đang nghe pháp mà nếu lìa được năm cái này thì trạng thái hiện giờ là đang thể nhập trong sơ thiền chứ không phải ngồi nhắm mắt lim dim là sơ thiền, bất cứ lúc nào mình thực tập được thì chỗ đó mình vào được sơ thiền. Hoặc khi đang nghe pháp mà chỗ đó không hợp ý rồi mình nổi giận thì đó là sân triền cái, trong đó có tư tưởng chống cự lại thì phải dập tắt, chặt nó như chặt cây dừa, cây cau, bứng gốc nó thì lúc đó người này là người tinh tấn, siêng năng, nỗ lực, tinh cần trong thiện pháp của Như Lai, nếu mình để cho nó hoành hành, mình nuôi dưỡng nó để nó phát sanh ra thì đó là người không biết hổ thẹn, không biết xấu hổ trong giáo pháp của Như Lai.
Giống như trong nhà có con rắn mà mình cứ để nó ở vậy không đuổi nó ra, người chất chứa phiền não, không chịu diệt trừ giống như kẻ tâm thần ngoài thế gian vì không nhận định được đó là nguy hại, chúng sanh không nghe chánh pháp, không biết tu tập chánh pháp thì tất cả đều bị thần kinh của tâm linh, gọi là điên đảo vì không phân biệt được đâu là thiện pháp, đâu là bất thiện pháp, không phân biệt được cái nào đưa mình đến khổ, sầu bi khổ ưu não, cái nào đưa mình đến thanh lương Niết-bàn tịch tịnh giải thoát, mà không phân biệt được thì gọi là vô minh. Bây giờ mình là người tỉnh táo thấy trong nhà có con rắn thì lập tức mình sẽ phải đuổi nó ra, mình đâu phải thấy biết rồi tiếp tục ngủ.
Còn nếu mình được ai cho món đồ quý như tượng Phật bằng vàng thì đương nhiên mình phải cất giữ thật kĩ, thì đó là thiện pháp được hộ trì còn bất thiện pháp phải được diệt trừ, đây chính là Tứ Chánh Cần trong đạo Phật. Trong tâm mình khởi lên bao nhiêu dục, sân, si mê, bao nhiêu tật đố mà mình cứ để cho nó khởi, không phát giác ra, không nhận diện được, không đoạn tận, tẩy sạch nó thì uổng cho đời sống xuất gia của mình.
Lên bồ đoàn ngồi tụng niệm rồi trở ra cũng y như cũ, bao nhiêu năm tu học mà không sửa đổi được gì, không điều chỉnh được gì thì việc tu học, tụng niệm chỉ có lợi ích ngoài da, không có giá trị bao nhiêu hết. Mình phải thực sự chuyển hóa trong nội tâm của mình, mình phải mạnh mẽ nhìn nhận những thói hư tật xấu, những bất thiện pháp tìm ẩn trong thân; miệng; ý của mình thì đó mới là sự nỗ lực của người xuất gia.
Phải tinh cần, tinh tấn chứ không được thụ động, lúc mới vào công quả để xuất gia thì siêng lắm, lúc còn là Sa-di cũng siêng năng lắm, tụng kinh niệm Phật, ngồi thiền rất đúng thời nhưng đến khi thọ giới Tỳ-kheo thì hết siêng vì "giờ tôi là thầy rồi", thất bại ngay chỗ này. Lúc đầu nghe pháp rất siêng năng, thường mở kinh ra đọc, đến khi ở lâu trong chùa nghe kinh hoài lại cảm thấy chán, muốn nghe về xe cộ, hàng hiệu hấp dẫn hơn, như vậy pháp thân đã mất, trí huệ thân bị thối lui, chí hướng giải thoát bị diệt vong.
Thật là đáng hổ thẹn, đáng xấu xa, nhục nhã!
Một người xuất gia mà lại không muốn nghe kinh, không thích nghe nữa, không thích tu học nữa mà lại thích chuyện đời, thích được bao thư dày cộm, thích được xe cộ, có chùa lớn, có tượng Phật hoành tráng thì đó là một sự xót xa, cay đắng cho một người xuất gia, cho nên khi nghe trong Tương Ưng Bộ kinh, phẩm Lợi Đắc Cung Kính sẽ cảm thấy rất xót xa, Đức Phật dùng những hình ảnh mà mình thấy thật sự xấu hổ, tự thân mình cảm thấy nhục nhã.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: "Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này".
