TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU - TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 1- VÔ THƯỜNG KHỔ VÔ NGÃ NỘI
TẠNG KINH NIKĀYA QUÝ BÁU!
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 1
VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ NỘI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tạng kinh Nikāya quý báu PAGEREF _Toc89549994 \h 1
1.Những trở ngại trong việc tìm hiểu tạng kinh PAGEREF _Toc89549995 \h 1
2.Phát nguyện quyết tâm tu học PAGEREF _Toc89549996 \h 3
3.Tác ý mọi hiện hữu đều trong đau khổ PAGEREF _Toc89549997 \h 6
II.Giá trị của Tương Ưng Sáu Xứ PAGEREF _Toc89549998 \h 10
III.Vô thường, khổ, vô ngã nội PAGEREF _Toc89549999 \h 15
1.Bài kinh “Vô Thường 1 Nội” PAGEREF _Toc89550000 \h 15
2.Định lý giải thoát tối thượng PAGEREF _Toc89550001 \h 20
Tạng kinh Nikāya quý báu
Minh Thành có trao đổi với Phật tử nghiên cứu các bản dịch Tạng Kinh Nikāya của những nước khác. Phật tử này chia sẻ rằng Việt Nam chúng ta rất là phước báu, rất là hy hữu, rất là hiếm có, rất là đặc biệt!
Những trở ngại trong việc tìm hiểu tạng kinh
Thứ nhất, ngay cả cường quốc như Nhật Bản mà còn chưa có Tạng Kinh Nikāya dịch ra tiếng quốc ngữ. Trung Quốc đại lục cũng chỉ có những bản dịch rời rạc, không đầy đủ, riêng Đài Loan mới có bản dịch Nikāya đầy đủ. Và ở những nước Châu Âu, chỉ có bản tiếng Anh là dịch đầy đủ Tạng Kinh Nikāya, bản tiếng Pháp thì chưa có, huống hồ gì những nước khác. Vì vậy, thật sự tất cả chúng ta rất là phước báu, rất là hiếm có, rất là hy hữu khi có đầy đủ Tạng Kinh Nikāya. Trừ những nước Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nguyên thủy thì những nước có đủ Tạng Kinh Nikāya đếm trên đầu ngón tay, còn lại các nước khác thì không có, hoặc có thì cũng không đầy đủ.
Thế nên, nếu có đầy đủ tạng kinh như vậy mà chúng ta không biết đọc tụng, không biết tìm hiểu, không biết học hỏi, không biết hành trì, không biết chia sẻ, không biết truyền bá là chúng ta thiếu phước, vô phước, bạc phước dù đang ở trong phước đức. Ngay cả Nhật Bản – một quốc gia Phật giáo lớn như vậy mà tìm mãi cũng không thấy tiếng quốc ngữ dịch hết Tạng Kinh Nikāya, điều này làm chúng ta càng thêm trân trọng, trân quý hơn tạng kinh nà. Và chúng ta phải thấy rằng một bậc Đại Tôn Đức xuất hiện trên cuộc đời này như Cố Đại Trưởng Lão Hòa Thượng Minh Châu là không phải chuyện bình thường. Cho nên, chúng ta phải đem tất cả thời gian, tâm lực, hạnh lực, trí lực của mình đặt vào tạng kinh để tu học.
Thứ hai, Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu đã dịch tạng kinh này gần nửa thế kỉ, trong đó phải dùng nhiều ngôn ngữ, thuật ngữ chuyên môn của cổ ngữ như tiếng Pāli và tiếng Hán, bởi vì tiếng Việt không đủ sức để lột tả nhiều từ ngữ cho thật khúc chiết, cô động, sâu sắc. Cho nên, điều khó thứ hai là tạng kinh vừa có tiếng Pāli, vừa có tiếng Việt, vừa thêm những thuật ngữ chuyên môn, chuyên ngành, cùng với tính cô đọng, hàm súc của lời kinh và nghĩa lý thâm sâu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, điều này tạo thành những trở ngại lớn trong quá trình tìm hiểu tạng kinh. Ngay cả bản thân Minh Thành, trước khi được bậc Thiện tri thức khai thị, chỉ điểm, dù có nghe và đọc suốt 15 năm cũng không có chìa khóa để mở cửa kinh tạng. May mắn Minh Thành có duyên học Hán ngữ nhiều năm, dịch nhiều tác phẩm Hán tạng và được truyền thụ pháp hành. Cho nên đây là nhân duyên thù thắng, hiếm có để Minh Thành có thể dễ dàng đọc hiểu và chia sẻ một cách rõ ràng, cụ thể, sáng tỏ, sau đó cúng dường đến đại chúng cũng như lưu truyền cho đời sau.
Minh Thành chia sẻ ngắn gọn như vậy để chúng ta thấy được không phải dễ dàng có thể nghe, đọc và hiểu được tạng kinh, đây là Minh Thành chỉ mới nói ở khía cạnh đọc và hiểu. Ngày xưa Minh Thành suốt 15 năm đọc và nghe tạng kinh, đôi lúc đọc suốt cả đêm nhưng vẫn không hiểu, hoặc có hiểu thì chỉ lờ mờ, trù tượng, không rõ ràng, không chính xác. Sau khi được nhận diện năm uẩn, nhìn thấy được tham, sân, si, bản ngã, vô minh, lậu hoặc thì chúng ta mới bắt đầu có chìa khóa để mở cánh cửa của tạng kinh cũng như cánh cửa của thân tâm mình.
Đó là lí do tại sao Minh Thành rất trân quý, rất cung kính, rất tâm huyết đối với Tạng Kinh Nikāya. Chỉ có người khát ngưỡng, tha thiết, đem cả mạng sống của mình để cầu pháp thì mới thật sự biết được giá trị của tạng kinh này siêu việt đến mức độ nào. Chính vì vậy, từ hôm nay trở đi, chúng ta phải có cách học mới, phải nâng cấp hơn, học kỹ hơn, đào sâu hơn, bám sát hơn. Còn nếu chỉ đọc và học phớt qua thì chúng ta sẽ không bám sát vào lời kinh, cũng như không hiểu thấu đáo, cặn kẽ được từng câu, từng chữ trong kinh. Và đối với những bài giảng này, Minh Thành cũng có tâm nguyện sẽ để lại cho mai sau, nối gót theo các bậc tiền bối, tôn trưởng, gọi là Hậu Tạng kinh Nikāya.
Hơn nữa, không nói đến những người Tăng, Ni, Phật tử thông thường, mà ngay cả những vị được đi học ở nước ngoài, học ngôn ngữ Pāli cũng rất khó khăn trong việc hiểu được tạng kinh, bởi vì trong tạng kinh là những pháp hành, những định lý, những định luật, những khẩu quyết của Đức Phật. Nếu không gặp được bậc thành tựu trí tuệ, hành trí đúng pháp thì sẽ không giải mã được những lời dạy của Đức Phật và những lời đó mãi mãi chỉ là khẩu quyết, là mật mã, là bí mật. Chính vì vậy, suốt hàng ngàn năm nay, Tạng Kinh Nikāya chỉ để thờ là bởi vì không mở được mật mã và bí mật bên trong.
Cho nên, Minh Thành một lòng tha thiết và tâm huyết rằng mỗi ngày sẽ đọc lại những lời dạy của Đức Phật để diễn ra tiếng Việt chứ không dám thêm ý riêng của mình vào. Tất cả mọi sự diễn giải là để làm rõ ý kinh, vì nếu đọc giống y theo kinh thì trong 10 người thì có đến 9 người không hiểu được rõ ràng, hoặc nếu hiểu được thì chỉ hiểu phớt phớt, chung chung. Thành ra, từ nay về sau chúng ta sẽ có cách học mới, mình sẽ đi theo từng câu, từng chữ ở trong kinh, chỗ nào khó khăn thì Minh Thành sẽ giải thích. Sau này Minh Thành sẽ ghi chép lại lại tất cả để làm thành bộ Hậu Tạng kinh Nikāya nếu Minh Thành còn sống và có đủ thời gian.
Phát nguyện quyết tâm tu học
Trong sự tu học này, nếu không được một vị thành tựu, chứng đắc chỉ điểm cho thì vĩnh viễn và mãi mãi là bí mật. Chúng ta chỉ đọc và hiểu trên ngôn ngữ, hiểu trên nghĩa lý sơ sơ chứ không đến để mà thấy được ngũ uẩn như thế nào, lậu hoặc như thế nào, dục, ái, tham, sân, si, bản ngã như thế nào ở trong người mình, guồng máy hoạt động của nó như thế nào.
Vì vậy, Minh Thành mong mỏi tất cả chư Tăng, Ni và quý Phật tử dành hết thời gian của mình vào trong pháp học và pháp hành này, ngoài ra không còn gì còn ý nghĩa nữa. Chúng ta đã chọn con đường xuất gì thì không còn gì bên ngoài là ý nghĩa, tất cả đều vô giá trị đối với mình. Ngoài tạng kinh, ngoài pháp học và pháp hành này thì tất cả những thứ khác đều là vô nghĩa. Chỉ có pháp này mới cứu chúng ta, vì đây là đạo lộ diệt khổ, ngoài pháp này thì không còn có gì khác có thể cứu giúp mình. Vì vậy, không còn thứ gì khác để chúng ta tìm kiếm nữa ngoài tạng kinh, ngoài lời dạy nguyên chất của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu rời pháp này ra để làm những chuyện khác là chúng ta đang phung phí, lãng phí, hoang phí, phí phạm cuộc đời, tuổi thanh xuân, thời gian, tâm lực, trí lực của chính mình. Hơn nữa, chúng ta tu từ bây giờ đến lúc mình chết không biết có kịp để thành tựu hay không. Cho nên, mong rằng tất cả chúng ta sẽ trân trọng, tôn kính, quý kính tạng kinh này và dành thật nhiều thời gian để nghe, suy tư, quán chiếu và thực tập.
Hãy phát nguyện từ đây cho đến ngày mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng Thánh Pháp Tạng, Thánh trí tuệ, Thánh đạo này. Chúng ta phải phát nguyện và nhắc nhở bản thân như vậy mỗi ngày để sanh khởi lên sự hoan hỷ, cung kính, trân quý, tôn trọng tạng kinh này. Bằng không, học được một thời gian thì chúng ta sẽ thấy nhàm chán, muốn quay lại để tìm những thú vui phàm phu, thấp kém, hạ liệt, hèn hạ ở đời. Và cuộc đời chúng ta sẽ tiếp tục chìm nổi, trôi lăn, tiếp tục lún xuống vũng lầy của dục vọng; tiếp tục bị thiêu đốt trong những trận hỏa hoạn của cảm xúc sân hận; tiếp tục quờ quạng trong đêm đen; tiếp tục hơn thua, ganh đua, đấu đá, tranh giành trong bản ngã hư danh và ác độc.
Sống như vậy thì thật là vô nghĩa, vô giá trị, vô ích! Thật ra trước khi gặp tạng kinh này, trước khi đi vào dòng pháp này thì chúng ta toàn làm những chuyện vô nghĩa, vô ích. Bây giờ nhìn lại tự thân mình và những người không biết tu thì thấy rằng trước nay chúng ta đều suy nghĩ, nói năng trong tham, sân, si để hơn thua, tranh giành. Thật là vô nghĩa, vô ích, thật là không có giá trị khi suốt cuộc đời chỉ làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, đau mình đớn người, quằng mình quại người, tự hành hạ, hành xác, hành tội mình và người khác, không có ý nghĩa gì cả.
Chúng ta nhìn lại để thấy cả thế giới, cả thế gian, cả vũ trụ này đều đang sống và làm những việc vô nghĩa, vô ích, trừ những bậc chánh kiến, bậc chân nhân. Sáng dậy mở mắt ra là đi làm, đến chiều tối lại về ngủ, cả ngày là chạy đi tìm những thứ dục, tham, ái rồi đi hơn thua, ganh đua, so đo, sân hận. Nhìn kỹ lại chúng ta thấy cuộc đời này không có ý nghĩa gì, tất cả đều vô nghĩa vì dành cả đời để đi tìm những thứ vô thường, làm những điều vô tích sự, vô ích. Chẳng những vô ích, vô nghĩa mà còn có hại, làm cho mình khổ người khổ. Hơn nữa, chúng ta không phải làm người xa lạ khổ mà là hành tội chính người mình thân yêu nhất, hành tội cha mình, mẹ mình, hành tội vợ mình, chồng mình, con mình. Tất cả là tại vì chúng ta sống trong mù lòa, sống trong sự thiêu đốt, sống trong bóng đêm, sống trong vô minh, si ám.
Chúng ta không thấy sự thật về chính mình. Không thấy sắc uẩn vận hành thế nào. Không biết những cảm giác sanh diệt, thúc giục như thế nào. Đối với những suy tư, nghĩ ngợi: dục tư suy, sân tư duy, hại tư duy cũng không thấy, không biết chúng ra sao. Đối với những hình bóng ám ảnh bên trong về tự thân của một bản ngã, một cái tôi cũng không thấy, không biết đó là khổ. Cuối cùng là những nhận thức mê muội, chúng cũng nằm trong sự nhỏ hẹp, nhỏ bé, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhít, nhỏ nhen và tự làm cho bản thân đau khổ.
Thế nên, chúng ta phải nhìn ra tất cả mọi thứ ngoài đời kia đều là vô nghĩa và mình đang làm rất nhiều việc vô nghĩa, vô ích. Suốt đời cứ đi tìm những thứ vô thường, ảo mộng, những thứ giả dối, lọc lừa. Hơn nữa, chúng ta tự mình dối gạt, dối trá mình và cũng ưa thích người khác dối trá chúng ta. Người ta nói thật thì giận, những việc dù biết người ta nói gạt nhưng mình vẫn chịu, vẫn thích. Như vậy có khôn không? Cho nên, chúng ta thật sự dại khờ, khờ khạo, đáng thương. Khi mở được con mắt pháp thì chúng ta mới thấy mình đáng thương đến mức độ nào. Đối với Đức Thế Tôn, các bậc Thánh chúng, các bậc chân nhân thì mình là kẻ đáng thương xót, vô cùng khờ dại, ngu hết chỗ nói. Suốt ngày cứ dòm ngó nhau rồi sanh sự, kiếm chuyện, hoặc tìm chỗ hở, moi móc những tật xấu, khuyết điểm của nhau để rồi sân si, bắt lỗi phải quấy, đúng sai và làm những chuyện khiến mình rối bời, rối rắm.
Đời sống của chúng ta được vận hành một cách vô nghĩa như thế, tức là cứ vận hành trong những ham muốn, thúc giục, đòi hỏi, khát khao trong những nhiệt não, sân hận, ganh đua, giành giật. Đó là vì không thấy pháp, chưa được học Tạng kinh Nikāya nên chúng ta không nhận diện được năm uẩn, không nhìn thấy được sáu xứ, chưa biết được mười tám giới, chưa hiểu được cảm thọ. Còn khi đã biết những điều này thì chúng ta sẽ thấy thương mình thương người, xót mình xót người, tội nghiệp mình tội nghiệp người. Sau đó chúng ta sẽ nhìn trùm khắp thế gian này bằng một ánh nhìn thấu đáo, thấu suốt, triệt để, tận cùng, tột cùng, trong kinh gọi là cái nhìn thắng tri, liễu tri về bản chất của thế gian, của đời sống này.
Được như vậy thì chúng ta thấy rất tuyệt diệu và đáng vui mừng. Dù nhàm chán tất cả nhưng rất vui sướng, hân hoan, hoan hỷ, khinh an, hướng đến sự từ bỏ. Bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng chết một cách nhẹ nhàng, buông xả và từ bỏ. Bất cứ lúc nào tử thần đến cũng chết một cách bình an, không còn mong chờ, hy vọng, ước mơ, dự định, dự án, kế hoạch gì nữa. Hồng trần tục lụy xin bái bái và xin vĩnh biệt luân hồi. Chúng ta phải trang bị cho mình một nội tâm như vậy.
