Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Quán Chiếu Cảm Thọ

2026-03-03 00:54:08
Tinh Hoa Nikāya

Quán Chiếu Cảm Thọ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh trí về cảm thọ PAGEREF _Toc174200462 \h 1

II. Cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc174200463 \h 2

III. Quán chiếu cảm thọ PAGEREF _Toc174200464 \h 5

IV. Tâm từ PAGEREF _Toc174200465 \h 8

I. Thánh trí về cảm thọ

Trong buổi chia sẻ hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về phần nhìn lại cảm giác của mình, quán xét, quán chiếu những cảm xúc, cảm thọ bên trong thân tâm chúng ta. Lâu nay chúng ta thường sống hướng ra ngoài, chúng ta thường chỉ lo miếng ăn, cái mặc, giấc ngủ, chiếc xe, căn nhà nhưng có phần rất quan trọng mà chúng ta lãng quên chính là chúng ta bỏ quên cảm thọ, cảm giác của mình. Đã từ lâu chúng ta thiếu sự thấu hiểu về cảm giác của mình, chúng ta để những tham muốn, những sự nóng giận hành hạ rồi để mình phải chịu khổ đau.

Một trong những pháp tu tuyệt đối quan trọng theo tinh thần kinh tạng Nikāya là Đức Phật dạy chúng ta nhìn trở lại cảm giác của mình vì chúng ta thấy mình đã gặp qua rất nhiều người nhưng sau đó mình quên, mình đã nghe rất nhiều câu chuyện nhưng sau đó mình cũng quên, mình đã ngắm nhìn nhiều cảnh sắc nhưng mình cũng quên nhưng có những cảm giác, cảm xúc đi theo mình suốt đời không quên được.

"Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III). Cội Rễ Của Sự Vật)

Thế Tôn đã nói tất cả pháp hội tụ, quy tụ ở cảm thọ, trong tâm mình có gì trong đó thì chỉ cần quay lại nhìn vào cảm giác thì mình sẽ thấy được ngay. Có khi đi chùa mười năm, hai chục năm, ba chục năm nhưng bất thình lình có người hỏi tham, sân, si ở đâu thì mình có trả lời được không? Có khi nói tham, sân, si ở trong tâm nhưng tâm là gì thì mình lờ mờ, phân vân, lưỡng lự, không biết rõ được thật sự tham, sân, si ở đâu. Nhưng trong sự quán chiếu cảm thọ thì Đức Phật sẽ chỉ cho chúng ta thấy hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tham, sân, si chính là ở trong cảm giác, cảm thọ.

Thế Tôn nói chúng ta có ba loại cảm thọ, nói nôm na là có ba loại cảm giác. Cảm giác thứ nhất là cảm giác khó chịu hay còn gọi là khổ thọ, cảm giác thứ hai là dễ chịu hay còn gọi là lạc thọ, cảm giác thứ ba là không khó chịu không dễ chịu hay còn gọi là bất khổ bất lạc thọ, cảm giác không khổ cũng không vui. Trong ba loại cảm giác này luôn có tham, sân, si đi theo trong đó mà chúng ta không hay không biết.

II. Cảm giác toàn thân

Đối với cảm giác vui sướng, dễ chịu lúc nào cũng có tham thích, có tham trong đó, tham nằm trong cảm thọ dễ chịu, vui thích, nằm trong cảm giác khoan khoái. Cảm thọ khổ, tức là cảm giác bực bội, bức xúc, khó chịu thì lúc nào cũng có sân trong đó, giận nằm trong cảm giác khổ thọ đó. Cảm giác không khó chịu cũng không khó chịu, đó là cảm giác thường thường đều đều lúc nào cũng có si trong đó. Trong ba loại cảm giác đó có tham, sân và si, lúc nào nó cũng trú ẩn trong đó, chúng ta tu là thường xuyên nhìn lại cảm giác của mình trong mọi lúc mọi nơi.

Phương pháp thực tập thiền tại Linh Quy Pháp Ấn là cảm nhận cảm giác toàn thân, khi mình vào ngồi không chỉ cảm nhận hơi thở mà phải cảm nhận cảm giác trên đầu như thế nào, cảm nhận cảm giác của mặt, tai, cổ như thế nào, cảm nhận cảm giác ở cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay như thế nào, cảm nhận cảm giác của lưng, bụng rồi đi dần xuống cảm giác của chân, ống chân, lòng bàn chân.