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỳ-kheo khoe khoang như sau: "Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỳ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh".
Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỳ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỳ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, V. Trùng Phẩn).
Người xuất gia không có chánh niệm tỉnh giác, không có Như lý tác ý, không có suy xét đúng pháp thì sự cung kính, lợi dưỡng cúng dường cũng giống như con giòi ăn phân. Mình hài lòng, thỏa mãn trong đó thì Đức Phật nói là đắng cay, ác độc, lợi đắc cung kính cúng dường này là sấm sét sẽ đánh mình chết.
“Này các Tỳ-kheo, sét đánh chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng chạm đến.
Như vậy, khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, VI. Sét Ðánh)
Sự lợi đắc cung kính cúng dường này là miếng mồi câu của Ác ma, dính vào rồi dù cho có giãy giụa cỡ nào cũng không thoát ra được.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, một người câu cá quăng một lưỡi câu ngắn có mồi thịt vào trong một hồ nước sâu, và một con cá có mắt thấy mồi thịt nuốt lưỡi câu ấy. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con cá đã nuốt lưỡi câu ấy bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị người câu cá muốn làm gì thì làm.
Người câu cá, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ma, lưỡi câu, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, thọ hưởng, ái luyến lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, Tỳ-kheo ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo đã nuốt lưỡi câu của ác ma, bị rơi vào bất hạnh, bị rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Lưỡi Câu)
Như vậy mình đừng thấy người ta được cung kính cúng dường nhiều, được lợi ích nhiều thì mình buồn tủi, đừng bao giờ có cái tâm đó. Mỗi người có cái phước riêng, có quả riêng, mình cố gắng làm rồi mình sẽ được nhưng nếu mình đi xuất gia vì những thứ này thì mình ở ngoài đời tự làm rồi muốn mua gì thì mua. Mình đi xuất gia là để mong cầu phá tan vô minh, tham ái và chấp thả, thành tựu được tâm giải thoát, tuệ giải thoát, đem lại lợi ích cho nhân thiên pháp giới chúng sanh.
Đó là Bồ đề tâm tối thượng của người xuất gia, phải quán chiếu sâu sắc về điều này. Cũng trong phẩm Lợi Đắc Cung Kính này Đức Phật lấy ví dụ có 2 con rùa nói chuyện với nhau, một con rùa khuyên con còn lại đừng qua bên kia, thợ săn sẽ bắt mất. Nhưng con này không đồng ý, nói là không thấy người thợ săn nào mà bên kia lại có cảnh đẹp. Vậy là con rùa này bò qua đó chơi nhưng cứ bò vòng lòng hoài thì gặp lại con rùa lúc trước khuyên, con rùa đó thấy vậy liền nói bạn bị mắc câu rồi nhưng con rùa này vẫn chối là không bị mắc câu, tôi chỉ thấy có sợi dây bị vướng thôi. Con rùa kia mới nói cha của anh, ông của anh cũng từng bị mắc câu như vậy, hôm nay đến phiên anh cũng bị mắc câu như vậy, chúng sẽ đem anh đi rồi tùy nghi sử dụng. Dây câu đó là sự lợi dưỡng cung kính cúng dường.
“Rồi này các Tỳ-kheo, một con rùa nói với một con rùa khác:
" -- Này Rùa thân mến, chớ có đi đến chỗ ấy".
Con rùa này, này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ ấy và một thợ săn phóng trúng nó với cây lao có dây.
Rồi con rùa ấy đi đến con rùa kia.
Này các Tỳ-kheo, con rùa kia, thấy con rùa này từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với con rùa này:
" -- Này Rùa thân mến, có phải Bạn đi đến chỗ kia?"
" -- Này Rùa thân mến, tôi đi đến chỗ kia".
" -- Này Rùa thân mến, bạn có bị thương, bị bắn trúng không?"
" -- Này Rùa thân mến, tôi không bị thương, không bị bắn trúng. Nhưng có sợi dây này dính theo trên lưng tôi".