Tác ý mọi hiện hữu đều trong đau khổ
Mấy ngày trước, Minh Thành ngồi thiền và nhớ đến một vài chuyện hơi buồn, khi đó Minh Thành tác ý: mắt này không phải là mình; sắc pháp không phải là mình, không phải của mình; sự rõ biết các sắc không phải là mình, không phải của mình. Lỗ tai này không phải là mình; âm thanh kia không phải của mình; sự rõ biết âm thanh không phải là mình. Tất cả sự giao thoa, tiếp xúc không phải là mình; những cảm thọ sanh khởi cũng không có cái gì là mình. Mũi, lưỡi; hương, vị; sự rõ biết mùi, rõ biết vị cũng vậy, cũng không phải là tôi, không phải của tôi. Cho nên, tất cả những sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân sẽ sanh ra những cảm thọ, dẫn đến ái, thủ và tất cả sự hiện hữu đó đều là trong khổ đau.
Thân này không phải mình, hình vóc này không phải của mình; cảm thọ này không phải mình, không phải của mình; tưởng này không phải mình, không phải của mình; những suy nghĩ này không phải mình, không phải của mình; những nhận thức, rõ biết cũng này không phải mình, không phải của mình. Chúng ta tác ý sáu căn không phải tôi, không phải của tôi. Sáu trần không phải tôi, không phải của tôi. Phải liệt kê từng căn, trần, thức cụ thể chứ không được nói chung chung. Hình hài, sự tiếp xúc, cảm giác này không có cái nào là tôi, là của tôi. Những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức cũng không có cái nào là tôi, là của tôi. Chúng chỉ là do sự tiếp xúc sanh khởi ra. Tất cả đều là khổ, phải từ bỏ, buông xả để có được sự an tịnh, lắng dịu. Sau khi tác ý như vậy thì một cảm giác hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, bình an xuất hiện và nhổ tận được gốc rễ của mọi tâm niệm buồn phiền. Đó là một phép màu, một sự kỳ diệu, một phương pháp giải sầu tối thượng của Đức Thế Tôn. Khi tác ý như vậy là chúng ta thực hành xả vô lượng tâm.
Mỗi ngày chúng ta đều học thì thấy sự học này rất bình thường nhưng khi vận dụng được một phần nào thì sẽ thấy rất tuyệt diệu. Vì chúng ta đang học Thánh Pháp, học Chánh Pháp, học cách thức đúng để xử lý tham, sân, si, học những lời chân xác, chính xác, hiệu quả nhất của Đức Thế Tôn trong việc hóa giải những sự dao động, lăng xăng ở bên trong thân tâm mình. Cho nên, chúng ta phải cố gắng nắm thật vững những pháp hành này. Đừng nghĩ sự học không dính dáng gì đến sự tu, mà tất cả những gì chúng ta học là trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình. Chúng ta phải dùng trí tuệ này để tác ý thường xuyên để những dòng Thánh pháp sẽ ngấm vào da, vào thịt, vào xương, vào tủy, vào não. Và sau này khi tiếp duyên xúc cảnh, có những việc xảy đến, có những cảnh xảy ra thì chúng ta sẽ dùng ánh mắt của Thánh trí tuệ để soi rọi, xuyên thủng và đi qua tất cả.
Chúng ta đừng vội vàng rồi nghĩ rằng học một năm, hai năm là phải chứng quả, mà cứ hãy kiên trì, bền chí, lắng nghe, tác ý, quán chiếu liên tục. Được như vậy thì bất thình lình một ngày nào đó thì chúng ta sẽ nhập cuộc với Thánh trí tuệ. Điều quan trọng ở đây là kiên trì, bền chí, Như Lý Tác Ý không ngừng, dù nhiều khi cũng sẽ buồn chán nhưng chúng ta phải đánh phá nó và tác ý hỷ lạc. Lúc nào chúng ta cũng phải áp đặt mình đi vào đạo lộ của bậc Thánh, không để bản thân đi qua con đường của phàm phu, phàm tình, dẹp hết tất cả những buồn giận thương ghét, đúng sai hay dở, hơn thua tốt xấu qua một bên. Sống thì phải có ân, có nghĩa, có tình nhưng sâu thẳm bên trong trí tuệ là phải vượt thường tình. Chúng ta không được cân đo đong đếm rồi bắt người khác theo ý mình, nếu người ta không như ý mình thì buồn, như vậy không đúng.
Thay vào đó, nhìn vào việc gì thì chúng ta cũng phải hiểu cái nào đúng cái nào sai. Người nào sống có tình có nghĩa thì mình vẫn biết nhưng không được dính mắc, hệ lụy vào đó. Có như vậy thì chúng ta mới vượt lên thường tình và đi vào Thánh đạo, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh pháp. Bằng không là chúng ta sẽ chìm vào đau khổ, hơn nữa, không phải chuyện bên ngoài xảy đến thì mình mới khổ mà từ bên trong chính mình làm mình đau khổ. Những suy nghĩ làm mình khổ, những cảm giác làm mình bức xúc, những hình bóng, ám ảnh bên trong làm mình day dứt xem phải đối xứ thế nào với người khác. Suốt cả ngày cứ mình mình, tôi tôi, ta ta, đến khi nào phá tan được cái “mình” là xong mọi việc.
Con ta, tài sản ta,
Người ngu nghĩ như vậy,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Chính tự thân mình mà còn không có thì làm gì có cái của mình, mà đã không có cái mình thì làm gì có ai hơn, ai thua, ai là người nói xấu, ai là người bị nói xấu, ai là người giận, ai là người bị giận. Ví dụ, có hai cây viết, một cây lớn, một cây nhỏ, từ ban đầu nếu không có cây viết thì làm gì có chuyện cây nào lớn, cây nào nhỏ. Có lớn, có nhỏ là tại vì mình hay so sánh rằng người kia giàu hơn tôi, khỏe hơn tôi, có quyền hơn tôi, còn tôi thì thấp bé. Chúng ta cứ lấy người kia so với người này mà không biết rằng không có người nào ở đây cả.
Tất cả chỉ là đất, nước, gió, lửa, gồm một đống cát bụi (đất), một đống nước (nước) trộn lại với nhau, cùng với hơi thở (gió) và nhiệt độ (lửa) hòa chung nên thành ra một cục tứ đại bên ngoài; còn bên trong là sự vận hành của những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức. Chúng kết hợp với nhau và vận hành theo chiều dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Khi đã nhìn thấu guồng máy vận hành của ngũ uẩn thì chúng ta dùng Thánh trí để phá vỡ chúng ra. Khi lật tung nó ra thì chỉ thấy trục xe, căm xe, bánh xe, niềng xe, thắng xe… chứ không có cái nào là chiếc xe cả, cũng vậy, không có một cái tôi, cái ta nào cả.
Vì vậy, mỗi khi trong lòng giận ai, chúng ta tự hỏi “ai ở đây mà giận, giận ai, ai giận” và phân tích từng trường hợp. Dù ngồi trên bồ đoàn nhưng đưa thân này vào lò thiêu, cho nó thiêu thành một nắm tro, rồi kêu nó “chỉ còn nắm tro đó, giận đi”. Hoặc nhớ nhung thì đưa nó vào hòm, quán chiếu tử thi sình lên và tác ý “tử thi sình thối đó, thương đi, yêu đi, ôm đi”. Tác ý hoài như vậy thì mới có thể làm rung chuyển những chấp thủ bên trong. Chúng ta đào rễ, bứng gốc, chặt cây, mé cành và bầm chúng ra từng mảnh nhỏ, sau đó đốt nó thành tro bụi rồi đổ nó xuống biển xuống sông, cho gió mười phương tám hướng thổi bay thành hư không, để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa.
Như vậy, không còn sự tác ý nào so sánh nổi với những lời tác ý của Đức Phật dạy. Chúng ta phải sử dụng cho thật nhuần nhuyễn và thật điêu luyện trong sự tác ý. Khi đã tác ý mạnh, có sự thuần thục trong sự tác ý thì chúng ta thường sống trong trí tuệ đó. Cho nên, khó có điều gì trên đời này có thể lừa gạt nổi mình, khó có cái gì mà mình không nhìn xuyên thấu, khó có chuyện gì có thể che mắt mình khi chúng ta nhìn tất cả mọi thứ bằng Thánh trí tuệ.
Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng để tâm thật nhiều vào tạng kinh quý báu này. Chỉ có pháp mới cứu mình, ngoài ra không còn cái gì có thể cứu mình. Chỉ có pháp mới là con đường thoát khổ, ngoài ra không còn con đường thoát khổ nào khác. Chỉ có pháp này mới đáng học, đáng tu, đáng hành, đáng trì, đáng tôn, đáng kính, đáng quý, đáng báu, đáng tìm, đáng kiếm, đáng lạy, đáng cầu, đáng khát, đáng ngưỡng, đáng cung, đáng kính. Mọi người phải thường xuyên tác ý như vậy và đặt hết tấm lòng, tâm huyết vào pháp, đừng để quên tâm cung kính này.
Giá trị của Tương Ưng Sáu Xứ
Minh Thành có nhân duyên rất đặc biệt đối với Tương Ưng Sáu Xứ, mỗi lần nghe đều có cảm thọ dài lâu, thâm sâu, rung chuyển. Dù đã có hơn hai mươi buổi chia sẻ về Tương Ưng Sáu Xứ nhưng Minh Thành vẫn muốn tiếp tục học sâu hơn nữa để quán chiếu và nhờ đó có thể thành tựu, thể nhập vào Thánh tri kiến này. Nhất là trong mùa dịch này, đây là thời gian rất thuận duyên để chúng ta học, còn sau này khi bớt dịch thì rất khó học phần này, vì đang khổ như hiện tại thì học phần này rất phù hợp. Hơn nữa, sau này không biết Minh Thành còn duyên để chia sẻ nữa không, hay vô thường đến không còn dịp để chia sẻ.
Phần Tương Ưng Sáu Xứ này là một trong những phần cốt lõi nhất của Tạng kinh Nikāya. Trong năm bộ Nikāya thì Tương Ưng Bộ là bộ kinh trọng yếu nhất, Ấn Thuận Đạo Sư nói đây là tạng kinh vô biên thậm thâm pháp nghĩa. Hơn nữa, lõi của tất cả pháp hành là nằm trong bộ kinh này. Trong Tương Ưng Bộ thì Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Thọ và Tương Ưng Sáu Xứ là những phần cực kỳ thâm sâu, chúng ta nắm vững được những phần này thì mới đi vào những phần Tương Ưng khác như: Tương Ưng Khổ Thánh Đế, Tương Ưng Nhân Duyên… Trước đây, chúng ta đã tìm hiểu Tương Ưng Uẩn (tức là Thánh trí Năm Uẩn), Tương Ưng Xứ và một phần Tương Ưng Thọ, với tình hình hiện tại, chúng ta có nhân duyên để tiếp tục đào sâu vào những phần Tương Ưng này. Các phần Tương Ưng đều rất sâu và rộng, thế nên chúng ta đi chiều sâu trước, sau khi nắm được cốt lõi thì sau này đi vào chiều rộng sẽ dễ dàng hơn.
Nếu chúng ta chỉ đọc theo chữ như trong bài kinh thì không thể nào hiểu nổi, hoặc có hiểu thì cũng chỉ hiểu mường tượng, phớt qua. Vì những lời này thuộc về khẩu quyết, định lý của Đức Phật, những người bình thường đọc vào không thể hiểu được, phải là người chuyên ngành chuyên môn thì mới hiểu được từng câu chữ, từng định nghĩa. Còn chúng ta đọc thì có đọc nhưng không thấy có cảm thọ gì, đọc xong rồi cũng trơ trơ, không hiểu được ý nghĩa thật sự của lời kinh. Dù có đọc thuộc lòng: “Mắt là vô thường, tai là vô thường, mũi là vô thường, lưỡi là vô thường, thân là vô thường, ý là vô thường. Tất cả đều là vô thường, khổ, vô thường” nhưng chúng ta chỉ thấy bình thường và không thọ nhận, không cảm nhận, không chấn cảm, không xúc cảm, không rung cảm được pháp. Tất cả là bởi vì những lời kinh đó là những câu nói hết sức vắn tắt, là những định lý của Đức Phật, nếu chỉ đọc như vậy thì không thể thọ pháp, không thể thấm pháp, không thể ngấm pháp, không thể làm cho chúng ta bên trong chấn cảm, chấn động, rung chấn.
Cho nên, chúng ta phải học kỹ và diễn giải ra. Diễn giải ở đây không phải là tự ý thêm vào mà là căn cứ theo tạng kinh, còn các Ngài kết tập lại nên chỉ nói ngắn gọn, vì diễn nghĩa đầy đủ mỗi chỗ thì sẽ vô cùng dài. Chúng ta thấy rằng, cả một tạng kinh như vậy nhưng định nghĩa về ngũ uẩn chỉ có trong vài bài kinh, vì Đức Phật đã giảng phần này quá nhiều, ai cũng biết hết nên không cần nhắc lại ở từng bài. Cũng như chúng ta, không thể mỗi lần giảng đều nhắc lại sắc là gì, thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì, mà chỉ nói gọn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì ai cũng biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì. Thời Đức Phật cũng vậy, khi Ngài nói đến “vô minh”, “lậu hoặc” thì các vị ai cũng hiểu nghĩa. Những điều căn bản như vậy các vị đều biết, cho nên Đức Phật không cần giải thích lại nữa.
Còn trong thời đại bây giờ, chẳng hạn kinh tạng chỉ viết ngắn gọn là “sân tùy miên ở trong khổ thọ” thì đọc vào chúng ta gặp phải rất nhiều khó khăn. Một phần do nghĩa lý thâm sâu, một phần phải nhận diện ngũ uẩn, một phần là những từ ngữ Hán Việt… thành ra dù đọc hoài nhưng rất khó hiểu, khó thấy. Còn khi giải thích ra tiếng Việt thì chúng ta tháo gỡ bớt được một lớp khó khăn“sự tức giận nằm trong cảm giác khó chịu”, đọc câu này thì ai cũng có thể hiểu được. Chính vì vậy, Minh Thành mới làm những buổi giảng và diễn dịch những bài kinh. Sau này biên tập lại những bài kinh đó thuần túy bằng tiếng Việt thì người sau đọc vào sẽ dễ hiểu, ít nhất là hiểu được mặt chữ nghĩa. Còn đọc y nguyên “sân tùy miên ở trong khổ thọ” thì sẽ không hiểu. Hoặc nếu người giải nghĩa không được học chữ Hán thì chỉ giải nghĩa chung chung, trừu tượng chứ không chính xác.
Tuy nhiên, đa số người bây giờ không chịu khó chờ nghe giải nghĩa, mà họ tìm đọc những gì dễ hiểu, thích thú, cảm thọ được. Thời đại bây giờ là thời đại mỳ ăn liền, đồ ăn nhanh, chứ ít có ai ngồi đợi cắt, gọt, chiên, xào. Cho nên, thời đại bây giờ là vậy nên cần những thứ nhanh gọn, còn ngày xưa không phải như vậy, đó là vì sao Minh Thành mới phải diễn nghĩa sẵn như vậy. Đây goi là tùy duyên, khế cơ, thích hợp nhu cầu của thời đại, hoàn cảnh, quốc độ, con người, phong tục, tập quán, thời thượng. Tức là thời đại lúc bấy giờ ưa chuộng điều gì đó thì điều đó được gọi là thời thượng. Còn thời đợi bây giờ nếu ngồi đọc hết bài kinh, sau đó mới giải nghĩa ra thì không còn ai ngồi nghe.
Mỗi khi Minh Thành đọc kinh thì quý thầy, quý sư cô, quý Phật tử nghe rất xúc động và có nhiều cảm thọ là bởi vì trong lúc đọc Minh Thành luôn dịch nghĩa kèm theo, chứ không phải đọc y nguyên chữ trong kinh. Những bài kinh mà Minh Thành vừa đọc vừa dịch như vậy sau này sẽ biên tập lại tạo thành Hậu Tạng kinh Nikāya. Hôm trước Minh Thành có chia sẻ chủ đề xuất gia như thế nào để không trở thành vô dụng và giảng bài “Tiểu Kinh Xóm Ngựa”, đại chúng nghe rất xúc động, có nhiều cảm xúc là nhờ Minh Thành dịch nghĩa ra chứ không phải đọc y chang những từ trong kinh. Trong kinh viết “biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ”, ở đây, “câu hữu” là cùng với, hòa quyện, câu này có nghĩ tâm mình hòa quyện với một tình thương xót, lan trải cùng khắp. Như vậy, để tìm hiểu tạng kinh thì chúng ta phải vượt qua rất nhiều lớp, đầu tiên là lớp ngôn ngữ. Nếu không vượt qua được thì phần “nghĩa” không hiểu thì phần “lý” làm sao hiểu được, như vậy thì làm sao vận dụng để tu. Cho nên từ nay về sau, khi tu học chúng ta sẽ bám sát vào kinh để có được Hậu Tạng kinh Nikāya, tức là Tạng kinh Nikāya bằng quốc ngữ của mình. Minh Thành hy vọng đủ thời gian sống để làm, bằng không thì cũng sẽ dở dang.