Phương pháp này Đức Phật gọi là cảm giác toàn thân, nghĩa là cảm nhận toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu đến gót chân đang ở cảm thọ nào, dễ chịu hay khó chịu hay không dễ chịu cũng không khó chịu. Mình tập cảm nhận cảm giác toàn thân, muốn biết rõ thì mọi người chỉ cần đứng lên giơ hay tay chạm vào mũi chân sẽ thấy ngay, mình cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể hiện tại đang như thế nào, đó là mình quay trở về cảm thọ, quay trở về cảm giác ở ngay nơi thân thể, hình hài của chúng ta.

Tại sao chúng ta phải thực tập cảm giác toàn thân? Tại sao chúng ta phải thực tập quán chiếu cảm thọ, nhìn lại cảm xúc? Là do trong cảm giác của mình chứa đựng tất cả vui, khổ, buồn, buồn ngủ hay cảm giác buông lung phóng dật hoặc tỉnh táo, an định. Chỉ cần để ý mình sẽ biết lúc đó cảm giác thuộc về thiện pháp hay bất thiện pháp. Khi mình thường xuyên an trú trong cảm giác toàn thân, thường xuyên để ý cảm giác của toàn bộ cơ thể để xem bên trong có những gì, có những cái làm mình đau khổ hay không để ngăn chặn. Khi nghe câu nói hủy nhục, khinh chê mình thì lúc đó mình ra sao? Trong lồng ngực lúc đó tăng nhiệt, bốc hỏa, hừng hực lên, mình nhận diện cảm giác toàn thân để biết cơn giận đó bắt đầu sanh khởi, phát khởi.

Do thường xuyên để ý cảm giác toàn thân cho nên trong cảm giác có gì rục rịch, có gì cháy lên là lập tức mình biết được ngay. Còn nếu không thực tập cảm giác toàn thân, chỉ lo nhìn bên ngoài, chạy theo những hình sắc, âm thanh, mùi vị, chạy theo những cảnh đẹp, tiếng nói bên ngoài thì mình sẽ không thấy được thân tâm chính mình một cách chính xác.

Mình thường xuyên hướng ngoại nên bây giờ phải tập hướng nội để nhìn lại cảm giác này, nếu trong lồng ngực bốc hơi nóng lên mà nếu không biết tu thì gương mặt đổi màu, má đỏ lên, mắt đỏ lên, hai tai lùng bùng, miệng phát ra những lời nói không kiểm soát được, phát ra những lời nói có thể sau này phải hối hận, phát ra những lời nói chua cay, thô bạo, cay đắng, cay nghiệt, thậm chí phát ra những lời nói làm cho tan nát, chia lìa, hủy hoại, tan rã đưa đến động tay động chân hoặc xảy ra án mạng.

Như vậy cơn giận thiêu đốt trong cảm giác chúng ta, làm cháy toàn thân mình và lan ra cháy đến những người thân thương nhất trong gia đình mình, những người có ân nghĩa sanh thành là cha mẹ, ông bà, cô bác hoặc những người đồng cam cộng khổ với mình là vợ, chồng, anh chị em, chỉ cần một cơn giận bùng lên là hủy hoại, thiêu rụi mọi thứ. Cơn nóng giận bừng lên là đốt trong lồng ngực mình, đốt lên mặt, lên tai, đốt lên miệng rồi từ miệng phun ra lửa, là những lời nói cay độc, ác độc, những lời nói làm cho đau khổ, tan nát rồi lan ra những người xung quanh.

Nếu mình không biết tu thì để cơn giận bốc lên mới nhận ra thì đã chậm trễ rồi, muộn màng rồi, lửa đã lan ra rồi, nó đốt tình thương, tình nghĩa, nó đốt tình cảm, đốt sự yêu thương của vợ chồng với nhau, nó đốt sự hiếu thảo của mẹ con, cha con với nhau, đốt tình nghĩa giữa chị em, anh em ruột với nhau, nó đốt tình làng nghĩa xóm. Vì vậy quán chiếu cảm thọ để dập tắt và chặn đứng ngọn lửa từ trong trứng nước, đó là công năng và tác dụng của cảm giác toàn thân, đó là lợi ích, giá trị của quán chiếu cảm thọ.