" -- Này Rùa thân mến, Bạn thật bị thương rồi, Bạn thật bị bắn trúng rồi. Này Rùa thân mến, chính do vật dụng của người thợ săn này, mà cha Bạn và Ông Bạn rơi vào bất hạnh, rơi vào tai họa. Nay Bạn hãy đi, Rùa thân mến. Nay Bạn không còn thuộc chúng ta nữa!"
Người thợ săn, này các Tỳ-kheo, chỉ cho ác ma. Cái lao, này các Tỳ-kheo, chỉ cho lợi đắc, cung kính, danh vọng. Sợi dây, này các Tỳ-kheo, chỉ cho hỷ tham.
Tỳ-kheo nào, này các Tỳ-kheo, đối với lợi đắc, cung kính, danh vọng, hưởng thọ và ái luyến; vị ấy, này các Tỳ-kheo, được gọi là Tỳ-kheo bị lao đâm phải, đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, bị ác ma muốn làm gì thì làm.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Ðắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Con Rùa)
III. Chánh niệm
Phải thật thận trọng, mọi người đừng thấy có người khen ngợi là thích. Ban đầu thì khen "thầy ơi, thầy có tướng hảo quá, con thấy thầy tu tinh tấn có phước tướng con quý thầy lắm, kính thầy lắm", vài bữa thì cúng thân, lâu lâu lại một lần, sau đó 2-3 ngày lại rồi cuối cùng "sao con thấy thầy con thương quá". Vậy là bắt đầu cái lưỡi câu lòi ra, nhưng quan trọng là mình có ý thức được đó là lưỡi câu không hay mình cắn câu luôn. Thật sự rất là nguy hiểm, mình phải có sự chánh niệm tỉnh giác, thận trọng, luôn đề phòng, tự mình dò xét mình xem nội tâm của mình nếu sanh ra sự ái nhiễm, dính mắc thì phải tẩy rửa, dùng Như lý tác ý quở trách "cái này là cái xấu hổ, mình đi xuất gia vì những thứ này hay sao? Mình bỏ cha bỏ mẹ để đi làm điều này sao? Đây là nguyên nhân đẩy mình đi vào vòng khốn cùng của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chính cái này là ác ma đưa mình vào vòng tâm tối của vô minh".
Mình đánh tan tâm niệm dính mắc, tham ái, chấp thủ trong đó, sau đó mình quán chiếu dục là rắn độc, là mũi tên, lưỡi câu, miếng mồi cho ác ma, dục là kẻ sát nhân giết người. Đây là những câu mà Đức Phật gọi là pháp lệnh trong kinh tạng Nikāya và phải học thuộc để khi dục, sân, phiền não khởi lên là mình lấy ra dùng để tẩy rửa nó, giống như Chuẩn Đề Vương Bồ Tát có 18 tay cầm 18 loại binh đao, vũ khí, hễ thấy tên ác ma nào là chém tức thì. Trong Tây Du Kí, Đường Tăng nhìn chỉ thấy đó là cô gái, ông già, bà già nhưng khi Tôn Ngộ Không nhìn thì đó là bạch cốt tinh nên phải giết, mà giết sạch hết thì thành sát tặc đại sư, thành A-la-hán.
Còn không thì mình bị các ác, bất thiện pháp giết ngược lại thì mình thành tù nhân của nó. Vậy chọn lựa để thành thánh nhân hay tù nhân là do bản thân mình, đó là sự tinh cần nỗ lực của người xuất gia, cho nên phải tinh cần, tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm. Niệm chính là chánh niệm, mà chánh niệm là Tứ Niệm Xứ, là luôn thấy được tính chất bất tịnh của thân này, phải quán chiếu ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn của một tử thi, những điều này ngày nào cũng phải quán chiếu, còn nếu không quán chiếu sẽ bị tham dục nhiếp phục, nó nhận chìm mình xuống vòng xoáy của dục.
Phải thực tập Tứ Niệm Xứ cho nhuần nhuyễn, quán bất tịnh thường xuyên, phải xem những hình ảnh những con giòi, những con kên kên ăn xác chết, đó cũng là mình, thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ). Điều này phải được quán chiếu cho sâu sắc để trí huệ được khai mở, lúc nào mình cũng phải nhìn thấy thực tính của thân này, đó là do ngũ uẩn tứ đại kết hợp. Điều này được quán chiếu liên tục không ngơi nghỉ thì gọi là an trú niệm.