Những bài kinh trong Tương Ưng Sáu Xứ chúng ta sắp tìm hiểu nói về sự thật, bản chất, đặc tính của sáu pháp. Nếu nói sáu xứ gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là nói vắn tắt, vì còn sáu trần, sáu căn, sáu thức, sáu xúc, sáu ái, sáu thọ… trong phần này nói đầy đủ tất cả về sáu pháp. Những bài kinh nào nói về sáu xứ sẽ được kết tập vào trong chương này gọi là chương Tương Ưng Sáu Xứ, chính yếu là những bài nói về sáu căn và còn lại là những bài về sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu thọ. Các vị Tôn đức, Thánh chúng phân loại từng chương rất kỹ. Cụ thể: “Tương Ưng Sáu Xứ A, Phần 1, Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường”, phần này nói về tính chất vô thường của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Hơn nữa, các Ngài còn phân thành hai phần:
“Vô Thường Nội” là nói đến sự vô thường ở bên trong của sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
“Vô Thường Ngoại” là nói đến sự vô thường ở bên ngoài của sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp.
Tức là cho chúng ta thấy được viên mãn tất cả những khía cạnh, phương diện, góc độ về thân, tâm, cảnh vật, thế giới. Qua đó chúng ta thấy được trí tuệ của Đức Phật soi thấu hết tất cả mọi ngóc ngách này. Vì vậy, những phần này không phải học qua rồi là xong mà học để nhớ, nhớ để quán chiếu, tác ý. Chúng ta học tới học lui một ngàn lần thì càng tốt, vì mỗi lần học là mỗi lần nghe được sự thật, mỗi lần học là mỗi lần thể nhập trí tuệ càng thêm thâm sâu, sâu sắc. Ví dụ, lúc trước mình thiền quán về căn, trần, thức; bây giờ cũng thiền quán về căn, trần, thức nhưng bây giờ thiền quán thì lại thấy sâu sắc hơn, thấm đẫm hơn, thâm nhập hơn, đậm đà hơn, ngọt ngào hơn, sáng tỏ hơn, minh bạch hơn, rõ ràng hơn, tỏ tường hơn, rực sáng hơn. Mỗi một lần tu học chúng ta phải quán chiếu, tác ý như vậy.
Trong phần Tương Ưng Sáu Xứ này gồm rất nhiều bài kinh, chẳng hạn như “Vô Thường Nội”, “Khổ Nội”, “Vô Thường Ngoại”, “Khổ Ngoại”… nói về rất nhiều tính chất. Có khi gồm 30 bài kinh, đọc phớt qua thì thấy giống hệt nhau nhưng thật ra có khác biệt ở một, hai chữ. Chính chỗ này là chỗ hết sức thâm sâu, bình thường mình sẽ không chịu đọc hết, vì 30 bài giống hệt như nhau, hơn nữa, những người biên tập sẽ chấm ba chấm cho những phần giống nhau và thay chỉ thay những chữ chính yếu, những chữ khác nhau vào.
Ví dụ, cả bài kinh giống nhau nên biên tập sẽ chấm ba chấm, đến chỗ khác nhau thì người ta thay chữ “vô thường” bằng chữ “khổ” là xong và khi đọc như vậy thì chúng ta sẽ không thọ nhận được. Vì vậy, chúng ta sẽ đi tìm những chỗ bị rơi rớt, lấy lại những chỗ bị mất mát. Những phần đơn giản bị lượt qua thì chúng ta làm cho đầy đủ và rõ ràng trở lại. Bởi lẽ, mỗi một bài kinh là cả một định lý chứng ngộ, khẩu quyết giác ngộ của Đức Thế Tôn. Như vậy thì làm sao chúng ta có thể đọc phớt qua mà hiểu được.
Hơn nữa, pháp này nếu không có sự thực hành thì không thể nào hiểu nổi và chúng ta không biết được ý nghĩa, không hiểu được giá trị vĩ đại, thâm sâu, lợi ích siêu khủng của từng bài kinh. Từng câu kinh, thậm chí chỉ trong một chữ trong kinh là cả một khối trí tuệ thần thánh trong đó. Ví dụ, chỉ khác nhau ở chỗ bài kinh trên là chữ “vô thường”, bài kinh dưới là chữ “khổ”, bài kinh sau đó là chữ “vô ngã”, còn lại nội dung đều giống nhau nhưng chúng ta phải thiền quán về từng chữ đó trong nhiều buổi, nhiều năm, nhiều chục năm, thậm chí suốt đời.
Minh Thành dẫn chứng cụ thể để đại chúng dễ thấy, trong Tương Ưng Sáu Xứ, Phẩm Vô Thường:
Bài kinh đầu tiên là “Vô thường 1 Nội”;
Bài kinh thứ hai là “Khổ 1 Nội”;
Bài kinh thứ ba là “Vô Ngã 1 Nội”.
“Nội” là ở bên trong, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chỉ mới đọc tên kinh chúng ta đã thấy “Vô thường – Khổ - Vô ngã” – đây là tam tướng, là ba đặc tính vĩ đại của nhân sinh, vũ trụ. Chính những tựa kinh này làm rực sáng nội dung bên trong bài kinh. Ba bài kinh đầu nói về phần “nội” – phần bên trong, cụ thể: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là khổ; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô ngã.
Vô thường, khổ, vô ngã nội
Chúng ta sẽ tìm hiểu nội dung các bài kinh đầu trong Tương Ưng Sáu Xứ:
Bài kinh “Vô Thường 1 Nội”
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại vườn của Ngài Cấp Cô Độc.
Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
--"Này các Tỷ-kheo"
-- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
-- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Như vậy, cái gì là vô thường thì cái đó là khổ. Cái gì là khổ đau thì bên trong không có tự thể, không có chủ thể, nó là vô ngã, không có cái tôi, cái ta. Cái gì là vô ngã, không có cái tôi, cái ta trong đó thì phải quán xét với một trí tuệ chân chánh, xét đúng sự thật rằng: “cái này không phải là tôi” (bởi vì không có cái tôi trong đó), “cái này không phải là của tôi”, “cái này không phải tự ngã của tôi”.
Ba chữ: “vô thường”, “khổ”, “vô ngã”; ba câu: “cái này không phải là tôi”, “cái này không phải là của tôi”, “cái này không phải tự ngã của tôi” chính là khẩu quyết, là mật mã của Thánh trí tuệ, là định lý của giải thoát, là chân lý của vũ trụ, là sự thật của trời đất, là bản chất của vạn pháp, muôn tượng. Vì vậy, chúng ta không thể đọc qua một cách đơn giản.
“Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường” chúng ta phải hiểu vô thường tức là không còn hoài, mà luôn biến đổi, bệnh hoạn, mắt có thể mờ, có thể cận thị, viễn thị, loạn thị. Thành ra chữ vô thường là cả một bầu trời ý nghĩa, không được đọc phớt qua là xong, mà phải nghiền ngẫm hai chữ này, vì trong đó chứa một khối trí tuệ của bậc Thánh. Khi đọc thì chúng ta phải quán chiếu răng mắt này là đổi thay, mắt này là bệnh tật, mắt này là cận thị, loạn thị, viễn thị, mắt này là lé, là chột, là mù, mắt này sẽ mờ theo năm tháng. Con mắt này sẽ đột ngột không thấy đường. Hoặc đột ngột lọt tròng ra ngoài nếu bị tai nạn giao thông. Hoặc bất thình lình đang đi thì bị cây nhọn đâm vào là có thể hư mắt. Chúng ta phải thấy hai cữ vô thường có ý nghĩa như vậy.
Vì vô thường nên con mắt này là khổ. Con mắt là cái khổ đau sẽ làm cho chúng ta đau khổ. Tính chất của nó là tính chất bệnh, tính chất của nó là tính chất khổ, vì nó không thể bình thường hoài mà sẽ biến đổi. Vì vô thường, khổ như vậy nên nó không có chủ thể ở bên trong, nó chỉ được tạo thành từ đất, nước, gió, lửa, từ những cục máu, cục thịt, từ những sự kết hợp. Vì đổi thay, bệnh hoạn nên khổ đau, vì khổ đau nên trống rỗng, không có tự thể. Chúng ta phải thường nhìn như vậy, mỗi khi nhìn vào con mắt này thì thấy được những tính chất đó. Những ý niệm nào ngược lại với những chân lý này thì đuổi những ý niệm, những cảm thọ, những hình bóng, suy nghĩ đó ra. Sau đó đưa cái nhìn của trí tuệ này trở vào, dẫn tâm đi theo đạo lộ của suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ, hình bóng của trí tuệ. Như vậy gọi là bằng trí tuệ chân chánh, quán xét đúng sự thật về vô thường, khổ, vô ngã của con mắt.
Sau đó Đức Phật nói tiếp:
Tai là vô thường…
Mũi là vô thường...
Lưỡi là vô thường...
Thân là vô thường...
Ý là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Hai chữ vô thường này chỉ cho tất cả những thay đổi của lỗ tai. Chúng ta phải nhìn ra những chứng bệnh thuộc về lỗ tai, cảm nhận dần dần sự lãng tai, điếc tai, bệnh tai, thậm chí phải đi mổ lỗ tai. Ngày xưa Minh Thành từng đưa Bà Năm đi mổ lỗ tai vì có mủ trong đó; đưa Ông Năm đi đục thủy tinh thể và mổ mắt, đó là ví dụ cho sự vô thường, khổ. Hoặc nhiều khi nửa đêm đang ngủ, mình nghe lùng bùng, ngứa ngáy, lộm cộm trong lỗ tai thì phải thức dậy để xem có gì trong lỗ tai và lấy ra. Làm bằng đất, nước, gió, lửa, làm bằng da, thịt, máu, làm bằng những thứ dơ bẩn, không sạch sẽ, làm bằng những thứ mang tính chất bệnh hoạn, những thứ nhất định phải tan rã, đổ vỡ, hư hoại. Chúng ta mang theo những thứ vô thường, tan hoại như vậy thì mong muốn luôn được vui vẻ sao được. Cho nên, mong được vui là sai, mà phải luôn thấy được tính chất vô thường của nó. Mỗi lần lỗ tai bị đau một chút là phải thấy rằng mang theo những thứ vô thường này thật khổ.
Đối với lỗ mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Mỗi khi ngồi thiền trên bồ đoàn thì phải quán chiếu đến từng thứ một và làm sanh khởi những tư tưởng theo Thánh trí tuệ. Phải thấy được tất cả đều là những thứ bất định, vô định, bất thường, vô thường; những thứ bệnh hoạn, biến đổi, khổ đau; không có gì là chủ thể bên trong. Tác ý như vậy mới gọi là đọc được bài kinh này, như vậy mới gọi là tụng kinh. Tụng ở đây là không cần mở kinh ra đọc nữa mà là tự nhớ ý, rồi đi sâu vào đó và niệm pháp. Cho nên, cách đọc kinh, tụng kinh, niệm kinh, niệm pháp đúng là phải như vậy. Còn mở kinh ra đọc lào lào, xong rồi đóng kinh lại thì không nhớ, không hiểu, không thực hành thì cũng như đã trả lại cho Phật, trả lại cho Pháp, không có ý nghĩa gì cả.
Vì vậy, chúng ta phải để từng câu kinh thấm nhập vào suy tư của mình. Bằng trí tuệ chân chánh quán xét đúng sự thật rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không có cái nào là của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Chúng ta quán chiếu, suy tư và làm sanh khởi sự thấy biết sâu sắc đối với từng căn, như vậy gọi là thiền quán, tư huệ, tác ý, quán chiếu theo chánh tư duy. Vì sự thật là như vậy mà chúng ta nghĩ theo chiều đó tức là mình nghĩ đúng, đó chính là Chánh tư duy. Ngược lại, cứ cho rằng mọi thứ là tôi, là của tôi, tôi đẹp, so sánh lỗ mũi cao, lỗ mũi thấp, tai lớn, tai nhỏ… thì đó là những suy nghĩ sai, tà tư duy, phi như lý tác ý, không đúng sự thật.
Chỗ khó nhất cần nắm vững là phần ý, gồm có ý căn và ý thức. Ở đây, chúng ta chỉ nói đơn giản ý là ý thức, tức là sự rõ biết được sáu thức. Nghĩa là thấy được sáu sự rõ biết, đó là sự rõ biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sự rõ biết này cũng vô thường, khổ, vô ngã, không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì chúng ta dễ hiểu, nhưng khi đến chữ ý, ví dụ nghe câu “ý không phải là của tôi” thì không hiểu ý là cái gì. Ý ở đây là ý thức, nói gọn là sáu thức, là sự rõ biết các sắc hiện giờ không phải của tôi; sự rõ biết các âm thanh không phải của tôi; sự rõ biết mùi, vị, đụng chạm không phải của tôi; sự rõ biết thọ, tưởng, hành, tức là sự rõ biết những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết bên trong không phải tôi, không phải của tôi. Chúng vận hành như một bộ máy, những cảm giác sanh khởi rồi diệt tận, vui rồi buồn, giận rồi thương; những hình bóng cứ ám ảnh, hết hình người này tới hình người kia, hết cảnh này đến cảnh nọ, hết đồ vật này đến đồ vật khác; những suy tư cứ liên tục sanh khởi, hết nghĩ việc này đến nghĩ chuyện khác. Nhưng tất cả chỉ là pháp duyên sanh, không phải tôi, không phải của tôi.
Mỗi khi ngồi nhìn lại, thấy bên trong sanh khởi những cảm giác, nghĩ, tưởng, sự rõ biết thì chúng ta không được chấp nhận chúng. Mà phải thấy không có cái nào là mình, là của mình thì mới có thể thoát ra khỏi nó. Lúc đầu chưa làm được nhưng từ từ tác ý quen rồi thì mình sẽ đứng bên ngoài để nhìn guồng máy vận hành của thọ, tưởng, hành, thức bên trong. Những lúc chánh niệm, tỉnh giác, tỉnh táo thì chúng ta thấy những sự sanh khởi của thọ, tưởng, hành, thức là việc làm của những tên si mê, vô minh, tham ái, chấp thủ; còn chúng ta không bị đồng hóa, không bị nhập cuộc với nó và đứng sang một bên. Lúc sáng tỏ mình mới làm được như vậy, còn lúc mờ tối thì lập tức bị nhập cuộc theo thọ, tưởng, hành, thức. Vì vậy, khi tỉnh giác thì chúng ta thấy mọi thứ chỉ là các pháp vận hành, không có cái là của tôi, không có cái nào là tôi, không có cái nào là tự ngã của tôi bên trong hết.
Như vậy, chỉ một chữ ý thức thôi nhưng chúng ta phải nắm được nhiều vấn đề, gồm: sự rõ biết các sắc, sự rõ biết âm thanh, sự rõ biết mùi, sự rõ biết vị, sự rõ biết sự xúc chạm, sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Đây là Minh Thành chỉ mới giải thích câu chữ ở trên kinh chứ chưa quán chiếu gì cả, cho nên, nếu chỉ đọc phớt phớt qua thì biết đến bao giờ mới sanh khởi trí tuệ, biết đến bao giờ mới thấy được sự thật mà Đức Phật muốn dạy mình. Như vậy, trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì chữ “ý” là ý thức, cho nên chúng ta phải hiểu về sáu thức. Tức là tất cả mọi sự rõ biết hình sắc; rõ biết tiếng; rõ biết mùi; rõ biết vị; rõ biết sự xúc chạm, tiếp xúc; rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong… đều không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.
Người tu được như vậy cần phải nhận diện được ngũ uẩn cho thật sâu sắc và tâm phải có một chút định trong đó. Ngược lại, vô văn phàm phu sẽ nhập cuộc với tất cả những thứ đó, tạo thành một cái tôi khổng lồ, siêu to. Còn chúng ta tu học là gỡ ra từng bộ phận để nhìn, đó là lí do mình phải học về sáu pháp, gồm: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ – tổng cộng phải học sáu chục pháp như vậy. Khi học thuộc, nhận diện được rồi thì lúc các pháp vận hành chúng ta sẽ thấy cái nào ra cái đó.