Khi vừa thấy trong tâm có cảm thọ bừng lên là tác ý "an tịnh đi, lắng dịu xuống", diệt cảm thọ nóng giận đó từ trong trứng nước, đó là sự khác biệt giữa vô văn phàm phu và Đa văn Thánh đệ tử, giữa người không nhìn nhận lại cảm giác và những người biết tu tập để quán chiếu cảm thọ. Người không biết tu là đợi cho bực tức, sân hận, mắng chửi, đánh đập sanh khởi lên rồi mới can ngăn, kiềm chế, còn người biết tu là nhìn sâu vào cảm thọ vừa lăn tăn thôi, vừa manh nha mầm móng là dập tắt ngay bên trong, đó là quán chiếu cảm thọ, nghĩa là chặn đứng, chế ngự và dập tắt được, giống như tàn thuốc chỉ cần đạp vào là tắt ngay nhưng nếu để tàn thuốc đó cháy lan ra thì xe cứu hỏa đến cũng không cứu kịp.

Khi mình thường thực tập nhận diện cảm giác toàn thân thì khi có cảm thọ ham muốn sanh khởi lên là mình biết được ngay. Như vậy là mình chặn từ đầu trong khi nó vừa manh nha, vừa khởi động. Đối với bản ngã cũng vậy, vừa có cảm giác ưỡng ngực, hất mặt lên, ra vẻ ta đây nhưng mình không đợi cho những cái này sanh khởi mà chỉ cần nó vừa dâng lên là mình thấy được để nhiếp phục, chế ngự, tác ý quỳ lạy sám hối. Đó là Minh Thành giải thích cho mọi người biết tại sao phải thực tập cảm giác toàn thân, tại sao phải thực tập quán chiếu cảm thọ.

Đây là bí kíp chánh pháp của Đức Thế Tôn truyền trao cho mình, đây là sự cầu an tối thượng trong tất cả sự cầu an, nghĩa là giữ gìn cảm giác đừng để cho sự bức xúc, gay gắt, cộc cằn, quạu quọ, sân hận bộc phát ra, giải tỏa, giải thoát khỏi nó, không để những cảm giác ta đây, kênh kiệu, bản ngã, hơn thua sanh khởi mà giải phá nó từ bên trong. Đối với những ham muốn bất chánh phải trị nó thẳng tay bằng như lý tác ý, rầy la, quở trách.

III. Quán chiếu cảm thọ

"Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường. Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)

Tại sao Đức Phật nói phải quán chiếu cảm giác vui sướng là khổ? Chúng ta cứ nghĩ cảm giác đó vui quá, sướng quá, thích quá thì đó là vui nhưng không phải, phải nhìn sâu vào cái vui đó là khổ. Được ăn món ngon nên vui quá ăn nhiều rồi đi không nổi, bội thực, trúng thực vậy là hết vui. Nói chuyện người này người kia vui quá nhưng đến khi về thì người mình nói đến tìm mình vậy là gây thị phi rồi đôi chối, thế là hết vui, cho nên Đức Phật nói phải nhìn sâu vào cái vui mới thấy được khổ để cẩn thận, đề phòng, canh chừng, còn buông xuôi theo cảm thọ vui sướng đó sẽ đưa mình xuống vực sâu. Rủ nhau đua xe cười nói vui vẻ, rủ nhau đánh bài vui vẻ, nhậu nhẹt, ma túy, vũ trường nhảy nhót cười giỡn nhưng chất chứa trong đó là tai nạn, bệnh hoạn, là sự mất mát, đổ vỡ thậm chí mất mạng.

Cái vui đó là khổ dù cho không xảy ra những chuyện xấu đã nói ở trên nhưng sâu bên trong cảm giác vui vẫn có khổ, Đức Phật phân tích cho chúng ta thấy rằng kẻ vô văn phàm phu không được nghe chánh pháp, không được thực tập quán chiếu cảm thọ, nếu người này cảm giác một cảm thọ vui sướng sẽ giống như người đang bị trói buộc, người này lệ thuộc vào cảm giác đó, khoan khoái trong cảm giác đó và người này sẽ thấy đau khổ nếu mất cảm giác đó.