Thân được khinh an, không có cuồng nhiệt. Mình tu tập thân được khinh an thì lúc đó sẽ rất nhẹ nhàng, lúc nào thân cũng ở trong trạng thái thảnh thơi, an tịnh chứ không có xôn xao, cuồng nhiệt, không có nóng bỏng quay cuồng. Thân tu tập, tâm tu tập, miệng tu tập, mình đưa tất cả vào chỗ thảnh thơi, nhẹ nhàng, trong mọi lúc mọi nơi đều giữ cho tâm được chánh niệm, thân được khinh an, sức mạnh của người tu là làm chủ được thân tâm.
Còn hạnh phúc nào vui bằng hạnh phúc khi mình làm chủ được thân tâm chính mình, đó mới là người tự do thật sự. Còn đằng này mình muốn yên mà yên không được, muốn tỉnh mà cứ ngủ, mình muốn bất động mà thân cứ giao động thì đây là sự trói buộc chứ không phải tự do. Tâm được định tĩnh nhất tâm, đây là một cái tâm thuần nhất, nhận diện được các cảm giác đang diễn ra trong thân ngay giây phút hiện tại. Nếu người xuất gia ý thức đúng thì rất quý, rất đẹp, rất cao thượng. Đức Thế Tôn khen ngợi hàng đệ tử của Ngài là chúng trung tôn, là hội chúng thù thắng trong tất cả hội chúng ở thế gian này nếu thật sự thực tập đúng theo lời Phật dạy.
“Có hai loại hội chúng này, này các Tỳ-kheo. Thế nào là hai?
Hội chúng không thù thắng
Hội chúng thù thắng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng không thù thắng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các trưởng lão Tỳ-kheo sống trong sự đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không có gia sức tinh tấn để đạt đến những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Còn lớp hậu nhân, tùy thuận hậu kiến của họ, sống trong sự đầy đủ, biếng nhác, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không có gia sức tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng không thù thắng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hội chúng thù thắng? Ở đây, này các Tỳ-kheo, tại hội chúng nào, các trưởng lão Tỳ-kheo không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, có gia sức tinh tấn để đạt đến những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Còn lớp hậu nhân, tùy thuận hậu kiến của họ, không sống trong sự đầy đủ, không biếng nhác, từ bỏ gánh nặng đọa lạc, dẫn đầu trong đời sống viễn ly, có gia sức tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt, để chứng được những gì chưa chứng, để ngộ được những gì chưa ngộ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hội chúng thù thắng.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)
Mình muốn thực tập đúng lời Phật dạy thì phải học cho đúng pháp, còn bây giờ tà pháp lẫn lộn với chánh pháp, mình phải lấy năm bộ kinh Nikāya làm thánh điển y cứ, đó là lời gốc của Phật dạy. Tất cả những gì Đức Phật dạy nằm trong đó, lấy đó làm chuẩn tắc tu hành và nó sẽ đưa mình đến chỗ tịnh lạc thanh lương, đó là con đường độc nhất đưa đến chánh trí Niết-bàn giải thoát. Cho nên mình ý thức được giá trị quý báu của đời sống xuất gia thì mọi người sẽ thấy rất vui, mình nghe pháp trong sự nhiệt tâm tinh cần, trong sự thực hành tha thiết nỗ lực thì mình sẽ có được pháp hỷ, pháp lạc, có khinh an, có định rồi mình sẽ thấy biết như thật.
Thấy biết đúng sự thật rồi mình sẽ nhàm chán đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhàm chán đối với tất cả vật ở trên đời, từ đó mình sẽ lìa tham dục hoàn toàn thì mình sẽ được giải thoát và mình biết được đây là sự giải thoát, vậy là mình thành tựu được cứu cánh đời sống Phạm hạnh của người xuất gia. Đó là giá trị vĩ đại, đó là cái mà mọi người bỏ hết tất cả để thành tựu rồi đem cái này về để dâng lên cho cha mẹ, cho ông bà tổ tiên, cho dòng tộc, dâng cái này lên cho Đàn-na tín thí, những người đã tin tưởng, cúng dường, hi vọng, đặt hết niềm tin vào mình và đảnh lễ mình. Mình đem cái này để đền trả lại thì đó là sự xuất ly vĩ đại của người xuất gia. Kính chúc tất cả các huynh đệ có được niềm an lạc.
./.