Ví dụ dễ hiểu, chúng ta nhìn vào đồ vật thì biết đâu là cái ghế, cái bàn, tượng Phật, lò trầm, đồng hồ, cái ly, cây cảnh, cái bảng, cái chuông là do được học từ nhỏ, tâm mình cũng vậy, phải được học, được thực hành. Nếu không học về sáu pháp thì lúc đối diện với các pháp mình thấy chỉ toàn là bóng đêm, hỏi đến cái nào cũng không biết, và người không biết cái gì hết thì Đức Phật gọi là vô minh. Còn chúng ta cứ thấy nhiều rồi học qua loa, không nhớ hết thì chắc chắn không thể thành chánh giác, không thể thấy biết đúng hết tất cả những khía cạnh của thân tâm, mà như vậy thì không đủ sức nhiếp phục, tẩy sạch những rác bẩn trong tâm.
Thế nên, bất cứ một pháp nào trong thân tâm chính mình mà mình không biết về nó là mình còn vô minh đối với pháp đó. Và Đức Thế Tôn được gọi là bậc Chánh Biến Tri là do Ngài có sự thấy biết cùng tột, cùng khắp tất cả các góc độ về sự vận hành trong ngũ uẩn này. Còn chúng ta, dù các pháp đang diễn ra rõ ràng trong tâm mình nhưng khi được chỉ bảo thì mình không chấp nhận. Có khi là do không thấy không biết thật nhưng cũng có khi đã thấy đã biết nhưng không chịu nhận, có người rõ ràng đang phừng phực mà vẫn nói là không giận.
Tất cả các pháp không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Tính chất của nó là đột ngột, đổi thay, vô thường, tan hoại, khổ đau, trống rỗng. Tất cả chỉ là sự vận hành của pháp, là những thứ cấu kết, kết hợp, lắp ráp, mắt xích, như một bụi lau sậy dựa qua dựa lại, hễ cây này ngã thì những cây khác đổ theo. Không có lõi cứng nào bên trong bụi lau sậy, nó yếu ớt, mong manh, nhỏ bé, rỗng ruột, tức là vô ngã, trống rỗng bên trong, không có lõi chắc. Đức Phật ví dụ như cây chuối, lột từng bẹ, từng bẹ ra đến cuối cùng không có cái lõi bên trong, đó chính là vô ngã. Cho nên, tất cả đều là vô ngã, khổ đau, đổi thay, dịch chuyển, vận hành không ngừng nghỉ. Sau đó đi đến chỗ mắt mờ, tai điếc, lưng còng, gối mỏi, da nhăn, tóc bạc và cuối cùng là hoại diệt, tan rã, đổ ngã, nằm xuống dưới lòng đất lạnh. Khi nhìn được những tính chất đó thì tự nhiên những tham, sân, si, bản ngã sẽ được lắng dịu, giảm bớt xuống. Nhờ thấy rõ bản chất biến đổi, hoại diệt đó nên chúng ta không còn hơn thua, giành giật, sân si với ai làm gì nữa. Như vậy, chúng ta cứ quán hoài, nhớ hoài, nghĩ hoài, suy tư hoài về tính chất vô thường, khổ, vô ngã, không phải của tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi của các pháp thì sẽ dẫn đến nhàm chán chúng.
Định lý giải thoát tối thượng
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý.
“Thấy vậy” tức là thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã không phải của tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi. Rõ biết được bản chất, tính chất, đặc chất của các pháp là khổ đau, là bất an, là bệnh hoạn, là mù lòa, là bệnh tật, là vô thường, là trống rỗng, là vô ngã. Thấy hoài những tính chất đó thì được gọi là “thấy vậy”. Và vị đệ tử Phật nghe nhiều Chánh Pháp, suy tư nhiều về sự thật đó sẽ dẫn đến nhàm chán tất cả, tức là không tham, không muốn, không yêu, không thích, không nắm, không giữ, không cho đó là của tôi. Vị này nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân. Vị này nhàm chán đối với hình hài, thân xác này, thấy rằng mang vác thân này hết sức mệt mỏi, mệt nhọc, đau khổ, vì phải lo lắng, lo sợ không ngừng. Nhàm chán đối với ý, tức là nhàm chán đối với những suy tư, cảm thọ, hình bóng, nhàm chán những suy nghĩ dục, suy nghĩ tham, suy nghĩ thèm muốn, suy nghĩ muốn hơn thua, suy nghĩ giận dữ, suy nghĩ ta, tôi, ganh đua… Vị ấy thấy nhàm chán, thấy ngao ngán, thấy ê chề, thấy chán chê, thấy gớm ghê, thấy mệt mỏi, không ưa, không thích, không ham, không khoái, không đam, không mê, không nắm, không giữ bất cứ cái gì.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
Do nhàm chán nên vị Thánh đệ tử ly tham, lìa tham, không còn tham muốn đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nữa. Nhờ ly tham nên vị ấy được thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Như vậy, chữ “giải thoát” này có nghĩa là do không còn tham muốn nữa nên vị ấy thoát ra khỏi sáu căn. Tức là thoát ra khỏi con mắt vô thường, khổ, vô ngã; thoát ra khỏi lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân vô thường, khổ, vô ngã, bệnh tật, hoại diệt; thoát ra khỏi tâm ý cứ tham muốn, sân si, bản ngã, ganh đua và thoát ra khỏi tất cả những thọ, tưởng, hành, thức.
Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Sáu Xứ A, Phần 1, Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường, bài kinh Vô Thường 1 Nội)
Khi tâm thức đã thoát khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì trong sự giải thoát đó vị ấy khởi lên sự thấy biết rằng mình đã thoát ra thật sự, tâm đã hoàn toàn thoát ra. Vị này không còn sót lại bất cứ cảm giác, suy nghĩ, hình bóng nào yêu thích những thứ đó nữa. Vị này ngán tới cổ, ngán tận cùng, ngán triệt để, ngán tới bến, hoàn toàn muốn thoát ra khỏi, không còn ưa thích, ham muốn cái gì nữa. Như vậy, vị ấy khởi lên trí thấy biết rằng mình đã thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; thoát khỏi thân xác vô thường, khổ, trống rỗng, đầy rẫy tham, sân, si, bất tịnh, u mê. Vị ấy biết rõ rằng sự tái sanh của đời sau sẽ không còn nữa, tức là biết rõ sự chấm dứt của việc tiếp tục sanh ra đời sau. Vị ấy biết rằng sự tu hành của mình đã thành tựu, vị ấy thấy rõ những việc cần nên làm của mình đã làm xong và vị ấy rõ biết mình sẽ không còn trở lại trạng thái mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không còn trở lui lại trạng thái lúc nào cũng sợ người khác dòm ngó, chê bai, chỉ trích mình nữa.
Cũng như việc được mời đứng lên trình pháp, nhiều vị không muốn trình pháp vì sợ người ta chê mình nói dở rồi xem thường mình, chỉ muốn mình nói hay. Tất cả những điều đó là ý niệm của tự ngã, mà mình quý tự ngã hơn quý pháp nên mình không chịu trình pháp. Luân hồi sanh tử không sợ, ngu si không sợ, chấp ngã không sợ nhưng lại lo sợ người khác chê. Cho nên phải thoát ra trạng thái luôn cho là tôi, là của tôi, hơn nữa, làm gì có ai bên trong thân này, chỉ là nùi giẻ, đồ giậm chân, đống phân, đống nước tiểu, bao máu mủ. Mình cứ việc nói suy nghĩ của bản thân ra, ai khinh khi càng nhiều càng tốt, không sao hết, như vậy cho mình hết nghiệp, hơn nữa, đây là cái đáng bị khinh khi, đáng bị chà đạp. Thân tâm này là cái thứ đáng bị nhục mạ, đáng bị sỉ vả, cứ để người ta nhục mạ, mắng chửi cho đã. Thậm chí cầu mong mọi người chửi cho đã để mình hết nghiệp. Chúng ta càng bị chỉ trích chừng nào thì nghiệp càng giảm bớt, càng nhẹ chừng đó, oan gia trái chủ càng sớm hết chừng đó để mình ra đi cho nhanh.
Tại sao chúng ta phải sân si với lời mắng chửi, chỉ trích, chê bai trong khi bản chất của ngũ uẩn này là tham, sân, si, vô minh, bản ngã như vậy, cho nên bị chửi là đúng. Ai chửi mình sao sân si quá thì phải cảm ơn người ta, vì mình sân si nên khổ lắm, nhờ người ta chỉ cách cho hết sân si. Ai chửi mình tham lam thì cứ nhận mình tham nên phải chịu khổ, người ta nhắc nhở để mình giảm bớt tham. Ai chửi mình bản ngã thì chấp nhận điều đó và thấy nhục nhã, xấu hổ vì cái bản ngã này, thấy cái bản ngã này hèn hạ, rồi cảm ơn và lạy người ta vì họ chỉ lỗi cho mình. Đằng này ngày nào cũng lạy sám hối diệt ngã mà khi được người ta chỉ bản ngã thì sân lên là thế nào? Ngày nào cũng hứa với Phật dẹp bỏ sân giận, khi người ta chỉ cái sân của mình thì phải thấy là mình đang sân, chứ sao lại nổi giận luôn với người ta?
Cho nên, khi giải thoát thì vị Thánh đệ tử biết rõ sự thoát ra những trạng thái lo sợ, vô minh, si mê đó; không còn hình hài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không còn tâm thức phải khởi dục, tham, sân hận, bản ngã thêm nữa... Vị ấy thấy biết một cách rõ ràng: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Như vậy chính là giải thoát. Trước giờ chúng ta cứ học giải thoát như không hiểu giải thoát là giải thoát khỏi cái gì. Ở đây, giải thoát trong ba bài kinh đầu của Tương Ưng Sáu Xứ là giải thoát khỏi sáu xứ. Chúng ta cần phải nhớ ở trong ngữ cảnh nào thì chữ đó có nghĩa tương ứng trong ngữ cảnh đó. Cụ thể, khi chữ giải thoát nằm trong phần Tương Uẩn Uẩn thì giải thoát này có nghĩa là giải thoát khỏi năm uẩn. Như vậy, giải thoát là thoát ra, nghĩa là thoát ra các pháp. Nghĩa là sau khi thấy bản chất của các pháp thì các vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán, khi nhàm chán thì không còn tham muốn nữa nên được giải thoát. Khi đó, vị này tự rõ biết mình đã giải thoát, thoát ra khỏi các pháp đó.
Như vậy, định lý giải thoát, khẩu quyết tối thượng của Đức Phật ở đây chính là: Thấy vậy – nhàm chán – ly tham – giải thoát.
Thấy vậy tức là thấy mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.
Nhàm chán tức là vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với con mắt; nhàm chán đối với lỗ tai. Nhàm chán đối với lỗ mũi, mùa dịch Covid-19 này muốn đi đâu cũng phải lấy mẫu thử sâu trong mũi để xét nghiệm nên mũi rất khó chịu, trời lạnh thì bị chảy nước mũi, có người bị viêm xoang thì rất khốn khổ, đau đớn; nhàm chán đối với lưỡi; nhàm chán thân thể bệnh hoạn, ung nhọt chín lỗ, mủ, máu, nước mắt, nước miếng, ghèn, nước mũi, những chất dịch hôi dơ, tanh tưởi; nhàm chám đối với tâm ý, sự rõ biết sanh khởi ra tham, sân, si, vô minh, chấp thủ, ràng buộc; nhàm chán hết đối với đống mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khổ đau, bất tịnh, vô thường, bất chợt, đột ngột, đột tử này.
Tu sâu sắc như vậy thì khi có ai sân si với mình thì mình thấy nhàm chán. Người ta hơn thua, lừa gạt thì mình cũng không tức, không giận mà càng thêm nhàm chán, nhờ vậy càng mau chóng thoát khỏi đống khổ. Chúng ta không còn hơn thua, không còn tranh giành, đấu đá, thắng bại với ai trên cuộc đời này nữa vì đã nhàm chán với tất cả. Nhờ nhàm chán nên ly tham, không còn tham muốn nữa. Nhờ lìa tham nên giải thoát, thoát ra. Đây chính là định lý tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Còn nhiều người vào tu chỉ muốn quán một chữ “nhàm chán” thôi thì không thể nhàm chán được, vì pháp vận hành theo một trình tự như định lý trên. Định lý này là tóm gọn trong ba bài kinh, hơn nữa, ba bài kinh này cũng đại diện cho nhiều bài trong Tương Ưng Sáu Xứ, vì các bài rất giống nhau trong nhiều khía cạnh. Chúng ta học xong bài này phải về nghe lại thật nhiều lần, khi nhớ được ý chính thì sau này vận dụng định lý đó để quán chiếu mỗi khi thấy, nghe, tiếp xúc, cảm thọ, suy nghĩ, suy tư, nhận thức. Minh Thành chỉ chia sẻ vắn tắt, còn khi tu tập chúng ta phải quán chiếu, suy tư, tác ý thêm rất nhiều. Bằng không, tự nhiên kêu nhàm chán thì sao nhàm chán được, không dễ để nhàm chán vì dục, ái rất khủng khiếp.
Minh Thành bây giờ ngán đến tận cổ, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng ra đi, hướng đến sự từ bỏ tất cả mọi hiện hữu, không còn ưa thích bất cứ cái gì. Vì đâu đâu cũng thấy toàn tham, sân, si, giành giật, hơn thua, bệnh hoạn. Cho nên, Minh Thành chỉ có một niềm đam mê là Thánh Pháp và thực hành pháp. Chúng ta thật sự phước đức khi có được bản dịch đầy đủ Tạng kinh Nikāya này. Trong khi Nhật Bản chưa được dịch ra, Trung Quốc thì dịch rời rạc, chỉ có Đài Loan mới có bản dịch đầy đủ. Hơn nữa, ở các nước Châu Âu, ngoài bản dịch tiếng Anh ra thì các nước còn lại cực kỳ hiếm có và hầu như không có tạng kinh này. Còn chúng ta được bậc tối thượng nhân dịch đầy đủ, trọn vẹn Tạng kinh Nikāya, cho nên việc duy nhất còn lại là cố gắng bảo trì, tu học, thực hành, truyền bá Chánh Pháp đã bị mai một hàng ngàn năm.
Hãy cố gắng tu tập, đừng sợ thất bại, vấp ngã, hoặc có thể sợ vì mình chưa làm được và buồn nhưng nỗi buồn đó là để cố gắng tiến lên. Điều quan trọng là chúng ta đừng lo vì mình đã đi đúng đường, cứ kiên trì là sẽ tới. Ai đi nhanh thì đến mau, ai đi chậm thì đến lâu, cho nên, chỉ cần đừng bao giờ bỏ cuộc thì chắc chắn sẽ đến. Cứ tác ý, chiêm nghiệm, nhìn xung quanh để cảm nhận, suy tư và nhìn vào trong chinh mình. Khi thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã như vậy thì hướng đến nhàm chán, không còn ham thích và muốn thoát ra khỏi cái hiện hữu này.
Toàn cầu bây giờ lạnh lẽo, vắng tanh, lặng lẽ, ai ai cũng sống lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sầu vì dịch bệnh Covid-19, hơn nữa con người lại đầy rầy tham, sân, si, hãm hại nhau không ngừng. Khổ như vậy nên chúng ta càng phải thoát ra mau, thường xuyên tác ý: “Có cái gì bên trong thân này mà đam mê? Có gì dưới núi mà xuống dưới tầm cầu? Tìm gì, kiếm gì ở ngoài kia mà cứ xách đãi đi khắp nơi, đứng núi này trông núi nọ? Không có gì để nhà người tìm kiếm vì tất cả mọi hiện hữu nằm trong đau khổ, nằm trong bất an, nằm trong lo sợ. Chỉ có thoát ra mới thật sự là đại bình an, đại tịnh lạc, đại Niết-bàn. Hãy tu cho ráo riết để mà thoát ra!”.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu khái quát những bài kinh đầu trong Tương Ưng Sáu Xứ về vô thường, khổ, vô ngã nội của sáu căn. Chúng ta phải đọc, tìm hiểu và chiêm nghiệm thêm để ghi nhớ cho thật sâu sắc.
./.
TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 1
VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ NỘI
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tạng kinh Nikāya quý báu PAGEREF _Toc89549994 \h 1
1.Những trở ngại trong việc tìm hiểu tạng kinh PAGEREF _Toc89549995 \h 1
2.Phát nguyện quyết tâm tu học PAGEREF _Toc89549996 \h 3
3.Tác ý mọi hiện hữu đều trong đau khổ PAGEREF _Toc89549997 \h 6
II.Giá trị của Tương Ưng Sáu Xứ PAGEREF _Toc89549998 \h 10
III.Vô thường, khổ, vô ngã nội PAGEREF _Toc89549999 \h 15
1.Bài kinh “Vô Thường 1 Nội” PAGEREF _Toc89550000 \h 15
2.Định lý giải thoát tối thượng PAGEREF _Toc89550001 \h 20
Tạng kinh Nikāya quý báu
Minh Thành có trao đổi với Phật tử nghiên cứu các bản dịch Tạng Kinh Nikāya của những nước khác. Phật tử này chia sẻ rằng Việt Nam chúng ta rất là phước báu, rất là hy hữu, rất là hiếm có, rất là đặc biệt!
Những trở ngại trong việc tìm hiểu tạng kinh
Thứ nhất, ngay cả cường quốc như Nhật Bản mà còn chưa có Tạng Kinh Nikāya dịch ra tiếng quốc ngữ. Trung Quốc đại lục cũng chỉ có những bản dịch rời rạc, không đầy đủ, riêng Đài Loan mới có bản dịch Nikāya đầy đủ. Và ở những nước Châu Âu, chỉ có bản tiếng Anh là dịch đầy đủ Tạng Kinh Nikāya, bản tiếng Pháp thì chưa có, huống hồ gì những nước khác. Vì vậy, thật sự tất cả chúng ta rất là phước báu, rất là hiếm có, rất là hy hữu khi có đầy đủ Tạng Kinh Nikāya. Trừ những nước Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nguyên thủy thì những nước có đủ Tạng Kinh Nikāya đếm trên đầu ngón tay, còn lại các nước khác thì không có, hoặc có thì cũng không đầy đủ.
Thế nên, nếu có đầy đủ tạng kinh như vậy mà chúng ta không biết đọc tụng, không biết tìm hiểu, không biết học hỏi, không biết hành trì, không biết chia sẻ, không biết truyền bá là chúng ta thiếu phước, vô phước, bạc phước dù đang ở trong phước đức. Ngay cả Nhật Bản – một quốc gia Phật giáo lớn như vậy mà tìm mãi cũng không thấy tiếng quốc ngữ dịch hết Tạng Kinh Nikāya, điều này làm chúng ta càng thêm trân trọng, trân quý hơn tạng kinh nà. Và chúng ta phải thấy rằng một bậc Đại Tôn Đức xuất hiện trên cuộc đời này như Cố Đại Trưởng Lão Hòa Thượng Minh Châu là không phải chuyện bình thường. Cho nên, chúng ta phải đem tất cả thời gian, tâm lực, hạnh lực, trí lực của mình đặt vào tạng kinh để tu học.
Thứ hai, Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu đã dịch tạng kinh này gần nửa thế kỉ, trong đó phải dùng nhiều ngôn ngữ, thuật ngữ chuyên môn của cổ ngữ như tiếng Pāli và tiếng Hán, bởi vì tiếng Việt không đủ sức để lột tả nhiều từ ngữ cho thật khúc chiết, cô động, sâu sắc. Cho nên, điều khó thứ hai là tạng kinh vừa có tiếng Pāli, vừa có tiếng Việt, vừa thêm những thuật ngữ chuyên môn, chuyên ngành, cùng với tính cô đọng, hàm súc của lời kinh và nghĩa lý thâm sâu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, điều này tạo thành những trở ngại lớn trong quá trình tìm hiểu tạng kinh. Ngay cả bản thân Minh Thành, trước khi được bậc Thiện tri thức khai thị, chỉ điểm, dù có nghe và đọc suốt 15 năm cũng không có chìa khóa để mở cửa kinh tạng. May mắn Minh Thành có duyên học Hán ngữ nhiều năm, dịch nhiều tác phẩm Hán tạng và được truyền thụ pháp hành. Cho nên đây là nhân duyên thù thắng, hiếm có để Minh Thành có thể dễ dàng đọc hiểu và chia sẻ một cách rõ ràng, cụ thể, sáng tỏ, sau đó cúng dường đến đại chúng cũng như lưu truyền cho đời sau.
Minh Thành chia sẻ ngắn gọn như vậy để chúng ta thấy được không phải dễ dàng có thể nghe, đọc và hiểu được tạng kinh, đây là Minh Thành chỉ mới nói ở khía cạnh đọc và hiểu. Ngày xưa Minh Thành suốt 15 năm đọc và nghe tạng kinh, đôi lúc đọc suốt cả đêm nhưng vẫn không hiểu, hoặc có hiểu thì chỉ lờ mờ, trù tượng, không rõ ràng, không chính xác. Sau khi được nhận diện năm uẩn, nhìn thấy được tham, sân, si, bản ngã, vô minh, lậu hoặc thì chúng ta mới bắt đầu có chìa khóa để mở cánh cửa của tạng kinh cũng như cánh cửa của thân tâm mình.
Đó là lí do tại sao Minh Thành rất trân quý, rất cung kính, rất tâm huyết đối với Tạng Kinh Nikāya. Chỉ có người khát ngưỡng, tha thiết, đem cả mạng sống của mình để cầu pháp thì mới thật sự biết được giá trị của tạng kinh này siêu việt đến mức độ nào. Chính vì vậy, từ hôm nay trở đi, chúng ta phải có cách học mới, phải nâng cấp hơn, học kỹ hơn, đào sâu hơn, bám sát hơn. Còn nếu chỉ đọc và học phớt qua thì chúng ta sẽ không bám sát vào lời kinh, cũng như không hiểu thấu đáo, cặn kẽ được từng câu, từng chữ trong kinh. Và đối với những bài giảng này, Minh Thành cũng có tâm nguyện sẽ để lại cho mai sau, nối gót theo các bậc tiền bối, tôn trưởng, gọi là Hậu Tạng kinh Nikāya.
Hơn nữa, không nói đến những người Tăng, Ni, Phật tử thông thường, mà ngay cả những vị được đi học ở nước ngoài, học ngôn ngữ Pāli cũng rất khó khăn trong việc hiểu được tạng kinh, bởi vì trong tạng kinh là những pháp hành, những định lý, những định luật, những khẩu quyết của Đức Phật. Nếu không gặp được bậc thành tựu trí tuệ, hành trí đúng pháp thì sẽ không giải mã được những lời dạy của Đức Phật và những lời đó mãi mãi chỉ là khẩu quyết, là mật mã, là bí mật. Chính vì vậy, suốt hàng ngàn năm nay, Tạng Kinh Nikāya chỉ để thờ là bởi vì không mở được mật mã và bí mật bên trong.
Cho nên, Minh Thành một lòng tha thiết và tâm huyết rằng mỗi ngày sẽ đọc lại những lời dạy của Đức Phật để diễn ra tiếng Việt chứ không dám thêm ý riêng của mình vào. Tất cả mọi sự diễn giải là để làm rõ ý kinh, vì nếu đọc giống y theo kinh thì trong 10 người thì có đến 9 người không hiểu được rõ ràng, hoặc nếu hiểu được thì chỉ hiểu phớt phớt, chung chung. Thành ra, từ nay về sau chúng ta sẽ có cách học mới, mình sẽ đi theo từng câu, từng chữ ở trong kinh, chỗ nào khó khăn thì Minh Thành sẽ giải thích. Sau này Minh Thành sẽ ghi chép lại lại tất cả để làm thành bộ Hậu Tạng kinh Nikāya nếu Minh Thành còn sống và có đủ thời gian.
Phát nguyện quyết tâm tu học
Trong sự tu học này, nếu không được một vị thành tựu, chứng đắc chỉ điểm cho thì vĩnh viễn và mãi mãi là bí mật. Chúng ta chỉ đọc và hiểu trên ngôn ngữ, hiểu trên nghĩa lý sơ sơ chứ không đến để mà thấy được ngũ uẩn như thế nào, lậu hoặc như thế nào, dục, ái, tham, sân, si, bản ngã như thế nào ở trong người mình, guồng máy hoạt động của nó như thế nào.
Vì vậy, Minh Thành mong mỏi tất cả chư Tăng, Ni và quý Phật tử dành hết thời gian của mình vào trong pháp học và pháp hành này, ngoài ra không còn gì còn ý nghĩa nữa. Chúng ta đã chọn con đường xuất gì thì không còn gì bên ngoài là ý nghĩa, tất cả đều vô giá trị đối với mình. Ngoài tạng kinh, ngoài pháp học và pháp hành này thì tất cả những thứ khác đều là vô nghĩa. Chỉ có pháp này mới cứu chúng ta, vì đây là đạo lộ diệt khổ, ngoài pháp này thì không còn có gì khác có thể cứu giúp mình. Vì vậy, không còn thứ gì khác để chúng ta tìm kiếm nữa ngoài tạng kinh, ngoài lời dạy nguyên chất của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu rời pháp này ra để làm những chuyện khác là chúng ta đang phung phí, lãng phí, hoang phí, phí phạm cuộc đời, tuổi thanh xuân, thời gian, tâm lực, trí lực của chính mình. Hơn nữa, chúng ta tu từ bây giờ đến lúc mình chết không biết có kịp để thành tựu hay không. Cho nên, mong rằng tất cả chúng ta sẽ trân trọng, tôn kính, quý kính tạng kinh này và dành thật nhiều thời gian để nghe, suy tư, quán chiếu và thực tập.
Hãy phát nguyện từ đây cho đến ngày mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng Thánh Pháp Tạng, Thánh trí tuệ, Thánh đạo này. Chúng ta phải phát nguyện và nhắc nhở bản thân như vậy mỗi ngày để sanh khởi lên sự hoan hỷ, cung kính, trân quý, tôn trọng tạng kinh này. Bằng không, học được một thời gian thì chúng ta sẽ thấy nhàm chán, muốn quay lại để tìm những thú vui phàm phu, thấp kém, hạ liệt, hèn hạ ở đời. Và cuộc đời chúng ta sẽ tiếp tục chìm nổi, trôi lăn, tiếp tục lún xuống vũng lầy của dục vọng; tiếp tục bị thiêu đốt trong những trận hỏa hoạn của cảm xúc sân hận; tiếp tục quờ quạng trong đêm đen; tiếp tục hơn thua, ganh đua, đấu đá, tranh giành trong bản ngã hư danh và ác độc.
Sống như vậy thì thật là vô nghĩa, vô giá trị, vô ích! Thật ra trước khi gặp tạng kinh này, trước khi đi vào dòng pháp này thì chúng ta toàn làm những chuyện vô nghĩa, vô ích. Bây giờ nhìn lại tự thân mình và những người không biết tu thì thấy rằng trước nay chúng ta đều suy nghĩ, nói năng trong tham, sân, si để hơn thua, tranh giành. Thật là vô nghĩa, vô ích, thật là không có giá trị khi suốt cuộc đời chỉ làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, đau mình đớn người, quằng mình quại người, tự hành hạ, hành xác, hành tội mình và người khác, không có ý nghĩa gì cả.
Chúng ta nhìn lại để thấy cả thế giới, cả thế gian, cả vũ trụ này đều đang sống và làm những việc vô nghĩa, vô ích, trừ những bậc chánh kiến, bậc chân nhân. Sáng dậy mở mắt ra là đi làm, đến chiều tối lại về ngủ, cả ngày là chạy đi tìm những thứ dục, tham, ái rồi đi hơn thua, ganh đua, so đo, sân hận. Nhìn kỹ lại chúng ta thấy cuộc đời này không có ý nghĩa gì, tất cả đều vô nghĩa vì dành cả đời để đi tìm những thứ vô thường, làm những điều vô tích sự, vô ích. Chẳng những vô ích, vô nghĩa mà còn có hại, làm cho mình khổ người khổ. Hơn nữa, chúng ta không phải làm người xa lạ khổ mà là hành tội chính người mình thân yêu nhất, hành tội cha mình, mẹ mình, hành tội vợ mình, chồng mình, con mình. Tất cả là tại vì chúng ta sống trong mù lòa, sống trong sự thiêu đốt, sống trong bóng đêm, sống trong vô minh, si ám.
Chúng ta không thấy sự thật về chính mình. Không thấy sắc uẩn vận hành thế nào. Không biết những cảm giác sanh diệt, thúc giục như thế nào. Đối với những suy tư, nghĩ ngợi: dục tư suy, sân tư duy, hại tư duy cũng không thấy, không biết chúng ra sao. Đối với những hình bóng ám ảnh bên trong về tự thân của một bản ngã, một cái tôi cũng không thấy, không biết đó là khổ. Cuối cùng là những nhận thức mê muội, chúng cũng nằm trong sự nhỏ hẹp, nhỏ bé, nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ nhít, nhỏ nhen và tự làm cho bản thân đau khổ.
Thế nên, chúng ta phải nhìn ra tất cả mọi thứ ngoài đời kia đều là vô nghĩa và mình đang làm rất nhiều việc vô nghĩa, vô ích. Suốt đời cứ đi tìm những thứ vô thường, ảo mộng, những thứ giả dối, lọc lừa. Hơn nữa, chúng ta tự mình dối gạt, dối trá mình và cũng ưa thích người khác dối trá chúng ta. Người ta nói thật thì giận, những việc dù biết người ta nói gạt nhưng mình vẫn chịu, vẫn thích. Như vậy có khôn không? Cho nên, chúng ta thật sự dại khờ, khờ khạo, đáng thương. Khi mở được con mắt pháp thì chúng ta mới thấy mình đáng thương đến mức độ nào. Đối với Đức Thế Tôn, các bậc Thánh chúng, các bậc chân nhân thì mình là kẻ đáng thương xót, vô cùng khờ dại, ngu hết chỗ nói. Suốt ngày cứ dòm ngó nhau rồi sanh sự, kiếm chuyện, hoặc tìm chỗ hở, moi móc những tật xấu, khuyết điểm của nhau để rồi sân si, bắt lỗi phải quấy, đúng sai và làm những chuyện khiến mình rối bời, rối rắm.
Đời sống của chúng ta được vận hành một cách vô nghĩa như thế, tức là cứ vận hành trong những ham muốn, thúc giục, đòi hỏi, khát khao trong những nhiệt não, sân hận, ganh đua, giành giật. Đó là vì không thấy pháp, chưa được học Tạng kinh Nikāya nên chúng ta không nhận diện được năm uẩn, không nhìn thấy được sáu xứ, chưa biết được mười tám giới, chưa hiểu được cảm thọ. Còn khi đã biết những điều này thì chúng ta sẽ thấy thương mình thương người, xót mình xót người, tội nghiệp mình tội nghiệp người. Sau đó chúng ta sẽ nhìn trùm khắp thế gian này bằng một ánh nhìn thấu đáo, thấu suốt, triệt để, tận cùng, tột cùng, trong kinh gọi là cái nhìn thắng tri, liễu tri về bản chất của thế gian, của đời sống này.
Được như vậy thì chúng ta thấy rất tuyệt diệu và đáng vui mừng. Dù nhàm chán tất cả nhưng rất vui sướng, hân hoan, hoan hỷ, khinh an, hướng đến sự từ bỏ. Bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng chết một cách nhẹ nhàng, buông xả và từ bỏ. Bất cứ lúc nào tử thần đến cũng chết một cách bình an, không còn mong chờ, hy vọng, ước mơ, dự định, dự án, kế hoạch gì nữa. Hồng trần tục lụy xin bái bái và xin vĩnh biệt luân hồi. Chúng ta phải trang bị cho mình một nội tâm như vậy.
Tác ý mọi hiện hữu đều trong đau khổ
Mấy ngày trước, Minh Thành ngồi thiền và nhớ đến một vài chuyện hơi buồn, khi đó Minh Thành tác ý: mắt này không phải là mình; sắc pháp không phải là mình, không phải của mình; sự rõ biết các sắc không phải là mình, không phải của mình. Lỗ tai này không phải là mình; âm thanh kia không phải của mình; sự rõ biết âm thanh không phải là mình. Tất cả sự giao thoa, tiếp xúc không phải là mình; những cảm thọ sanh khởi cũng không có cái gì là mình. Mũi, lưỡi; hương, vị; sự rõ biết mùi, rõ biết vị cũng vậy, cũng không phải là tôi, không phải của tôi. Cho nên, tất cả những sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân sẽ sanh ra những cảm thọ, dẫn đến ái, thủ và tất cả sự hiện hữu đó đều là trong khổ đau.