Một đứa trẻ hồn nhiên vô tư bị bạn bè xấu lôi kéo, rủ rê hút thuốc, đứa trẻ này nghe theo tập hút thuốc, lúc đầu hút thì khó chịu nhưng sau đó thấy thích, đâm ra nghiền thuốc, không có điều thuốc thì thấy thiếu thốn, vậy là nó bị cảm giác của lúc được hút thuốc trói buộc, đó là kẻ vô văn phàm phu cảm thọ một cảm giác vui sướng giống như người đang bị trói buộc, từ điếu thuốc rồi suy rộng ra nhậu nhẹt cũng vậy và những thú vui khác trên cuộc đời này cũng vậy. Vì những thú vui mà có thể xảy ra những chuyện đáng buồn.

"Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)

Suy tính trộm cướp, ăn cắp, thậm chí giết hại người khác cướp của để phục vụ cho thú vui của mình, như chơi game, ăn nhậu, hút chích… Chúng ta bị trói buộc, bị say mê trong cảm giác đó cho nên khi vui cũng phải nhớ đang có cảm giác vui và chánh niệm tỉnh giác để phòng, coi chừng lọt hầm, coi chừng bị trói cột vì thế mới có câu "ngọt mật chết ruồi".

Kẻ vô văn phàm phu đối với cảm giác khổ cũng giống như người đang bị trói buộc, Đức Phật dạy phải quán chiếu cảm giác khổ này như mũi tên. Chúng ta phải thấy bản chất thân xác này là nhiều bệnh hoạn, nhiều lo lắng, bất an, đau khổ, nếu thâu hết tất cả những con virut trên hành tinh này lại cũng chưa đầy được chai nước suối nhưng nếu thả những con đó ra thì toàn cầu này gặp đại thảm họa.

Chỉ riêng cái bệnh thôi đã làm chúng sanh điêu đứng, có người nhảy lầu treo cổ, đó là chỉ nói bệnh chứ chưa nói đến già chết nhưng đây chỉ là phần vật chất, trong tâm chất chồng tham, sân, si, thù hận, trách móc… Những cái khổ đến phải thấy đó là những mũi tên đâm vào tim để nhàm chán cái khổ, không ham thích rồi lấy khổ làm động lực để tu, lấy khổ làm vị thầy, cảm ơn khổ để mong cầu thoát ra. Phải quán khổ là mũi tên ghim vào tim làm đau đớn, nhức nhối, bản chất thân xác này là khổ, bản chất ngũ uẩn này là khổ, bản chất đời sống này là sanh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Bây giờ những cái khổ này đến với mình để mình thấm thía, nhức nhối, từ đó cố gắng nỗ lực tu hành cho nên phải quán khổ như mũi tên ghim vào tim để nhàm chán nó, thoát ra khỏi nó.

Tiếp theo là quán chiếu cảm giác không khổ không vui, cảm giác đều đều, thường thường như người bị trói buộc và thường thì tất cả chúng sanh đều chết với cảm giác này. Cảm giác vui sướng không có nhiều, cảm giác đau khổ không phải có hoài nhưng cảm giác làm tất cả chúng sanh si mê, chết trong này là cảm giác trơ trơ, đều đều, thường thường, không vui không khổ. Mình nghĩ ngày nào cũng giống nhau, sáng cũng thức dậy ăn sáng đi làm, trưa ăn rồi làm, chiều làm về ăn uống rồi ngủ nghỉ nhưng bất thình lình cái bệnh đến, bất ngờ người thân xảy ra chuyện không may.

Lúc đó mình hụt hẫng, hoảng sợ, kinh hãi, hốt hoảng, đó là do sự si mê, cứ nghĩ ngày nào cũng giống nhau, ngày nào cũng được tu nên tụng kinh nhiều đâm ra chán, nghe pháp nhiều thì thấy ngán nhưng mình không biết rằng cuộc sống không đều đều như vậy mãi, tất cả sự vận hành đều ở trong trạng thái bất trắc, bất thường, đột ngột, biến động, Minh Thành thường dùng tứ đột: Đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, đó cũng có nghĩa là vô thường. Nếu chỉ nói vô thường không thì không hiểu hết ý nghĩa của nó nhưng nếu thay từ vô thường bằng đột quỵ, đột tử là có cảm giác ngay, đột ngột nhiễm bệnh, đột ngột ra đi, lúc nào cũng phải nhìn cái thứ thường thường, đều đều này là đột ngột, bất thình lình có thể đổi thay, biến hoại, tan rã. Đó là quán chiếu cảm giác không khổ không vui là vô thường, có như vậy mới phá được tham, sân, si.