Thân này không phải mình, hình vóc này không phải của mình; cảm thọ này không phải mình, không phải của mình; tưởng này không phải mình, không phải của mình; những suy nghĩ này không phải mình, không phải của mình; những nhận thức, rõ biết cũng này không phải mình, không phải của mình. Chúng ta tác ý sáu căn không phải tôi, không phải của tôi. Sáu trần không phải tôi, không phải của tôi. Phải liệt kê từng căn, trần, thức cụ thể chứ không được nói chung chung. Hình hài, sự tiếp xúc, cảm giác này không có cái nào là tôi, là của tôi. Những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức cũng không có cái nào là tôi, là của tôi. Chúng chỉ là do sự tiếp xúc sanh khởi ra. Tất cả đều là khổ, phải từ bỏ, buông xả để có được sự an tịnh, lắng dịu. Sau khi tác ý như vậy thì một cảm giác hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, bình an xuất hiện và nhổ tận được gốc rễ của mọi tâm niệm buồn phiền. Đó là một phép màu, một sự kỳ diệu, một phương pháp giải sầu tối thượng của Đức Thế Tôn. Khi tác ý như vậy là chúng ta thực hành xả vô lượng tâm.
Mỗi ngày chúng ta đều học thì thấy sự học này rất bình thường nhưng khi vận dụng được một phần nào thì sẽ thấy rất tuyệt diệu. Vì chúng ta đang học Thánh Pháp, học Chánh Pháp, học cách thức đúng để xử lý tham, sân, si, học những lời chân xác, chính xác, hiệu quả nhất của Đức Thế Tôn trong việc hóa giải những sự dao động, lăng xăng ở bên trong thân tâm mình. Cho nên, chúng ta phải cố gắng nắm thật vững những pháp hành này. Đừng nghĩ sự học không dính dáng gì đến sự tu, mà tất cả những gì chúng ta học là trí tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình. Chúng ta phải dùng trí tuệ này để tác ý thường xuyên để những dòng Thánh pháp sẽ ngấm vào da, vào thịt, vào xương, vào tủy, vào não. Và sau này khi tiếp duyên xúc cảnh, có những việc xảy đến, có những cảnh xảy ra thì chúng ta sẽ dùng ánh mắt của Thánh trí tuệ để soi rọi, xuyên thủng và đi qua tất cả.
Chúng ta đừng vội vàng rồi nghĩ rằng học một năm, hai năm là phải chứng quả, mà cứ hãy kiên trì, bền chí, lắng nghe, tác ý, quán chiếu liên tục. Được như vậy thì bất thình lình một ngày nào đó thì chúng ta sẽ nhập cuộc với Thánh trí tuệ. Điều quan trọng ở đây là kiên trì, bền chí, Như Lý Tác Ý không ngừng, dù nhiều khi cũng sẽ buồn chán nhưng chúng ta phải đánh phá nó và tác ý hỷ lạc. Lúc nào chúng ta cũng phải áp đặt mình đi vào đạo lộ của bậc Thánh, không để bản thân đi qua con đường của phàm phu, phàm tình, dẹp hết tất cả những buồn giận thương ghét, đúng sai hay dở, hơn thua tốt xấu qua một bên. Sống thì phải có ân, có nghĩa, có tình nhưng sâu thẳm bên trong trí tuệ là phải vượt thường tình. Chúng ta không được cân đo đong đếm rồi bắt người khác theo ý mình, nếu người ta không như ý mình thì buồn, như vậy không đúng.
Thay vào đó, nhìn vào việc gì thì chúng ta cũng phải hiểu cái nào đúng cái nào sai. Người nào sống có tình có nghĩa thì mình vẫn biết nhưng không được dính mắc, hệ lụy vào đó. Có như vậy thì chúng ta mới vượt lên thường tình và đi vào Thánh đạo, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh pháp. Bằng không là chúng ta sẽ chìm vào đau khổ, hơn nữa, không phải chuyện bên ngoài xảy đến thì mình mới khổ mà từ bên trong chính mình làm mình đau khổ. Những suy nghĩ làm mình khổ, những cảm giác làm mình bức xúc, những hình bóng, ám ảnh bên trong làm mình day dứt xem phải đối xứ thế nào với người khác. Suốt cả ngày cứ mình mình, tôi tôi, ta ta, đến khi nào phá tan được cái “mình” là xong mọi việc.
Con ta, tài sản ta,
Người ngu nghĩ như vậy,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Chính tự thân mình mà còn không có thì làm gì có cái của mình, mà đã không có cái mình thì làm gì có ai hơn, ai thua, ai là người nói xấu, ai là người bị nói xấu, ai là người giận, ai là người bị giận. Ví dụ, có hai cây viết, một cây lớn, một cây nhỏ, từ ban đầu nếu không có cây viết thì làm gì có chuyện cây nào lớn, cây nào nhỏ. Có lớn, có nhỏ là tại vì mình hay so sánh rằng người kia giàu hơn tôi, khỏe hơn tôi, có quyền hơn tôi, còn tôi thì thấp bé. Chúng ta cứ lấy người kia so với người này mà không biết rằng không có người nào ở đây cả.
Tất cả chỉ là đất, nước, gió, lửa, gồm một đống cát bụi (đất), một đống nước (nước) trộn lại với nhau, cùng với hơi thở (gió) và nhiệt độ (lửa) hòa chung nên thành ra một cục tứ đại bên ngoài; còn bên trong là sự vận hành của những cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức. Chúng kết hợp với nhau và vận hành theo chiều dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Khi đã nhìn thấu guồng máy vận hành của ngũ uẩn thì chúng ta dùng Thánh trí để phá vỡ chúng ra. Khi lật tung nó ra thì chỉ thấy trục xe, căm xe, bánh xe, niềng xe, thắng xe… chứ không có cái nào là chiếc xe cả, cũng vậy, không có một cái tôi, cái ta nào cả.
Vì vậy, mỗi khi trong lòng giận ai, chúng ta tự hỏi “ai ở đây mà giận, giận ai, ai giận” và phân tích từng trường hợp. Dù ngồi trên bồ đoàn nhưng đưa thân này vào lò thiêu, cho nó thiêu thành một nắm tro, rồi kêu nó “chỉ còn nắm tro đó, giận đi”. Hoặc nhớ nhung thì đưa nó vào hòm, quán chiếu tử thi sình lên và tác ý “tử thi sình thối đó, thương đi, yêu đi, ôm đi”. Tác ý hoài như vậy thì mới có thể làm rung chuyển những chấp thủ bên trong. Chúng ta đào rễ, bứng gốc, chặt cây, mé cành và bầm chúng ra từng mảnh nhỏ, sau đó đốt nó thành tro bụi rồi đổ nó xuống biển xuống sông, cho gió mười phương tám hướng thổi bay thành hư không, để không còn sanh khởi trở lại trong tương lai nữa.
Như vậy, không còn sự tác ý nào so sánh nổi với những lời tác ý của Đức Phật dạy. Chúng ta phải sử dụng cho thật nhuần nhuyễn và thật điêu luyện trong sự tác ý. Khi đã tác ý mạnh, có sự thuần thục trong sự tác ý thì chúng ta thường sống trong trí tuệ đó. Cho nên, khó có điều gì trên đời này có thể lừa gạt nổi mình, khó có cái gì mà mình không nhìn xuyên thấu, khó có chuyện gì có thể che mắt mình khi chúng ta nhìn tất cả mọi thứ bằng Thánh trí tuệ.
Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng để tâm thật nhiều vào tạng kinh quý báu này. Chỉ có pháp mới cứu mình, ngoài ra không còn cái gì có thể cứu mình. Chỉ có pháp mới là con đường thoát khổ, ngoài ra không còn con đường thoát khổ nào khác. Chỉ có pháp này mới đáng học, đáng tu, đáng hành, đáng trì, đáng tôn, đáng kính, đáng quý, đáng báu, đáng tìm, đáng kiếm, đáng lạy, đáng cầu, đáng khát, đáng ngưỡng, đáng cung, đáng kính. Mọi người phải thường xuyên tác ý như vậy và đặt hết tấm lòng, tâm huyết vào pháp, đừng để quên tâm cung kính này.
Giá trị của Tương Ưng Sáu Xứ
Minh Thành có nhân duyên rất đặc biệt đối với Tương Ưng Sáu Xứ, mỗi lần nghe đều có cảm thọ dài lâu, thâm sâu, rung chuyển. Dù đã có hơn hai mươi buổi chia sẻ về Tương Ưng Sáu Xứ nhưng Minh Thành vẫn muốn tiếp tục học sâu hơn nữa để quán chiếu và nhờ đó có thể thành tựu, thể nhập vào Thánh tri kiến này. Nhất là trong mùa dịch này, đây là thời gian rất thuận duyên để chúng ta học, còn sau này khi bớt dịch thì rất khó học phần này, vì đang khổ như hiện tại thì học phần này rất phù hợp. Hơn nữa, sau này không biết Minh Thành còn duyên để chia sẻ nữa không, hay vô thường đến không còn dịp để chia sẻ.
Phần Tương Ưng Sáu Xứ này là một trong những phần cốt lõi nhất của Tạng kinh Nikāya. Trong năm bộ Nikāya thì Tương Ưng Bộ là bộ kinh trọng yếu nhất, Ấn Thuận Đạo Sư nói đây là tạng kinh vô biên thậm thâm pháp nghĩa. Hơn nữa, lõi của tất cả pháp hành là nằm trong bộ kinh này. Trong Tương Ưng Bộ thì Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Thọ và Tương Ưng Sáu Xứ là những phần cực kỳ thâm sâu, chúng ta nắm vững được những phần này thì mới đi vào những phần Tương Ưng khác như: Tương Ưng Khổ Thánh Đế, Tương Ưng Nhân Duyên… Trước đây, chúng ta đã tìm hiểu Tương Ưng Uẩn (tức là Thánh trí Năm Uẩn), Tương Ưng Xứ và một phần Tương Ưng Thọ, với tình hình hiện tại, chúng ta có nhân duyên để tiếp tục đào sâu vào những phần Tương Ưng này. Các phần Tương Ưng đều rất sâu và rộng, thế nên chúng ta đi chiều sâu trước, sau khi nắm được cốt lõi thì sau này đi vào chiều rộng sẽ dễ dàng hơn.
Nếu chúng ta chỉ đọc theo chữ như trong bài kinh thì không thể nào hiểu nổi, hoặc có hiểu thì cũng chỉ hiểu mường tượng, phớt qua. Vì những lời này thuộc về khẩu quyết, định lý của Đức Phật, những người bình thường đọc vào không thể hiểu được, phải là người chuyên ngành chuyên môn thì mới hiểu được từng câu chữ, từng định nghĩa. Còn chúng ta đọc thì có đọc nhưng không thấy có cảm thọ gì, đọc xong rồi cũng trơ trơ, không hiểu được ý nghĩa thật sự của lời kinh. Dù có đọc thuộc lòng: “Mắt là vô thường, tai là vô thường, mũi là vô thường, lưỡi là vô thường, thân là vô thường, ý là vô thường. Tất cả đều là vô thường, khổ, vô thường” nhưng chúng ta chỉ thấy bình thường và không thọ nhận, không cảm nhận, không chấn cảm, không xúc cảm, không rung cảm được pháp. Tất cả là bởi vì những lời kinh đó là những câu nói hết sức vắn tắt, là những định lý của Đức Phật, nếu chỉ đọc như vậy thì không thể thọ pháp, không thể thấm pháp, không thể ngấm pháp, không thể làm cho chúng ta bên trong chấn cảm, chấn động, rung chấn.
Cho nên, chúng ta phải học kỹ và diễn giải ra. Diễn giải ở đây không phải là tự ý thêm vào mà là căn cứ theo tạng kinh, còn các Ngài kết tập lại nên chỉ nói ngắn gọn, vì diễn nghĩa đầy đủ mỗi chỗ thì sẽ vô cùng dài. Chúng ta thấy rằng, cả một tạng kinh như vậy nhưng định nghĩa về ngũ uẩn chỉ có trong vài bài kinh, vì Đức Phật đã giảng phần này quá nhiều, ai cũng biết hết nên không cần nhắc lại ở từng bài. Cũng như chúng ta, không thể mỗi lần giảng đều nhắc lại sắc là gì, thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì, mà chỉ nói gọn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, vì ai cũng biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì. Thời Đức Phật cũng vậy, khi Ngài nói đến “vô minh”, “lậu hoặc” thì các vị ai cũng hiểu nghĩa. Những điều căn bản như vậy các vị đều biết, cho nên Đức Phật không cần giải thích lại nữa.
Còn trong thời đại bây giờ, chẳng hạn kinh tạng chỉ viết ngắn gọn là “sân tùy miên ở trong khổ thọ” thì đọc vào chúng ta gặp phải rất nhiều khó khăn. Một phần do nghĩa lý thâm sâu, một phần phải nhận diện ngũ uẩn, một phần là những từ ngữ Hán Việt… thành ra dù đọc hoài nhưng rất khó hiểu, khó thấy. Còn khi giải thích ra tiếng Việt thì chúng ta tháo gỡ bớt được một lớp khó khăn“sự tức giận nằm trong cảm giác khó chịu”, đọc câu này thì ai cũng có thể hiểu được. Chính vì vậy, Minh Thành mới làm những buổi giảng và diễn dịch những bài kinh. Sau này biên tập lại những bài kinh đó thuần túy bằng tiếng Việt thì người sau đọc vào sẽ dễ hiểu, ít nhất là hiểu được mặt chữ nghĩa. Còn đọc y nguyên “sân tùy miên ở trong khổ thọ” thì sẽ không hiểu. Hoặc nếu người giải nghĩa không được học chữ Hán thì chỉ giải nghĩa chung chung, trừu tượng chứ không chính xác.
Tuy nhiên, đa số người bây giờ không chịu khó chờ nghe giải nghĩa, mà họ tìm đọc những gì dễ hiểu, thích thú, cảm thọ được. Thời đại bây giờ là thời đại mỳ ăn liền, đồ ăn nhanh, chứ ít có ai ngồi đợi cắt, gọt, chiên, xào. Cho nên, thời đại bây giờ là vậy nên cần những thứ nhanh gọn, còn ngày xưa không phải như vậy, đó là vì sao Minh Thành mới phải diễn nghĩa sẵn như vậy. Đây goi là tùy duyên, khế cơ, thích hợp nhu cầu của thời đại, hoàn cảnh, quốc độ, con người, phong tục, tập quán, thời thượng. Tức là thời đại lúc bấy giờ ưa chuộng điều gì đó thì điều đó được gọi là thời thượng. Còn thời đợi bây giờ nếu ngồi đọc hết bài kinh, sau đó mới giải nghĩa ra thì không còn ai ngồi nghe.
Mỗi khi Minh Thành đọc kinh thì quý thầy, quý sư cô, quý Phật tử nghe rất xúc động và có nhiều cảm thọ là bởi vì trong lúc đọc Minh Thành luôn dịch nghĩa kèm theo, chứ không phải đọc y nguyên chữ trong kinh. Những bài kinh mà Minh Thành vừa đọc vừa dịch như vậy sau này sẽ biên tập lại tạo thành Hậu Tạng kinh Nikāya. Hôm trước Minh Thành có chia sẻ chủ đề xuất gia như thế nào để không trở thành vô dụng và giảng bài “Tiểu Kinh Xóm Ngựa”, đại chúng nghe rất xúc động, có nhiều cảm xúc là nhờ Minh Thành dịch nghĩa ra chứ không phải đọc y chang những từ trong kinh. Trong kinh viết “biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ”, ở đây, “câu hữu” là cùng với, hòa quyện, câu này có nghĩ tâm mình hòa quyện với một tình thương xót, lan trải cùng khắp. Như vậy, để tìm hiểu tạng kinh thì chúng ta phải vượt qua rất nhiều lớp, đầu tiên là lớp ngôn ngữ. Nếu không vượt qua được thì phần “nghĩa” không hiểu thì phần “lý” làm sao hiểu được, như vậy thì làm sao vận dụng để tu. Cho nên từ nay về sau, khi tu học chúng ta sẽ bám sát vào kinh để có được Hậu Tạng kinh Nikāya, tức là Tạng kinh Nikāya bằng quốc ngữ của mình. Minh Thành hy vọng đủ thời gian sống để làm, bằng không thì cũng sẽ dở dang.