Khi có cảm giác vui nhưng mình lại thấy khổ trong đó thì mình sẽ bớt tham, khi có cảm giác khổ, bực bội, sân hận thì mình quán cái khổ để nhàm chán, thoát ra thì mình phá được sân hận, cảm giác đều đều thì quán nó là đột ngột, đột quỵ, đột tử, biến đổi, tan hoại. Đó là cách Đức Phật dạy mình phá tham, sân, si trong ba loại cảm thọ, quán cảm thọ vui là khổ, quán cảm thọ khổ là mũi tên, quán cảm thọ không vui không khổ là vô thường, đột biến, đó là những bí kíp Đức Phật dạy cho chúng ta.

Đức Phật dạy phải quán tính chất không đáng tham đối với các cảm thọ, tức là ly tham với các cảm thọ, quán không hoan hỉ với các cảm thọ, quán sự thoát ly khỏi cảm thọ. Tại sao phải quán không đáng tham đắm đối với các cảm thọ? Mình chạy xe ôm, chạy Grab cực khổ suốt cả ngày vậy mà tối đến làm chầu nhậu là sạch hết tiền, có khi còn thiếu nợ nữa, vợ ốm con đau không có tiền mua thuốc, chỉ có cảm giác vui lúc nhậu một chút thôi mà về nhà là cự cãi, vợ chồng bất hòa.

Làm lụm cực khổ, để dành tiền cả năm mới đủ tiền đi du lịch một chuyến, ăn chơi vài ngày thôi nhưng phải bỏ ra biết bao mồ hôi, công sức, tích lũy cả năm cũng chỉ vì cái ham đi du lịch, được cảm giác một chút vậy thôi, nhiều khi đi về còn mệt hơn lúc ở nhà, chỉ vì một chút cảm giác vậy thôi mà mình đày đọa, hành hạ tấm thân này, làm cho thân khổ mà không biết rằng đó chỉ là cảm giác thôi, có khi hành hạ cả người thân của mình. Có khi giận ai ở ngoài đường thế là về nhà xả trong nhà, cự cãi với người thân trong gia đình.

IV. Tâm từ

Thật là thương hết chỗ nói!

Thương lâu rồi ta sống

Trong sự quên lãng mình

Ta bỏ quên cảm thọ

Nên để mình khổ đau.

Thương lâu rồi ta thiếu

Thương hiểu cảm thọ mình

Để tham, sân hành hạ

Ta để mình khổ đau

Nay hiểu rồi thọ ạ

Ta nhớ đến thọ rồi

Thôi thọ đừng sân giận

Thọ thương mình nhiều nha.

Ta đừng tìm đau khổ

Vì trái ý, nghịch lòng

Ta đừng làm ác nghiệp

Ta thương mình nhiều nha.

Đừng để mình đau khổ

Này thọ giận, thọ hờn

Đừng để mình tạo nghiệp

Rồi chẳng kịp ăn năn.

Trôi trong dòng sanh tử

Có khi nổi, khi chìm

Khổ đau nhiều vô lượng

Nước mắt đầy đại dương.

Thôi mình đừng sân giận

Đừng làm hại chính mình

Thôi mình đừng làm khổ

Đừng làm hại mình nha.

Thương thọ nhiều, nha thọ

Thương mình quá khổ rồi

Thương tham, sân hành hạ

Thôi, thương mình nhiều nha.

Chúng ta hãy tập thương chính mình đi quý vị. Trước giờ mình đã thương sai cách rồi, mình chỉ biết thương là ăn cho ngon, mặc cho đẹp, ở cho sang nhưng mình lại hành hạ cảm giác, để cho nó thèm muốn, khao khát, để cho nó thiêu đốt, bức xúc, nóng giận, hơn thua với cả anh chị em, cha mẹ, vợ chồng. Đó là mình đã thương sai cách rồi, bây giờ mình đã biết thương đúng cách nên mình sẽ thương một cách thông minh, thương một cách hiểu biết có trí tuệ chứ không thương ngu mê nữa.