Những bài kinh trong Tương Ưng Sáu Xứ chúng ta sắp tìm hiểu nói về sự thật, bản chất, đặc tính của sáu pháp. Nếu nói sáu xứ gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là nói vắn tắt, vì còn sáu trần, sáu căn, sáu thức, sáu xúc, sáu ái, sáu thọ… trong phần này nói đầy đủ tất cả về sáu pháp. Những bài kinh nào nói về sáu xứ sẽ được kết tập vào trong chương này gọi là chương Tương Ưng Sáu Xứ, chính yếu là những bài nói về sáu căn và còn lại là những bài về sáu trần, sáu thức, sáu ái, sáu thọ. Các vị Tôn đức, Thánh chúng phân loại từng chương rất kỹ. Cụ thể: “Tương Ưng Sáu Xứ A, Phần 1, Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường”, phần này nói về tính chất vô thường của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Hơn nữa, các Ngài còn phân thành hai phần:
“Vô Thường Nội” là nói đến sự vô thường ở bên trong của sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
“Vô Thường Ngoại” là nói đến sự vô thường ở bên ngoài của sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc pháp.
Tức là cho chúng ta thấy được viên mãn tất cả những khía cạnh, phương diện, góc độ về thân, tâm, cảnh vật, thế giới. Qua đó chúng ta thấy được trí tuệ của Đức Phật soi thấu hết tất cả mọi ngóc ngách này. Vì vậy, những phần này không phải học qua rồi là xong mà học để nhớ, nhớ để quán chiếu, tác ý. Chúng ta học tới học lui một ngàn lần thì càng tốt, vì mỗi lần học là mỗi lần nghe được sự thật, mỗi lần học là mỗi lần thể nhập trí tuệ càng thêm thâm sâu, sâu sắc. Ví dụ, lúc trước mình thiền quán về căn, trần, thức; bây giờ cũng thiền quán về căn, trần, thức nhưng bây giờ thiền quán thì lại thấy sâu sắc hơn, thấm đẫm hơn, thâm nhập hơn, đậm đà hơn, ngọt ngào hơn, sáng tỏ hơn, minh bạch hơn, rõ ràng hơn, tỏ tường hơn, rực sáng hơn. Mỗi một lần tu học chúng ta phải quán chiếu, tác ý như vậy.
Trong phần Tương Ưng Sáu Xứ này gồm rất nhiều bài kinh, chẳng hạn như “Vô Thường Nội”, “Khổ Nội”, “Vô Thường Ngoại”, “Khổ Ngoại”… nói về rất nhiều tính chất. Có khi gồm 30 bài kinh, đọc phớt qua thì thấy giống hệt nhau nhưng thật ra có khác biệt ở một, hai chữ. Chính chỗ này là chỗ hết sức thâm sâu, bình thường mình sẽ không chịu đọc hết, vì 30 bài giống hệt như nhau, hơn nữa, những người biên tập sẽ chấm ba chấm cho những phần giống nhau và thay chỉ thay những chữ chính yếu, những chữ khác nhau vào.
Ví dụ, cả bài kinh giống nhau nên biên tập sẽ chấm ba chấm, đến chỗ khác nhau thì người ta thay chữ “vô thường” bằng chữ “khổ” là xong và khi đọc như vậy thì chúng ta sẽ không thọ nhận được. Vì vậy, chúng ta sẽ đi tìm những chỗ bị rơi rớt, lấy lại những chỗ bị mất mát. Những phần đơn giản bị lượt qua thì chúng ta làm cho đầy đủ và rõ ràng trở lại. Bởi lẽ, mỗi một bài kinh là cả một định lý chứng ngộ, khẩu quyết giác ngộ của Đức Thế Tôn. Như vậy thì làm sao chúng ta có thể đọc phớt qua mà hiểu được.
Hơn nữa, pháp này nếu không có sự thực hành thì không thể nào hiểu nổi và chúng ta không biết được ý nghĩa, không hiểu được giá trị vĩ đại, thâm sâu, lợi ích siêu khủng của từng bài kinh. Từng câu kinh, thậm chí chỉ trong một chữ trong kinh là cả một khối trí tuệ thần thánh trong đó. Ví dụ, chỉ khác nhau ở chỗ bài kinh trên là chữ “vô thường”, bài kinh dưới là chữ “khổ”, bài kinh sau đó là chữ “vô ngã”, còn lại nội dung đều giống nhau nhưng chúng ta phải thiền quán về từng chữ đó trong nhiều buổi, nhiều năm, nhiều chục năm, thậm chí suốt đời.
Minh Thành dẫn chứng cụ thể để đại chúng dễ thấy, trong Tương Ưng Sáu Xứ, Phẩm Vô Thường:
Bài kinh đầu tiên là “Vô thường 1 Nội”;
Bài kinh thứ hai là “Khổ 1 Nội”;
Bài kinh thứ ba là “Vô Ngã 1 Nội”.
“Nội” là ở bên trong, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Chỉ mới đọc tên kinh chúng ta đã thấy “Vô thường – Khổ - Vô ngã” – đây là tam tướng, là ba đặc tính vĩ đại của nhân sinh, vũ trụ. Chính những tựa kinh này làm rực sáng nội dung bên trong bài kinh. Ba bài kinh đầu nói về phần “nội” – phần bên trong, cụ thể: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là khổ; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô ngã.
Vô thường, khổ, vô ngã nội
Chúng ta sẽ tìm hiểu nội dung các bài kinh đầu trong Tương Ưng Sáu Xứ:
Bài kinh “Vô Thường 1 Nội”
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại vườn của Ngài Cấp Cô Độc.
Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
--"Này các Tỷ-kheo"
-- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
-- Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Như vậy, cái gì là vô thường thì cái đó là khổ. Cái gì là khổ đau thì bên trong không có tự thể, không có chủ thể, nó là vô ngã, không có cái tôi, cái ta. Cái gì là vô ngã, không có cái tôi, cái ta trong đó thì phải quán xét với một trí tuệ chân chánh, xét đúng sự thật rằng: “cái này không phải là tôi” (bởi vì không có cái tôi trong đó), “cái này không phải là của tôi”, “cái này không phải tự ngã của tôi”.
Ba chữ: “vô thường”, “khổ”, “vô ngã”; ba câu: “cái này không phải là tôi”, “cái này không phải là của tôi”, “cái này không phải tự ngã của tôi” chính là khẩu quyết, là mật mã của Thánh trí tuệ, là định lý của giải thoát, là chân lý của vũ trụ, là sự thật của trời đất, là bản chất của vạn pháp, muôn tượng. Vì vậy, chúng ta không thể đọc qua một cách đơn giản.
“Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường” chúng ta phải hiểu vô thường tức là không còn hoài, mà luôn biến đổi, bệnh hoạn, mắt có thể mờ, có thể cận thị, viễn thị, loạn thị. Thành ra chữ vô thường là cả một bầu trời ý nghĩa, không được đọc phớt qua là xong, mà phải nghiền ngẫm hai chữ này, vì trong đó chứa một khối trí tuệ của bậc Thánh. Khi đọc thì chúng ta phải quán chiếu răng mắt này là đổi thay, mắt này là bệnh tật, mắt này là cận thị, loạn thị, viễn thị, mắt này là lé, là chột, là mù, mắt này sẽ mờ theo năm tháng. Con mắt này sẽ đột ngột không thấy đường. Hoặc đột ngột lọt tròng ra ngoài nếu bị tai nạn giao thông. Hoặc bất thình lình đang đi thì bị cây nhọn đâm vào là có thể hư mắt. Chúng ta phải thấy hai cữ vô thường có ý nghĩa như vậy.
Vì vô thường nên con mắt này là khổ. Con mắt là cái khổ đau sẽ làm cho chúng ta đau khổ. Tính chất của nó là tính chất bệnh, tính chất của nó là tính chất khổ, vì nó không thể bình thường hoài mà sẽ biến đổi. Vì vô thường, khổ như vậy nên nó không có chủ thể ở bên trong, nó chỉ được tạo thành từ đất, nước, gió, lửa, từ những cục máu, cục thịt, từ những sự kết hợp. Vì đổi thay, bệnh hoạn nên khổ đau, vì khổ đau nên trống rỗng, không có tự thể. Chúng ta phải thường nhìn như vậy, mỗi khi nhìn vào con mắt này thì thấy được những tính chất đó. Những ý niệm nào ngược lại với những chân lý này thì đuổi những ý niệm, những cảm thọ, những hình bóng, suy nghĩ đó ra. Sau đó đưa cái nhìn của trí tuệ này trở vào, dẫn tâm đi theo đạo lộ của suy nghĩ, nhận thức, cảm thọ, hình bóng của trí tuệ. Như vậy gọi là bằng trí tuệ chân chánh, quán xét đúng sự thật về vô thường, khổ, vô ngã của con mắt.
Sau đó Đức Phật nói tiếp:
Tai là vô thường…
Mũi là vô thường...
Lưỡi là vô thường...
Thân là vô thường...
Ý là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Hai chữ vô thường này chỉ cho tất cả những thay đổi của lỗ tai. Chúng ta phải nhìn ra những chứng bệnh thuộc về lỗ tai, cảm nhận dần dần sự lãng tai, điếc tai, bệnh tai, thậm chí phải đi mổ lỗ tai. Ngày xưa Minh Thành từng đưa Bà Năm đi mổ lỗ tai vì có mủ trong đó; đưa Ông Năm đi đục thủy tinh thể và mổ mắt, đó là ví dụ cho sự vô thường, khổ. Hoặc nhiều khi nửa đêm đang ngủ, mình nghe lùng bùng, ngứa ngáy, lộm cộm trong lỗ tai thì phải thức dậy để xem có gì trong lỗ tai và lấy ra. Làm bằng đất, nước, gió, lửa, làm bằng da, thịt, máu, làm bằng những thứ dơ bẩn, không sạch sẽ, làm bằng những thứ mang tính chất bệnh hoạn, những thứ nhất định phải tan rã, đổ vỡ, hư hoại. Chúng ta mang theo những thứ vô thường, tan hoại như vậy thì mong muốn luôn được vui vẻ sao được. Cho nên, mong được vui là sai, mà phải luôn thấy được tính chất vô thường của nó. Mỗi lần lỗ tai bị đau một chút là phải thấy rằng mang theo những thứ vô thường này thật khổ.
Đối với lỗ mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Mỗi khi ngồi thiền trên bồ đoàn thì phải quán chiếu đến từng thứ một và làm sanh khởi những tư tưởng theo Thánh trí tuệ. Phải thấy được tất cả đều là những thứ bất định, vô định, bất thường, vô thường; những thứ bệnh hoạn, biến đổi, khổ đau; không có gì là chủ thể bên trong. Tác ý như vậy mới gọi là đọc được bài kinh này, như vậy mới gọi là tụng kinh. Tụng ở đây là không cần mở kinh ra đọc nữa mà là tự nhớ ý, rồi đi sâu vào đó và niệm pháp. Cho nên, cách đọc kinh, tụng kinh, niệm kinh, niệm pháp đúng là phải như vậy. Còn mở kinh ra đọc lào lào, xong rồi đóng kinh lại thì không nhớ, không hiểu, không thực hành thì cũng như đã trả lại cho Phật, trả lại cho Pháp, không có ý nghĩa gì cả.
Vì vậy, chúng ta phải để từng câu kinh thấm nhập vào suy tư của mình. Bằng trí tuệ chân chánh quán xét đúng sự thật rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không có cái nào là của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Chúng ta quán chiếu, suy tư và làm sanh khởi sự thấy biết sâu sắc đối với từng căn, như vậy gọi là thiền quán, tư huệ, tác ý, quán chiếu theo chánh tư duy. Vì sự thật là như vậy mà chúng ta nghĩ theo chiều đó tức là mình nghĩ đúng, đó chính là Chánh tư duy. Ngược lại, cứ cho rằng mọi thứ là tôi, là của tôi, tôi đẹp, so sánh lỗ mũi cao, lỗ mũi thấp, tai lớn, tai nhỏ… thì đó là những suy nghĩ sai, tà tư duy, phi như lý tác ý, không đúng sự thật.
Chỗ khó nhất cần nắm vững là phần ý, gồm có ý căn và ý thức. Ở đây, chúng ta chỉ nói đơn giản ý là ý thức, tức là sự rõ biết được sáu thức. Nghĩa là thấy được sáu sự rõ biết, đó là sự rõ biết của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sự rõ biết này cũng vô thường, khổ, vô ngã, không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì chúng ta dễ hiểu, nhưng khi đến chữ ý, ví dụ nghe câu “ý không phải là của tôi” thì không hiểu ý là cái gì. Ý ở đây là ý thức, nói gọn là sáu thức, là sự rõ biết các sắc hiện giờ không phải của tôi; sự rõ biết các âm thanh không phải của tôi; sự rõ biết mùi, vị, đụng chạm không phải của tôi; sự rõ biết thọ, tưởng, hành, tức là sự rõ biết những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, rõ biết bên trong không phải tôi, không phải của tôi. Chúng vận hành như một bộ máy, những cảm giác sanh khởi rồi diệt tận, vui rồi buồn, giận rồi thương; những hình bóng cứ ám ảnh, hết hình người này tới hình người kia, hết cảnh này đến cảnh nọ, hết đồ vật này đến đồ vật khác; những suy tư cứ liên tục sanh khởi, hết nghĩ việc này đến nghĩ chuyện khác. Nhưng tất cả chỉ là pháp duyên sanh, không phải tôi, không phải của tôi.
Mỗi khi ngồi nhìn lại, thấy bên trong sanh khởi những cảm giác, nghĩ, tưởng, sự rõ biết thì chúng ta không được chấp nhận chúng. Mà phải thấy không có cái nào là mình, là của mình thì mới có thể thoát ra khỏi nó. Lúc đầu chưa làm được nhưng từ từ tác ý quen rồi thì mình sẽ đứng bên ngoài để nhìn guồng máy vận hành của thọ, tưởng, hành, thức bên trong. Những lúc chánh niệm, tỉnh giác, tỉnh táo thì chúng ta thấy những sự sanh khởi của thọ, tưởng, hành, thức là việc làm của những tên si mê, vô minh, tham ái, chấp thủ; còn chúng ta không bị đồng hóa, không bị nhập cuộc với nó và đứng sang một bên. Lúc sáng tỏ mình mới làm được như vậy, còn lúc mờ tối thì lập tức bị nhập cuộc theo thọ, tưởng, hành, thức. Vì vậy, khi tỉnh giác thì chúng ta thấy mọi thứ chỉ là các pháp vận hành, không có cái là của tôi, không có cái nào là tôi, không có cái nào là tự ngã của tôi bên trong hết.
Như vậy, chỉ một chữ ý thức thôi nhưng chúng ta phải nắm được nhiều vấn đề, gồm: sự rõ biết các sắc, sự rõ biết âm thanh, sự rõ biết mùi, sự rõ biết vị, sự rõ biết sự xúc chạm, sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Đây là Minh Thành chỉ mới giải thích câu chữ ở trên kinh chứ chưa quán chiếu gì cả, cho nên, nếu chỉ đọc phớt phớt qua thì biết đến bao giờ mới sanh khởi trí tuệ, biết đến bao giờ mới thấy được sự thật mà Đức Phật muốn dạy mình. Như vậy, trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì chữ “ý” là ý thức, cho nên chúng ta phải hiểu về sáu thức. Tức là tất cả mọi sự rõ biết hình sắc; rõ biết tiếng; rõ biết mùi; rõ biết vị; rõ biết sự xúc chạm, tiếp xúc; rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong… đều không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.
Người tu được như vậy cần phải nhận diện được ngũ uẩn cho thật sâu sắc và tâm phải có một chút định trong đó. Ngược lại, vô văn phàm phu sẽ nhập cuộc với tất cả những thứ đó, tạo thành một cái tôi khổng lồ, siêu to. Còn chúng ta tu học là gỡ ra từng bộ phận để nhìn, đó là lí do mình phải học về sáu pháp, gồm: sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu ái, sáu tầm, sáu tứ – tổng cộng phải học sáu chục pháp như vậy. Khi học thuộc, nhận diện được rồi thì lúc các pháp vận hành chúng ta sẽ thấy cái nào ra cái đó.
Ví dụ dễ hiểu, chúng ta nhìn vào đồ vật thì biết đâu là cái ghế, cái bàn, tượng Phật, lò trầm, đồng hồ, cái ly, cây cảnh, cái bảng, cái chuông là do được học từ nhỏ, tâm mình cũng vậy, phải được học, được thực hành. Nếu không học về sáu pháp thì lúc đối diện với các pháp mình thấy chỉ toàn là bóng đêm, hỏi đến cái nào cũng không biết, và người không biết cái gì hết thì Đức Phật gọi là vô minh. Còn chúng ta cứ thấy nhiều rồi học qua loa, không nhớ hết thì chắc chắn không thể thành chánh giác, không thể thấy biết đúng hết tất cả những khía cạnh của thân tâm, mà như vậy thì không đủ sức nhiếp phục, tẩy sạch những rác bẩn trong tâm.
Thế nên, bất cứ một pháp nào trong thân tâm chính mình mà mình không biết về nó là mình còn vô minh đối với pháp đó. Và Đức Thế Tôn được gọi là bậc Chánh Biến Tri là do Ngài có sự thấy biết cùng tột, cùng khắp tất cả các góc độ về sự vận hành trong ngũ uẩn này. Còn chúng ta, dù các pháp đang diễn ra rõ ràng trong tâm mình nhưng khi được chỉ bảo thì mình không chấp nhận. Có khi là do không thấy không biết thật nhưng cũng có khi đã thấy đã biết nhưng không chịu nhận, có người rõ ràng đang phừng phực mà vẫn nói là không giận.
Tất cả các pháp không có gì là tôi, không có gì là của tôi, không có gì là tự ngã của tôi. Tính chất của nó là đột ngột, đổi thay, vô thường, tan hoại, khổ đau, trống rỗng. Tất cả chỉ là sự vận hành của pháp, là những thứ cấu kết, kết hợp, lắp ráp, mắt xích, như một bụi lau sậy dựa qua dựa lại, hễ cây này ngã thì những cây khác đổ theo. Không có lõi cứng nào bên trong bụi lau sậy, nó yếu ớt, mong manh, nhỏ bé, rỗng ruột, tức là vô ngã, trống rỗng bên trong, không có lõi chắc. Đức Phật ví dụ như cây chuối, lột từng bẹ, từng bẹ ra đến cuối cùng không có cái lõi bên trong, đó chính là vô ngã. Cho nên, tất cả đều là vô ngã, khổ đau, đổi thay, dịch chuyển, vận hành không ngừng nghỉ. Sau đó đi đến chỗ mắt mờ, tai điếc, lưng còng, gối mỏi, da nhăn, tóc bạc và cuối cùng là hoại diệt, tan rã, đổ ngã, nằm xuống dưới lòng đất lạnh. Khi nhìn được những tính chất đó thì tự nhiên những tham, sân, si, bản ngã sẽ được lắng dịu, giảm bớt xuống. Nhờ thấy rõ bản chất biến đổi, hoại diệt đó nên chúng ta không còn hơn thua, giành giật, sân si với ai làm gì nữa. Như vậy, chúng ta cứ quán hoài, nhớ hoài, nghĩ hoài, suy tư hoài về tính chất vô thường, khổ, vô ngã, không phải của tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi của các pháp thì sẽ dẫn đến nhàm chán chúng.
Định lý giải thoát tối thượng
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý.
“Thấy vậy” tức là thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã không phải của tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi. Rõ biết được bản chất, tính chất, đặc chất của các pháp là khổ đau, là bất an, là bệnh hoạn, là mù lòa, là bệnh tật, là vô thường, là trống rỗng, là vô ngã. Thấy hoài những tính chất đó thì được gọi là “thấy vậy”. Và vị đệ tử Phật nghe nhiều Chánh Pháp, suy tư nhiều về sự thật đó sẽ dẫn đến nhàm chán tất cả, tức là không tham, không muốn, không yêu, không thích, không nắm, không giữ, không cho đó là của tôi. Vị này nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân. Vị này nhàm chán đối với hình hài, thân xác này, thấy rằng mang vác thân này hết sức mệt mỏi, mệt nhọc, đau khổ, vì phải lo lắng, lo sợ không ngừng. Nhàm chán đối với ý, tức là nhàm chán đối với những suy tư, cảm thọ, hình bóng, nhàm chán những suy nghĩ dục, suy nghĩ tham, suy nghĩ thèm muốn, suy nghĩ muốn hơn thua, suy nghĩ giận dữ, suy nghĩ ta, tôi, ganh đua… Vị ấy thấy nhàm chán, thấy ngao ngán, thấy ê chề, thấy chán chê, thấy gớm ghê, thấy mệt mỏi, không ưa, không thích, không ham, không khoái, không đam, không mê, không nắm, không giữ bất cứ cái gì.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
Do nhàm chán nên vị Thánh đệ tử ly tham, lìa tham, không còn tham muốn đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nữa. Nhờ ly tham nên vị ấy được thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Như vậy, chữ “giải thoát” này có nghĩa là do không còn tham muốn nữa nên vị ấy thoát ra khỏi sáu căn. Tức là thoát ra khỏi con mắt vô thường, khổ, vô ngã; thoát ra khỏi lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, cái thân vô thường, khổ, vô ngã, bệnh tật, hoại diệt; thoát ra khỏi tâm ý cứ tham muốn, sân si, bản ngã, ganh đua và thoát ra khỏi tất cả những thọ, tưởng, hành, thức.
Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Sáu Xứ A, Phần 1, Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường, bài kinh Vô Thường 1 Nội)
Khi tâm thức đã thoát khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì trong sự giải thoát đó vị ấy khởi lên sự thấy biết rằng mình đã thoát ra thật sự, tâm đã hoàn toàn thoát ra. Vị này không còn sót lại bất cứ cảm giác, suy nghĩ, hình bóng nào yêu thích những thứ đó nữa. Vị này ngán tới cổ, ngán tận cùng, ngán triệt để, ngán tới bến, hoàn toàn muốn thoát ra khỏi, không còn ưa thích, ham muốn cái gì nữa. Như vậy, vị ấy khởi lên trí thấy biết rằng mình đã thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; thoát khỏi thân xác vô thường, khổ, trống rỗng, đầy rẫy tham, sân, si, bất tịnh, u mê. Vị ấy biết rõ rằng sự tái sanh của đời sau sẽ không còn nữa, tức là biết rõ sự chấm dứt của việc tiếp tục sanh ra đời sau. Vị ấy biết rằng sự tu hành của mình đã thành tựu, vị ấy thấy rõ những việc cần nên làm của mình đã làm xong và vị ấy rõ biết mình sẽ không còn trở lại trạng thái mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không còn trở lui lại trạng thái lúc nào cũng sợ người khác dòm ngó, chê bai, chỉ trích mình nữa.
Cũng như việc được mời đứng lên trình pháp, nhiều vị không muốn trình pháp vì sợ người ta chê mình nói dở rồi xem thường mình, chỉ muốn mình nói hay. Tất cả những điều đó là ý niệm của tự ngã, mà mình quý tự ngã hơn quý pháp nên mình không chịu trình pháp. Luân hồi sanh tử không sợ, ngu si không sợ, chấp ngã không sợ nhưng lại lo sợ người khác chê. Cho nên phải thoát ra trạng thái luôn cho là tôi, là của tôi, hơn nữa, làm gì có ai bên trong thân này, chỉ là nùi giẻ, đồ giậm chân, đống phân, đống nước tiểu, bao máu mủ. Mình cứ việc nói suy nghĩ của bản thân ra, ai khinh khi càng nhiều càng tốt, không sao hết, như vậy cho mình hết nghiệp, hơn nữa, đây là cái đáng bị khinh khi, đáng bị chà đạp. Thân tâm này là cái thứ đáng bị nhục mạ, đáng bị sỉ vả, cứ để người ta nhục mạ, mắng chửi cho đã. Thậm chí cầu mong mọi người chửi cho đã để mình hết nghiệp. Chúng ta càng bị chỉ trích chừng nào thì nghiệp càng giảm bớt, càng nhẹ chừng đó, oan gia trái chủ càng sớm hết chừng đó để mình ra đi cho nhanh.
Tại sao chúng ta phải sân si với lời mắng chửi, chỉ trích, chê bai trong khi bản chất của ngũ uẩn này là tham, sân, si, vô minh, bản ngã như vậy, cho nên bị chửi là đúng. Ai chửi mình sao sân si quá thì phải cảm ơn người ta, vì mình sân si nên khổ lắm, nhờ người ta chỉ cách cho hết sân si. Ai chửi mình tham lam thì cứ nhận mình tham nên phải chịu khổ, người ta nhắc nhở để mình giảm bớt tham. Ai chửi mình bản ngã thì chấp nhận điều đó và thấy nhục nhã, xấu hổ vì cái bản ngã này, thấy cái bản ngã này hèn hạ, rồi cảm ơn và lạy người ta vì họ chỉ lỗi cho mình. Đằng này ngày nào cũng lạy sám hối diệt ngã mà khi được người ta chỉ bản ngã thì sân lên là thế nào? Ngày nào cũng hứa với Phật dẹp bỏ sân giận, khi người ta chỉ cái sân của mình thì phải thấy là mình đang sân, chứ sao lại nổi giận luôn với người ta?
Cho nên, khi giải thoát thì vị Thánh đệ tử biết rõ sự thoát ra những trạng thái lo sợ, vô minh, si mê đó; không còn hình hài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không còn tâm thức phải khởi dục, tham, sân hận, bản ngã thêm nữa... Vị ấy thấy biết một cách rõ ràng: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Như vậy chính là giải thoát. Trước giờ chúng ta cứ học giải thoát như không hiểu giải thoát là giải thoát khỏi cái gì. Ở đây, giải thoát trong ba bài kinh đầu của Tương Ưng Sáu Xứ là giải thoát khỏi sáu xứ. Chúng ta cần phải nhớ ở trong ngữ cảnh nào thì chữ đó có nghĩa tương ứng trong ngữ cảnh đó. Cụ thể, khi chữ giải thoát nằm trong phần Tương Uẩn Uẩn thì giải thoát này có nghĩa là giải thoát khỏi năm uẩn. Như vậy, giải thoát là thoát ra, nghĩa là thoát ra các pháp. Nghĩa là sau khi thấy bản chất của các pháp thì các vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán, khi nhàm chán thì không còn tham muốn nữa nên được giải thoát. Khi đó, vị này tự rõ biết mình đã giải thoát, thoát ra khỏi các pháp đó.
Như vậy, định lý giải thoát, khẩu quyết tối thượng của Đức Phật ở đây chính là: Thấy vậy – nhàm chán – ly tham – giải thoát.
Thấy vậy tức là thấy mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.
Nhàm chán tức là vị Đa văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với con mắt; nhàm chán đối với lỗ tai. Nhàm chán đối với lỗ mũi, mùa dịch Covid-19 này muốn đi đâu cũng phải lấy mẫu thử sâu trong mũi để xét nghiệm nên mũi rất khó chịu, trời lạnh thì bị chảy nước mũi, có người bị viêm xoang thì rất khốn khổ, đau đớn; nhàm chán đối với lưỡi; nhàm chán thân thể bệnh hoạn, ung nhọt chín lỗ, mủ, máu, nước mắt, nước miếng, ghèn, nước mũi, những chất dịch hôi dơ, tanh tưởi; nhàm chám đối với tâm ý, sự rõ biết sanh khởi ra tham, sân, si, vô minh, chấp thủ, ràng buộc; nhàm chán hết đối với đống mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khổ đau, bất tịnh, vô thường, bất chợt, đột ngột, đột tử này.
Tu sâu sắc như vậy thì khi có ai sân si với mình thì mình thấy nhàm chán. Người ta hơn thua, lừa gạt thì mình cũng không tức, không giận mà càng thêm nhàm chán, nhờ vậy càng mau chóng thoát khỏi đống khổ. Chúng ta không còn hơn thua, không còn tranh giành, đấu đá, thắng bại với ai trên cuộc đời này nữa vì đã nhàm chán với tất cả. Nhờ nhàm chán nên ly tham, không còn tham muốn nữa. Nhờ lìa tham nên giải thoát, thoát ra. Đây chính là định lý tối thượng của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Còn nhiều người vào tu chỉ muốn quán một chữ “nhàm chán” thôi thì không thể nhàm chán được, vì pháp vận hành theo một trình tự như định lý trên. Định lý này là tóm gọn trong ba bài kinh, hơn nữa, ba bài kinh này cũng đại diện cho nhiều bài trong Tương Ưng Sáu Xứ, vì các bài rất giống nhau trong nhiều khía cạnh. Chúng ta học xong bài này phải về nghe lại thật nhiều lần, khi nhớ được ý chính thì sau này vận dụng định lý đó để quán chiếu mỗi khi thấy, nghe, tiếp xúc, cảm thọ, suy nghĩ, suy tư, nhận thức. Minh Thành chỉ chia sẻ vắn tắt, còn khi tu tập chúng ta phải quán chiếu, suy tư, tác ý thêm rất nhiều. Bằng không, tự nhiên kêu nhàm chán thì sao nhàm chán được, không dễ để nhàm chán vì dục, ái rất khủng khiếp.
Minh Thành bây giờ ngán đến tận cổ, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng ra đi, hướng đến sự từ bỏ tất cả mọi hiện hữu, không còn ưa thích bất cứ cái gì. Vì đâu đâu cũng thấy toàn tham, sân, si, giành giật, hơn thua, bệnh hoạn. Cho nên, Minh Thành chỉ có một niềm đam mê là Thánh Pháp và thực hành pháp. Chúng ta thật sự phước đức khi có được bản dịch đầy đủ Tạng kinh Nikāya này. Trong khi Nhật Bản chưa được dịch ra, Trung Quốc thì dịch rời rạc, chỉ có Đài Loan mới có bản dịch đầy đủ. Hơn nữa, ở các nước Châu Âu, ngoài bản dịch tiếng Anh ra thì các nước còn lại cực kỳ hiếm có và hầu như không có tạng kinh này. Còn chúng ta được bậc tối thượng nhân dịch đầy đủ, trọn vẹn Tạng kinh Nikāya, cho nên việc duy nhất còn lại là cố gắng bảo trì, tu học, thực hành, truyền bá Chánh Pháp đã bị mai một hàng ngàn năm.
Hãy cố gắng tu tập, đừng sợ thất bại, vấp ngã, hoặc có thể sợ vì mình chưa làm được và buồn nhưng nỗi buồn đó là để cố gắng tiến lên. Điều quan trọng là chúng ta đừng lo vì mình đã đi đúng đường, cứ kiên trì là sẽ tới. Ai đi nhanh thì đến mau, ai đi chậm thì đến lâu, cho nên, chỉ cần đừng bao giờ bỏ cuộc thì chắc chắn sẽ đến. Cứ tác ý, chiêm nghiệm, nhìn xung quanh để cảm nhận, suy tư và nhìn vào trong chinh mình. Khi thấy bản chất vô thường, khổ, vô ngã như vậy thì hướng đến nhàm chán, không còn ham thích và muốn thoát ra khỏi cái hiện hữu này.
Toàn cầu bây giờ lạnh lẽo, vắng tanh, lặng lẽ, ai ai cũng sống lo lắng, sợ hãi, bất an, khổ sầu vì dịch bệnh Covid-19, hơn nữa con người lại đầy rầy tham, sân, si, hãm hại nhau không ngừng. Khổ như vậy nên chúng ta càng phải thoát ra mau, thường xuyên tác ý: “Có cái gì bên trong thân này mà đam mê? Có gì dưới núi mà xuống dưới tầm cầu? Tìm gì, kiếm gì ở ngoài kia mà cứ xách đãi đi khắp nơi, đứng núi này trông núi nọ? Không có gì để nhà người tìm kiếm vì tất cả mọi hiện hữu nằm trong đau khổ, nằm trong bất an, nằm trong lo sợ. Chỉ có thoát ra mới thật sự là đại bình an, đại tịnh lạc, đại Niết-bàn. Hãy tu cho ráo riết để mà thoát ra!”.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu khái quát những bài kinh đầu trong Tương Ưng Sáu Xứ về vô thường, khổ, vô ngã nội của sáu căn. Chúng ta phải đọc, tìm hiểu và chiêm nghiệm thêm để ghi nhớ cho thật sâu sắc.
./.