Thương là phải biết chăm sóc cảm thọ, đừng vì một chút cảm giác tham đắm, vui thích mà làm khổ mình khổ người, làm đau mình đau người, làm buồn mình và đau lòng cha mẹ. Hãy quán chiếu để thoát ra những cảm giác tiêu cực đó, thoát ra khỏi những cảm giác ham thích tầm thường đó, mình ăn cả mấy chục năm mà vẫn còn ham ăn, mình ngủ cả cuộc đời rồi mà vẫn còn mê ngủ, mình giận không biết bao lần rồi mà vẫn đòi giận, đòi hờn, mình đã hơn thua bao nhiêu vạn kiếp rồi mà giờ vẫn muốn hơn thua. Chỉ được nước mắt, hận thù, chỉ được khổ đau, bây giờ mình biết thương đúng đắn, thông minh, trí tuệ rồi nên phải kêu gọi những cảm giác này dễ chịu, lắng dịu, ngọt ngào.

Bây giờ phải tưới tẩm những cảm thọ hiền hòa, hiền thiện, hiền trí, những cảm thọ hiền lương, hiền hậu, hiền đức, những cảm thọ thật dễ chịu, mát mẻ, ngọt ngào, những cảm thọ thật là từ ái, từ bi, từ tâm, những cảm giác bao dung, độ lượng, tha thứ, ngọt ngào như dòng sữa mẹ, ngọt ngào của tình thương, của từ tâm. Quý vị hãy nhớ chăm sóc cho cảm thọ này, hãy biết thương mình một cách thật sự thông minh.

Hôm nay Minh Thành chia sẻ sơ lược cho chúng ta phương pháp nhìn lại cảm xúc, chăm sóc cảm giác, quán chiếu cảm thọ. Thứ nhất là từ lâu chúng ta đã hướng ngoại, nhìn người này người nọ, cảnh này cảnh kia thì nay chúng ta tập quay lại nhìn vào nội tâm, nhìn vào cảm giác. Chúng ta biết có ba loại cảm giác là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu, trong ba loại cảm giác này có tham, sân, si trong đó. Chúng ta an trú vào cảm giác toàn thân thường xuyên, nhất là trong lúc ngồi thiền để khi có sự biến động trong cảm giác là chúng ta lập tức nhận ra ngay để có sự nhiếp phục, chế ngự, hóa giải, giải tỏa những cảm xúc tiêu cực, những cảm xúc tham dục, thiêu đốt, mê muội, si mê, những cảm xúc của vô minh, bản ngã, ta đây, hơn thua. Giải thoát, thoát ra khỏi những cảm xúc đó bằng sự quán chiếu khổ trong cảm xúc vui, thấy cảm xúc khổ giống như mũi tên để thoát ra khỏi nó, không sân hận nữa, cảm giác trơ trơ, đều đều là một sự vô thường, đột ngột, biến đổi trong đó, đừng lầm tưởng rằng nó sẽ như vậy hoài, đó là tưởng mê, tưởng ngu, tưởng si dại, phải thấy tính chất biến đổi của nó. Sau cùng là nhìn ra những cảm giác này không phải là thứ đáng để ham thích, say đắm, không phải là thứ đáng để trói buộc mà phải thoát ra khỏi nó, thay thế bằng những cảm xúc hiền hòa, bi mẫn, từ tâm, lắng dịu, dễ chịu, bao dung, tha thứ. Chúng ta chăm sóc, tưới tẩm những cảm giác như dòng sữa pháp mà Đức Thế Tôn đã trao cho chúng ta từ, bi, hỷ, xả, thấm nhuần một cảm thọ của trí tuệ, tình thương để chúng ta thương yêu, chăm sóc chính chúng ta thật thông minh, hiểu biết, không còn thương sai cách, lầm lạc như lúc trước, từ đó chúng ta có được đời sống bình an, nhẹ nhàng, cảm thông, tha thứ, yêu thương, nhất là trong giai đoạn khó khăn, bức xúc vì dịch bệnh. Chúng ta càng phải tu nhiều cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào này.

Hôm nay Minh Thành cúng dường pháp bảo đến tất cả các bậc hiền trí chư Tăng Ni và quý Phật tử phương pháp quán chiếu cảm thọ.

./.